Ngành Giáo dục và Đào tạo cũng đã có nhiều cuộc hội thảo và cũng đã đưa ra nhiều phương pháp dạy học tích cực hơn… nhưng hiện tại không ít giáoviên vẫn sử dụng cách dạy học theo kiểu “đọ
Trang 11 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Trong nhiều năm qua, nền kinh tế xã hội trên toàn thế giới có nhiều chuyểnbiến nhanh chóng Ở nước ta trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, vấn đềgiáo dục luôn được coi là vấn đề quan trọng hàng đầu Để đáp ứng được yêu cầucủa cách mạng khoa học kỹ thuật đang phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ, đòihỏi ngành giáo dục và đào tạo phải thay đổi cách dạy và cách học nhằm tạo ranguồn nhân lực mới có tri thức khoa học cao, kĩ năng vận dụng vào thực tiễn và
dễ dàng thích ứng trong môi trường mới đầy năng động, sáng tạo để giải quyết tốtcác vấn đề trong cuộc sống
Từ lâu, dạy học theo kiểu “đọc – chép” được coi là một phương pháp dạyhọc để truyền tải kiến thức cho học sinh và được sử dụng phổ biến ở nhiều trườngtrong cả nước Ngành Giáo dục và Đào tạo cũng đã có nhiều cuộc hội thảo và cũng
đã đưa ra nhiều phương pháp dạy học tích cực hơn… nhưng hiện tại không ít giáoviên vẫn sử dụng cách dạy học theo kiểu “đọc – chép”
Phải nói rằng trong một tiết dạy, cũng có lúc giáo viên cần phải đọc cho họcsinh chép như môn chính tả ở bậc Tiểu học, đọc hoặc ghi lên bảng các công thứctoán học, bảng cửu chương, một sự kiện lịch sử, một số yếu tố địa lý, đoạn thơ, cáckhái niệm ở bậc Trung học, điều này không có nghĩa là giáo viên đã sử dụngphương pháp “đọc – chép”
Cũng phải khẳng định rằng, trong giáo học pháp, chưa bao giờ trong trườnghọc có phương pháp dạy học mang tên “đọc – chép” Do đó, “đọc” thế nào và họcsinh “chép” ra sao mới là quan trọng Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương chốngviệc dạy học “chủ yếu qua đọc chép – nhìn chép” nghĩa là chống việc chỉ đọc chép,truyền thụ kiến thức một chiều trong cả một tiết lên lớp
Với cách dạy này, người thầy đã máy móc, rập khuôn trong dạy học, dễ có
tư tưởng phó mặc, không hứng thú trong cập nhật kiến thức, không sáng tạo trongviệc tìm kiếm các phương án thiết kế bài dạy phù hợp với mọi đối tượng học sinhtrong lớp mình phụ trách để kết quả giảng dạy đạt mức tối ưu Người học theo cáchnày sẽ trở nên thụ động, chỉ biết thu nhận kiến thức một chiều, không động não suynghĩ, không biết tự mình chiếm lĩnh tri thức, trở nên thui chột về tư duy, khó vậndụng kiến thức vào cuộc sống
Hơn nữa, đã dạy theo kiểu “đọc – chép” thì đề thi phải ra theo kiểu họcthuộc Học sinh khi học, chép được điều gì thì lúc thi, lại chép những điều ấy vàobài làm, không có khả năng sáng tạo, học sinh hiểu bài một cách máy móc khôngsáng tạo, không thể hiện được “cái riêng” của mình hoặc không dám thể hiện “cáiriêng” của mình Bài dạy học đọc – chép tất yếu phải được tổ chức theo phươngthức diễn dịch, do đó tiết dạy “đọc – chép” sẽ nhàm chán và mang tính áp đặt
Việc giáo viên sử dụng cách dạy học theo kiểu đọc – chép, có thể kể ra
một số nguyên nhân sau:
Do một số bài học của chương trình có lượng kiến thức nhiều, trong một
tiết học chỉ có 45 phút, mà đã mất 10 đến 15 phút ổn định tổ chức, kiểm tra bài cũ,
Trang 2dặn dò học, làm bài tập ở nhà…Như vậy, chỉ còn khoảng 30 phút để giảng bài mớinên giáo viên chọn cách “đọc – chép”.
