Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản nuôi tại Công Ty Cổ Phần Thiên Thuận Tường thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản nuôi tại Công Ty Cổ Phần Thiên Thuận Tường thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản nuôi tại Công Ty Cổ Phần Thiên Thuận Tường thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản nuôi tại Công Ty Cổ Phần Thiên Thuận Tường thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản nuôi tại Công Ty Cổ Phần Thiên Thuận Tường thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản nuôi tại Công Ty Cổ Phần Thiên Thuận Tường thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản nuôi tại Công Ty Cổ Phần Thiên Thuận Tường thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản nuôi tại Công Ty Cổ Phần Thiên Thuận Tường thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản nuôi tại Công Ty Cổ Phần Thiên Thuận Tường thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh.
Trang 1TRẦN THỊ HUYỀN TRANG
Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÕNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN THIÊN THUẬN TƯỜNG - CẨM PHẢ - QUẢNG NINH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013- 2017
Thái Nguyên - 2017
Trang 2CỔ PHẦN THIÊN THUẬN TƯỜNG- CẨM PHẢ- QUẢNG NINH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2013- 2017 Giảng viên hướng dẫn: TS Hà Văn Doanh
Thái Nguyên - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập, rèn nghề dưới mái trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cũng như thực tập tốt nghiệp, em nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô trong khoa Chăn nuôi Thú y cũng như các thầy cô giáo trong trường đã trang bị cho em những kiến thức cơ bản, cho em được niềm tin vững bước trong cuộc sống và công tác sau này Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới: Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa cùng toàn thể các thầy giáo,
cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình dạy bảo, chỉ dạy và giúp đỡ
em trong toàn khóa học
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn
TS Hà Văn Doanhđã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành tốt khóa
luận này
Đồng thời, cho em gửi lời cảm ơn tới côngCTCP Thiên Thuận Tường, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để em học tập và hoàn thành tốt quá trình thực tập
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Trần Thị Huyền Trang
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Cơ cấu đàn lợn nái tại cơ sở qua 3 năm (2015 – 05/2017) 7
Bảng 2.2 Những biểu hiện khi lợn sắp đẻ 21
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại CTCP Thiên Thuận Tường qua 3 năm 2015 – 5/2017 43
Bảng 4.2 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập 44
Bảng 4.3 Kết quả chăm sóc lợn con qua các tháng 47
Bảng 4.4 Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi con tại cơ sở 48
Bảng 4.5 Kết quả đa ̣t được về chỉ tiêu sinh sản của lợn 49
Bảng 4.6 Lịch sát trùng trại lợn nái 51
Bảng 4.7 Kết quả khử trùng tại cơ sở 52
Bảng 4.8 Kết quả tiêm phòng vắc-xin tại cơ sở 53
Bảng 4.9 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại 56
Bảng 4.10 Kết quả trực tiếp điều trị bệnh trên đàn nái sinh sản tại trại 57
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1.MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 1
1.2.1 Mục đích 1
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2
Phần 2.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vâ ̣t chất của trang trại 3
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trại 4
2.1.3 Cơ sở vật chất của trại 4
2.1.4 Thuận lợi, khó khăn 7
2.2 Tổng quan tài liê ̣u và kết quả nghiên cứu có liên quan đến nô ̣i dung chuyên đề 8
2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 8
2.2.2 Quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản giai đoạn chửa, đẻ, nuôi con 13
2.2.3 Một số bệnh thường gặp trên lợn nái sinh sản 24
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong nước và ngoài nước 36
2.3.1 Tổng quan các nghiên cứu trong nước 36
2.3.2 Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài 38
Phần 3.ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 40 3.1 Đối tượng 40
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 40
3.3 Nội dung thực hiện 40
Trang 73.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 40
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 40
3.4.2 Phương pháp theo dõi 41
3.4.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi 41
Phần 4.KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 43
4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại Công Ty Cổ Phần Thiên Thuận Tường qua 3 năm từ 2015 - 2017 43
4.2 Thực hiện công tác chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản 44
4.2.1 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập 44
4.2.2 Thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con 45
4.3 Tình hình sinh sản của lợn nái trực tại cơ sở 48
4.4 Kết quả đa ̣t được về chỉ tiêu sinh sản của lợn 49
4.5 Kết quả thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn nái sinh sản tại cơ sở 50
4.5.1 Thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh 50
4.5.2 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn nái 53
4.6 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Thiên Thuận Tường 54
4.6.1 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại lợn Thiên Thuận Tường 54
4.6.2 Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại lợnThiên Thuận Tường 57
