Trong mọi nhà trường, đặc biệt là trong nhà trường tiểu học, việc nâng caochất cao chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh bao giờ cũng làm mộthoạt động được quan tâm hàng đầu ba
Trang 1Së GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HãA PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG XƯƠNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Quảng Phong
SKKN thuộc lĩnh vực môn: Toán
THANH HãA NĂM 2018
Trang 22.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 62.3 Các giải pháp đã thực hiện để giải quyết vấn đề 10
Trang 3Trong giai đoạn hiện nay, việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy họccác môn học nói chung cũng như môn Toán là một yêu cầu cấp thiết của thựctiễn Thực hiện được điều này là chúng ta đã góp phần thực hiện thành côngnhiệm vụ đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đồng thời cũng đáp ứngđược yêu cầu thực tiễn của học sinh và xã hội về khả năng và nhu cầu nhận thức.Theo tinh thần Nghị Quyết TW8 khóa XI Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáodục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập
quốc tế Về mục tiêu hệ thống, nghị quyết đề ra yêu cầu: Xây dựng nền giáo dục
mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phươngthức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; chuẩn hóa, hiện đại hóa,dân chủ hóa, xã hội hoá và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục - đào tạo; giữvững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc Tạo chuyển biến căn bản,mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả, giáo dục - đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơncông cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Phấn đấuđến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực
Trong mọi nhà trường, đặc biệt là trong nhà trường tiểu học, việc nâng caochất cao chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh bao giờ cũng làm mộthoạt động được quan tâm hàng đầu bao trùm và chi phối mọi hoạt động khác.Trong tất cả các môn học ở trường tiểu học thì môn Toán được coi là trọng tâmvới số lượng tiết học tương đối nhiều Môn Toán ở tiểu học không những giúphọc sinh phát triển toàn diện mà còn góp phần hình thành cho học sinh những cơ
sở của thế giới quan khoa học, luyện trí thông minh, cách suy nghĩ linh hoạt, độclập, sáng tạo góp phần xây dựng những thói quen, đạo đức tốt đẹp, cần cù, cẩnthận, ý chí vượt khó, kế hoạch làm việc Học xong chương trình toán tiểu họccác em có thể vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống để tính chu vi,diện tích, đo đạc nhà cửa, ruộng đất Qua việc học Toán học sinh bước đầu nắmdược các kiến thức cơ bản để học tốt các môn học khác, giúp các em luôn tự tin,luôn luôn vươn tới tìm tòi và sáng tạo
Qua những năm dạy học lớp 4 tôi nhận thấy rằng: học sinh của chúng tađặc biệt là học sinh nông thôn, kĩ năng thực hành các phép tính về phân số cònnhiều lúng túng, hay mắc sai lầm, nhầm lẫn Các em chưa nắm vững các kĩnăng cơ bản của một biện pháp tính này với một biện pháp tính khác về phân số.Vấn đề đặt ra với người giáo viên khi dạy phép toán về phân số cho học sinh lớp
4, đối với biện pháp tính nói chung, giáo viên phải có biện pháp như thế nào đểcác em không những hiểu được bản chất của dạng tính, thực hiện phép tính đó
Trang 4một cách thành thạo, nắm được qui tắc mà còn phải có kĩ năng thực hành mộtcách thành thạo, ít mắc sai lầm, phát huy được năng lực sáng tạo của các em.