Học sinh hiện nay khả năng tự ghi bài là rất chậm, rất hạn chế, thụ động trong học tập nên cũng có thầy cô chọn cách đọc bài, học trò chép bài Học sinh về
nhà chỉ cần học thuộc nội dung đã được ghi, khi kiểm tra bài chỉ cần đọc đúng, ghiđúng là được điểm cao…
Cũng còn một số giáo viên không chịu khó đầu tư cho việc thiết kế bài dạy sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh mình đang phụ trách, sợ mất sức, cứ
sẵn giáo án mẫu đọc cho học sinh chép, khi cần thỉnh thoảng mới dừng lại ghi vàichữ lên bảng Như thế, vừa không sợ sai kiến thức cơ bản, lại vừa không tốn sức
Qua quá trình giảng dạy từ phương pháp truyền thống chuyển đổi sangphương pháp giảng dạy theo hướng mới đó là : Lấy học sinh làm trung tâm, tậptrung đầu tư phương pháp làm sao cho học sinh chủ động nắm bắt kiến thức ngaytrên lớp thông qua việc vận dụng từ những phương pháp tối ưu trên bục giảng đểhọc sinh tự làm chủ , tự phát huy để lỉnh hội những kiến thức cơ bản ( trên chuẩnkiến thức kỉ năng ) là một việc làm thật sự thách thức và khó khăn cho cả thầy vàtrò ( làm sao cho hiệu quả , không chạy theo hình thức ), với kinh nghiệm là mộtgiáo viên đã có tuổi nghề gần 20 năm Những thách thức đó là :
- Những thách thức đối với môn Địa lí ở trường phổ thông
Vị trí, vai trò của môn Địa lí phổ thông trong thực hiện mục tiêu giáo dụcĐiều 23, Luật Giáo dục quy định mục tiêu của giáo dục phổ thông là: "giúp họcsinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơbản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng
tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đivào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc".Địa lí là môn học cung cấp cho học sinh (HS) những kiến thức phổ thông, cơ bản,cần thiết về Trái Đất và những hoạt động của con người trên bình diện quốc gia vàquốc tế, làm cơ sở cho hình thành thế giới quan khoa học; giáo dục tư tưởng tìnhcảm đúng đắn; đồng thời rèn luyện cho HS các kĩ năng hành động, ứng xử phù hợpvới môi trường tự nhiên, xã hội, phù hợp với yêu cầu của đất nước thờiđại
- Môn Địa lí còn có nhiều khả năng bồi dưỡng cho HS năng lực tư duy (tưduy kinh tế, tư duy sinh thái, tư duy phê phán, ); trí tưởng tượng và óc thảm mĩ;rèn luyện cho HS một số kĩ năng có ích trong đời sống và sản xuất Cùng với cácmôn học khác, môn Địa lí góp phần bồi dưỡng cho HS ý thức trách nhiệm, lòngham hiểu biết khoa học, tình yêu thiên nhiên, con người, quê hương, đất nước
Vì vậy, Địa lí là môn học không thể thiếu được trong hệ thống các môn học củanhà trường phổ thông, nhằm góp phần vào việc thực hiện mục tiêu giáo dục phổthông như Luật Giáo dục đã nêu
Những khó khăn gặp phải trong quá trình đổi mới:
- Một số giáo viên (GV) Địa lí vẫn chưa thực sự thấm nhuần bản chất, hướng
và cách thức đổi mới PPDH Địa lí; hiểu biết về cơ sở lí luận, thực tiễn của đổi mới
Trang 3- Đa số GV vẫn chú trọng truyền thụ kiến thức theo kiểu thuyết trình xen kẽhỏi đáp, nặng về thông báo, giảng giải kiến thức, nhẹ về phát huy tính tích cực và
- Nhiều GV lên lớp theo kiểu dạy "chay", không sử dụng bản đồ/lược đồngay cả trong các tiết học có nội dung về địa lí khu vực, quốc gia, tổ quốc và địaphương Việc sử dụng phương tiện dạy học còn nặng về mô tả, minh hoạ là chủyếu
- Hình thức tổ chức dạy học còn đơn điệu Dạy theo lớp là chủ yếu Các hìnhthức dạy học cá nhân, nhóm, ngoài trời còn được ít, hoặc chưa được thực hiện,
- Cơ sở vật chất phục vụ dạy học và các phương tiện dạy học còn thiếu vàchưa đồng bộ.[1].
