Trong khi đó ở trường Tiểu học việc dạy phân môn Tập đọc cho học sinh ởmột số nơi hiện nay chưa đáp ứng được theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của bậchọc theo quy định trong công văn số 896/
Trang 1MỤC LỤC
Tên
mục
1
1.1
1.2
1.3
1.4
2
2.1
2.2
2.3
2.4
3
Mở đầu ………
Lí do chọn đề tài………
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
Cơ sở lí luận
Thực trạng và các vấn đề cần giải quyết
Các giải pháp nhằm giúp HS học tốt phân môn Tập đọc Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục với bản thân, với học sinh
Kết luận, kiến nghị
Một số hình ảnh minh hoạ tiết dạy thực nghiệm Tài liệu tham khảo
Danh mục các đề tài SKKN đã được Hội đồng đánh giá XL cấp Phòng GD & ĐT, cấp Sở GD & ĐT 2 2 3 3 3 3 3 6 8 16 17 20 21
1 Mở đầu
1.1 Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong thế kỉ 21 Thế kỉ của khoa học, công nghệ, đặc biệt là thời kì bùng nổ công nghệ thông tin Đòi hỏi con người phải có trình độ nhận thức, hiểu biết cao hơn để đáp ứng với sự phát triển đó
Trang 2Tại Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá 8 đã khẳng định:
“ Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước vàcủa toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trướctrong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội” [3]
Nghị quyết 29 khoá 11 của Đảng tiếp tục khẳng định: “Phải phát triển toàndiện giáo dục và đào tạo” [3]
Vậy nhiệm vụ của giáo dục là đào tạo ra những con người mới có kiếnthức, kĩ năng, phẩm chất đạo đức, năng động, sáng tạo để đáp ứng với yêu cầuphát triển của xã hội
Trong chương trình giáo dục tiểu học hiện nay, môn Tiếng Việt là môn họcgiữ vị trí vô cùng quan trọng Thông qua học môn Tiếng Việt, học sinh có đượccác kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Từ đó, giúp các em có khả năng giao tiếp vàphát triển ngôn ngữ Làm tiền đề cho việc học các môn học khác
Môn Tiếng Việt có nhiều phân môn Trong đó, phân môn Tập đọc cónhiệm vụ rất quan trọng là hình thành năng lực đọc cho học sinh Nếu học tốtphân môn Tập đọc, nó sẽ giúp cho các em học tốt hơn các phân môn của bộ mônTiếng Việt Thông qua việc dạy và học phân môn Tập đọc còn góp phần rènluyện các thao tác tư duy, cung cấp cho những học sinh những kiến thức vànhững hiểu biết sơ giản về xã hội, thiên nhiên và con người Như vậy phân mônTập đọc được coi như môn khởi đầu để học tiếp các môn học khác và để tiếp thucác tri thức của nhân loại
Trong khi đó ở trường Tiểu học việc dạy phân môn Tập đọc cho học sinh ởmột số nơi hiện nay chưa đáp ứng được theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của bậchọc theo quy định trong công văn số 896/BGD & ĐT –GDTH ngày 13/02/2006của Bộ Giáo dục và Đào tạo như kỹ năng: đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát,trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc haycòn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm [4]
Là giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 2 một vùng nông thôn của huyệnQuảng Xương, tôi thấy vẫn còn nhiềư học sinh đọc còn chậm, ảnh hưởngphương ngữ rất lớn, phát âm sai các vần khó Bản thân tôi luôn băn khoăn cầnphải làm thế nào để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục qua việc dạy Tậpđọc, cần phải có biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 2 như thế nào để đạt đượchiệu quả như mong muốn, nhất là học sinh lớp 2C là lớp mà có nhiều học sinh
có điều kiện gia đình khó khăn hơn so với 3 lớp còn lại của khối 2, nên các em ítđược sự quan tâm của bố mẹ về học tập Bởi vậy giáo viên phải cố gắng rấtnhiều để đạt được mục tiêu giáo dục của nhà trường Và thực hiện có hiệu quả
kế hoạch 04 về khắc phục nói, viết Tiếng Việt chưa chuẩn tiếng phổ thông trongcác trường tiểu học, mầm non, TH CS trên địa bàn huyện Quảng Xương giaiđoạn 2018-2020 tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “ Một số biện pháp giúp họcsinh lớp 2 học tốt phân môn Tập đọc”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Trang 3Về phía giáo viên: tìm ra biện pháp giúp học sinh lớp2 có kĩ năng đọc đúngtrong giờ Tập đọc, qua đó từng bước nâng cao năng lực đọc đúng, đọc hay, đọcdiễn cảm ở mỗi học sinh, nhằm nâng cao hiệu quả của việc dạy Tập đọc cho họcsinh lớp 2.
