Việc dạy học giải toán ở tiểu họcnhằm giúp học sinh biết cách vận dụng những kiến thức về toán, được rèn luyện kĩ năng thực hành,với những yêu cầu được thể hiện một cách đa dạng, phong p
Trang 1I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Toán học là môn học có vị trí vô cùng quan trọng Đặc biệt trong đời sống vàkhoa học kĩ thuật hiện đại Nó góp phần đào tạo học sinh trở thành con người pháttriển toàn diện, năng động, sáng tạo đáp ứng được mọi nhu cầu phát triển củakhoa học công nghệ trong xã hội thời kì đổi mới Việc dạy học giải toán ở tiểu họcnhằm giúp học sinh biết cách vận dụng những kiến thức về toán, được rèn luyện
kĩ năng thực hành,với những yêu cầu được thể hiện một cách đa dạng, phong phú.Nhờ việc dạy học giúp học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tưduy, rèn phương pháp suy luận và những phẩm chất của con người lao động mới Trong dạy học toán giải toán có lời văn là loại toán riêng biệt là biểu hiện đặctrưng của trí tuệ Là mục tiêu của việc dạy học toán ở tiểu học nói chung và giảitoán có lời văn cho học sinh lớp 1 nói riêng Giải toán có lời văn đối với học sinhlớp 1 là loại toán khó Do đó việc dạy loại toán này đạt kết quả chưa cao vì:
- Giáo viên hướng dẫn học sinh giải toán nhưng chưa xác định được chuẩnkiến thức kĩ năng và mục tiêu của sách giáo khoa Giáo viên chưa chủ động, linhhoạt sáng tạo trong giảng dạy Khi dạy chưa phân hoá đối tượng học sinh
- Giáo viên chưa trú trọng đến việc hướng dẫn học sinh đọc kĩ bài toán, hiểunội dung bài toán và tóm tắt bài toán để tìm phương pháp giải (cách giải) bài toántheo các bước Do đó việc rèn luyện tư duy của học sinh cũng hạn chế
- Học sinh đọc bài toán chưa thông thạo, chưa hiểu nội dung bài toán, chưaxác định được yêu cầu của bài toán: Bài toán cho biết gì ? bài toán hỏi gì? Đa sốhọc sinh chưa biết trình bày bài giải Nhận thức được tầm quan trọng của việc dạyhọc giải toán ở tiểu học nhất là khối lớp 1 Khối đầu cấp nên tôi chọn sáng kiến:
“Một số biện dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 ở trường Tiểu học Đông Tiến B, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá”
2 Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu một số phương pháp dạy học tích cực trong dạy giải toán
có lời văn có thể áp dụng để tạo hứng thú học tập môn Toán cho học sinh lớp 1
3 Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh lớp 1 trường Tiểu học Đông Tiến B
- Thực trạng giảng dạy giải toán có lời văn ở trường
- Các giải pháp tạo hứng thú cho HS lớp 1 khi học phần giải toán có lờivăn
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Trang 2- Phương pháp phân tích, tổng hợp để xây dựng cơ sở lí luận của đề tài.
- Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê thông qua bài kiểm tra của họcsinh
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
II NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận
Đối với mạch kiến thức "Giải toán có lời văn", là một trong năm mạch kiếnthức cơ bản xuyên suốt chương trình Toán cấp tiểu học Thông qua giải toán có lờivăn, các em được phát triển trí tuệ, được rèn luyện kỹ năng tổng hợp: đọc, viết,diễn đạt, trình bày, tính toán Toán có lời văn là mạch kiến thức tổng hợp của cácmạch kiến thức toán học, giải toán có lời văn các em sẽ được giải các loại toán về
số học, các yếu tố đại số, các yếu tố hình học và đo đại lượng Toán có lời văn làchiếc cầu nối giữa toán học và thực tế đời sống, giữa toán học với các môn họckhác
Khả năng giải toán có lời văn chính là phản ánh năng lực vận dụng kiến thứccủa học sinh Học sinh hiểu về mặt nội dung kiến thức toán học vận dụng vàogiải toán kết hợp với kíên thức Tiếng Việt để giải quyết vấn đề trong toán học Từngôn ngữ thông thường trong các đề toán đưa ra cho học sinh đọc - hiểu - biếthướng giải đưa ra phép tính kèm câu trả lời và đáp số của bài toán
Giải toán có lời văn góp phần củng cố kiến thức toán, rèn luyện kỹ năng
diễn đạt, tích cực góp phần phát triển tư duy cho học sinh tiểu học [3]
vị vào thì lại sai không đúng với yêu cầu của đề bài Như vậy là các em chưa nắmđược một cách chắc chắn cách giải bài toán có lời văn
2.1 Nguyên nhân từ phía GV
GV chưa chuẩn bị tốt cho các em khi dạy những bài trước Những bài nhìnhình vẽ viết phép tính thích hợp, đối với những bài này hầu như HS đều làm đượcnên GV tỏ ra chủ quan, ít nhấn mạnh hoặc không chú ý lắm mà chỉ tập trung vào
Trang 3dạy kĩ năng đặt tính, tính toán của HS mà quên mất rằng đó là những bài toán làmbước đệm , bước khởi đầu của dạng toán có lời văn sau này Đối với GV dạy lớp 1khi dạy dạng bài nhìn hình vẽ viết phép tính thích hợp , cần cho HS quan sát tranhtập nêu bài toán và thường xuyên rèn cho HS thói quen nhìn hình vẽ nêu bài toán.
Cụ thể tập cho những em HS giỏi tập nói câu trả lời cứ như vậy trong một khoảngthời gian chuẩn bị như thế thì đến lúc học đến phần bài toán có lời văn HS sẽkhông ngỡ ngàng và các em sẽ dễ dàng tiếp thu, hiểu và giải đúng
2.2 Nguyên nhân từ phía HS
Trong chương trình toán Tiểu học thì kiến thức “Giải toán có lời văn” là kiếnthức khó đối với học sinh, và càng khó hơn đối với học sinh lớp một Bởi vì đốivới lớp một: Vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng tư duy lôgic củacác em còn rất hạn chế Một nét nổi bật hiện nay là nói chung học sinh chưa biếtcách tự học, chưa học tập một cách tích cực Nhiều khi với một bài toán có lời văncác em có thể đặt và tính đúng phép tính của bài nhưng không thể trả lời hoặc lýgiải là tại sao các em lại có được phép tính như vậy Thực tế hiện nay cho thấy,các em thực sự lúng túng khi giải bài toán có lời văn Một số em chưa biết tóm tắtbài toán, chưa biết phân tích đề toán để tìm ra cách giải, chưa biết tổng hợp đểtrình bày bài giải, diễn đạt vụng về, thiếu lôgic Ngôn ngữ toán học còn rất hạnchế, kỹ năng tính toán, trình bày thiếu chính xác, thiếu khoa học, chưa có biệnpháp, phương pháp học toán, học toán và giải toán một cách máy móc nặng vềdập khuôn, bắt chước Vậy làm thế nào để HS nắm được cách giải một cách chắcchắn, chính xác?