Vì thế, chương trình giáo dục mới rất chú trọng đến việc phát huy tư duytổng hợp, sáng tạo, tự nghiên cứu, tự học của học sinh, trong đó bài ôn tập gópphần rất quan trọng Những bài ôn tập chỉ được đánh giá tốt khi nó phát huy cao
độ khả năng tổng hợp, hệ thống hóa kiến thức đã học, xác lập mối quan hệ giữacác yếu tố tự nhiên, giữa tự nhiên với hoạt động sản xuất của con người, củng cốcác kĩ năng phân tích so sánh và giải thích các hiện tượng có liên quan.Bài ôn tập trở nên vô cùng cần thiết cho vấn đề củng cố kiến thức cho các emtrong tất cả các môn học Riêng đối với môn Địa lí thì đây là một trong những bàikhó dạy, vì trong sách giáo khoa không có bài ôn tập cụ thể, lại không có sách nàohướng dẫn một tiết ôn tập một cách chi tiết Chính vì lẽ đó giáo viên khi dạy cáctiết này thường gặp rất nhiều khó khăn, đòi hỏi giáo viên phải có sự chuẩn bị côngphu, kiến thức tổng hợp nhuần nhuyễn, kĩ năng phân tích thuần thục và phải cóphương pháp dạy học hợp lí, bên cạnh đó học sinh cũng phải có sự chuẩn bị đầy
đủ trước những nội dung ôn tập ở nhà thì mới dạy tốt được tiết ôn tập Tuy nhiên,khi tổ chức dạy học ở lớp, tiết ôn tập vẫn rất khó thành công Những tiết ôn tập trong chương trình Địa lí THCS không có trong sách giáokhoa mà giáo viên tự soạn nội dung, vì vậy thường rơi vào tình trạng nội dung ôntập quá dài, không thực hiện được hết trong một tiết; hoặc có những tiết lại khôngtổng hợp, hệ thống hóa được kiến thức trọng tâm của chương trình, dàn trải nộidung Kết quả học sinh không thích tiết ôn tập, hơn nữa học sinh rất thực tế, các
em chạy theo các môn khoa học tự nhiên và môn ngoại ngữ, không thích các môn
xã hội, nhất là môn Địa lí các em xem đây là môn phụ thì chínhcác tiết ôn tập làmcác em nhàm chán
Nhiều năm trong nghề, tôi rất trăn trở về vấn đề này, mỗi lần có thanh tra
về hoặc thi giáo viên giỏi nếu gặp tiết ôn tập tôi rất lo sợ Không những riêng tôi
mà các đồng nghiệp của tôi cũng vậy, họ rất ngại tiết ôn tập Vì vậy đề tìm đượcphương pháp nào tiện lợi, hiệu quả vừa có khả năng truyền tải hết kiến thức bàihọc vừa tạo ra cho học sinh hứng thú học tập Vừa khắc sâu kiến thức, vừa làmcho các em yêu thích môn học Từ đó phát huy tính tích cực, tự giác và suy luận
Trang 4cho các em, nhất là các em khối 9 để các em có đủ hành trang cho các kì thi tuyển(Thi HSG, thi tuyển sinh vào lớp 10 - nếu môn thi thứ ba là môn Địa lí).