Về phía học sinh: các em có kĩ năng đọc đúng, làm chủ được tốc độ đọc;học sinh say mê, hứng thú khi học Tập đọc
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Các giải pháp nhằm giúp học sinh lớp 2 học tốt phân môn Tập đọc ởtrường Tiểu học
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng một số phương phápnghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Đọc các văn bản, sách báo, tạp chí giáodục có liên quan đến đề tài, sách giáo khoa, sách giáo viên; hệ thống hoá nhữngvấn đề có liên quan đến phân môn Tập đọc
-Phương pháp điều tra, khảo sát : Thực trạng dạy tập đọc ở Tiểu học; khảosát chất lượng học sinh; trao đổi với giáo viên, trực tiếp đôí thoại với học sinhlớp 2
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Trực tiếp dạy và dự giờ, trao đổi ý kiếnvới đồng nghiệp về các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng môn Tập đọc
- Phương pháp khảo sát thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1.2 Ý nghĩa của việc đọc
Con người thật hạnh phúc khi biết đọc Chúng ta biết phần lớn những trithức, khái niệm của đời sống và những thành tựu văn hoá, khoa học, tư tưởng,tình cảm của thế hệ trước và cả của thời đương đại được ghi lại bằng chữ viết.Nếu không biết đọc thì con người khó có thể tiếp thu được nền văn minh củaloài người, chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc làm chủ xã hội đương đại.Không biết đọc, con người không được hưởng thụ những thành tựu văn hoá,khoa học, tư tưởng, tình cảm của nhân loại qua ngôn ngữ viết Biết đọc conngười đã nhân khả năng tiếp nhận lên nhiều lần Từ đây con người mới tìm hiểuđánh giá cuộc sống, nhận thức mối quan hệ tự nhiên, xã hội Biết đọc, con người
có khả năng giao tiếp được với thế giới bên trong của con người khác thông qua
Trang 4tác phẩm văn thơ, bút kí của họ Không biết đọc, con người sẽ khó có điềukiện hưởng thụ giáo dục mà xã hội dành cho họ, khó có thể hình thành một nhâncách toàn diện Đọc giúp các em học sinh chiếm lính được ngôn ngữ để dùngtrong giao tiếp và học tập Nó là công cụ để học tập các môn học khác Đọc mộtcách có ý thức cũng sẽ có tác động tích cực tới trình dộ ngôn ngữ cũng như tưduy của người đọc Đọc là một kĩ năng quan trọng hàng đầu của con người.Nhờ biết đọc con người có thể tự học, học nữa, học mãi, học suốt đời Đó là mộtyêu cầu không thể thiếu được của một con người trong thời đại hiện nay Biếtđọc ngắt câu, đổi giọng cho đúng ngữ điệu vừa đảm bảo được diễn cảm, hấp dẫnngười nghe, vừa đảm bảo đúng ngữ pháp, ý nghĩa thông tin của tác giả muốntruyền đạt cho người ghe hiểu, nhận thức được đúng cũng là góp phần làm trongsáng ngôn ngữ Tiếng Việt Chính vì vậy “đọc” có ý nghĩa to lớn ở bậc tiểu học.Bước đầu trẻ học đọc, sau đó trẻ đọc để học Đọc giúp trẻ chiếm lĩnh được ngônngữ trong giao tiếp và học tập Nó là công cụ để học các môn học khác, đọc tốtgiúp các em có kĩ năng giao tiếp có giáo dục.