Trước thực trạng đó, tôi tiến hành khảo sát môn toán dạng bài : “Giải toán cólời văn lớp 1” Kết quả khảo sát cuối học kì I lớp 1A như sau:
3 Một số biện pháp thực hiện
3.1 Hệ thống các mạch kiến thức có liên quan đến giải toán có lời văn
Để dạy tốt môn Toán lớp 1 nói chung, "Giải bài toán có lời văn" nói riêng,
Trang 4điều đầu tiên mỗi giáo viên phải nắm thật chắc nội dung chương trình, sách giáokhoa Nhiều người nghĩ rằng Toán tiểu học, và đặc biệt là toán lớp 1 thì ai màchẳng dạy được Đôi khi chính giáo viên đang trực tiếp dạy cũng rất chủ quan vàcũng có những suy nghĩ tương tự như vậy Qua dự giờ một số đồng chí giáo viêntôi nhận thấy giáo viên dạy bài nào chỉ cốt khai thác kiến thức của bài ấy, còn cáckiến thức cũ có liên quan giáo viên nắm không thật chắc Người ta thường nói "Biết 10 dạy 1" chứ không thể " Biết 1 dạy 1" vì kết quả thu được sẽ không còn là
1 nữa
Trong chương trình toán lớp Một giai đoạn đầu học sinh còn đang học chữnên chưa thể đưa ngay "Bài toán có lời văn" Mặc dù đến tuần 23, học sinh mớiđược chính thức học cách giải "Bài toán có lời văn" song chúng ta đã có ý ngầmchuẩn bị từ xa cho việc làm này ngay từ bài "Phép cộng trong phạm vi 3” (Luyện
tập) ở tuần 7 [3]
Vì vậy, giáo viên dạy cần phải nắm vững những kiến thức nào là kiến thức
có liên quan đến dạy giải toán có lời văn sau này Sau đây là hệ thống các dạngbài tập theo mức độ từ đơn giản đến phức tạp có liên quan đến “ giải toán có lờivăn”:
* Dạng 1: Điền dấu (số) thích hợp vào phép tính
Bắt đầu từ tuần 7 cho đến các tuần 16 trong hầu hết các tiết dạy về phépcộng, trừ trong phạm vi (không quá) 10 đều có các bài tập thuộc dạng "Lập phéptính dựa vào tranh" ở đây học sinh được làm quen với việc:
- Quan sát tranh vẽ
- Nêu đề bài toán
- Nêu câu trả lời
- Điền phép tính thích hợp ( tình huống trong tranh)
Ví dụ: Tiết: Luyện tập : Bài 5 trang 46- SGK Toán 1: Viết phép tính thích
hợp [1]
a)
GV yêu cầu HS quan sát tranh và nhận xét tranh GV hỏi: Có một quả bóng
đỏ và 2 quả bóng xanh Tất cả có mấy quả bóng?
HS trả lời: Có một quả bóng đỏ và 2 quả bóng xanh Tất cả có 3 quả bóng
Em làm thế nào để có kết quả là 3 quả bóng? Em lấy 1 + 2 = 3 Vậy em điền
dấu gì vào ô trống? ( Điền dấu cộng) [2]
Trang 5* Dạng 2: Viết phép tính thích hợp với tình huống trong tranh
Việc ngầm chuẩn bị cho học sinh các tiền đề để giải toán có lời văn là chuẩn
bị cho học sinh cả về viết câu lời giải và viết phép tính Chính vì vậy ngay các bàitập dạng “Viết phép tính thích hợp với tình huống trong tranh” chúng ta cần đặtthêm cho các em những câu hỏi để các em trả lời miệng
Ví dụ: Tiết 27: Bài: Phép cộng trong phạm vi 4
Bài tập 4: Viết phép tính thích hợp ( trang 47- SGK Toán 1) [1]
Khi dạy dạng bài này GV cần yêu cầu HS quan sát tranh và nêu được nộidung tranh vẽ gì? Từ đó yêu cầu một số HS học tốt nêu đề bài toán: Trên cành cây
có 3 con chim đang đậu, thêm 1 con chim bay tới Hỏi tất cả có mấy con chim?
HS viết phép tính: 3 + 1 = 4
Giáo viên nên hỏi tiếp: "Vậy có tất cả mấy con chim?" để học sinh trả lờimiệng: "Có tất cả 4 con chim" ; hoặc "Số chim có tất cả là bao nhiêu? (Số chim cótất cả là 4)
Cứ làm như vậy nhiều lần, học sinh sẽ quen dần với cách nêu câu lời giảibằng miệng Do đó các em sẽ dễ dàng viết được các câu lời giải sau này
* Dạng 3: Lập phép tính tương ứng dựa vào tóm tắt bài toán.