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59
5.1 Kết luận 59
5.2 Đề nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 8Cùng với đó việc chăn nuôi lợn ngày càng được mở rộng và phát triển mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa thì tình hình dịch bệnh xảy ra cũng rất phức tạp, làm ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, chất lượng hiệu quả kinh tế của ngành chăn nuôi Để phát triển chăn nuôi lợn cần thực hiện tốt khâu chăm sóc, nuôi dưỡng gấp phần nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi, đảm bảo trong sinh trưởng phát triển khỏe mạnh và cung cấp con giống có chất lượng tốt cho chăn nuôi lợn sau này Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và giảng viên
hướng dẫn thực tập, em tiến hành thực hiện chuyên đề:“Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản nuôi tại Công Ty Cổ Phần Thiên Thuận Tường, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh”
1.2.Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
- Nắm được tình hình chăn nuôi tại CTCP Thiên Thuận Tường, Quảng Ninh
- Nắm được quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản
Trang 9- Nắm được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần ăn và cách cho lợn ăn qua từng giai đoạn mang thai
-Ứng dụng một sô phác đồ điều trị, rèn luyện tay nghề và tìm hểu kiến thức thực tế
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại CTCP Thiên Thuận Tường, Quảng Ninh
- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nuôi tại cơ sở
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của trang trại
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Trại lợn nái sinh sản của CTCP Thiên Thuận Tường nằm trên địa phận
tổ 2, khu 1,phường Cửa Ông,thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Phường Cửa Ông có địa hình khá phức tạp , phía Bắc là những dải núi cao Độ cao trung bình 600 m, thuộc cánh cung bình phong Đông Triều – Móng Cái
Phía đông giáp sông Mông Dương – Huyê ̣n Vân Đồn
Phía Tây giáp phường Cẩm Phú, xã Dương Huy
Phía Nam giáp biển
Phía Bắc giáp Phường Mông Dương
* Đặc điểm khí hậu
Cẩm Phả là một thành phố thuộc tỉnh Quảng Ninh, ở vùng Đông Bắc
Bộ, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Do đó trại lợn của CTCP Thiên Thuận Tường cũng chịu ảnh hưởng chung của khí hậu vùng
- Nhiệt độ trung bình năm là 23oC, nhiệt độ cao nhất vào tháng 7 là
39oC, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là 12o
C
- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm là 2567,8 mm/năm Lượng mưa hàng năm tương đối lớn, chế độ mưa chia làm hai mùa rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm 80% - 90% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô thì lượng mưa rất nhỏ chỉ chiếm khoảng 10% - 20% tổng lượng mưa
cả năm
- Độ ẩm: Độ ẩm tương đối trong khu vực khá cao, trung bình tháng thấp nhất đạt 78% (tháng 10) và độ ẩm tương đối trung bình tháng cao nhất đạt 88% (tháng 3)
Trang 11- Bão, giông: Mỗi năm Quảng Ninh (trong đó có Cẩm Phả) chịu ảnh hưởng trung bình của 5 – 6 cơn bão, năm nhiều có tới 9 – 10 cơn Bão thường tới cấp 8 – 9, cá biệt đã có những cơn bão cấp 12 Tháng 7, tháng 8 là những tháng bão hay đổ bộ vào Quảng Ninh Các cơn giông thường xảy ra trong mùa
hè, trung bình mỗi tháng có 5 ngày Giông thường xảy ra vào buổi trưa, chiều
- Chế độ gió mùa: Mùa đông từ tháng 10 đến tháng 3, tháng 4 năm sau thường chịu ảnh hưởng của gió Bắc, Đông Bắc, mỗi tháng từ 3 – 4 đợt Mùa
hè từ tháng 5 đến tháng 9, chủ yếu là gió Nam, Đông Nam Tốc độ gió trung bình năm là 3 – 3,4 m/s
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trại
Cơ cấu tổ chức của trại như sau:
- 02 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại
Với đội ngũ trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau gồm 4 người tổ chuồng nái đẻ, 3 người tổ chuồng nái chửa, 5 người tổ chuồng nái hậu bị, 2 người tổ chuồng cai sữa Mỗi tổ thực hiện công việc chuyên biệt một cách nghiêm túc và đúng quy định của trang trại
2.1.3 Cơ sở vật chất của trại
- Trang trại có tổng diện tích 69 ha, trong đó khu chăn nuôi cùng khu nhà ở, các công trình phụ khác và đất trồng cây xanh, cây ăn quả, ao hồ chiếm diện tích 6,5 ha Diện tích còn lại là đồi núi
Trang 12- Khu chăn nuôi chia làm hai khu riêng biệt gồm chăn nuôi lợn và chăn nuôi gà Trong đó, khu chăn nuôi lợn được bố trí xây dựng chuồng trại cho hơn 500 nái với các giống sản xuất như: Landrace, Yorshire, Duroc được nhập từ nước ngoài về Về chăn nuôi gà thì chủ yếu nuôi các giống gà đẻ trứng như: Gà Ai Cập, gà Lương Phượng
- Trại được chia làm hai khu là khu điều hành và khu sản xuất Khu điều hành gồm nơi làm việc của quản lý trại và nơi ăn, ở của công nhân Khu sản xuất gồm: 2 chuồng nái đẻ, 2 chuồng nái chửa, 2 chuồng hậu bị và 1 chuồng cai sữa Một số công trình phụ khác phục vụ cho chăn nuôi như: Kho cám, kho thuốc, phòng pha tinh, phòng sát trùng
- Hệ thống chuồng được xây dựng khép kín và tự động hoàn toàn Trang thiết bị trong chuồng hiện đại, được nhập từ Đan Mạch Đầu mỗi chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng là hệ thống quạt thông gió Riêng đối với chuồng nái đẻ thì cuối chuồng còn có hệ thống xử lý mùi và trong chuồng có hệ thống cảm biến nhiệt độ
- Hệ thống chăn nuôi có silo thức ăn tự động từ chuồng nái chửa, chuồng nái đẻ, chuồng cai sữa đến chuồng hậu bị nên tiết kiệm được nhân lực
và mang lại hiệu quả sản xuất cao
- Phòng pha tinh có các dụng cụ hiện đại như: Kính hiển vi, hệ thống cảm biến nhiệt, nồi hấp cách thủy, tủ sấy và các dụng cụ khác