Môn Tâp đọc ở tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngônngữ cho học sinh, thể hiện ở bốn chức năng: nghe, nói, đọc, viết Đọc khôngphải chỉ là công việc chuyển kí hiệu chữ viết thành âm thanh mà còn là quá trìnhnhận thức để có kĩ năng thông hiểu những gì mà mình đọc được
2.1.3 Nhiệm vụ của dạy tập đọc lớp 2: [2]
Phát triển kĩ năng đọc và nghe cho học sinh
* Rèn kĩ năng đọc thành tiếng
- Phát âm đúng
- Đọc rõ ràng, liền mạch từng câu, đoạn, cả bài, biết ngắt nghỉ hơi hợp lí saudấu câu, giữa các cụm từ, các phần trong bài tập đọc
- Cường độ đọc, tốc độ đọc vừa phải
- Tốc độ đọc vừa phải, đạt yêu cầu khoảng 50 tiếng/phút
* Rèn kĩ năng đọc thầm và hiểu nội dung
Biết đọc không thành tiếng, mấp máy môi Hiểu được nghĩa của các từ ngữtrong văn cảnh, nắm được nội dung của câu, đoạn hoặc bài đã đọc, trả lời đượccác câu hỏi ở cuối bài tập đọc, tập nhận xét một số nhân vật, hình ảnh, chi tiếttrong bài đọc
* Rèn kĩ năng nghe nói
- Nghe giáo viên đọc mẫu và nắm được cách đọc đúng các từ ngữ, câu, đoạn,bài
- Nghe - hiểu các câu hỏi và yêu cầu của thầy cô
- Nghe - hiểu và có khả năng nhận xét ý kiến của bạn
- Biết cách trao đổi với các bạn trong nhóm học tập về bài đọc
- Biết cách trả lời các câu hỏi về bài đọc
* Rèn tư thế đọc
Tư thế đứng đọc thoải mái, không gò ép, đứng thẳng, khoảng cách từ mắtcách sách giáo khoa khoảng 25- 30 cm
Trang 5* Trau dồi vốn Tiếng Việt, vốn văn học, phát triển tư duy, mở rộng sự hiểubiết của học sinh về cuộc sống: Làm giàu và tích cực hoá vốn từ ngữ, vốn diễnđạt, bồi dưỡng vốn văn học ban đầu, mở rộng vốn hiểu biết về cuộc sống, hìnhthành một số kĩ năng phục vụ cho cuộc sống và việc học tập cảu bản thân ( nhưkhai lí lịch đơn giản, đọc thời khóa biểu, ta và lập mục lục sách, nhận và gọiđiện thoại ), phát triển một số thao tác tư duy cơ bản (phân tích, tổng hợp)
*Bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và tâm hồn trong sáng, lành mạnh, tình yêucái đẹp, cái thiện, cách ứng xử đúng trong cuộc sống, từ đó các em say mê, hứngthú đọc sách và thêm yêu Tiếng Việt Bồi dưỡng tình cảm yêu quý, kính trọng,biết ơn và trách nhiệm đối với ông bà, cha mẹ, thầy cô; yêu trường lớp, giúp đỡbạn bè, vị tha, nhân hậu Xây dựng ý thức và năng lực thực hiện những phép xãgiao tối thiểu Từ những mẩu chuyện, bài văn, bài thơ hình thành lòng hammuốn đọc sách, khả năng cảm thụ văn bản văn học, cảm thụ vẻ đẹp của TiếngViệt và tình yêu Tiếng Việt
2.1.4 Những yêu cầu cần đạt được sau khi học tập đọc lớp 2
- Kĩ năng đọc thành tiếng phát âm đúng rõ ràng các tiếng có vần khó, có phụ
âm đầu, có dấu thanh dễ lẫn
- Đọc rõ ràng, mạch lạc, đảm bảo tốc độ theo quy định
- Ngắt nhịp đúng câu văn, câu thơ, đọc trơn và lưu loát bài tập đọc, biết phânbiệt lời nhân vật trong bài tập đọc
- Kĩ năng đọc hiểu: Hiểu được nội dung ý nghĩa bài tập đọc
2.1.5.Nội dung, chương trình phân môn Tập đọc lớp 2:
Trong quá trình tìm hiểu sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2, tôi nhận thấyrằng các bài tập đọc được phân bố vào từng tuần cùng với các phân môn khác.Các bài tập đọc được bố trí đầu mỗi tuần có vai trò làm cơ sở, chỗ dựa cho việcdạy các phân môn khác như: Chính tả, Tập làm văn, Luyện từ và câu Mỗi tuần