Từ tuần 17, học sinh được làm quen với việc đọc tóm tắt rồi nêu đề toánbằng lời, sau đó nêu cách giải và tự điền số và phép tính thích hợp vào dãy năm ôtrống (Bài 3b - trang 87, bài 4 – trang 88, bài 5 - trang 89, bài 3b- trang 90, bài 4– trang 92, bài 3 – trang 112, bài 5 – trang 113)
Trang 6Cứ làm như vậy nhiều lần, học sinh sẽ quen dần với cách nêu câu lời giảibằng miệng Do đó các em sẽ dễ dàng viết được các câu lời giải sau này.
* Dạng 4: Viết số thích hợp vào chỗ chấm để có bài toán
Gồm 4 bài toán có yêu cầu khác nhau.
Ví dụ: Tiết : Bài toán có lời văn (trang 115) Viết số thích hợp vào chỗ chấm
* Bài toán còn thiếu câu hỏi ( cái cần tìm)
Bài toán 3 : Viết tiếp câu hỏi để có bài toán
Bài toán : Có 1 gà mẹ và có 7 gà con
Hỏi ……….?
* Bài toán còn thiếu cả số cả câu hỏi ( cái đã cho và cái cần tìm)
Bài toán 4: Có … con chim đậu trên cành, có thêm….con chim bay đến
Hỏi ……….?
- Dạy dạng toán này tôi phải xác định làm thế nào giúp các em điền đủ đượccác dữ kiện (cái đã cho và cái cần tìm) còn thiếu của bài toán và bước đầu các emhiểu được bài toán có lời văn là phải đủ các dữ kiện; đâu là cái đã cho và đâu làcái cần tìm
Bước 1: GV đặt câu hỏi - HS trả lời và điền số còn thiếu vào chỗ chấm để có
bài toán Giáo viên kết hợp dùng phấn màu ghi số còn thiếu vào bài toán mẫu trênbảng lớp
Bước 2: Hướng dẫn các em xác định cái đã cho và cái cần tìm (dữ kiện và
yêu cầu bài toán) Dùng phấn màu gạch chân dữ kiện và từ quan trọng (tất cả) củabài toán
Sau khi hoàn thành 4 bài toán giáo viên nên cho các em đọc lại và xác địnhbài 1 và bài 2 thiếu cái đã cho; bài 3 thiếu cái cần tìm; bài 4 thiếu cả cái đã cho vàcái cần tìm Qua đó giúp các em hiều được đây là dạng toán có lời văn phải có đủ
dữ kiện
3.2 Sử dụng có hiệu quả đồ dùng thiết bị dạy học
Như chúng ta đã biết, con đường nhận thức của học sinh tiểu học là: "Từtrực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, rồi từ tư duy trừu tượng trở lại thựctiễn" Đồ dùng thiết bị dạy học là phương tiện vật chất, phương tiện hữu hình cực
kỳ cần thiết khi dạy "Giải toán có lời văn" cho học sinh lớp Một Cũng trong cùngmột bài toán có lời văn, nếu chỉ dùng lời để dẫn dắt, dùng lời để hướng dẫn họcsinh làm bài thì vừa vất vả tốn công, vừa không hiệu quả và sẽ khó khăn hơn rất
Trang 7nhiều so với dùng đồ dùng thiết bị, tranh ảnh, vật thực để minh hoạ Chính vì vậyrất cần thiết phải sử dụng đồ dùng thiết bị dạy học để dạy học sinh "Giải bài toán
có lời văn" [2]
Hiện nay bộ đồ dùng trang bị đến từng lớp đã có khá nhiều các đồ dùng mẫuvật cho việc sử dụng dạy "Giải toán có lời văn" song vẫn là thiếu nếu giáo viênthực sự có trách nhiệm Mỗi nhà trường cần có kế hoạch mua bổ xung, từng tổkhối, cá nhân giáo viên cần sưu tầm, làm thêm các thiết bị như: vật thực, tranhảnh làm đồ dùng, dùng chung và riêng cho từng lớp
Một điều hết sức quan trọng là một số giáo viên còn ngại, hoặc lúng túng sửdụng đồ dùng dạy học khi giảng dạy nói chung và khi dạy "Giải toán có lời văn"nói riêng Để khắc phục tình trạng này, giáo viên cần có ý thức chuẩn bị sử dụng
đồ dùng dạy học trước khi lên lớp Cần cải tiến nội dung sinh hoạt chuyên môn đểđưa việc thống nhất sử dụng đồ dùng dạy học và phương pháp sử dụng đồ dùngdạy học
Ví dụ: Tiết 82: Bài: Giải toán có lời văn – Trang 117- SGK Toán 1 [1]
Bài toán: Nhà An có 5 con gà, mẹ mua thêm 4 con gà Hỏi nhà An có tất cảmấy con gà?