- Trong khu chăn nuôi đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu đều được đổ bê tông và có hố sát trùng
- Nguồn nước thải rửa chuồng trại, xả gầm đều được xử lý qua hệ thống thoát nước ngầm
- Xung quanh trại còn trồng rau, cây ăn quả, đào ao thả cá tạo môi trường thông thoáng
Trang 13* Cơ cấu đàn lợn nái bao gồm: Nái hậu bị, nái kiểm định và nái cơ bản
Nái hậu bị là nái từ sau khi cai sữa được chọn để làm giống, nuôi cho đến khi phối giống lần đầu có chửa (tuổi chọn lợn để làm giống nên chọn ở 60 ngày tuổi) Thời gian nuôi từ 60 ngày tu ngày tuổi cho đến khi lợn nái động dục và cho phối giống lần đầu có chửa là thời gian nuôi nái hậu bị Thời gian nuôi hậu bị dài hay ngắn phụ thuộc và giống, sự thành thục về tính dục và thể vóc của từng giống Đây là bước khởi đầu để nuôi lợn nái sinh sản vì vậy nó
có ý nghĩa quyết định đến chất lượng đàn nái và hiệu quả kinh tế chăn nuôi sau này Vì quy mô đàn lợn nái tại cơ sở ở mức trung bình nên số lợn nái hậu
bị được chọn để làm giống ít Cần chọn lợn nái để thay thế đàn (thay thế những con bị loại thải) và những lợn nái hậu bị dùng để bán giống cho các cơ
sở chăn nuôi khác
Giai đoạn lợn nái kiểm định được tính từ khi phối giống lần đầu có chửa đến khi lợn đẻ và nuôi con 2 lứa đầu Giai đoạn nuôi lợn nái kiểm định chia làm 2 loại: Nái kiểm định I (bao gồm thời gian nuôi lợn nái hậu bị, thời gian chửa, đẻ và nuôi con lứa 1) và nái kiểm định II (bao gồm thời gian chờ phối sau khi tách con lứa 1, chửa đẻ và nuôi con lứa 2) Nếu chọn những nái kiểm định tốt thì sẽ tạo được đàn nái cơ bản có năng suất cơ bản và hiệu quả kinh tế cao Lợn nái kiểm định tại cơ sở được chọn lọc rất kỹ càng
Nái cơ bản là lợn đã đẻ được 2 lứa đầu, phải đạt chất lượng con giống theo tiêu chuẩn quốc gia Trong thời gian thực tập tại cơ sở, số lượng lợn nái
cơ bản được chọn lên làm giống tương đối ít, do một số nái có năng suất sinh sản kém
Cơ cấu đàn lợn nái tại cơ sở qua 3 năm được thể hiện qua bảng 2.1:
Trang 14Bảng 2.1 Cơ cấu đàn lợn nái tại cơ sở qua 3 năm (2015 – 05/2017)
- Trại được xây dựng ở vị trí cách xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông
- Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc
- Cơ sở vật chất đầy đủ và trang thiết bị được áp dụng công nghệ hiện đại từ nước ngoài với dàn ăn tự động ở tất cả các chuồng làm giảm bớt nặng
nhọc cho công nhân,phù hợp với điều kiện chăn nuôi công nghiệp hiện nay
- Công nhân có tay nghề cao, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm với công việc
* Khó khăn
- Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh cao
- Giá thức ăn chăn nuôi mỗi ngày một tăng khiến chi phí thức ăn tăng cao gây ảnh hưởng tới chăn nuôi của trang trại
- Giá lợn cuối năm 2016 đến nay giảm sâu nên ảnh hưởng đến lãi suất
của trại
Trong những năm gần đây, thời tiết diễn biến phức tạp kèm theo dịch bệnh khó kiểm soát, gây khó khăn cho chăn nuôi Những khó khăn trên đòi hỏi
Trang 15trại phải đẩy mạnh công tác phòng, chống dịch bệnh và nâng cao sức đề kháng
cho đàn lợn tại trại
2.2 Tổng quan ta ̀i liê ̣u và kết quả nghiên cƣ́u có liên quan đến nô ̣i dung chuyên đề
2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái
2.2.1.1 Sự thành thục về tính và thể vóc
* Sự thành thục về tính
Gia súc phát triển đến một giai đoạn nhất định thì sẽ có biểu hiện về tính dục Con đực có khả năng sinh ra tinh trùng, con cái có khả năng sinh ra
tế bào trứng Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2005) [19] cho biết, thành thục
về tính là tuổi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Lúc này tất cả các bộ phận sinh dục như: Buồng trứng, tử cung, âm đạo đã phát triển hoàn thiện và có thể bắt đầu bước vào hoạt động sinh sản Đồng thời với sự phát triển hoàn thiện bên trong thì ở bên ngoài các bộ phận sinh dục phụ cũng xuất hiện và gia súc có phản xạ về tính hay xuất hiện hiện tượng động dục.Tuy nhiên, thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tính biệt và các điều kiện ngoại cảnh cũng như chăm sóc nuôi dưỡng
- Giống: Các giống lợn khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau Hầu hết các giống lợn nội thì thành thục sớm hơn các giống lợn ngoại, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn những giống có tầm vóc lớn.Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [6], thì tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng, khi khối lượng đạt từ 20 - 25 kg
Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn sơ với lợn nội thuần, ở lợn lai F1 (có sẵn máu nội) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng cơ thể đạt 50 – 55 kg Lợn ngoại động dục muộn hơn từ 6 - 8 tháng khi đạt 65 - 80 kg.Tùy theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà lợn có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4
Trang 16- 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi), các giống lợn ngoại Yorkshire, Landrace muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi
- Điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng: Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn nái Lợn được nuôi dưỡng với khẩu phần thức ăn đầy đủ, phù hợp nhu cầu dinh dưỡng thành thục sinh dục sớm hơn so với lợn được nuôi dưỡng với khẩu phần thức ăn có giá trị dinh dưỡng thấp.Lợn nái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình là 188,5 ngày (6 tháng tuổi) và nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi)