Chính vì thế được sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp, tôi đã chọn " Một số kinh nghiệm dạy tiết ôn tập Địa lí 9 bằng sơ đồ tư duy tại trường THCS Quảng Giao – huyện Quảng Xương – tỉnh Thanh Hóa" góp phần tổng hợp kiến thứcnhanh gọn, khái quát.Tôi đã mạnh dạn áp dụng phương pháp này vào xây dựnggiáo án tiết 17: Ôn tập Địa lí 9 Kết quả thấy việc áp dụng phương pháp mới đó đãgiải thoát được rất nhiều vướng mắc của giáo viên bấy lâu nay là rút ngắn đượcthời gian Đặc biệt hệ thống hóa kiến thức một cách nhanh chóng, đa số học sinhhiểu bài, khắc sâu hơn kiến thức bài học, hứng thú trong học tập, các em có ý thứcxây dựng bài nhiều hơn, biết suy luận các vấn đề, giờ học Địa lí trở nên sôi nổihơn Tôi thiết nghĩ tiết ôn tập (Địa lý) nào giáo viên cũng làm được như thế nàythì chắc chắn môn Địa lí sẽ được các em yêu thích nhiều hơn
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Góp phần nâng cao khả năng xây dựng và sử dụng sơ đồ cho giáo viên
- Giúp học sinh có khả năng nhận thức kiến thức và tự hoàn thiện kiến thức
- Thông qua tiết ôn tập GV tổng kết lại kiến thức đã học trước đó bằng việc sửdụng sơ đồ trong dạy học Địa lí Đồng thời rèn luyện cho HS những kỷ năng vẽbiểu đồ ở các dạng bài tập Địa lí
- Giới hạn trong việc tạo kỷ năng xây dựng và sử dụng sơ đồ cho giáo viên
- Tìm hiểu thực trạng dạy tiết ôn tập hiện nay và nguyên nhân dẫn đến thực trạngtrên
- Cần phải có phương pháp như thế nào để ôn tập tốt cho học sinh, cho các emnắm vững hệ thống kiến thức về dân cư và các ngành kinh tế của Việt Nam để tiết sau các em làm kiểm tra có kết quả tốt
- Dạy tiết ôn tập như thế nào để các em hứng thú với tiết học, không gây sự nhàmchán học lại kiến thức
- Áp dụng phương pháp sơ đồ trong dạy tiết 17 (Ôn tập Địa lí lớp 9)
- Đề tài này được thực hiện nghiên cứu ở chương trình Địa lí 9(HK1), thực hiệnphương pháp dạy ôn tập bằng sơ đồ phần Địa lí dân cư và Địa lí kinh tế
- Học sinh có thể vận dụng nghiên cứu để hình thành kĩ năng, phương pháp học tập tốt hơn thông qua sơ đồ
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Áp dụng đối với học sinh THCS nói chung
- Người thực hiện là giáo viên và học sinh trong giảng dạy và học tập môn địa lí
ôn tập GV tổng kết lại kiến thức đã học trước đó bằng việc sử dụng sơ đồ trongdạy học Địa lí Đồng thời rèn luyện cho HS những kỷ năng vẽ biểu đồ ở các dạngbài tập Địa lí
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 51.5 Điểm mới của Sáng kiến
- Giúp HS hệ thống hóa kiến thức ở tiết ôn tập
- Tạo hứng thú học tập cho học sinh yên thích bộ môn Địa lý
- Hướng tới hoạt động học của học sinh nhằm phát huy năng lực của các em
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN 2.1 Cơ sở lí luận
Ngày nay trong quá trình hội nhập nền kinh tế, giáo dục được coi là mộtlĩnh vực rất quan trọng và luôn đi trước một bước trong sự nghiệp phát triển kinh
tế của một quốc gia.Vì vậy, vấn đề chất lượng dạy- học nói chung và dạy học mônĐịa lí nói riêng ngày càng trở thành mối quan tâm chung của các nhà sư phạmcũng như các nhà quản lý giáo dục và xã hội Đảng và nhà nước ta đã khẳng định:
“Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”.Điều đó đã được thể hiện trong các Nghị Quyết của Trung ương.Nghị quyết TW4 khoá VII đã chỉ rõ phải “Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cảcác cấp học, bậc học Kết hợp học với hành, học tập với lao động sản xuất, thựcnghiệm và nghiên cứu khoa học, gắn nhà trường với xã hội Áp dụng nhữngphương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sángtạo năng lực giải quyết vấn đề Nghị quyết TW2 khoá VIII tiếp tục khẳng địnhphải “Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều,rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng cácphương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảođiều kiện và thời gian tự học , tự nghiên cứu cho học sinh