Khi dạy bài này GV nên có tranh vẽ hoặc đưa ra mô hình tương ứng
Cách sử dụng như sau: Có 5 con gà – GV gắn mô hình 5con gà lên bảng,thêm 4 con gà – GV gắn mô hình 4 con gà lên bảng Hỏi tất cả có mấy con gà?
HS quan sát mô hình trên bảng và nêu lại toàn bộ bài toán
GV: Muốn biết nhà An có tất cả mấy con gà em làm thế nào?
HS: Em lấy 5 + 4 = 9
GV: Vậy nhà An có tất cả mấy con gà? Hoặc Số gà nhà An có tất cả mấycon?
HS: Nhà An có tất cả 9 con gà hoặc Số gà nhà An có tất cả 9 con……
3.3 Nắm vững quy trình và các bước giải bài toán có lời văn.
Quy trình "Giải bài toán có lời văn " thông thường qua 4 bước:
- Đọc và tìm hiểu đề bài
- Tìm cách giải bài toán
- Trình bày bài giải
- Kiểm tra lại bài giải
a) Đọc và tìm hiểu đề toán
Muốn học sinh hiểu và có thể giải được bài toán thì điều quan trọng đầutiên là phải giúp các em đọc và hiểu được nội dung bài toán Giáo viên cần tổchức cho các em đọc kỹ đề toán, hiểu rõ một số từ khoá quan trọng như " thêm,
và, tất cả, " hoặc "bớt, bay đi, ăn mất, còn lại, " (có thể kết hợp quan sát tranh
vẽ để hỗ trợ) Để học sinh dễ hiểu đề bài, giáo viên cần gạch chân các từ ngữ
Trang 8trọng tâm trong đề bài Khi gạch chân nên dùng phấn màu khác cho dễ nhìn.
Trong thời kỳ đầu, giáo viên nên giúp học sinh tóm tắt đề toán bằng cáchđàm thoại " Bài toán cho gì? Hỏi gì?" và dựa vào câu trả lời của học sinh để viếttóm tắt, sau đó cho học sinh dựa vào tóm tắt để nêu lại đề toán Đây là cách rất tốt
để giúp trẻ ngầm phân tích đề toán
Nếu học sinh gặp khó khăn trong khi đọc đề toán thì giáo viên nên cho các
em nhìn tranh và trả lời câu hỏi Ví dụ: Bài 2 trang 149 – SGK Toán 1, giáo viên
có thể hỏi:
- Em thấy An có mấy quả bóng ? ( An có 8 quả bóng )
- An đã thả mấy quả bóng ? ( An đã thả 3 quả bóng )
- Em có bài toán thế nào? ( )
Sau đó giáo viên cho học sinh đọc (hoặc nêu) đề toán ở sách giáo khoa Trong trường hợp không có tranh ở sách giáo khoa thì giáo viên có thể gắnmẫu vật (gà, vịt, ) lên bảng từ (bảng cài, bảng nỉ, ) để thay cho tranh; hoặcdùng tóm tắt bằng lời hoặc sơ đồ đoạn thẳng để hỗ trợ học sinh đọc đề toán
* Thông thường có 3 cách tóm tắt đề toán:
từ như quyển, quả, Song làm như vậy thì hơi thiếu chuẩn mực về mặt TiếngViệt vì tất cả học sinh đều biết là dấu ? phải đặt cuối câu hỏi Nếu tóm tắt bằng sơ
đồ đoạn thẳng hoặc sơ đồ mẫu vật thì đặt dấu ? ở đằng trước các từ như quyển,quả , cũng được vì các tóm tắt ấy không phải là những câu Tuy nhiên học sinhthường có thói quen cứ thấy dấu là điền số (dấu) vào đó nên giáo viên cần lưu ýcác em là: "Riêng trong trường hợp này (trong tóm tắt ) thì dấu thay cho từ
"mấy" hoặc "bao nhiêu" ; các em sẽ phải tìm cho ra số đó để ghi vào Đáp số củaBài giải chứ không phải để ghi vào chỗ trong tóm tắt Nếu không thể giải thíchcho học sinh hiểu được ý trên thì chúng ta cứ quay lại lối cũ, tức là đặt dấu hỏi (?)