- Điều kiện ngoại cảnh: Khí hậu và nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính của gia súc Những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường thành thục về tính sớm hơn những giống lợn nuôi ở vùng
có khí hậu ôn đới và hàn đới
Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng tới sự thành thục của lợn nái hậu bị Nếu ta để một con đực đã thành thục về tính gần ô chuồng của những con nái hậu bị thì sẽ thúc đẩy nhanh sự thành thục về tính của chúng Nếu cho lợn nái hậu bị tiếp xúc với đực 2 lần/ngày, với thời gian 15 - 20 phút thì 83% lợn nái (ngoài 90 kg) động dục lúc 165 ngày tuổi
Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Theo Dwane và cs (2000) [9], mùa hè lợn nái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa Thu – Đông, điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng khối lượng thấp trong các tháng nóng bức Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân)
và 17 ngày (mùa thu) Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối còn làm chậm tuổi thành thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 12 giờ mỗi ngày
Tuy nhiên, một vấn đề cần lưu ý là tuổi thành thục về tính thường sớm
Trang 17hơn tuổi thành thục về thể vóc Vì vậy, để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường của lợn mẹ và đảm bảo những phẩm chất giống của thế hệ sau nên cho gia súc phối giống khi đã đạt một khối lượng nhất định tuỳ theo giống Ngược lại, cũng không nên cho gia súc phối giống quá muộn vì ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của một đời nái đồng thời ảnh hưởng tới thế hệ sau của chúng Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [6], cho rằng: Không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục lần đầu rồi mới cho phối giống
* Sự thành thục về thể vóc
Sự thành thục về thể vóc thường diễn ra chậm hơn sự thành thục về tính Sau một thời kỳ sinh trưởng và phát triển, đến một thời điểm nhất định con vật đạt tới độ trưởng thành về thể vóc Theo Nguyễn Đức Hùng và cs (2003) [10], tuổi thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình
và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc ổn định Đối với lợn nái nội thường phối giống lần đầu lúc 6 - 7 tháng tuổi khi khối lượng đạt 40 – 50 kg, đối với lợn nái ngoại lúc 8 – 9 tháng tuổi khi khối lượng đạt 115 – 120 kg thì mới nên cho phối giống
2.2.1.2 Chu kì tính
Khi lợn cái đến tuổi thành thục về tính thì cơ thể cái đặc biệt là cơ quan sinh dục có biến đổi kèm theo sự rụng trứng Sự phát triển của trứng dưới sự điều tiết của các hormone thùy trước tuyến yên làm cho trứng rụng một cách
có chu kỳ và biểu hiện bằng những triệu chứng có chu kỳ gọi là chu kỳ tính hay chu kì động dục
Chu kỳ động dục là một quá trình phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể đã phát triển hoàn chỉnh, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện
Trang 18tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao, noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng Kèm theo đó là sự thay đổi của toàn bộ cơ thể và nhất là cơ quan sinh dục về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý Tất cả những biến đổi đó lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ nên gọi là chu kỳ tính
Ở những cơ thể đã có thai do sự tồn tại của thể vàng nên không còn chu
kỳ tính và nó được tiếp tục sau khi sinh sản xong một thời gian Thời gian phụ thuộc vào nhiều yếu tố cả về thể chất con vật và ngoại cảnh tác động
Giai đoạn trước động dục:
Là giai đoạn từ khi thể vàng tiêu hủy đến lần động dục tiếp theo Giai đoạn này kéo dài 1 - 2 ngày Quan sát bên ngoài thấy cơ quan sinh dục có biểu hiện xung huyết, âm hộ bắt đầu sưng lên và hơi mở ra có màu hồng tươi,
có nước nhờn chảy ra nhưng loãng, lợn bắt đầu biếng ăn và hay kêu rít, tỏ ra khôngyên tĩnh và thích nhảy lên lưng con khác
Giai đoạn này cần chú ý là không nên dẫn tinh và phối ép vì trứng chưa rụng, lợn không có khả năng thụ thai
Giai đoạn động dục :
Thời gian của giai đoạn này phụ thuộc vào tuổi, giống, chế độ chăm sóc quản lý, thông thường chỉ kéo dài 2 - 3 ngày, là giai đoạn quan trọng ảnh hưởng tới tỷ lệ thụ thai Trong giai đoạn này những biến đổi bên ngoài cơ thể càng thể hiện rõ ràng hơn Âm hộ xung huyết, niêm mạc trong suốt, niêm dịch chảy nhiều Cuối giai đoạn này lợn hưng phấn cao độ, ở trạng thái không yên tĩnh, giảm khả năng thu nhận thức ăn, chạy, kêu phá chuồng, đứng ngẩn ngơ, nhảy lên lưng con khác Thích gần con đực, có các phản xạ giao phối: hai chân sau dạng
ra, đuôi cong về một bên (biểu hiện ở lợn nội rõ hơn lợn ngoại)
Ở giai đoạn này nếu được thụ thai thì chu kỳ sẽ dừng lại do sự tồn tại của thể vàng và chu kỳ sẽ xuất hiện trở lại sau một thời gian con vật đẻ xong
Trang 19Nếu con cái không thụ thai thì sẽ chuyển sang giai đoạn kế tiếp Giai đoạn này gồm 3 thời kỳ liên tiếp là hưng phấn, chịu đực và hết chịu đực
Sau khi động dục khoảng 24 - 30 giờ lợn cái bắt đầu rụng trứng, trứng rụng kéo dài 10 - 15 giờ Vì vậy nên phối cho lợn cái 2 lần để đạt kết quả cao (Trần Tiến Dũng và cs(2002) [8])
Giai đoạn sau động dục:
Giai đoạn sau động dục kéo dài 3 - 4 ngày, toàn bộ cơ thể nói chung và
cơ quan sinh dục nói riêng dần dần được khôi phục về trạng thái sinh lý bình thường Tất cả mọi phản xạ động dục, tính hưng phấn mất hẳn và chuyển sang giai đoạn yên tĩnh
Giai đoạn yên tĩnh:
Giai đoạn này kéo dài khoảng 10 - 12 ngày, đây là giai đoạn dài nhất và tùy thuộc vào sự tồn tại của thể vàng, khi thể vàng tiêu biến thì chu kỳ động dục mới lại bắt đầu