Xuất phát từ những lí do đó và qua thực tiễn dạy học, tôi nhận thấy việcđổi mới phương pháp dạy học môn Toán, đặc biệt là dạy học phân số là một nộidung quan trọng cần thực hiện, trước mắt nhằm giúp học sinh có đủ khả năngthực hiện các yêu cầu cơ bản của môn học Chính vì vậy tôi chọn nghiờn cứu đề
tài “Một số biện pháp dạy học phân số cho học sinh lớp 4” với mong muốn
nâng cao chất lượng dạy học môn Toán nói chung và phần dạy giải Toán nóiriêng ở lớp 4
1.2.Mục đích nghiên cứu
- Trên cơ sở nghiên cứu lí thuyết,cơ sở lí luận và thực trang việc dạy họcphan số lớp 4,tôi mạnh dạn đề xuất một số biện pháp,cách dạy từng dạng bàiliên quan đến phân số để giúp học sinh học về phân số đạt kết quả cao và yêuthích môn hoc
1.3 Đối tượng nghiên cứu :
- Các dạng bài về phân số ở lớp 4
- Thực trạng dạy học Phân số của học sinh lớp 4 trường tiểu học QuảngPhong
- Nghiên cứu và vận dụng các phương pháp dạy học phân số
1.4 Phương pháp nghiên cứu :
Khi tiến hành nghiên cứu tôi thường sử dụng các phương pháp sau :
* Phương pháp nghiên cứu, lí luận :
- Đọc tài liệu cần thiết
- Sách giáo khoa, sách giáo viên, chương trình bồi dưỡng giáo viên vàsách tham khảo
* Phương pháp điều tra quan sát.
- Truyền đạt, phỏng vấn giáo viên
- Điều tra học sinh,
* Phương pháp kiểm tra, thống kê kết quả, Phân tích số liệu.
- Kiểm tra chất lượng qua mỗi giai đoạn
- Thống kê kết quả từng giai đoạn
* Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
- Tự rút kinh nghiệm cho bản thân, tổng kết thành các bài học cơ bản vềviệc sử dụng phương pháp trên
2 Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận
2.1.1 Cơ sở Toán học của việc dạy học phân số
Mỗi môn học ở tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triểnnhững cơ sở ban đầu rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam Trongcác môn học ở tiểu học, cộng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vị trí rất quantrọng, trong đó việc dạy Toán “Phân số”có tầm quan trọng đặc biệt với nộinhững nội dung sau:
Trang 5- Củng cố những kiến thức về phân số; Củng cố, mở rộng kiến thức vềphép tính trên số tự nhiên đó học.
- Rèn luyện, phát triển năng lực tư duy, óc phán đoán, khả năng giải quyếtvấn đề nhanh nhạy, góp phần phát triển trí thông minh, sự sáng tạo
- Góp phần học tốt các phần khác của số học cũng như sự hỗ trợ cho việchọc các yếu tố đại số và hình học
- Đóng góp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng củangười lao động mới như cần cù, cẩn thận, nhanh nhẹn, có ý chí vượt khó khăn,làm việc có kế hoạch, có nề nếp và tác phong khoa học
Phân số được xây dựng trên cơ sở mở rộng tập hợp số tự nhiên[3 ].Phân
số (trong số học) là một số lập nên bởi một số các phần bằng nhau của đơn vị.Nếu ta chia đơn vị ra thành b phần bằng nhau (b khác 0) và lấy a phần như thếthì ta lập được một số, gọi là phân số kí hiệu là
Quan niệm phân số như trên còn bao hàm khái niệm tỉ lệ Nhờ đó ta có thể coiphân số
b
a
như là thương của phép chia hai số tự nhiên a : b Do đó, trên tập hợp
số mới phép chia số tự nhiên khác không bao giờ cũng thực hiện được Vì thếphương trình dạng b x x = a ( a,b làm số tự nhiên, b khác 0, x làm ẩn số) bao giờcũng có nghiệm trong tập hợp mới
Toán về phân số xuất hiện xuyên suốt từ lớp 2 đến lớp 5 với yêu cầu ngàymột nâng cao dần về kiến thức Cụ thể:
- Lớp 2: Chưa gọi là phân số cụ thể nhưng việc học sinh khoanh vào mộtphần hai số ô vuông một phần ba, một phần tư, một phần năm số ô vuông; sốcon vật chính là khái nịêm phân số được dần hình thành cho học sinh
- Lớp 3: Tiếp với mạch kiến thức của lớp 2 ở lớp 3 học sinh được làmquen với dạng toán khó hơn như: Tìm một phần mấy của một số
- Lớp 4, 5: Phân số được định nghĩa thông qua ví dụ cụ thể và cũng từ đâyhọc sinh được học và thực hiện các phép tính với phân số như với số tự nhiên
Theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học nói chung,môn Toán nói riêng thì trong quá trình dạy học, giáo viên là người tổ chức,hướng dẫn các hoạt động của học sinh, mọi học sinh đều được hoạt động học tập
để phát triển năng lực của cá nhân
Trong quá trình dạy học Toán về phân số, giáo viên cần lựa chọn cácphương pháp dạy học phï hợp, vận dụng có hiệu quả các phương pháp dạy họcmới kết hợp các phương pháp dạy học truyền thống để học sinh nắm được kiếnthức nhanh và chính xác Các phương pháp được sử dụng là:
Trang 6+ Phương phỏp đàm thoại.