có 3 bài tập đọc song học sinh được học 2 bài còn 1 bài tự đọc thêm Bài tập đọcđầu tuần học 2 tiết Các bài tập đọc có đủ các thể loại: Văn bản văn học, vănxuôi, thơ và một số văn bản nước ngoài Trung bình mỗi chủ điểm học trong 2tuần Mỗi bài tập đọc được các nhà viết sách lựa chọn nhằm cung cấp cho họcsinh một số kiến thức nhất định về nội dung của các bài tập đọc lớp 2 xoayquanh các 6 chủ điểm lớn:
Nhà trường: 8 tuần - 24 tiết
Gia đình: 6 tuần - 18 tiết
Bạn trong nhà : 2 tuần - 6 tiết
Thiên nhiên đất nước gồm 7 đơn vị: Bốn mùa, chim chóc, muông thú, sôngbiển, cây cối, Bác Hồ, nhân dân Mỗi chủ điểm 2 tuần Riêng chủ điểm Nhândân 3 tuần [1]
Trong số các bài văn xuôi và thơ được đưa vào với tỉ lệ đồng đều: Vănxuôi – 48,4 % còn thơ là 51,6 % Nôi dung các bài văn xuôi ngắn, dễ hiểu dễđọc và gần gũi với cuộc sống xung quanh các em.Văn xuôi gồm nhiều loại,nhiều dạng bài như văn miêu tả, kể, vừa kể vừa tả hoặc có cả truyện ngắn, thểloại thơ cũng rất phong phú Chủ yếu là thơ vần, thơ lục bát, thơ 4 chữ, 5 chữ
Trang 6Trong đó thơ lục bát chiếm 39,6 %, Thơ 5 chữ 23 % còn lại là thơ tự do và cadao Những câu chuyện kể, những bài văn xuôi đều hướng tới mục đích giáo dụctính trung thực, đức vị tha, tình yêu lao động, tình đoàn kết, tương trợ, bảo vệcủa công Đưa dần các em đến với nhận thức về quan hệ giữa các em với nhàtrường, thầy cô, bạn bè, ông bà, cha mẹ, rộng ra là sông núi, trời biển, tổ quốc,nhân dân, lãnh tụ Từ đó hình thành dần trong các em ý thức cá nhân giữa cộngđồng, ý thức công dân Đặc biệt mạch bài cổ tích, ngụ ngôn, truyện vui trong vàngoài nước được đưa vào dạy khá hấp dẫn, dí dỏm, sinh động, dễ hiểu, dễ nhớđối với các em Đó là sự tích các loài (Sự tích cây vú sữa) Hiện tượng thiênnhiên (Sơn Tinh- Thuỷ Tinh), nguồn gốc dân tộc (Chuyện quả bầu)[1] Phần thơ
và văn vần rất hấp dẫn vừa sức đọc mang nhịp điệu học mà vui, vui mà học.Những bài tập đọc rất gần gũi, gắn bó với cuộc sống xung quanh các em Tạocho các em có 1 niềm vui hứng thú đọc và tìm hiểu bài Trong các bài tập đọcviệc sử dụng các biện pháp tu từ so sánh, nhân hoá ngắn gọn, dễ hiểu tạo nênngôn ngữ Vì vậy nhờ sự phân loại các dạng bài tập đọc đó góp phần giúp ngườigiáo viên xác định được đặc trưng riêng của từng giọng điệu để hướng dẫn họcsinh đọc tốt, đọc hay và nâng cao chất lượng cảm thụ cho học sinh bằng chínhgiọng đọc
*Nhà trường:
- BGH nhà trường đều là những người có năng lực quản lí, lãnh đạo Luônquan tâm, chỉ đạo sâu sát tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên làm tốt nhiệm vụđược giao
- Đội ngũ giáo viên của nhà trường đều có trình độ chuẩn và trên chuẩn, songhầu hết giáo viên đều ở xa trường, điều kiện đi lại vất vả, khó khăn
- Trường Tiểu học Quảng Nhân là một trường nằm xa khu vực trung tâm củahuyện, là một trong những trường khó khăn của huyện Quảng Xương Điều kiện
cơ sở vật chất của trường còn nhiều thiếu thốn: chưa đủ phòng học cho học sinh,bàn ghế ngồi học chưa đúng quy cách, các thiết bị dạy học hiện đại ứng dụngcông nghệ thông tin còn thiếu, mức độ sử dụng trang thiết bị, đồ dùng dạy họccủa giáo viên còn hạn chế
2.2.2 Thực trạng dạy Tập đọc:
* Về phía giáo viên:
- Giáo viên mới chỉ chú ý luyện cho học sinh đọc đúng, đọc trơn mà chưachú ý rèn đọc ngắt nghỉ hợp lí, đọc diễn cảm
Trang 7- Trong giảng dạy đôi lúc còn thiếu đồ dùng dạy học, dụng cụ trực quan đểgiúp học sinh khắc sâu kiến thức nên chưa gây được sự chú ý, hứng thú cho họcsinh.