Trong thực tế còn gặp trường hợp lợn cái động dục bất thường như động dục ngầm và hiện tượng lưỡng tính Động dục thầm lặng là hiện tượng lợn đến chu kỳ động dục nhưng không có các biểu hiện động dục rõ ràng làm cho người nuôi khó nhận biết (chu kỳ này thường kéo dài 36 - 45 ngày) Hiện tượng lưỡng tính, cơ quan sinh dục bên ngoài của lợn cái bình thường nhưng
có những hành động giới tính thường xuyên do con vật bị rối loạn hormone hoặc con cái ít cho con đực nhảy lên (trường hợp này phải loại bỏ sớm)
2.2.1.3.Thời điểm phối giống thích hợp
Dựa vào chu kỳ tính, sự vận động và tồn tại của tinh trùng trong đường sinh dục cái để xác định thời gian phối giống thích hợp cho lợn cái
Hiện nay người chăn nuôi thường áp dụng phương pháp phối nhiều lần, nhất là trong thụ tinh nhân tạo, lần trước cách lần sau khoảng 12 giờ và có thể phối tới 3 lần cho một lợn nái khi động dục, nhất là đối với lợn ngoại
Trang 202.2.1.4 Sự điều hòa chu kỳ động dục
Chu kì tính của lợn được điều khiển bởi thần kinh và thể dịch theo cơ chế điều hòa ngược
Hoạt động của chu kỳ này phụ thuộc vào sự điều tiết của các hormone quan trọng nhất là FSH (Follicle Stimulating Hormone) và LH (Lutrinizing Hormone) FSH kích thích sự phát triển của buồng trứng còn LH kích thích quá trình rụng trứng Hai hormone này phải có một tỷ lệ nhất định mới có thể đảm bảo được cho quá trình chín và rụng trứng diễn ra tốt nhất Trong quá trình bao noãn phát dục và thành thục, tế bào thượng bì bao noãn tiết ra oestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn Hàm lượng này trong máu kích thích con vật gây hiện tượng động dục Đồng thời dưới tác động của hormone, cơ quan sinh dục dần biến đổi, tử cung, âm đạo hé mở, sừng tử cung, ống dẫn trứng tăng sinh tạo điều kiện cho sự làm tổ của hợp tử sau này
Cuối chu kỳ động dục, oestrogen lại kích thích tuyến yên tiết LH, giảm FSH
Khi LH được tiết ra nó kích thích trứng chín và rụng Tại vị trí rụng trứng, mạch quản và tế bào sắc tố vàng phát triển tạo thể vàng Thể vàng tiết progesterone giúp cho quá trình tiếp nhận hợp tử ở sừng tử cung, đồng thời ức chế tiết FSH và LH của tuyến yên cho trứng không phát triển được
Thời gian mỗi lần trứng rụng thông thường kéo dài 4 - 6 giờ, ở lợn hậu
bị kéo dài tới 10 giờ Trứng rụng không được thụ tinh đến ngày thứ 15 thì thể
vàng bị tiêu biến chuyển sang thể bạch, lúc này không tiết progesterone nữa
và một chu kỳ mới bắt đầu
2.2.2 Quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản giai đoạn chửa, đẻ, nuôi con
2.2.2.1 Chế độ dinh dưỡng
Yếu tố quan trọng đối với lợn nái mang thai và nuôi con là phải cung cấp đầy đủ số lượng và chất lượng dinh dưỡng cần thiết để có hiệu quả sinh sản cao Chế độ dinh dưỡng bao gồm: dinh dưỡng năng lượng, dinh dưỡng
Trang 21protein, ảnh hưởng của khoáng chất, các nguyên tố đa vi lượng và ảnh hưởng của vitamin
* Nhu cầu năng lượng
Năng lượng không thể thiếu được cho cơ thể mẹ duy trì nuôi thai, tiết sữa, nuôi con Nhu cầu năng lượng khác nhau tùy thuộc từng giai đoạn Cần phải đủ nhu cầu về năng lượng cho lợn nái, tránh cung cấp thừa gây lãng phí thức ăn, giảm giá thành sản phẩm Nếu thiếu sẽ ảnh hưởng đến sinh lý bình thường của con vật Năng lượng được cung cấp dưới hai dạng: gluxit chiếm
70 - 80 %, lipit 10 - 13% tổng số năng lượng cung cấp
* Ảnh hưởng của khoáng chất
Trong cơ thể lợn khoáng chất chứa 3% trong đó có tới 75% là canxi và photpho, xấp xỉ 25% là natri và kali, cũng có một lượng nhỏ magie, sắt, kẽm, đồng, các nguyên tố khác ở dạng dấu vết Ví dụ canxi làm ngăn trở việc hấp thu kẽm gây hiện tượng rối loạn ở da, gây sừng hóa
* Nhu cầu về protein
Protein là thành phần quan trọng trong khẩu phần thức ăn cung cấp cho lợn, là thành phần không thể thay thế được cần thiết trước tiên cho mọi hoạt động trao đổi chất trong cơ thể và tham gia cấu tạo nên các mô trong cơ thể
Do protein tham gia vào cấu tạo hoạt động trao đổi chất nên hàng ngày luôn
có một lượng nhất định protein mất đi Trong quá trình đồng hóa và dị hóa của cơ thể thì hàng ngày luôn có các tế bào sinh trưởng và phát triển, phân chia và các tế bào già cỗi được loại thải ra ngoài Do đó protein được cung cấp để bù đắp lại phần mất đi và một phần khác xây dựng lên các tế bào mới, tạo sản phẩm chăn nuôi Tuy nhiên việc cung cấp protein phải đảm bảo đủ về
số lượng và cân đối về các thành phần axit amin không thay thế lyzine, methionine, histidin, cystein, tryptophan hay chính sác hơn nhu cầu về protein của lợn chính là nhu cầu về axit amin Ngoài ra thức ăn phải có giá trị
Trang 22sinh học cao, dễ tiêu hóa, hấp thu Để đáp ứng tốt các nhu cầu trên cần cho lợn ăn bằng nhiều loại thức ăn
* Ảnh hưởng của vitamin
Vitamin cần cho sự chuyển hóa bình thường của mô bào, cho sức khỏe, sinh trưởng và duy trì Một số vitamin lợn có thể tự tổng hợp để đáp ứng nhu cầu như vitamin B12 Một số vitamin lợn hay thiếu cần phải bổ sung (A, D, E) Nếu bổ sung không đúng, thừa hoặc thiếu đều không tốt
- Thiếu vitamin A: lợn con chậm lớn, da khô, mắt kém, lợn nái mang thai dễ xảy thai, đẻ non
- Thiếu vitamin D: thai kém phát triển, dễ bị liệt chân trước và sau khi đẻ
- Thiếu vitamin E: lợn có hiện tượng chết phôi, chết thai, lợn không động dục hoặc chậm động dục
2.2.2.2 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái chửa
- Dinh dưỡng lợn nái có chửa
Nguyên tắc nuôi lợn nái có chửa: Cho ăn đúng khẩu phần, đảm bảo chất dinh dưỡng, đặc biệt chú ý cho ăn đủ vitamin và khoáng chất Thiếu khoáng, xương lợn con phát triển kém, lợn nái chửa có nguy cơ bại liệt Thiếu vitamin, lợn con phát triển chậm, sức sống kém Không cho ăn quá nhiều tinh bột để chống béo, khó đẻ