+ Phương phỏp thực hành - luyện tập
+ Phương phỏp gợi mở - vấn đỏp+ Phương phỏp giảng giải, minh họa
GV cần nắm đợc cỏc đối tượng số học cỏc phõn số: [3]
Lớp 3 Lớp 4 Lớp 5
1 Về phõn số, tỉ số
3 Cỏc bài toỏn
- Tỡm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đú X X
- Tỡm hai số khi biết hiệu và tỉ của hai số đú X X
Cỏc dạng Toỏn về phõn số đều cú sự liờn quan chặt chẽ với nhau Muốnlàm cỏc dạng Toỏn này học sinh phải nắm được những kĩ năng cơ bản của từngdạng trờn, do đú đũi hỏi ở học sinh sự tập trung trong lĩnh hội bài mới, úc tỡmtũi, sự sỏng tạo
Khả năng trừu tượng và khỏi quỏt húa của học sinh tiểu học cũn hạn chế.Đối với học sinh cuối cấp, khả năng trừu tượng húa, khỏi quỏt húa đú được nõnglờn, song khi tiến hành phõn tớch tổng hợp, khỏi quỏt cỏc em vẫn thường căn cứvào những đặc điểm bề ngoài cụ thể Học sinh tiểu học rất hiếu động, nhanh nhớ
Trang 7và nhanh quên Để giúp các em nắm được kiến thức bài học, giáo viên cần đưa
ra nhiều bài tập cộng dạng và khác dạng nhằm đòi hỏi và kích thích các em họctập, đồng thời lựa chọn hình thức linh hoạt trình sự mệt mái, nhàm chỏn
Để nâng cao chất lượng dạy học các bài Toán về phân số, giáo viên cầnquan tâm đến đặc điểm lứa tuổi học sinh tiểu học Điều đó cũng giúp cho giờhọc được tiến hành thuận lợi và dễ dàng, hiệu quả
2.1.3 Cơ sở thực tiễn của việc dạy học phân số
*Nội dung chương trình.
Có 37 tiết gồm 4 tiết của chương trình trước năm 2000 và những nội dungmới: Rút gọn phân số; quy đồng; so sánh các phân số khác mẫu số Thực hiệncác phép tính cộng trừ nhân chia phân số.[2]
* PHDH nội dung phân số ở lớp 4.