Từ kết kết quả đạt được trong năm học 2015-2016, 2016 - 2017 về thực hiệnnhiệm vụ trọng tâm của ngành, năm học 2017-2018 ngành Giáo dục & Đào tạoQuảng Xương tiếp tục tập trung thực hiện thắng lợi chương trình hành động củachính phủ triển khai Nghị quyết đại hội XII của Đảng Nghị quyết đại hội Đảng bộlần thứ XXV nhiệm kì 2015-2020, tiếp tục đưa sự nghiệp Giáo dục & Đào tạohuyện Quảng Xương phát triển vững chắc với nhiệm vụ tập trung nâng cao chấtlượng và đổi mới phương thức dạy học
Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn của xã hội, môn Địa lí trong nhà trường
nói chung và môn Địa lí lớp 9 nói riêng không ngừng cải tiến chương trình, cải tiến
phương pháp dạy học nhằm đạt được hiệu quả cao nhất.Trong đó "kinh nghiệm dạy tiết ôn tập Địa lí 9 bằng sơ đồ tư duy "đóng vai trò quan trọng, nó có nhiệm
vụ củng cố kiến thức, rèn luyện kỷ năng Địa lí cho học sinh một cách thuần thục
và chắc chắn hơn
Theo cấu trúc chương trình, hầu như sau một chương thường có một tiết ôn
tập để củng cố kiến thức chuẩn bị cho tiết kiểm tra Đây là một thuận lợi rất lớngiúp giáo viên thực hiện tốt các phương pháp dạy học và biện pháp rèn luyện kỹnăng địa lí cho học sinh
2.2 Thực trạng vấn đề
Qua nhiều năm giảng dạy môn Địa lí lớp 9, tôi nhận thấy chương trình Địa
lí THCS nói chung và Địa lí lớp 9 nói riêng có nhiều kiến thức rất trừu tượng đối
Trang 6với học sinh, nhiều khái niệm, có nhiều bài nội dung dài nên trong thời gian mộttiết học rất khó để giáo viên giảng giải hết cho học sinh hiểu Là môn học không
có chương trình ngoại khóa cho nên tiết ôn tập là để giáo viên khái quát và chốtkiến thức quan trọng đồng thời giải đáp một số thắc mắc của học sinh Vì thế vấn
đề đặt ra cho mỗi giáo viên có trình độ chuyên ngành hay không chuyên ngànhviệc lựa chọn phương pháp dạy học như thế nào cho phù hợp mỗi tiết học Thực
tế trong quá trình giảng dạy nhiều giáo viên rất ngại khi sử dụng sơ đồ(có thể donhận thức về phương pháp này, do sợ thiếu thời gian lên lớp hay chi phí tốn kém.Qua nhiều năm giảng dạy tôi thấy học sinh có kĩ năng ôn tập môn Địa lí rất hạnchế Tôi đã tiến hành khảo sát, thăm dò một số lớp 9 trong trường về kĩ năng ôntập môn Địa lí và đã thu được một số kết quả như sau:
Kết quả khảo sát trước khi thực hiện đề tài
(hai lớp với 49 em học sinh)
Sơ đồ tư duy phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người.[2]
2.3.2 Cấu tạo:
- Ở giữa sơ đồ là một hình ảnh trung tâm (hay một cụm từ) khái quát chủ đề
- Gắn liền với hình ảnh trung tâm là các nhánh cấp 1 mang các ý chính làm
đơn vị kiến thức nào đó [3]
Trang 72.3.3 Các bước thiết kế một SĐTD: [4]
Để thiết kế một SĐTD dù vẽ thủ công trên bảng, trên giấy , hay trên phầnmềm Mind Map, chúng ta đều thực hiện theo thứ tự các bước sau đây:
Bước 1: Bắt đầu từ trung tâm với từ, cụm từ thể hiện chủ đề (có thể vẽ hình ảnh
minh họa cho chủ đề - nếu hình dung được)
Bước 2: Từ hình ảnh trung tâm (chủ đề) chúng ta cần xác định: để làm rõ chủ đề,
thì ta đưa ra những ý chính nào Sau đó, ta phân chia ra những ý chính, đặt tiêu đềcác nhánh chính, nối chúng với trung tâm
Bước 3: Ở mỗi ý chính, ta lại xác định cần đưa ra những ý nhỏ nào để làm rõ mỗi
ý chính ấy Sau đó, nối chúng vào mỗi nhánh chính Cứ thế ta triển khai thànhmạng lưới liên kết chặt chẽ
Bước 4: Cuối cùng, ta dùng hình ảnh (vẽ hoặc chèn) để minh họa cho các ý, tạo
tác động trực quan, dễ nhớ
2.3.4 Quy trình tổ chức hoạt động vẽ SĐTD trên lớp:
Hoạt động 1: Cho học sinh lập SĐTD theo nhóm hay cá nhân thông qua gợi
ý của giáo viên
Hoạt động 2: Học sinh hoặc đại diện của các nhóm học sinh lên báo cáo,
thuyết minh về SĐTD mà nhóm mình đã thiết lập
Hoạt động 3: Học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện SĐTD