ra đằng trước theo kiểu "Còn ? quả" cũng được, không nên quá cứng nhắc
Giai đoạn đầu nói chung bài toán nào cũng nên tóm tắt rồi cho học sinh dựavào tóm tắt nêu đề toán Cần lưu ý dạy giải toán là một quá trình Không nên vội
Trang 9vàng yêu cầu các em phải đọc thông thạo đề toán, viết được các câu lời giải, phéptính và đáp số để có một bài chuẩn mực ngay từ tuần 23, 24 Chúng ta cần bìnhtĩnh rèn cho học sinh từng bước, miễn sao đến cuối năm (tuần 33, 34, 35) trẻ đọc
và giải được bài toán là đạt yêu cầu
b) Tìm cách giải bài toán.
+ Ví dụ : Cho bài toán sau: “Nhà An có 5 con gà, mẹ mua thêm 4 con gà Hỏi
nhà An có tất cả bao nhiêu con gà”
* Sau khi giúp học sinh tìm hiểu đề toán để xác định rõ cái đã cho và cái phảitìm, chẳng hạn:
- Bài toán cho gì? (Nhà An có 5 con gà)
- Còn cho gì nữa? (Mẹ mua thêm 4 con gà)
- Bài toán hỏi gì? (Nhà An có tất cả mấy con gà?)
Giáo viên nêu tiếp: "Muốn biết nhà An có tất cả mấy con gà em làm tính gì?(tính cộng) Mấy cộng mấy? (5 + 4) ; 5 + 4 bằng mấy? (5 + 4 = 9); hoặc: "Muốnbiết nhà An có tất cả mấy con gà em tính thế nào? (5 + 4 = 9); hoặc: "Nhà An cótất cả mấy con gà ?" (9) Em tính thế nào để được 9 ? (5 + 4 = 9)
Tới đây giáo viên gợi ý để học sinh nêu tiếp "9 này là 9 con gà", nên ta viết
"con gà" vào trong dấu ngoặc đơn: 5 + 4 = 9 (con gà)
Tuy nhiên cũng có những học sinh nhìn tranh ở sách giáo khoa để đếm ra kếtquả mà không phải là do tính toán Trong trường hợp này giáo viên vẫn xác nhậnkết quả là đúng, song cần hỏi thêm: "Em tính thế nào?" (5 + 4 = 9) Sau đó nhấnmạnh: "Khi giải toán em phải nêu được phép tính để tìm ra đáp số (ở đây là 9).Nếu chỉ nêu đáp số thì chưa phải là giải toán
c) Tìm lời giải cho bài toán
Sau khi học sinh đã xác định được phép tính, nhiều khi việc hướng dẫn họcsinh đặt câu lời giải còn khó hơn (thậm chí khó hơn nhiều) việc chọn phép tính vàtính ra đáp số Với học sinh lớp 1, lần đầu tiên được làm quen với cách giải loạitoán này nên các em rất lúng túng Thế nào là câu lời giải, vì sao phải viết câu lờigiải? Không thể giải thích cho học sinh lớp 1 hiểu một cách thấu đáo nên có thểgiúp học sinh bước đầu hiểu và nắm được cách làm Có thể dùng một trong cáccách sau:
* Đối với dạng toán thêm:
Cách 1:
Ví dụ: Tiết 82: Giải toán có lời văn: Bài 1- trang117- SGK Toán [1]
Bài toán: An có 4 quả bóng, Bình có 3 quả bóng Hỏi cả hai bạn có mấy quảbóng?