- Việc phân bố thời gian trong tiết tập đọc còn chưa hợp lý, chưa nắm đượctrọng tâm của tiết tập đọc
- Dạy chưa đảm bảo quy trình của tiết học
- Chưa quan tâm hợp lí tới từng đối tượng học sinh
- Sử dụng các biện pháp dạy học chưa thật sự linh hoạt trong việc phối kếthợp các phương pháp dạy học và thay đổi hình thức dạy học nên dẫn đến giờhọc trầm và không có hiệu quả cao
- Nhiều giáo viên không đầu tư nhiều cho việc xây dựng kế hoạch bài dạy,nên các định hướng trong giờ học còn chung chung, mang nặng tính hình thức
- Một số ít em có bố sa vào tệ nạn cờ bạc, nghiện ngập, mẹ thì làm ăn xa như
em Bảo, Dũng, điều đó ảnh hưởng rất lớn đến điều kiện sinh hoạt, học tập củacác em
- Sau thời gian nghỉ hè học sinh chưa được ôn luyện nên kĩ năng đọc chưađạt yêu cầu
- Đa số các em chưa hứng thú với môn học Học sinh đọc nhanh chán, sứcchú ý chưa cao, chưa tập trung, chỉ đọc khi cô yêu cầu, chưa tự giác đọc, khi bạnđọc không chú ý theo dõi Một bài tập đọc chỉ đọc ít lượt nên khi tìm hiểu nộidung bài cũng khó khăn và không hứng thú trả lời câu hỏi tìm hiểu nội dung bài
- Còn một số học sinh có trí nhớ kém, chậm phát triển nên khi học xong làquên, không nhận được mặt chữ nên không đọc được như: em Hải, em Truyền
- Do còn chưa mạnh dạn nên đọc phân biệt các lời của nhân vật trong bàichưa đạt yêu cầu, còn đọc với giọng đều đều Như em Mai Anh, Ngân Khánh,Trâm
- Trong chương trình phân môn tập đọc có một số chủ đề lớn như: Bốn mùa,sông biển, nhân dân…Trong đó có những bài tả cảnh vật, những từ ngữ mà ở địaphương các em chưa từng thấy, chưa từng nghe, chưa từng biết nên đòi hỏi các
em tận dụng quá mức trí tưởng tượng non nớt của mình vào bài đọc, một số họcsinh đọc bài còn chậm chưa lưu loát nên chưa hiểu được nội dung bài
-Học sinh còn ảnh hưởng phát âm tiếng địa phương nhiều Học sinh hay đọc
sai tiếng có phụ âm đầu là s/x, ch/tr; thanh ngã / thanh hỏi
Trang 8Đọc nhầm lẫn vần iêu thành iu, uôi thành ui ( Ví dụ: buổi chiều đọc thành bủi chìu; Vần ươi thành ưi ( Ví dụ: số mười đọc thành số mừi), vần ươu đọc thành ưu hoặc iêu ( ví dụ: rượu đọc thành riệu hoặc rựu Vần in thành vần inh ( VD: số chín đọc thành số chính )
- Học sinh đọc ngắt nghỉ hơi không hợp lí, tốc độ đọc chưa đạt yêu cầu, chưabiết đọc diễn cảm Từ đó các em gặp rất nhiều khó khăn trong việc học tập Tốc