về kiến thức của bài học đó Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinhhoàn chỉnh SĐTD, từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học
Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một SĐTD mà giáo viên đã chuẩn bị
sẵn hoặc một SĐTD mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, cho học sinh lêntrình bày, thuyết minh về kiến thức đó
Trang 82.3.5 Những tiện ích của việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học Địa lí:
- Dạy học bằng SĐTD giúp học sinh có được phương pháp học hiệu quả.Chúng ta biết rằng việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ đơnthuần là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học.Trong thực tế hiện nay, còn nhiều học sinh học tập một cách thụ động, chỉ đơnthuần là nhớ kiến thức một cách máy móc theo thói quen học vẹt, các em chưa có ýthức hoặc chưa biết rèn luyện kỹ năng tư duy Học sinh chỉ học bài nào biết bài ấy,nắm kiến thức một cách đơn lẻ, rời rạc, chưa biết tích hợp, liên hệ kiến thức vớinhau giữa các bài học, giữa các phân môn, vì vậy mà chưa phát triển được tư duylô-gic và tư duy hệ thống Do đó, dù các em học rất chăm chỉ nhưng vẫn học kém
Vì học phần sau đã quên phần trước, không biết vận dụng kiến thức đã học trước
đó vào những phần sau Lại có nhiều học sinh khi đọc sách hoặc nghe giảng trênlớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, hay kiến thức trọng tâm vào trínhớ của mình Bởi vậy, rèn kuyện cho các em có thói quen và kĩ năng sử dụngthành thạo SĐTD trong quá trình dạy học sẽ giúp học sinh có được phương pháphọc tốt, phát huy tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy
- Sơ đồ tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực Một số kết quảnghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớlâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ củamình Vì vậy sử dụng SĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy độngtối đa tiềm năng của bộ não Việc học sinh trực tiếp vẽ SĐTD vừa lôi cuốn, hấpdẫn các em, đồng thời còn phát triển khiếu thẩm mĩ, óc hội họa, bởi đó là “sảnphẩm kiến thức hội họa”do chính các em tự làm ra, lại vừa phát huy được tối đakhả năng sáng tạo của các em trong học tập, không rập khuôn một cách máy mócnhư khi lập các bảng biểu, sơ đồ, vì các em dễ dàng vẽ thêm các nhánh để pháttriển ý tưởng riêng của mình Vì thế, tạo một không khí sôi nổi, hào hứng, say mêcho học sinh trong học tập Đây cũng là một trong những nội dung quan trọng củaphong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà BộGD&ĐT đang triển khai thực hiện
- Sơ đồ tư duy chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng(các nhánh) Do đó, chúng ta có thể vận dụng Sơ đồ tư duy vào tất cả các khâutrong quá trình dạy học Từ khâu kiểm tra bài cũ, đến khâu dạy học kiến thức mới,hay khâu củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, rồi ôn tập hệ thống hóa kiến thức saumỗi chương, mỗi học kì, kể cả việc kiểm tra bài cũ, kiểm tra 15 phút
- Sơ đồ tư duy, một công cụ có tính khả thi cao Ta có thể vận dụng được vớibất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường hiện nay nói chung Bởi vì ta
có thể thiết kế Sơ đồ tư duy trên giấy, bìa, tờ lịch cũ, bảng phụ,… bằng cách sửdụng bút chì màu, phấn màu, tẩy…hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm Sơ đồ
tư duy (Mind Map) Với những trường đủ điều kiện về cơ sở vật chất như Máychiếu Projecto, phòng máy vi tính đảm bảo, chúng ta có thể sử dụng phần mềm(Mind Map) để phục vụ cho việc dạy học có ứng dụng công nghệ thông tin
Tóm lại, việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong quá trình dạy học sẽ giúp HS:
- Tăng sự hứng thú trong học tập
Trang 9- Phát huy khả năng sáng tạo, năng lực tư duy của các em.