+ Nhu cầu dinh dưỡng của lợn chửa: Đạm thô 13%, NLTĐ 2900 kcal/kg thức ăn
+ Mức ăn cho lợn nái có chửa (kg thức ăn đã phối trộn/con/ngày)
Giai đoạn chửa kì I: Cho ăn Thức ăn C18A
Với nái hậu bị: 1,6 – 1,8 kg/con/ngày, cho ăn ngày 1 lần Với nái dạ: 2 – 2,2 kg/con/ngày, cho ăn ngày 1 lần
Trang 23Giai đoạn chửa kì II: Từ 84 - 100 ngày cho ăn thức ăn C18A, từ 100 -
114 ngày cho ăn thức ăn C18B
Với nái hậu bị: 2,5 kg/con/ngày, cho ăn ngày 2 lần Với nái dạ: 3 kg/con/ngày, cho ăn ngày 2 lần + Mức ăn cho nái chửa còn tùy thuộc vào thể trạng của nái: Nái quá gầy phải cho ăn thêm thức ăn tinh, nái quá béo phải giảm thức ăn tinh
+ Vào mùa đông những ngày nhiệt độ dưới 15oC, lợn nái cần cho ăn thêm 0,2 - 0,3 kg/con/ngày để bù phần năng lượng mất đi do chống rét
+ Không được cho lợn nái chửa ăn thức ăn ẩm mốc, khô dầu bông, lá
đu đủ do dễ gây sảy thai
+ Cho lợn uống nước tự do
- Chăm sóc lợn nái chửa
+ Cho lợn yên tĩnh tuần đầu tiên sau khi phối giống
+ Kiểm tra theo dõi lợn có chửa vào ngày thứ 21 và ngày thứ 42 sau khi phối xem có động dục trở lại không
+ Tắm: 1 lần/ngày vào những ngày nắng nóng
+ Vệ sinh xoa bóp bầu vú trước dự kiến đẻ 10 - 15 ngày để kích thích sữa ra nhiều khi lợn sinh con Nếu vú bị xây xước hoặc nứt nẻ cần bôi vazolin
Trang 24 Phương pháp phát hiện lợn có chửa
Phát hiện lợn có chửa có ý nghĩa quan trọng trong sản xuất Nếu phân biệt được lợn nái có chửa một cách chính xác, kịp thời ngay sau khi phối giống sẽ tác động các biện pháp nuôi dưỡng chăm sóc phù hợp với quy luật phát triển của bào thai để nâng cao khả năng sinh sản của lợn nái Còn nếu lợn nái không chửa thì có kế hoạch phối giống lại kịp thời
Thời gian chửa của lợn nái trung bình là 114 ngày Người ta chia thời gian chửa của lợn nái làm hai kỳ:
+ Thời kỳ chửa kỳ 1: là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu tiên
+ Thời kỳ chửa kỳ 2: là thời gian lợn có chửa từ 85 ngày đến khi đẻ Việc phát hiện lợn nái chửa kỳ 2 dễ dàng hơn chửa kỳ 1 vì bào thai lúc này phát triển mạnh, bụng to và xệ hơn Trong thực tiễn có nhiều phương pháp phát hiện lợn có chửa nhanh và chính xác như phương pháp căn cứ vào chu kỳ động dục của lợn nái, dùng máy siêu âm, phương pháp đo điện trở âm đạo, phương pháp chuẩn đoán trong phòng thí nghiệm
Phương pháp căn cứ vào chu kỳ động dục của lợn nái là sau khi phối giống 21 ngày mà không thấy có biểu hiện động dục thì có thể coi là lợn nái
đã có chửa Lợn nái sau khi phối giống thấy có những biểu hiện như mệt mỏi, thích ngủ, từ kém ăn chuyển sang thèm ăn, lông da ngày càng bóng mượt, tính tình thuần hơn, dáng đi nặng nề,… đó là lợn nái đã có chửa sau khi phối Ngược lại, khi quan sát thấy lợn nái sau khi ăn không chịu nằm, tai cúp, đuôi luôn ve vẩy, âm hộ có hiện tượng xung huyết thì có thể lợn nái đó chưa có chửa, cần theo dõi để phối giống lại kịp thời
Quy luật sinh trưởng phát triển của bào thai
Hiểu rõ quy luật sinh trưởng và phát dục của bào thai có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác chăm sóc và nuôi dưỡng nái mẹ trong thời kỳ mang thai Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ lệ sảy thai, chết thai và số lượng
Trang 25cũng như khối lượng sơ sinh trên ổ và trên con Quá trình phát triển của phôi thai trải qua 3 giai đoạn sau:
+ Giai đoạn phôi thai (1 - 22 ngày): Đặc điểm của giai đoạn này là hợp
tử bắt đầu phân chia nhanh chóng từ một khối tế bào thành các lá phôi Đồng thời ở thời kỳ này, nhau thai chưa hình thành nên cơ thể mẹ chưa có sự bảo vệ hợp tử Giai đoạn này phải chú ý khâu chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý đầy đủ
Những biến đổi của cơ thể mẹ trong thời gian có chửa
Cơ thể lợn mẹ trong thời gian có chửa thì sự tổng hợp vật chất được đẩy mạnh, quá trình oxy hóa thì giảm tương đối Quá trình trao đổi chất và năng lượng tăng lên do sự đẩy mạnh các quá trình này ở cơ thể mẹ cũng như cơ thể phôi thai Đồng thời với quá trình trao đổi nhiệt là quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng trong cơ thể mẹ tăng dần Trong thời gian lợn nái chửa, cơ thể trao đổi chất mạnh, quá trình đồng hóa lớn hơn quá trình dị hóa Trung bình khối lượng lợn nái tăng lên ở 20 - 30 ngày cuối của thời kỳ chửa Qua nghiên cứu cho thấy rằng, điều kiện ngoại cảnh có ảnh hưởng rất xấu đến cơ thể lợn nái có chửa như: nhiệt độ, ánh sáng, thời tiết khí hậu, chăm sóc nuôi dưỡng, mức độ dinh dưỡng,… Cường độ và thời gian tác động của mỗi yếu tố nêu trên sẽ phản ánh lên các quá trình diễn ra trong cơ thể mẹ và cơ thể phôi thai trong tất cả các
Trang 26giai đoạn phát triển của nó Độ ẩm môi trường cao cũng gây hại cho lợn nái nhất là trong trường hợp độ ẩm cao kết hợp với nhiệt độ cao
2.2.2.3 Kỹ thuật chăm sóc lợn nái đẻ
* Chăm sóc lợn nái đẻ
Mục đích chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lợn đẻ an toàn, lợn con có tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt, đủ khả năng tiết sữa nuôi con, nâng cao chất lượng đàn con
- Quy trình dinh dưỡng
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [16]: Thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức
ăn, đẻ trước 2 – 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quiết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh (0,5 kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ
có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái
Trang 27- 15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng nái đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn
bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Trước khi đẻ
1 tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm
hộ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái, chúng ta chuyển nhẹ nhàng từ chuồng chửa sang chuồng nái đẻ để lợn quen dần với chuồng mới
Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con Ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ô
úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô
úm cho lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức
ăn của lợn con Vào ngày dự kiến đẻ của lợn nái, cần chuẩn bị xong ô úm cho lợn con Kích thước ô úm: 1,2 x 1,5 m Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống từ 3 - 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh
Trang 28Bảng 2.2 Những biểu hiện khi lợn sắp đẻ
0 – 10 ngày Vú căng lên và cứng, âm hộ trương mọng
2 ngày Bầu vú cương cứng hơn và tiết ra chất lỏng trong
12 – 14 giờ Nái bồn chồn, tuyến vú bắt đầu tiết sữa
6 giờ Sữa tiết ra nhiều hơn qua 2 lỗ tia sữa
2 – 4 giờ Các vú đều có sữa non vọt thành tia dài
30 phút – 2 giờ Tăng nhịp thở, đi lại không yên
15 – 30 phút Âm hộ tiết ra dịch nhờn màu hồng có lẫn phân su
15 giây – 5 phút Nái nằm nghiêng 1 bên, hơi thở đứt quãng, ép bụng,
ép đùi, quẩy đuôi rặn đẻ
Từ những ghi chép về các biểu hiện của lợn nái sắp đẻ, đã giúp ích cho
em rất nhiều trong việc củng cố kỹ năng quan sát, theo dõi, cũng như tạo cho
em những kinh nghiệm làm việc sau này trong quá trình chăn nuôi lợn nái Việc xác định được thời điểm lợn nái đẻ cũng sẽ giúp cho người chăn nuôi chủ động được công tác chuẩn bị đỡ đẻ cho lợn con và lợn mẹ được chu đáo
và cẩn thận, đem lại hiệu quả cao, nâng cao được tỷ lệ nuôi sống của lợn con sau khi sinh
2.2.2.3 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái nuôi con
Mục đích của chăn nuôi lợn nái nuôi con là áp dụng các biện pháp khoa học để tăng sản lượng sữa mẹ, đảm bảo cho lợn mẹ có sức khỏe tốt Lợn con sinh trưởng phát triển nhanh, đạt số con sau cai sữa và khối lượng cai sữa cao Lợn nái chóng được phối giống trở lại sau khi tách con
- Quy trình nuôi dưỡng
Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó là các loại thức ăn xanh non như các loại
Trang 29rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ, cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn bổ sung đạm động, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin
Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng qui định như NLTĐ 3100 kcal/kg, protein 15%, canxi từ 0,9 – 1,0%, phốt pho 0,7%
Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ chất dinh dưỡng cho lợn mẹ
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [16] trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:
Đối với lợn nái ngoại
+ Ngày cắn ổ đẻ: Cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do
+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn
từ 1 - 2 - 3 kg tương ứng
+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: Cho ăn 4 kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày
+ Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức
Lượng thức ăn/nái/ngày = 2 kg + (số con x 0,35 kg/con)
+ Số bữa ăn trên ngày: 2 (sáng và chiều)
+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ngày
Trang 30+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 – 2 kg rau xanh/ngày sau bữa ăn tinh (nếu có rau xanh)
+ Một ngày trước cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm 20 – 30% + Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước
Ngoài ra yêu cầu đối với chuồng trại của lợn nái nuôi con là phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không ẩm ướt, vì vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô
úm lợn con và máng tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp
là 18 – 20oC, độ ẩm 70 – 75%
Kỹ thuật cho ăn
+ Lợn nái nuôi con trong thời gian mới đẻ mỗi bữa cho ăn một ít một, nhưng cho ăn làm nhiều lần, thường một ngày cho ăn 3 - 4 bữa Khoảng cách giữa các bữa nên chia đều nhau
+ Cho ăn đúng giờ, đúng tiêu chuẩn quy định
+ Cung cấp đủ nước uống cho lợn nái nuôi con
+ Khi chuyển sang dùng thức ăn cho giai đoạn nuôi con, để tránh gây ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa do thay đổi thức ăn, ta phải thay dần dần
+ Chú ý theo dõi khả năng ăn và tình trạng sức khỏe của lợn nái để có biện pháp can thiệp kịp thời
Trang 312.2.3 Một số bệnh thường gặp trên lợn nái sinh sản
* Bệnh bại liệt sau sinh
Là bệnh mà lợn mẹ mất khả năng vận động sau thời gian sổ thai
Nguyên nhân gây bệnh
- Do thai quá to, tư thế và chiều hướng của thai không bình thường
- Quá trình thủ thuật kéo thai quá mạnh hay không đúng thao tác…
Từ đó gây tổn thương thần kinh tọa hoặc ảnh hưởng đến đám rối hông khum → lợn mẹ bại liệt
- Thao tác can thiệp kịp thời, đúng kỹ thuật
- Hằng ngày trở mình cho lợn mẹ → tránh bầm huyết, hoại tử da và kế phát với chướng bụng, đầy hơi
- Tăng cường thức ăn có bổ sung nguyên tố vi lượng nhất là canxi và photpho
- Tiêm Mg - calcium cho lợn Đồng thời kết hợp với châm cứu
* Hiện tượng đẻ khó
Lợn đẻ mà thời gian sổ thai kéo dài nhưng thai vẫn không được đẩy ra ngoài Bệnh biểu hiện dưới nhiều hình thức, diễn biến khác nhau Nó không
Trang 32những gây tổn thương cho cơ quan sinh dục mà còn dẫn đến hiện tượng vô sinh, thậm chí cả lợn mẹ và lợn con có thể chết
Nguyên nhân
- Đẻ khó do nguyên nhân cơ thể mẹ: khi chăm sóc, nuôi dưỡng không tốt, thức ăn không đầy đủ, chất dinh dưỡng thiếu so với nhu cầu của lợn mang thai dẫn đến cơ thể mẹ suy nhược, sức khỏe kém Trong quá trình đẻ, sức rặn