độ đọc không đạt thì không thể nào thực hiện được yêu cầu đọc hiểu câu, hiểuvăn bản ở phân môn Tập đọc, cũng như không thể hiểu yêu cầu trong khi họccác môn học khác Khả năng nghe viết chậm và không chính xác
*Kết quả khảo sát đọc đầu năm học – tháng 9/ 2018 kết quả như sau:
2.3 Các giải pháp nhằm giúp HS học tốt phân môn Tập đọc
- Để đạt được mục tiêu, yêu cầu môn học, học sinh phải trải qua một quátrình rèn luyện và phẻi có sự chỉ đạo, phối hợp giữa giáo viên với gia đình họcsinh và giữa học sinh với nhau Cụ thể là:
Giải pháp 1: Phân loại học sinh:
Đây là việc không kém phần quan trọng Ở đây tôi phân học sinh thành 3 loại
để rèn:
- Loại 1: Đọc còn chậm, ngắc ngứ, đọc còn sai âm vần nhiều
- Loại 2: Đọc bình thường
- Loại 3: Đọc tốt
Trang 9Cách rèn ba loại như sau:
Đối với học sinh đọc còn chậm, ngắc ngứ, đọc còn sai âm vần nhiều: Tâm lí
các em rất ngại đọc, nhất là các bài dài, vì thế không nên ép các em đọc nhiều.Đọc nối tiếp câu là hình thức tốt nhất để các em này rèn luyện Tôi đã động viêncác em đọc tốt từng câu mỗi bài, sau đó nâng dần lên đọc đọan Như em ĐăngDuy, em Phát, em Truyền, em Hiền
Đối với học sinh đọc bình thường: Tâm lí các em ngại thể hiện, các em nghĩ
biết đọc là được Tôi đã khuyến khích như khen, động viên để các em bạo dạnhơn Ngoài ra cho các em tham gia đóng vai nhân vật trong giờ Tập đọc hoặc kể
chuyện để lôi cuốn các em hứng thú đọc
Đối với học sinh đọc tốt: Tâm lí các em thích bộc lộ, tự tin Tôi yêu cầu các
em ở mức độ cao hơn như đọc diễn cảm, đọc theo vai Lấy các em làm nhân tốTích cực để phát triển thêm các vai khác Tôi thường cho các em này đọc mẫu
để học sinh khác noi theo Tiêu biểu như em Khánh, Kim Chung, Hải Anh,Như…
Giải pháp 2: Rèn kĩ năng phát âm:
Dạy luyện đọc từng câu và các từ ngữ khó Đây là giai đoạn quan trọng việcdạy môn tập đọc, bước đầu các em phải nắm rõ cách đọc các từ ngữ có vần khó,phát âm dễ lẫn đây là cơ sở để kết hợp cho các em luyện đọc câu đúng theo yêucầu
VD: Khi dạy bài tập đọc “Có công mài sắt có ngày nên kim”
Phải hướng dẫn học sinh đọc đúng từ ngữ: quyển, nguệch ngoạc, giảng giải,mải miết, ngáp ngắn…(khi đọc tôi có thể phân tích cách đọc từ khó “nguệch
ngoạc”, tiếng nguệch gồm có phụ âm đầu là ng vần uêch dấu nặng đọc là nguệch, tiếng “ngoạc” gồm có phụ âm đầu là ng vần oac dấu nặng đọc là ngoạc.