- Tiết kiệm thời gian rất nhiều
- Nhìn thấy được bức tranh tổng thể
- Ghi nhớ tốt hơn
- Thể hiện phong cách cá nhân, dấu ấn riêng của mỗi em
2.3.6 Cách sử dụng SĐTD trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học:
Đối với giáo viên:
Ngoài việc tham dự các lớp tập huấn bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ có liênquan đến việc đổi mới PPDH, giáo viên cần nghiên cứu kĩ những tài liệu liên quan
đến việc hướng dẫn sử dụng SĐTD và phần mềm vẽ SĐTD Mind Map để có
những tri thức cơ bản về nó (Hiểu biết về SĐTD, cấu tạo, vai trò, tiện ích, phươngpháp tạo lập, thiết kế, việc sử dụng nó trong quá trình dạy học ); đồng thời, giáoviên cần đầu tư thời gian vào việc tập vẽ, cả vẽ trên giấy và trên phần mềm trongmáy vi tính (Nhớ là phải nghiên cứu kĩ cách sử dụng phần mềm để thực hiện thaotác cho nhanh nhẹn, thuần thục) Sau khi đã hiểu kĩ, nắm chắc về vai trò, côngdụng của SĐTD, sử dụng thành thạo phần mềm, nắm vững phương pháp vẽ mộtSĐTD, thì việc ứng dụng nó vào quá trình dạy học là việc dễ dàng (Dĩ nhiênchuyện SĐTD đẹp hay xấu phụ thuộc vào sự tưởng tượng, liên tưởng, óc sáng tạo
và năng khiếu mỗi người)
Đối với học sinh:
Để có thể sử dụng tốt và phát huy một cách có hiệu quả SĐTD trong quá trìnhdạy học, trước hết, chúng ta cần cho học sinh làm quen với một số sơ đồ tư duy cósẵn, để các em có cái nhìn khái quát về nó (tiếp xúc nó, hiểu nó, rồi “bắt chước” vẽnó) Đây là bước chuẩn bị hết sức quan trọng Tuy nhiên, rất nhiều giáo viên bỏqua bước này hoặc giới thiệu một cách rất sơ sài, qua loa Vì thế, học sinh chưahiểu biết cặn kẽ, cụ thể về nó, chưa nắm vững phương pháp tạo lập, chưa có kĩnăng vẽ SĐTD nên dẫn đến nhiều tiết dạy không thành công do các em mãi loayhoay với giấy bút mà không biết vẽ cái gì, vẽ như thế nào, bắt đầu từ đâu, vì các
em chưa hình dung được SĐTD của bài học trong đầu mình cũng như chưa biếtcách thức, phương pháp vẽ
Vì vậy, theo tôi, chúng ta cần dành thời gian hợp lý cho các em “làm quen”
với SĐTD, theo cách sau đây:
- Để tiết kiệm thời gian, lại khỏi phải làm cái công việc giới thiệu, hướngdẫn cách vẽ SĐTD trở đi, trở lại hết lớp này đến lớp khác, giáo viên nên tham mưucho Ban Giám hiệu trường, hoặc Chuyên môn trường, chọn thời gian thuận lợingay từ đầu năm học tổ chức một buổi ngoại khóa “Làm quen với Sơ đồ tư duy”(Tùy theo tình hình cụ thể của từng đơn vị trường mà có thể tổ chức theo khối lớpgiáo viên trực tiếp dạy, khối học sáng - chiều hoặc toàn trường) để giới thiệu, chocác em làm quen và hướng dẫn cách vẽ SĐTD cho các em.(Lưu ý rằng đây cũng làmột bước tạo không khí sôi nổi, lôi cuốn các em tiếp cận với một phương pháp, kĩthuật dạy học mới) Để buổi ngoại khóa thành công, giáo viên cần chuẩn bị tốt cácnội dung sau:
Trang 10+ Về phía học sinh, giáo viên cần nhắc nhở các em mang theo đầy đủ cácdụng cụ: giấy vở, bìa lịch cũ, bìa cứng, bút chì, hộp màu, tẩy,