đẻ của lợn yếu, thậm trí không rặn đẻ, cổ tử cung co bóp yếu nên không đẩy thai ra ngoài
Lợn ăn quá nhiều tinh bột, protein dẫn đến béo cũng gây ra đẻ khó Lợn quá gầy cũng dẫn đến đẻ khó
Do cấu tạo tổ chức các phần mềm như: cổ tử cung, âm đạo giãn nở không bình thường có chỗ giãn quá mạnh, chỗ lại không giãn nên việc đẩy con ra ngoài gặp khó khăn
Khung xoang chậu bị biến dạng, khớp bán động háng phát triển không bình thường, vôi hóa cột sống hay xoang chậu hẹp Trong quá trình đẻ độ giãn
nở kém, thai bị mắc trước cửa xoang chậu không ra được Khi quá trình rặn
đẻ kéo dài, sức co bóp lớn ép lợn con bị chết
Ở thời gian có thai kỳ cuối, thai quá to, lợn nái vận động mạnh, chèn ép
tử cung làm tử cung bị xoắn vặn lại, tư thế tử cung thay đổi, đường sinh dục trở nên không bình thường cũng gây đẻ khó
Do rối loạn hormone tuyến sinh dục cái: kích tố nhau thai relaxin lúc
đẻ tiết ra ít nên không làm mất lớp canxi ở bán động háng, không giãn dây
chằng xương chậu (không sụt mông) hoặc prostagladin tiết ít không đủ gây
co bóp tử cung nên không tống thai ra ngoài được
Chế độ dinh dưỡng không phù hợp hoặc do quá ít thai, làm thai quá to không phù hợp với kích thước của xương chậu và đường sinh dục của lợn mẹ Thai bị dị hình hay quái thai
Trang 33Đẻ khó do nguyên nhân bào thai thường chiếm 3/4, những nguyên nhân
và loại hình đẻ khó có thể xảy ra đơn độc hoặc kết hợp lại với nhau như bào thai quá to mà xương chậu lại quá nhỏ, thai to cộng với tư thế thai không bình thường… khi rặn đẻ thai bị kẹt không ra được
Cơn co thắt và rặn đẻ thứ yếu thứ phát xảy ra do bào thai không di chuyển được Các cơn co thắt và dặn đẻ yếu nguyên phát, thông thường quan sát khi phạm vi chế độ chăm sóc nuôi dưỡng gia súc chửa và thiếu vận động, cũng như khi bị bệnh làm suy yếu sức khỏe của con mẹ Cần can thiệp để cứu lợn con và lợn mẹ
Triệu chứng
Lợn nái đến ngày đẻ, nước ối vỡ ra, trong nước ối có lẫn phân su nhưng không thấy thai ra Lợn nái có biểu hiện rặn nhiều lần, rặn mạnh, thậm chí lợn nái còn rặn căng bụng, cong lưng, chân đạp vào thành chuồng để rặn nhưng thai vẫn không ra Do thời gian rặn đẻ mạnh và kéo dài mà thai vẫn không ra làm cho lợn nái mệt mỏi Nếu để lâu có thể dẫn đến hiện tượng thai bị ngạt
mà chết Khi đưa tay vào đường sinh dục thấy khung xoang chậu hẹp, thai to hoặc ở tư thế không bình thường nằm kẹt ở trước cửa xoang chậu
Khi dùng biện pháp can thiệp không đúng cách, gây xây xát niêm mạc
tử cung, hoặc dụng cụ thủ thuật không đảm bảo vệ sinh làm lợn bị nhiễm một
Trang 34số bệnh: viêm tử cung, viêm vú, sảy thai truyền nhiễm… khi đó, niêm mạc sẽ
có những vết sẹo gây cản trở cho quá trình thụ thai, thai làm tổ… dẫn đến xảy thai, tiêu thai, đẻ non ở những lần sinh sản tiếp theo, thậm trí là vô sinh
* Bệnh viêm tử cung
Bệnh viêm tử cung xảy ra trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau Lợn nái đẻ ít lứa, nhiều lứa hay đang nuôi con đều có thể mắc bệnh song tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào yếu tố vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng Khi gia súc sinh đẻ nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây xát, bị tổn thương, vi khuẩn xâm nhập và phát triển gây viêm Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, Phó thương hàn, bệnh Lao… thường gây viêm tử cung
Nguyên nhân bệnh viêm tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs(2002) [8], viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái
Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [2], Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [12],
bê ̣nh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:
- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm
- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ
- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát
Trang 35- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung
- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm, Phó thương hàn, bệnh Lao… gây viêm
- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau
đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm
Theo Đoàn Kim Dung và cs (2002) [7], nguyên nhân gây viêm tử cung
là do vi khuẩn tu ̣ cầu vàng (Staphylococcus aureus), Liên cầu dung huyết
(Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais,Klebriella, E.coli…
Theo Lê Văn Năm và cs(1999) [15], có rất nhiều nguyên nhân từ ngoại cảnh gây bệnh như: do thức ăn nghèo dinh dưỡng, do can thiê ̣p đỡ đẻ bằng du ̣ng
cụ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuâ ̣t dẫn đến các cơ quan sinh dục bị phá hủy hoặc kết tủa, kết hợp với viê ̣c chăm sóc nuôi dưỡng bất hợp lý và thiếu vâ ̣n đô ̣ng đã làm chậm quá trình thu teo sinh lý của dạ con (trong điều kiê ̣n cai sữa bình thường da ̣ con trở về khối lượng kích thước ban đầu khoảng 3 tuần sau đẻ) Đây
là điều kiện tốt để vi khuẩn xâm nhâ ̣p vào tử cung gây bệnh Biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian đô ̣ng dục (vì lúc đó tử cung mở) và do thụ tinh nhân tạo sai kỹ thuật
Bê ̣nh còn xảy ra do thiếu sót v ề dinh dưỡng và quản lý : khẩu phần thiếu hay thừa protein , trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tử cung Lợn nái sử du ̣ng quá nhiều tinh bô ̣t gây đẻ k hó, viêm tử cung do xây xát Khoáng chất, vitamin cũng ảnh hưởng đến viêm tử cung
Triệu chứng
Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4-5 ngày cá biệt tới 6-7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sang