Học sinh đóng vài trò trung tâm của tiết học, học sinh được tìm tòi, sángtạo những tri thức mới dưới dự hướng dẫn của người thầy Giáo viên gợi ý họcsinh tự nêu nhận xét, các qui tắc, các công thức GV là người chỉ đạo, là người
tổ chức điều khiển quá trình dạy học Học sinh vừa là chủ thể vừa là khách thểcủa quá trình nhận thức
2.2 Thực trạng việc dạy học phân số lớp 4 trong nhà trường
Để tìm hiểu thực trạng của việc dạy học phân số trong nhà trường, tôi đótiến hành khảo sát giáo viên khối 4 và học sinh khối lớp 4 trong trường Quakhảo sát, tôi nhận thấy:
2.2.1 Về kiến thức :
* Đối với giáo viên:
* Những hạn chế khó khăn gặp phải khi dạy Phần phân số:
Cấu trúc nội dung, chương trình sách giáo khoa mới của tiểu học nóichung, của lớp 4 nói riêng có những thay đổi so với nội dung, chương trình cũ
Đối với môn Toán lớp 4 hiện nay thì chương “Phân số- Các phép tính về phân
số” đó được đưa vào dạy một cách đầy đủ Đây là một nội dung khó đối với giáo
viên và học sinh Trước khi học phần này các em đó được học về dấu hiệu chia
hết cho 2,5,3 và 9 Nhưng đến chương “ Phân số” với các tính chất và các phép
Toán của “ phân số” Đặc biệt là vận dụng các phép Toán để giải các bài Toánbốn phép tính về phân số, các bài Toán có lời văn liên quan đến phân số học sinhcòn gặp nhiều khó khăn Sau khi nghiên cứu phương pháp dạy học môn Toán ởbậc tiểu học, đặc biệt là phần dạy học chương “Phân số” Qua thăm dò ý kiếncủa giáo viên trực tiếp giảng dạy, qua điều tra, khảo sát và qua kinh nghiệmnhững năm giảng dạy tôi nhận thấy rằng: Sau khi hình thành quy tắc đối với mỗiphép tính (ở phần lý thuyết) các em đều vận dụng tốt Nhưng khi học đến cácphép tính về sau các em rất dễ nhầm lẫn sang phép tính trước mới học và nhữngsai lầm này trở nên phổ biến ở nhiều học sinh
Hơn nữa, học giải Toán về phân số là vấn đề có tính hai mặt :
Một là: Do yêu cầu của bộ môn Toán ở tiểu học, do đòi hỏi thực tiễn cuộcsống và lao động sản xuất
Trang 8Hai là: Mạch kiến thức về phân số là vấn đề mới và tương đối khó đối vớihọc sinh tiểu học.
Trong thực tế dạy học bộ môn Toán ở tiểu học đó bộc lộ nhiều bất cập.Nội dung dạy học giải bài tập Toán về phân số còn rất thấp so với việc dạy họccác nội dung Toán học khác đươc đề cập đến trong nội dung, chương trình tiểuhọc mới đang hiện hành Do đó tôi mạnh dạn đưa ra một số nguyên nhân, thựctrạng đề từ đó đề ra những giải pháp nhằm hạn chế, khắc phục những vẫn đềđược nêu sau đây:
Thứ nhất là về cấu tạo phân số trong quá trình thực hiện yêu cầu của bàiToán rút gọn phân số, học sinh hầu như chưa thể rút gọn tới tối giản
Thứ hai là về so sánh phân số trong quá trình thực hiện yêu cầu so sánhcủa bài Toán cần giải quyết, các em thường không nắm vững quy tắc so sánhnên dẫn đến kết quả của bài Toán thường sai một phần thậm chí sai hoàn toàn
Thứ ba là thực hành các phép tính trên phân số trong quá trình thực hiệncác em thường mắc một số lỗi do nhầm lẫn giữa các quy tắc, cũng như bướcthực hiện nên dẫn tới cho ra kết quả chưa sát với đáp án hay sai kết quả
* Đối với học sinh:
Nhìn chung các em có ý thức, ham học, thích khám phá Vì đây là nộidung mới cho nên các em có phần hứng thú, khi học Toán về phân số Tuynhiên, các em lại thiếu khả năng tư duy liên hệ giữa khái niệm phân số với thực
tế trên đồ vật trực quan và còn hiểu mơ màng số thuật ngữ như: quy đồng mẫu
số, rút gọn phân số, phân số tối giản, tìm phân số của một số vv
Khi tiến hành dạy học nội dung phân số lớp 4, giáo viên có những thuậnlợi như sau:
- Bản thân giáo viên thường được sự quan tâm, góp ý về chuyên môn từphía ban giám hiệu, đồng nghiệp Giáo viên và học sinh có đủ thời gian để thựchiện việc dạy học, có tương đối đủ các loại sách tham khảo, tài liệu bồi dưỡngtại trường
- Phần lớn học sinh đều có ý thức vươn lên trong học tập, ham học hỏi,biết tự bồi dưỡng nâng cao kiến thức cho bản thân Vì vậy, các em rất hứng thú,say mê học tập và rất cố gắng
Với những thuận lợi như trên giúp giáo viên cung cấp được kiến thức, rèn
kĩ năng thực hiện các phép tính với phân số, đồng thời vận dụng được cácphương pháp dạy học mới, đa dạng và phong phú Từ đó, giáo viên sẽ nắm bắtđược những ưu điểm, tồn tại của học sinh để kịp thời sửa chữa sai sót, phát huyđược mặt tích cực của học sinh, giáo viên cũng thấy được những hạn chế củachính mình khi tiến hành dạy học để điều chỉnh quá trình dạy học sao cho đạthiệu quả tốt nhất
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, nhiều giáo viên còn cho biết khi dạyhọc những khó khăn sau:
- Nội dung phân số đối với học sinh là nhiều Học sinh phải học liên tụccác kiến thức mới trong thời gian ngắn của nửa đầu học kì hai lớp 4 (trongchương trình cũ phần lớn nội dung phân số được học ở lớp 5) Thời gian cho
Trang 9việc luyện tập, thực hành ít Các dạng bài tập nhiều, nhiều thuật ngữ mới làmcho học sinh lúng túng.
- Khi tiến hành tổ chức dạy học, nhiều học sinh chưa có ý thức đóng góp
ý kiến vào nhóm, có thái độ ỷ lại, dựa dẫm vào bạn, không tập trung thảo luậncùng với nhóm học tập, chưa phát huy được trí tuệ của tập thể nhóm học sinh
- Phần lớn phụ huynh ở địa phương chưa quan tâm đầu tư cho con emmình một cách thỏa đáng trong việc rèn cho các em khả năng tự học, tính tự giáctrong học tập Một phần phụ huynh học sinh do không có kiến thức nên cũngkhông thể giúp con em học thêm ở nhà được
2.2.2 Kết quả khảo sát học sinh lớp 4A năm học 2016-2017 sau khi học xong phần phân số
Yêu cầuDạng Toán
Kết quả khảo sát trên cho thấy tỉ lệ học sinh nắm kiến thức còn thấp Quaviệc trực tiếp đàm thoại với học sinh, với những kinh nghiệm rút ra trong quátrình dạy học trên lớp Tôi nhận thấy học sinh vấp phải những khó khăn và sailầm trong quá trình nắm kiến thức về phân số như sau:
*Những sai lầm học sinh hay mắc phải trong quá trình thực hành phép tính với phân số.
+ Khi rút gọn phân số học sinh chưa đưa được phân số về dạng tối giản.Những phân số có số chỉ lớn như
100
25
học sinh không biết cùng chia cả tử vàmẫu cho số tự nhiên nào.[4]
Trang 10+ Sau khi học về phép cộng hoặc trừ hai phân số cùng mẫu số (cách làmrất dễ với đa số học sinh) khi chuyển sang học phép cộng hoặc trừ hai phân sốkhác mẫu số chỉ một số ít học sinh nắm được ngay từ tiết đầu còn lại phải đượcrèn luyện nhiều lần học sinh mới có kĩ năng Với dạng cộng trừ khác mẫu họcsinh vẫn thực hiện phép tính theo kiểu cộng và trừ hai phân số cùng mẫu.
+Khi thực hành phép tính cộng, trừ một phân số với một số tự nhiên hoặcngược lại thì học sinh thường mắc sai lầm do không nắm được kĩ năng viết một
số tự nhiên thành phân số có mẫu bằng phân số đã cho
+Sau khi học phép nhân hai phân số, để ôn lại các kiến thức về cộng haiphân số thi có một số học sinh lại vận dụng qui tắc nhân hai phân số để cộng haiphân số khác mẫu số
+Trong quá trình thực hiện phép tính trong một biểu thức Có những phân
số chúng ta cần rút gọn ngay trong quá trình thực hịên để tiện cho việc thực hiệntính, Nhưng hầu hết các em không có khả năng đó mà các em vẫn thực hiện tínhbằng cách tính bình thường dẫn đến khó hoặc bị nhần lẫn trong khi tính Đến khigặp các biểu thức trong đó có các phân số mà tử và mẫu số đều là những số tựnhiên lớn khi đó HS không thực hiện được hoặc thực hiện lâu, không chính xác
+ Trong việc thực hiện tính giá trị của biểu thức đối với phân số học sinhcòn lúng túng ở chỗ: Một số học sinh thực hiện chưa đúng thứ tự tính trong biểuthức; những em thực hiện đúng thứ tự thì việc trình bày chưa đúng dẫn đến cókhi sai kết quả
+ Việc thực hiện vận dụng các tính chất của phân số vào việc rút gọn, tínhnhanh chưa thành thạo còn nhiều lúng túng
*Nguyên nhân dẫn đến những sai lầm
- Nguyên nhân từ phía học sinh,
+ Vốn kiến thức mà các em được học ở các lớp dưới tích luỹ chưa đủ haynói cách khác các em bị hổng kiến thức cơ bản
+ Kĩ năng tự học và chiếm lĩnh tri thức của các em còn hạn chế
+ Năng lực nhận thức, khả năng tư duy chưa độc lập, sáng tạo
+ Đa phần học sinh là con em gia đình nông thôn, nghèo Một mặt giađình chưa quan tâm tới việc học của các em, mặt khác do kiến thức của cha, mẹ
HS không có nên không giúp đỡ được học sinh học tập ở nhà
- Nguyên nhân từ phía giáo viên
+ Giáo viên có ý thức đối với trách nhiệm của mình song chưa thực sựnghiên cứu, đầu tư để có những phương pháp dạy học phù hợp
Trang 11+ Giáo viên có ý thức rèn kĩ năng cho học sinh, song thấy do đa phần họcsinh nắm kiến thức ở phần này còn chậm nên giáo viên có phần buông xuôi chưathực sự kiên trì với học sinh dẫn đến nắm kiến thức của các em bị hạn chế.
+ Việc áp dụng phương pháp dạy học theo hướng đổi mới còn gặp phải nhiềukhó khăn do mặt bằng chất lượng học sinh, trang thiết bị cơ sở vận chất cònnghèo nàn chưa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động dạy và học
Như vậy, khi dạy nội dung phân số, bên cạnh những thuận lợi, giáo viêngặp không ít khó khăn như trên Việc nắm được khó khăn đó giúp giáo viên tìmđược biên pháp khắc phục, năng cao hiệu quả dạy học Tuy nhiên, trong thực tếdạy học, một số giáo viên chưa thực sự quan tâm và nhiệt tình, đặc biệt là giúphọc sinh tiếp thu chậm nắm kiến thức
Từ thực trạng việc dạy học về phân số nêu trên, để góp phần năng caohiệu quả dạy học, các giáo viên đó đưa ra một số kiến nghị, đề xuất đối với nhàtrường, giáo viên, phụ huynh và học sinh Theo tôi, để nâng cao hiệu quả dạyhọc Toán phân số cần phải có những tác động không chỉ vào yếu tố khách quan
mà chính vào yếu tố chủ quan, trong đó giáo viên có vài trũ đặc biệt quan trọng
Sự đầu tư về thời gian cũng như những tìm tòi, suy nghĩ để nâng cao kiến thức,cải tiến, đổi mới phương pháp dạy học- hình thức tổ chức dạy học, thì hứng thú
học tập cho học sinh đóng góp phần lớn vào thành công, hiệu quả giờ dạy
2.3 Một số biện pháp để dạy học nội dung phân số đạt kết quả cho học sinh lớp 4.
Đối với môn toán nói chung và phần phân số lớp 4 nói riêng, phươngpháp dạy học chủ yếu là thực hành Thông qua thực hành luyện tập theo nguyêntắc dần dần từ dễ đến khó để xây dựng cách giải cho học sinh Qua thực tế giảngdạy, tôi xin nêu biện pháp dạy từng nội dung phân số lớp 4 trong chương trìnhnhư sau:
2.3.1 Dạy Phân số (khái niệm phân số) Bài 96 - SGK trang 106, 107 [1]
Ngay từ lớp 2 và 3 tuy chưa được gọi là phân số nhưng học sinh đã cókhái niệm ban đầu như việc yêu cầu học sinh khoanh vào một phần hai số ôvuông; một phần ba, một phần tư, một phần năm số ô vuông; số con vật chính
là khái nịêm phân số được dần hình thành cho học sinh Đến lớp 4 mới chínhthức dạy học phân số Khái niệm phân số được giới thiệu trong Toán lớp 4 ởdạng đơn giản nhất ,chủ yếu dựa vào hình ảnh trực quan ( hình vẽ ,mô hình ).Phương pháp chủ yếu để giới thiệu khái niệm ban đầu về phân số thông thường
là : GV hướng dẫn HS phát hiện vấn đề nhờ cách đặt vấn đề của GV có sự hỗ trợcủa hình vẽ hoặc mô hình thích hợp Biện pháp nào giúp HS tích cực học tập, tựphát hiện khái niệm về phân số?
Thay vì GV cho HS quan sát hình vẽ hay mô hình thì GV có thể cho HSxếp và xé các băng giấy (học cụ của các em là một tờ giấy đôi được chia thành 6phần bằng nhau )
Khi này để cho thực tế giáo viên gọi băng giấy như là một cái bánh
- Mẹ cắt 1 cái bánh thành 6 phần bằng nhau bằng nhau ) Con được ăn 5phần (Yêu cầu học sinh xé (hoặc cắt) đi 5 phần của bằng giấy) Khi này giáo
Trang 12viên giới thiệu: Con được ăn 5 phần trong 6 phần của cái bánh như vậy em đãđược ăn
- HS tiếp tục xếp và xé các băng giấy để có 1 phân số khác (làm việc theonhóm, nói cho bạn trong nhóm nghe ) Chính thao tác xếp thành các phần bằngnhau và xé các băng giấy đó giúp HS tự nắm vững khái niệm về phân số
- Ngoài những vấn đề được nêu trong SGK, để cho học sinh nắm được ýnghĩa trong thực tế giáo viên phải lấy các ví dụ cụ thể như: cái bánh, quả cam
và dùng ngôn ngữ rất cụ thể, gần gũi với các em
Ví dụ: Mẹ có một quả cam, mẹ chia làm 5 phần bằng nhau, mẹ cho em 3phần Như vậy mẹ đã cho em
- Học sinh năng khiếu có thể tự lấy ví dụ vÒ ph©n sè
2.3.2 Dạy phân số và phép chia số tự nhiên Bài 97, 98 - SGK trang 108, 109, 110[1]
- Đây là bài học quan trọng vì từ bài học này học sinh sẽ biết viết một số
tự nhiên bất kì dưới dạng một phân số và cũng để học sinh áp dụng trong việctính cộng trừ, nhân, chia một số tự nhiên với một phân số và ngược lại, so sánhmột phân số với 1 đồng thời cũng là kiến thức để học sinh biết cách sắp xếp thứ
tự các phân số
- Với bài này, khi bước vào bài học giáo viên đặt vấn đề gợi mở cho học
sinh: Có 3 cái bánh có thể chia đều cho 4 bạn học sinh được không? GV giảng:
bình thường các em cho rằng ta không thể chia đều được như cách nghĩ của các
em Tuy nhiên ta vẫn chia đều một cách chính xác như cách chia trong ví dụ.Sau khi hướng dẫn bằng trực quan xong giáo viên cho học sinh nhận xét mọiphép chia ta có thể viết thành một phân số tử số là số bị chia, mẫu số là số chia.Đặc biệt giáo viên phải giảng cho học sinh hiểu được vì sao mọi số tự nhiên cóthể viết thành phân số có mẫu số là 1 thông qua ví dụ cụ thể như =
1
6
6 Lúc nàyhọc sinh cần nhớ lại tính chất chia một số tự nhiên cho một (số nào chia cho 1cũng bằng chính nó)
- Trong phần dạy cho học sinh biết phân số như thế nào là phân số lớn, bé
và bằng 1, phải thông qua ba ví dụ cụ thể để cho học sinh nắm được bản chấtcủa vấn đề sau đó mới cho học sinh lấy ví dụ cụ thể Để củng cố và mở rộng vấn
đề này đối với học sinh Hoàn thành tốt giáo viên có thể cho ba phân số dạng trêncho học sinh sắp sếp thứ tự từ lớn đến bé hay ngược lại