+ Về phía giáo viên, cần chuẩn bị trước: phòng máy, máy chiếu, bảng phụ,phấn màu, và một số SĐTD đã vẽ sẵn trên trên máy, trên giấy vở, trên bìa lịch,trên bảng phụ sau đó chúng ta bắt đầu tiến hành tổ chức nội dung
2.3.7 Tổ chức dạy học bằng Sơ đồ tư duy
Kỹ thuật Sơ đồ tư duy là phương pháp hỗ trợ tích cực cho tiết dạy, trong đó nóbao gồm các hoạt động chủ yếu của học sinh, rèn luyện cho các em cách làm việcnhóm, khả năng thuyết trình, liên hệ với thực tế, hệ thống hoá được kiến thức,tránh được kiểu học vẹt, học thuộc lòng một cách máy móc Với phương pháp nàykhông chỉ phát triển được trí tuệ của học sinh qua khả năng vẽ và viết ngắn gọn, côđọng nội dung bài học trên bản đồ tư duy, mà các em học sinh còn hệ thống đượckiến thức khi tổng hợp và chọn lọc ý để trình bày trên lược đồ Đối với các giáoviên dạy học bằng sơ đồ tư duy cũng giúp công việc dạy học đỡ vất vả hơn, hạnchế được chữ viết chuyển sang hình thức kênh màu, kênh hình.[4]
Sử dụng SĐTD trong các hình thức kiểm tra:
Có thể nói, đây là việc làm rất đơn giản nhưng lại còn rất xa lạ, mới mẻ đốivới rất nhiều giáo viên Qua dự giờ, góp ý, trao đổi kinh nghiệm cùng các đồngnghiệp trong tổ, trong trường, tôi nhận thấy, hầu hết giáo viên rất băn khoăn khinghe đề nghị dùng SĐTD để kiểm tra bài cũ, kiểm tra 15 phút hay kiểm tra mộttiết Sau đây là một vài kinh nghiệm xin chia sẻ cùng đồng nghiệp:
+ Sử dụng SĐTD trong việc kiểm tra bài cũ:
Giáo viên đưa ra một từ khóa (hay một hình ảnh trung tâm) thể hiện chủ đềcủa kiến thức cũ mà các em đã học, cần kiểm tra, yêu cầu các em vẽ SĐTD thôngqua câu hỏi gợi ý Trên cơ sở từ khóa (hoặc hình ảnh trung tâm) ấy kết hợp với câuhỏi định hướng của giáo viên, học sinh sẽ nhớ lại kiến thức và định hình được cách
vẽ SĐTD theo yêu cầu
+ Sử dụng SĐTD trong dạy học bài mới và ghi bảng:
Lâu nay, việc sử dụng SĐTD như một công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc dạyhọc bài mới thì ít nhiều giáo viên chúng ta đã và đang ứng dụng Tuy nhiên, việc
sử dụng SĐTD vừa để tổ chức, dẫn dắt cho học sinh tự tìm hiểu, khám phá, chiếmlĩnh kiến thức bài học lại vừa thay thế cho việc ghi bảng cô đọng kiến thức tiết dạy,bài dạy của giáo viên thì quả là việc làm còn hết sức mới mẻ Qua trao đổi với anhchị em giáo viên trong tổ chuyên môn, trong trường, trong cụm trường ở nhữngbuổi sinh hoạt chuyên môn, hầu hết anh chị em đều có chung quan niệm xemSĐTD là công cụ, phương tiện, là một thứ “bảng phụ” hỗ trợ, minh họa cho tiếtdạy mà thôi Ai cũng cho rằng không thể dùng SĐTD thay cho phần ghi bảng củagiáo viên được Thực ra thì ta vẫn có thể thực hiện kết hợp chúng trong quá trìnhdạy học bài mới Qua một quá trình thử nghiệm chúng trong một số tiết dạy, tôinhận thấy rõ ràng cách làm này ta hoàn toàn có thể làm được Không những thế,việc kết hợp sử dụng SĐTD trong việc tổ chức dạy học bài mới với việc sử dụng
nó để cô đọng kiến thức thay cho việc ghi bảng lại tiết kiệm được rất nhiều thờigian trên lớp, lại vừa có tác dụng hình thành cho học sinh có thói quen ghi chép