Tôi đọc mẫu: ng - uêch - nặng - nguệch ; ng – oac – nặng – ngoạc; đọc từnguệch ngoạc Tôi đọc xong cho học sinh yếu đọc lại từng tiếng rồi đọc haitiếng lại thành từ như tôi vừa đọc mẫu, nếu các từ còn lại mà học sinh đọc sai tôicũng có thể phân tích cách đọc và hướng dẫn đọc như từ đã vừa hướng dẫn )
VD: Khi dạy Tập đọc “Phần thưởng”
Tôi phải hướng dẫn học sinh đọc đúng các từ khó như: phần thưởng, sángkiến, bàn tán…( Khi đọc tôi đọc mẫu trước, rồi cho học sinh đọc lại theo giáoviên, nếu có học sinh đọc chưa được thì giáo viên có thể đọc đánh vần từngtiếng xong ghép lại đọc từ như từ “ phần thưởng ”có thể đọc là ph- ân – huyền -phần; th - ương - hỏi - thưởng ; phần thưởng; các từ còn lại cũng hướng dẫn chohọc sinh đọc như vậy )
VD: Khi dạy bài tập đọc “Gọi bạn”
Phải hướng dẫn học đọc đúng các từ ngữ khó phát âm như: thuở, khắp nẻo,nuôi đôi bạn, quên đường về…( Khi đọc tôi đọc mẫu trước rồi cho học sinh đọclại theo, nếu học sinh phát âm chưa đúng tôi phân tích các từ khó đó như “thuở”phụ âm đầu vần “uơ” dấu hỏi đọc là “thuở ”rồi cho học sinh đọc lại , các từ cònlại cũng hướng dẫn cho học sinh đọc như đã vừa hướng dẫn từ “thuở ”
Trang 10VD: Khi dạy bài “Bím tóc đuôi sam”
Phải hướng dẫn học sinh đọc đúng các từ có vần khó như: loạng choạng,ngượng nghịu, oà khóc, khuôn mặt…
Khi đọc thì tôi đọc mẫu trước, cho học sinh đọc lại theo, có thể cho học sinhđánh vần lại để đọc các từ đó (hướng dẫn học sinh cách phát âm đúng từng phụ
âm vần , xong đọc rõ từng tiếng, kết hợp đọc đúng cả câu) nhất là cho học sinhyếu đọc chưa đúng đọc chậm đọc nhiều hơn, để giúp các em đọc được bài đọctheo yêu cầu
Giải pháp 3: Sử dụng các hình thức luyện đọc để gây hứng thú cho học sinh
Trước hết, muốn rèn đọc tốt thì việc gây hứng thú cho học sinh trong tiết học
là quan trọng nhất Nhất là các em đọc còn chậm thì giáo viên cần kích thích chocác em thích đọc Các em thấy tiết học như một sân chơi, các em được nghe,được học hỏi, được bộc lộ Việc gây hứng thú tiết học chính là việc đọc mẫu thậtdiễn cảm, thật có hồn để lột tả được cái hay, cái đẹp trong văn bản Từ đó, cuốnhút học sinh nghe để các em thấy được cái hay trong mỗi bài văn, câu chuyện,các em sẽ thấy thích học ngay, thích khám phá và thích đọc được giống như giáoviên
Một việc khác cũng giúp gây hứng thú tiết học là việc tổ chức lớp học vớinhiều hình thức luyện đọc: đọc từng câu, đọc từng đoạn trước lớp, đọc từngđoạn trong nhóm, cả lớp đọc đồng thanh, đọc theo vai, Tất cả tạo nên một khôngkhí vui nhộn trong giờ học; học mà như chơi Mặt khác tiến hành như thế tạođiều kiện luyện đọc được kĩ lưỡng đến từng học sinh, cơ hội luyện đọc cá nhânđược nhiều hơn
Cụ thể việc làm trong mỗi hình thức luyện đọc như sau:
Đọc từng câu: Từng học sinh ngồi cùng bàn hoặc cùng nhóm kế tiếp nhau
đọc từng câu trong bài đọc Tôi theo dõi nhận xét cách phát âm của học sinh và
hướng dẫn đọc những từ khó
Đọc từng đoạn: Từng học sinh nối tiếp nhau đọc từng đoạn trong bài Sau
mỗi học sinh đọc, tôi hướng dẫn cả lớp nhận xét cách đọc của bạn và hướng dẫncách ngắt, nghỉ hơi, nhấn giọng khi đọc câu, đoạn Đoạn nào có từ khó hiểu, tôihướng dẫn học sinh tìm hiểu qua chú giải hoặc giải nghĩa những từ tôi chọnthêm
Đọc từng đoạn trong nhóm: Học sinh nối tiếp nhau đọc, đọc từng đoạn trong
nhóm Học sinh còn lại trong nhóm nhận xét cách đọc của bạn Tôi giúp đỡ cácnhóm có học sinh đọc còn chậm, ngắc ngứ
Thi đọc giữa các nhóm: Mỗi lần hai học sinh đại diện cho hai nhóm cùng đọc
một đoạn hay cả bài Tôi tổ chức cho học sinh nhận xét, đánh giá, bình chọnnhóm có bạn đọc tốt nhất
Cả lớp đọc đồng thanh: Học sinh đọc đồng thanh toàn bài một hoặc hai lần
Trang 11Đọc theo vai: Tôi chia nhóm, học sinh tự phân vai tuỳ theo khả năng đọc của
các bạn trong nhóm rồi luyện đọc theo vai Sau đó các nhóm thi đọc theo vai.Tôi hướng dẫn các em bình chọn nhóm đọc hay
Giải pháp 4: Thường xuyên động viên, khuyến khích, khen thưởng, khêu gợi hứng thú học tập:
Tôi đã sử dụng nhiều hình thức như: động viên khi học sinh gặp khó khăn,khen ngợi khi học sinh có tiến bộ dù là nhỏ nhất, tuyên dương trước lớp….Điềunày rất quan trọng Ví dụ em Đăng Duy trước đây đọc nhỏ và rất nhút nhát Gọimãi em mới đứng dậy đọc, tôi đã không yêu cầu em đọc cả đoạn dài chỉ đọc mộtcâu, thậm chí một từ khi đọc, sau đó tôi cho cả lớp vỗ tay khen bạn Riêng với
em này, tôi thường xuyên gọi đọc Đến nay em đã rất tiến bộ, đọc to rõ và tươngđối lưu loát
Vận dụng nhiều hình thức tổ chức, các kĩ thuật dạy học tích cực như: nhóm,trò chơi thi đọc, đoáng vai….tạo sự mới mẻ và gây hứng thú giúp các em say mêhơn với môn học Ví dụ bài: “Ai ngoan sẽ được thưởng”, bài “Những quả đào”
có những đoạn hội thoại, tôi chia học sinh thành các nhóm theo số nhân vật, tổchức cho các nhóm sắm vai đọc, bình chọn nhóm đọc to, rõ ràng, diễn cảm thểhiện tốt giọng nhân vật và thưởng mỗi em một bông hoa giấy, bữa thì một cáikẹo hoặc bút…
Giải pháp 5: Dạy tìm hiểu nội dung bài
Trước hết tôi hướng dẫn học sinh tìm hiểu nghĩa của một số từ ngữ trong bài.Cho nhiều học sinh đọc những từ ngữ được chú giải sau bài đọc Tôi có thể giảinghĩa thêm những từ ngữ mà học sinh chưa hiểu
VD: Dạy tìm hiểu nghĩa của một số từ ngữ trong bài “Bạn của nai nhỏ” khicho học sinh đọc xong phần chú giải trong sách giáo khoa thì tôi giải nghĩa thêm
từ “rình”: nấp ở một chỗ kín để theo dõi hoặc để chờ bắt
VD: Dạy tìm hiểu nghĩa của một số từ ngữ trong bài “Bím tóc đuôi sam” Tôicho học sinh đọc phần chú giải trong sách giáo khoa xong tôi giải nghĩa thêmnhững từ ngữ khác như “đầm đìa nước mắt”: khóc nhiều, nước mắt ướt đẫm mặt
“Đối xử tốt”: nói và làm đều tốt với người khác
VD: dạy tìm hiểu nghĩa của một số từ ngữ trong bài “người mẹ hiền" khi chonhiều học sinh đọc xong phần chú giải trong sách giáo khoa thì tôi giúp học sinhhiểu rõ thêm các từ ngữ “thầm thì”: nói nhỏ vào tai “vùng vẫy”: cựa quậymạnh, cố thoát
Khi dạy tìm nghĩa của các từ ngữ trong bài mà học sinh chưa hiểu, các từ địaphương mà học sinh chưa quen giáo viên có thể giải nghĩa thêm hoặc nêu ví dụcác từ ngữ gần nghĩa; có thể cho học sinh tìm hiểu nghĩa bằng các cách khácnhư: dùng tranh ảnh, vật thật cho học sinh quan sát,; dùng từ trái nghĩa hoặc yêucầu học sinh đặt câu với từ đó Từ đó giúp học sinh đọc hiểu nội dung bài
Dạy học sinh tìm hiểu nội dung bài đọc là dựa vào các hệ thống câu hỏitrong bài, giáo viên tổ chức sao cho mỗi học sinh đều được làm việc để tự mìnhnắm được nội dung bài Ngoài ra giáo viên cần có thêm những câu hỏi phụ,