Học sinh đọc bài toán- phân tích đề bài- điền vào tóm tắt và giải bài toán
Tóm tắt:
Trang 10An có : 4 quả bóngBình có : 3 quả bóng
Cả hai bạn có : quả bóng?
Bài giải
Cả hai bạn có là:
4 + 3 = 7( quả bóng ) Đáp số: 7 quả bóng
Cả hai bạn có số quả bóng là:
4 + 3 = 7( quả bóng ) Đáp số: 7 quả bóng Bài 2 - trang 118 SGK Toán 1
Bài toán: Lúc đầu tổ em có 6 bạn, sau đó có thêm 3 bạn nữa Hỏi tổ em có tất cả mấy bạn?
Tóm tắt:
Có: 6 bạnThêm: 3 bạn
Có tất cả: bạn ?Bài giải
Có tất cả là:
6 + 3 = 9 ( bạn ) Đáp số: 9 bạn Hoặc Bài giải
Có tất cả số bạn là :
6 + 3 = 9( bạn ) Đáp số: 9 bạn
Qua 2 bài toán trên, HS tự rút ra cách viết câu lời giải như sau: Lấy dòng thứ 3 của phần tóm tắt + thêm chữ « là » hoặc lấy dòng thứ 3 chỗ … thay bằng chữ số + thêm chữ « là »
* Cách 2: VD: Tiết 84: Luyện tập (Trang 121- SGK Toán 1) [1]
Bài toán 1: Trong vườn có 12 cây chuối, bố trồng thêm 3 cây chuối Hỏi trongvườn có tất cả bao nhiêu cây chuối
Tóm tắt:
Có : 12 cây Thêm: 3 cây
Có tất cả : cây ?Bài giảiTrong vườn có tất cả số cây chuối là :
Trang 1112 + 3 = 15( cây )Đáp số: 15 cây chuối Bài toán 2: Trên tường có 14 bức tranh, người ta treo thêm 2 bức tranh nữa.Hỏi trên tường có bao nhiêu bức tranh?
Tóm tắt:
Có : 14 bức tranh Thêm: 2 bức tranh
Có tất cả : bức tranh ?
Bài giảiTrên tường có số bức tranh là :
14 + 2 = 16( bức tranh ) Đáp số: 16 bức tranh Vậy qua 2 bài tập trên GV chốt lại cách viết lời giải như sau:
Viết câu lời giải dựa vào phần câu hỏi của bài toán: Ta bỏ từ “ hỏi ” đi, thay
từ bao nhiêu (mấy) bằng từ “số” cuối cùng thêm chữ là và dấu hai chấm.
Ví dụ: Hỏi trên tường có bao nhiêu bức tranh?
Câu lời giải: Trên tường có số bức tranh là :
* Cách 3: Tiết 85: Luyện tập Bài 1- Trang 122- SGK Toán 1 [1]
Bài toán 1: An có 4 quả bóng xanh và 5 quả bóng đỏ Hỏi An có tất cả mấyquả bóng?
Tóm tắt:
Có: 4 bóng xanh Có: 5 bóng đỏ
Có tất cả : quả bóng ?
Bài giải
Số quả bóng của An có tất cả là :
4 + 5 = 9( quả ) Đáp số: 9 quả bóng Bài toán 2: Tổ em có 5 bạn nam và 5 bạn nữ Hỏi tổ em có tất cả mấy bạn?
Tóm tắt:
Có: 5 bạn nam Thêm: 5 bạn nữ
Có tất cả: bạn ?
Bài giải
Số bạn của tổ em có là :
5 + 5 = 10( bạn ) Đáp số: 10 bạn Vậy qua 2 bài tập trên GV chốt lại cách viết lời giải như sau: