1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Tác động của dinh dưỡng bà mẹ đến sự phát triển của bào thai

8 136 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 621,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là một nghiên cứu đa phân tích về mối liên quan của bổ sung cân đối đạmnăng lượng và trọng lượng thai nhi. Sức mạnh của nghiên cứu này là chỉ bao gồm các nghiên cứu can thiệp. Trong mọi trường hợp, phân tích nhóm nhỏ dựa trên tình trạng dinh dưỡng của bà mẹ cho thấy rằng việc bổ sung cân đối đạm năng lượng thì hiệu quả hơn ở những phụ nữ suy dinh dưỡng so với phụ nữ được nuôi dưỡng đầy đủ. Tuy nhiên, không có tiêu chí chuẩn để xác định phụ nữ suy dinh dưỡng. Hơn nữa, không có nghiên cứu nào sử dụng chỉ số khối cơ thể (BMI) như tiêu chuẩn tuyển dụng. Một đánh giá tương tự đã được thực hiện bởi tổng quan Cochrane. Tuy nhiên, trong khi các kết quả tổng quan Cochrane là phù hợp với các kết quả nghiên cứu này, nhưng kết quả phân tích hiện tại đã đạt ý nghĩa thống kê (trái ngược với tổng quan Cochrane) chủ yếu do bởi sự bao gồm của 5 nghiên cứu trong phân tích hiện tại cung cấp độ lớn về mặt thống kê của nó.

Trang 1

Koletzko B, Shamir R, Turck D, Phillip M (eds): Nutrition and Growth: Yearbook 2014

World Rev Nutr Diet Basel, Karger, 2014, vol 109, pp 101–108 ( DOI: 10.1159/000356110)

W

alsh JM, McGowan CA, Mahony R, Foley ME, McAuliffe FM

UCD Obstetrics and Gynaecology, School of Medicine and Medical Science, University College Dublin, National Maternity Hospital, Dublin, Ireland

BMJ 2012; 345: e5605

Y ariv Yogev

1,2 and Liran Hiersch

1,2

1 Helen Schneider Hospital for Women, Rabin Medical Center, P etach-Tikva , Israel

2

The Sackler Faculty of Medicine, Tel Aviv University, T el Aviv , Israel

Mang Thai: Tác Động của Dinh Dưỡng Bà Mẹ Lên

Sự Phát Triển Bào Thai Trong Tử Cung

Chương này của sách “Niên giám Dinh dưỡng và Phát triển” đã đánh giá những bài viết quan trọng được công bố từ tháng 7 năm 2012 đến tháng 7 năm 2013 liên quan đến tác động của chế độ dinh dưỡng người mẹ trong thời kỳ mang thai lên sự tăng trưởng của thai nhi trong tử cung Cùng với những nghiên cứu trên người, một số nghiên cứu trên động vật liên hệ đến ảnh hưởng của dinh dưỡng trên nhau thai cũng được bao gồm bởi vì lĩnh vực này không được nghiên cứu đầy đủ ở người Cuối cùng, chúng tôi đã đưa vào các nghiên cứu trong tương lai với hy vọng sẽ giúp hiểu rõ các mục tiêu và lựa chọn can thiệp để cho con cái khỏe mạnh.

Nghiên cứu trên người

Khẩu phần chỉ số đường huyết thấp trong thai kỳ để phòng ngừa chứng béo bẩm sinh (nghiên cứu ROLO): thử nghiệm kiểm soát ngẫu nhiên

Bối cảnh: Thai lớn đối với tuổi thai và bào thai béo bẩm sinh (macrosomia fetuses) thì có nguy cơ cao

gây kết quả bất lợi cho bà mẹ và trẻ sơ sinh như biến chứng khi sinh và béo phì sau này trong cuộc sống của con cái họ, so với những người có bào thai thích hợp với tuổi thai Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định xem liệu một chế độ ăn có chỉ số đường huyết thấp trong thai kỳ có thể làm giảm tỷ lệ béo phì bẩm sinh ở nhóm mang nguy cơ hay không ?

Phương pháp: Giữa tháng giêng năm 2007 và tháng 1 năm 2011, 800 phụ nữ mang thai không mắc

bệnh đái tháo đường trong thai kỳ thứ hai của họ trước 18 tuần tuổi thai có những lần sinh trước với cân nặng khi sinh > 4 kg, được chọn ngẫu nhiên, hoặc không can thiệp chế độ ăn hoặc can thiệp bằng chế độ

ăn chỉ số đường huyết thấp Kết quả nguyên phát là sự khác biệt trong cân nặng khi sinh Kết quả thứ phát là sự khác biệt trong việc tăng cân khi người mẹ mang thai

Trang 2

Bối cảnh: Sự thích nghi phát triển do tiếp xúc dinh dưỡng sớm có thể có những hậu quả sức khỏe lâu

dài Đến nay, hầu hết các nghiên cứu khám phá mối liên quan giữa dinh dưỡng bà mẹ và kích thước thai nhi đã chủ yếu tập trung vào từng chất dinh dưỡng Nghiên cứu này tập trung vào các mô hình tiêu thụ thực phẩm và ý nghĩa của nó

Phương pháp: Một nghiên cứu quan sát tiền cứu đã được tiến hành từ năm 2001 đến năm 2006 Phân

tích hiện tại thì giới hạn ở 3.207 phụ nữ Hà Lan ghi danh trước khi sinh, với mang thai đơn, sinh trẻ sống

và sinh một cách tự nhiên Người tham gia hoàn thành một bảng câu hỏi bán định lượng trong thời kỳ đầu mang thai (tuổi thai < 18 tuần) để đánh giá thói quen ăn uống của họ Phân tích hồi quy logistic được

sử dụng để dự đoán chậm tăng trưởng trong tử cung vào lúc sinh như là một chức năng của tiêu thụ thực phẩm Giải pháp nguồn gốc được xem là mô hình chế độ ăn uống Sự kết hợp ăn nhiều hơn trái cây, rau

Kết quả: Về kết quả ban đầu, không thấy sự khác biệt đáng kể giữa 2 nhóm ở cân nặng khi sinh tuyệt

đối, cân nặng khi sinh percentile, hoặc chỉ số khối nạc Tuy nhiên, về kết quả thứ cấp, sự tăng cân thai kỳ xảy ra ở phụ nữ nhóm can thiệp thì ít có ý nghĩa Tỷ lệ dung nạp glucose cũng thấp hơn ở nhóm can thiệp: 21% so với 28% ở nhóm đối chứng, có đường huyết lúc đói 5,1 mmol / l hoặc kết quả kiểm tra thử thách đường huyết 1 giờ 7,8 mmol / l

Kết luận: Ở nhóm nguy cơ béo phì bẩm sinh, một chế độ ăn có chỉ số đường huyết thấp trong thai kỳ đã

không làm giảm tỷ lệ thai lớn đối với tuổi thai Tuy nhiên, có một tác động thuận đáng kể đối với tăng cân khi mang thai và bất dung nạp glucose ở bà mẹ

T immermans S 1,2 , Steegers-Theunissen RP , Vujkovic M , den Breeijen H , Russcher H , 2–5 2 3 6

Lindemans J , Mackenbach J , Hofman A , Lesaffre EE , Jaddoe VV , Steegers EA

1 Generation R Study Group, Erasmus Medical Center, Rotterdam, The Netherlands; Department of 2

3

Obstetrics and Gynecology, Erasmus Medical Center, Rotterdam, The Netherlands; Department of

4

Epidemiology, Erasmus Medical Center, Rotterdam, The Netherlands; Department of Pediatrics,

5

Erasmus Medical Center, Rotterdam, The Netherlands; D epartment of Clinical Genetics, Erasmus

6

Medical Center, Rotterdam, The Netherlands; D epartment of Clinical Chemistry, Erasmus Medical

7

Center, Rotterdam, The Netherlands; D epartment of Public Health, Erasmus Medical Center,

8

Rotterdam, The Netherlands; D epartment of Biostatistics, Erasmus Medical Center, Rotterdam ,

9

The Netherlands, and B iostatistical Centre, Catholic University Leuven, Leuven , Belgium

Br J Nutr 2012; 108: 1399–1409

Bình luận Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hơn 600 triệu người trưởng thành trên toàn thế giới bị

béo phì trên lâm sàng Với những kiến thức ngày càng tăng của các mối liên hệ giữa thai lớn đối với tuổi thai và béo phì sau này trong cuộc sống, chiến lược có hiệu quả để ngăn chặn vấn đề này là cần thiết Nghiên cứu này là một thử nghiệm có kiểm soát ngẫu nhiên

đủ mạnh Một số nghiên cứu can thiệp trong quá khứ đã cho rằng một chế độ ăn có chỉ

số đường huyết thấp thì hữu ích trong việc giảm cân khi sinh và giảm tỷ lệ thai nhi lớn đối với tuổi thai Tuy nhiên, những nghiên cứu đó có một cỡ mẫu nhỏ so với nghiên cứu này Hơn nữa, trong các nghiên cứu trước đó, một chế độ can thiệp mạnh hơn rất nhiều đã được sử dụng, trong khi ở nghiên cứu hiện tại chỉ có một vài cuộc họp mặt củng cố trong suốt thai kỳ Phụ nữ trong nhóm can thiệp đã tăng ít hơn trung bình 1,5 kg so với những người trong nhóm đối chứng Sự tăng cân giảm ít đi này đã thành công trong việc giảm tỉ

lệ bất dung nạp glucose Có lẽ một chế độ ăn đạt được sự tăng cân ít hơn trong thai kỳ sẽ giúp giảm cân nặng khi sinh của trẻ

Chế độ ăn Địa Trung Hải và thông số kích thước thai nhi: nghiên cứu thế hệ R

Trang 3

Bối cảnh: Môi trường trong tử cung có thể ảnh hưởng đến kiểu hình con Thành phần cơ thể gầy khi

sinh có liên quan với tăng nguy cơ bệnh tim và bệnh chuyển hóa ở tuổi trưởng thành

Kết luận: Thành phần mỡ trong cơ thể thai nhi có thể thay đổi được thông qua can thiệp dinh dưỡng ở

người mẹ

Phương pháp: Nghiên cứu tiền cứu đã đánh giá 179 phụ nữ Úc với đơn thai từ nghiên cứu Phụ nữ và

Sức Khỏe Trẻ Em (Women and Their Children’s Health WATCH) Chế độ ăn uống của mẹ đã được định lượng bằng một bảng câu hỏi tần suất câu hỏi hợp lệ vào 18-24 và 36-40 tuần tuổi thai Đo thành phần

cơ thể thai nhi đã được xác định ở các vị trí bụng và giữa đùi bằng siêu âm thực hiện tại 19, 25, 30, và 36 tuần

Kết quả: Tỷ lệ của đạm với tinh bột và tỷ lệ của đạm với carbohydrate ở mẹ có liên quan với tỷ lệ mỡ

bụng, trong khi axit béo bão hòa (SFA) và acid béo không bão hòa đa (PUFA) có liên quan với tỷ lệ mỡ giữa đùi Béo phì của thai nhi đã được tối đa hóa ở lượng tiêu thụ khác nhau của đại chất dinh dưỡng

Mỡ bụng thì cao nhất với lượng đạm ăn vào thấp và mỡ giữa đùi thì cao nhất ở lượng đạm trung gian, chất béo cao (> 40 % năng lượng ) và thấp carbohydrate (< 40 % năng lượng)

quả, dầu thực vật, cá, mì và gạo, và ăn ít hơn thịt, khoai tây và nước sốt béo thì được đánh dấu là chế độ

ăn "Địa Trung Hải" Nghiên cứu đánh giá mối liên quan giữa thói quen ăn uống với kích thước bào thai, sức đề kháng mạch máu nhau tử cung, trọng lượng nhau thai và cân nặng khi sinh Kết quả: Kích thước của thai nhi và các thông số nhau thai có liên quan với mức độ tuân thủ chế độ ăn Địa Trung Hải Phụ nữ

có sự tuân thủ thấp chế độ ăn này thì có trọng lượng sinh thấp hơn 72 g và trọng lượng nhau thai thấp hơn 15 g, so với phụ nữ có sự tuân thủ cao Không thấy sự khác biệt liên quan đến sức đề kháng mạch máu nhau tử cung giữa các nhóm nghiên cứu

Kết luận: Sự tuân thủ thấp chế độ ăn Địa Trung Hải vào đầu thai kỳ dường như có mối liên quan với

khối lượng nhau thai thấp hơn và cân nặng khi sinh thấp hơn

Trong những năm qua, chế độ ăn Địa Trung Hải đã trở nên phổ biến cho hiệu quả sức khỏe tích cực Trong khi chế độ ăn Địa Trung Hải không tồn tại duy nhất, mà những mô hình ăn uống phổ biến ở khu vực Địa Trung Hải có những đặc điểm chung, bao gồm ăn nhiều rau và dầu thực vật, ăn vừa phải cá và tương đối ít thịt Mặc dù chỉ hiển thị một ảnh hưởng khiêm tốn trên trẻ sơ sinh và trọng lượng nhau thai, nhưng nghiên cứu hiện tại như là một trong những nghiên cứu đầu tiên xem xét mối quan hệ giữa thói quen ăn uống trong thai kỳ sớm (trái ngược với một vi chất dinh dưỡng cụ thể) và tăng trưởng của thai nhi và nhau thai trong tử cung trong quá trình trong tử cung Kết quả của nghiên cứu này hỗ trợ cho các báo cáo trước đây về giảm tỷ lệ tăng trưởng bào thai trong tử cung liên quan với một chế độ ăn uống nhiều trái cây và rau so với chế độ ăn nhiều thịt, đồ ăn nhẹ và khoai tây

Blum eld ML 1,3 , Hure AJ , MacDonald-Wicks LK , Smith R , Simpson SJ , Giles WB , 2,3 1 2,3 4 5

Raubenheime D , Collins CE

1 The School of Health Sciences, Faculty of Health, University of Newcastle, Callaghan, NSW, Australia;

2 The School of Medicine and Public Health, Faculty of Health, University of Newcastle, Callaghan, NSW, Australia; 3 The Mothers and Babies Research Centre, Hunter Medical Research Institute,

John Hunter Hospital, NSW, Australia; 4 The School of Biological Sciences, Northern Clinical School,

5 Obstetrics, Gynaecology and Neonatology, Northern Clinical School, 6 University of Sydney, Sydney, NSW, Australia, and The Institute of Natural Sciences, Massey University, Albany, New Zealand

Am J Clin Nutr 2012; 96: 1032–1041

Bình luận

Cân bằng chế độ ăn khi mang thai có liên quan với béo phì thai nhi và sự phân bố chất béo

Trang 4

Bình luận Ngược lại với các nghiên cứu trước đây đã trình bày giải quyết trọng lượng trẻ sơ sinh,

nghiên cứu này liên quan đến mối liên hệ giữa dinh dưỡng bà mẹ trong thai kỳ và thành phần cơ thể của thai nhi Nó đã được đề xuất trong quá khứ là nội tạng trong bụng của thai nhi nhỏ và khối lượng cơ thấp nhưng tỷ lệ dự trữ mỡ trong cơ thể có liên quan đến đề kháng insulin sau này trong đời Tuy nhiên, thành phần cơ thể lý tưởng của trẻ sơ sinh,

mà sẽ liên quan với kết quả tối ưu ngắn hạn và dài hạn thì chưa được xác định, và cho dù điều "lý tưởng" này cũng có liên quan đến tổng trọng lượng trẻ sơ sinh Điều thú vị là hiệu quả của đại chất dinh dưỡng ở người mẹ thì khác nhau giữa vùng bụng và vùng giữa đùi thai nhi Thật không may, việc đo lường trực tiếp tình trạng béo phì ở trẻ sơ sinh khi sinh đã không được thực hiện, do đó, một mối tương quan giữa siêu âm và đo lường thực tế có thể không được thành lập

Emet T, Ustüner I, Güven SG, Balık G, Ural UM, Tekin YB, Sentürk S, Sahin FK, Avşar AF

Department of Obstetrics and Gynecology, Recep Tayyip Erdoğan University School of Medicine, Rize, Turkey

Arch Gynecol Obstet 2013 (E-pub ahead of print)

Lipid và lipoprotein huyết tương trong thai kỳ và kết quả thai kỳ

Bối cảnh: Khi mang thai, những thay đổi phức tạp xảy ra trong quá trình chuyển hóa lipid Tăng tổng

hợp lipid và việc ăn nhiều ở mẹ đã dẫn đến tích lũy chất béo đặc biệt ở 3 tháng đầu tiên và 3 tháng thứ hai Quá trình này thì đảo ngược trong 3 tháng cuối do sự gia tăng hoạt động phân hủy lipid trong mô

mỡ Mục đích của nghiên cứu này là khám phá mối liên quan giữa những thay đổi lipid ở người mẹ mẹ

và kết quả thai kỳ

Phương pháp: Trong một nghiên cứu tiền cứu, 1.000 phụ nữ mang thai đã được tuyển dụng vào những

năm 2010-2011 Kiểm tra bộ mỡ bao gồm triglyceride (TG), cholesterol toàn phần, lipoprotein tỷ trọng cao (HDL) và lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) đã được thực hiện trong chuyến thăm đầu tiên trước khi sinh (< 14 tuần) và lặp lại trong 3 tháng cuối (> 28 tuần) Tình trạng dinh dưỡng cũng như y tế và xã hội - nhân khẩu học của người mẹ được ghi nhận Kết quả nguyên phát được xác định là mối liên quan của sự thay đổi bộ mỡ trong thời kỳ mang thai với trọng lượng sơ sinh, trọng lượng của trẻ ở tháng thứ ba và biến chứng thai kỳ

Kết quả: Mức độ TG, cholesterol toàn phần, HDL và LDL đã gia tăng đáng kể khi thai tiến triển Bệnh

nhân có các thông số dinh dưỡng tốt thì có tỷ lệ phần trăm thay đổi mức độ TG cao hơn Tỷ lệ phần trăm tăng lên của sự thay đổi TG đã có một tác động thuận lên trọng lượng trẻ sơ sinh, nhưng không lên trọng lượng nhau thai và trọng lượng tháng thứ ba của trẻ sơ sinh Một mối quan hệ nghịch đảo đã được quan sát giữa phần trăm thay đổi mức độ TG và nguy cơ sinh non

Kết luận: Trong thời kỳ mang thai, sự thay đổi phức tạp đã xảy ra trong quá trình chuyển hóa lipid Thay

đổi phần trăm ở mức độ TG bị ảnh hưởng dương tính bởi mức độ dinh dưỡng bà mẹ Trọng lượng sơ sinh và nguy cơ sinh non bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi phần trăm mức TG

Bình luận Mục đích của nghiên cứu này là khám phá ảnh hưởng của những thay đổi bộ mỡ ở bà mẹ

trong thai kỳ liên quan với sự tăng trưởng và phát triển của bào thai, tiên lượng, và các biến chứng của thai kỳ Kết quả nghiên cứu hiện tại tham gia cùng các báo cáo trước đây

về việc tăng nồng độ lipid trong thai kỳ Sự khác biệt chính của nghiên cứu này so với các nghiên cứu trước đó là đánh giá sự thay đổi phần trăm percentile ở bộ mỡ giữa thai kỳ sớm và muộn, và ảnh hưởng của nó đến kết quả thai kỳ Do đó, bộ mỡ nên được đánh giá nhiều lần trong khi mang thai vì đo một lần có thể nhầm lẫn Tình trạng dinh dưỡng bà

mẹ cho thấy mối liên quan chỉ có đối với thay đổi nồng độ TG và không có với các thông

Trang 5

số khác của bộ mỡ Một ý nghĩa trong tương lai có thể có đối với phát hiện này là sự thay đổi mức độ TG trong thai kỳ có thể hỗ trợ đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bà mẹ Hơn nữa, thông số này thì liên quan với cả trọng lượng sơ sinh và nguy cơ sinh non

Tóm tắt: Bài báo này tổng quan các bằng chứng về mối liên quan của dinh dưỡng bà mẹ với kết quả sinh

và ảnh hưởng của việc bổ sung cân đối đạm năng lượng nói riêng (đạm cung cấp < 25% tổng năng lượng) Mười sáu nghiên cứu can thiệp được đưa vào xem xét Chỉ những thử nghiệm ngẫu nhiên, gần như ngẫu nhiên và thiết kế trước - sau được thu nhận Phân tích gộp đã cho thấy tác động thuận của việc

bổ sung cân đối đạm năng lượng lên cân nặng khi sinh so với đối chứng Bổ sung đạm năng lượng có liên quan với giảm tỷ lệ nhẹ cân khi sinh và giảm nguy cơ hạn chế tăng trưởng trong tử cung Hiệu quả

rõ rệt hơn ở phụ nữ suy dinh dưỡng so với phụ nữ nuôi dưỡng đầy đủ

Bối cảnh: Cơ chế trung gian gây tác động dinh dưỡng của bà mẹ lên tăng trưởng của thai nhi vẫn chưa

rõ ràng Tăng trưởng trong tử cung chủ yếu được xác định bởi khả năng của nhau thai cung cấp chất

Đây là một nghiên cứu đa phân tích về mối liên quan của bổ sung cân đối đạm-năng lượng và trọng lượng thai nhi Sức mạnh của nghiên cứu này là chỉ bao gồm các nghiên cứu can thiệp Trong mọi trường hợp, phân tích nhóm nhỏ dựa trên tình trạng dinh dưỡng của bà mẹ cho thấy rằng việc bổ sung cân đối đạm năng lượng thì hiệu quả hơn ở những phụ nữ suy dinh dưỡng so với phụ nữ được nuôi dưỡng đầy đủ Tuy nhiên, không

có tiêu chí chuẩn để xác định phụ nữ suy dinh dưỡng Hơn nữa, không có nghiên cứu nào

sử dụng chỉ số khối cơ thể (BMI) như tiêu chuẩn tuyển dụng Một đánh giá tương tự đã được thực hiện bởi tổng quan Cochrane Tuy nhiên, trong khi các kết quả tổng quan Cochrane là phù hợp với các kết quả nghiên cứu này, nhưng kết quả phân tích hiện tại đã đạt ý nghĩa thống kê (trái ngược với tổng quan Cochrane) chủ yếu do bởi sự bao gồm của

5 nghiên cứu trong phân tích hiện tại cung cấp độ lớn về mặt thống kê của nó

Imdad A, Bhutta ZA

Division of Women and Child Health, Aga Khan University, Karachi, Pakistan

Paediatr Perinat Epidemiol 2012; 26: 178–190

Lin Y, Zhuo Y, Fang ZF, Che LQ, Wu D

Key Laboratory for Animal Disease Resistance Nutrition, Ministry of Education, and Animal Nutrition Institute, Sichuan Agricultural University, Ya’an, PR China

Nutrition 2012; 28: 1037–1043

Dinh dưỡng bà mẹ và kết quả sinh: tác động của việc bổ sung cân đối đạm

năng lượng

Bình luận

Nghiên cứu trên động vật

Ảnh hưởng của các dạng năng lượng khẩu phần người mẹ lên biểu hiện gien vận chuyển chất dinh dưỡng nhau thai và phát triển bào thai trong tử cung ở chuột

Trang 6

dinh dưỡng từ mẹ sang thai nhi phụ thuộc chủ yếu vào các chức năng của phương tiện vận chuyển chất dinh dưỡng nhau thai Các nhà nghiên cứu muốn khám phá hiệu quả của các loại năng lượng ăn vào khác nhau ở bà mẹ lên sự vận chuyển chất dinh dưỡng nhau thai, và liệu tốc độ tăng trưởng của thai nhi

có đi kèm với những biểu hiện gien khác nhau liên quan đến methyl hóa ADN của thai nhi và quá trình chuyển hóa năng lượng hay không ?

Phương pháp: Chuột 3 tháng tuổi (n = 72) được nhận một trong bốn nhóm: ít chất béo / ít chất xơ (L-L)

ít chất béo / chất xơ cao (LH), chất béo cao / ít chất xơ (HL), hoặc chất béo cao / chất xơ cao (HH) Chuột được cho chế độ ăn điều trị 4 tuần trước khi giao phối và tiếp tục trong thời kỳ mang thai cho đến khi bộ sưu tập mẫu thu được vào ngày 13,5 và 17,5 của thai kỳ

Kết quả: Trọng lượng thai nhi ở nhóm LL thấp hơn so với nhóm HL đáng kể Các biểu hiện mRNA vận

chuyển dinh dưỡng nhau thai của yếu tố vận chuyển glucose -3 (Slc2a3) và yếu tố vận chuyển axit amin cation -1 (Slc7a1) ở nhóm LL có trọng lượng thai nhi giảm thì điều tiết giảm so với nhóm HL có trọng lượng thai nhi tăng Đối với những biểu hiện gien Igf- 2 và H19 đánh dấu nhau thai, biểu hiện Igf- 2 thấp hơn và biểu hiện H19 cao hơn thì có liên quan với sự phát triển thai nhi giảm ở nhóm LL, so với nhóm

HL có trọng lượng thai nhi tăng Sự tăng trưởng thai nhi khác nhau có liên quan với những biểu hiện ADN khác nhau methyltransferase -1 và methyltransferase - 3a và gien chuyển hóa liên quan đến năng lượng

Kết luận: Các dạng năng lượng tiêu thụ khác nhau có thể ảnh hưởng lên sự phát triển thai nhi trong tử

cung và nó được điều hòa thông qua những biểu hiện gien vận chuyển chất dinh dưỡng nhau thai

Bối cảnh: Suy dinh dưỡng bà mẹ được biết là có liên quan với giảm sự phát triển thai nhi Điều này chủ

yếu là do nhau thai không có khả năng cung cấp oxy và chất dinh dưỡng đầy đủ cho thai nhi Tuy nhiên,

cơ chế mà tình trạng dinh dưỡng của mẹ ảnh hưởng đến nhau thai vẫn còn chưa rõ ràng

Phương pháp: Nhau thai đủ tháng của chuột từ chuột mẹ hạn chế thực phẩm 70% (FR30) đã được sử

dụng cho một màn hình phân tích Chức năng của ty lạp thể nhau thai đã được đánh giá bằng cách sử dụng phương thức tiếp cận phân tử và chức năng, và sự sản xuất ATP được đo lường

Kết quả: FR30 thì có liên quan với giảm trọng lượng thai nhi và nhau thai so với nhóm chứng Nhau thai

FR30 hiển thị 14 protein đã được thể hiện theo kiểu khác, bao gồm một số protein ty thể FR30 gây ra một sự gia tăng đáng kể ở thành phần mtDNA nhau thai đánh dấu nội dung và những thay đổi trong chức năng của ty lạp thể, bao gồm sự điều biến của biểu hiện gien liên quan đến con đường phát sinh sinh học và năng lượng sinh học

Nhau thai đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển và sự sống còn của thai nhi trong tử cung Nghiên cứu này không chỉ khám phá mối liên quan giữa các loại năng lượng tiêu thụ khác nhau lên sự tăng trưởng của thai nhi, mà còn báo cáo về vai trò của nhau thai trong quá trình này Hơn nữa, chúng cho thấy có sự thay đổi trong biểu hiện gien ở cả nhau thai và thai nhi đáp ứng với chế độ ăn uống của người mẹ Tuy nhiên, trong khi những thích nghi di truyền có thể là quan trọng cho sự sống còn của thai nhi trong tử cung, nhưng có thể rằng sự suy lập trình trong gien có liên quan đến chuyển hóa thai nhi có thể chịu trách nhiệm cho một kết quả chuyển hóa bất lợi sau này trong cuộc sống con cái

Mayeur S, Lancel S, Theys N, Lukaszewski MA, Duban-Deweer S, Bastide B, Hachani J, Cecchelli R, Breton C, Gabory A, Storme L, Reusens B, Junien C, Vieau D, Lesage J

Université Lille Nord de France, Lille, France

Am J Physiol Endocrinol Metab 2013; 304: E14–E22

Bình luận

Hạn chế calori ở mẹ làm thay đổi phát sinh sinh học ty thể nhau thai và hiệu quả năng lượng sinh học: tham gia giả định trong các khuyết tật phát triển nhau

bào thai ở chuột

Trang 7

Kết luận: Suy dinh dưỡng ở bà mẹ có liên quan đến giảm trọng lượng thai nhi và nhau thai Bệnh lý

nhau thai có thể được giải thích bởi các khuyết tật ty thể nhau thai liên quan đến con đường phát sinh sinh học và năng lượng sinh học

Nghiên cứu này tìm hiểu các quy trình phân tích protein thích ứng trong nhau thai đáp ứng với suy dinh dưỡng bà mẹ Trọng tâm chính của nghiên cứu là sinh lý học ty thể trong nhau thai bởi vì những cơ quan này đóng một vai trò quan trọng trong trao đổi mẹ

- thai nhi Đây là một trong những nghiên cứu mô tả sự đàn hồi của ty thể trong nhau thai

để đáp ứng với chế độ dinh dưỡng của bà mẹ Phát hiện này cho thấy rằng các khiếm khuyết ti thể nhau thai có thể liên quan đến nguyên nhân của hạn chế tăng trưởng trong

tử cung

Đây là một dự án đa trung tâm, đa sắc tộc, dựa trên dân số, được tiến hành trong tám khu vực địa lý Có 5 mục tiêu cho dự án này Ba bộ tiêu chuẩn tăng trưởng quốc tế đối với: (1) tốc độ tăng trưởng của thai nhi từ đầu thai kỳ, (2) tăng trưởng sau khi sinh của trẻ non tháng và (3) cân nặng, chiều dài và chu vi vòng đầu so với tuổi thai Hai mục tiêu còn lại là nhằm điều tra các yếu tố quyết định của sinh thiếu tháng và phát triển của thai suy và nhằm phát triển một mô hình dự đoán để tính tuổi thai trong thời gian ba tháng giữa dựa trên số đo siêu âm Vì dự án đã lựa chọn nhóm người khỏe mạnh không có yếu tố nguy cơ rõ ràng trong hạn chế tăng trưởng trong tử cung, các tiêu chuẩn này sẽ mô tả cách để tất cả bào thai và trẻ sơ sinh phát triển, trái ngược với bảng truyền thống mô tả cách một số bào thai và trẻ sơ sinh phát triển ở một nơi và thời gian nhất định, và sẽ cho phép nhận diện dân số có nguy cơ cần thiết để giám sát cẩn thận

V

illar J 1 , Altman D , Purwar M , Noble J , Knight H , Ruyan P , Cheikh Ismail L , Barros F , 2 3 4 1 5 1 6,7

Lambert A , Papageorghiou A , Carvalho M , Jaffer Y , Bertino E , Gravett M , Bhutta ZA ,

1

Kennedy S , for the International Fetal and Newborn Growth Consortium for the 21st Century (INTERGROWTH-21st)

1 Nuffield Department of Obstetrics & Gynaecology, and Oxford Maternal & Perinatal Health

2

Institute, Green Templeton College, University of Oxford, Oxford, UK; C entre for Statistics in

Medicine, University of Oxford, Oxford, UK; K etkar Nursing Home, Nagpur, India; Department of

5

Engineering Science, University of Oxford, Oxford, UK; S chool of Public Health, Peking University,

6

Beijing, China; P rograma de Pós-Graduação em Saúde e Comportamento, Universidade Católica

7

de Pelotas, Pelotas, RS, Brazil; P rograma de Pós-Graduação em Epidemiologia, Universidade

8

Federal de Pelotas, Pelotas, RS, Brazil; F aculty of Health Sciences, Aga Khan University, Nairobi,

9

Kenya; D epartment of Family & Community Health, Ministry of Health, Muscat, Sultanate of Oman;

10 Dipartimento di Scienze Pediatriche e dell’Adolescenza, Cattedra di Neonatologia, Università

11

degli Studi di Torino, Torino, Italy; U niversity of Washington School of Medicine, Seattle, WA, USA,

12

and D ivision of Women & Child Health, The Aga Khan University, Karachi, Pakistan

BJOG 2013 (E-pub ahead of print)

Bình luận

Các nghiên cứu trong tương lai

Mục tiêu, thiết kế và thực hiện dự án INTERGROWTH - 21

Bình luận

Trang 8

Mang thai đại diện cho một thời kỳ quan trọng cho cả tác động của nó lên tiềm năng béo phì xuôi dòng và tỉ lệ bệnh tật đi kèm với nó và như một cơ hội trong thay đổi hành vi của

mẹ vì phụ nữ được thúc đẩy cao trong thời gian đó Mục tiêu của thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên này là kiểm tra xem việc giữ sự tăng cân của người mẹ trong thai kỳ không giới hạn có thể ảnh hưởng đến trọng lượng con cái ngay cả trong theo dõi dài hạn Thử nghiệm MOM bắt đầu như một nghiên cứu thí điểm chọn ngẫu nhiên tổng số 60 phụ nữ

để kiểm tra tính khả thi và chấp nhận sự can thiệp và cung cấp bằng chứng cho tính toán năng lượng trong tương lai Dinh dưỡng bà mẹ ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi trong một số cơ chế Tuy nhiên, dinh dưỡng giống như bất kỳ sự can thiệp y tế khác, nên được xem xét cá nhân hoá về tính di truyền, nhân khẩu học, hành vi và các yếu tố khác ảnh hưởng đến tiềm năng phát triển của thai nhi Để đạt được mục tiêu đó, những thử nghiệm ngẫu nhiên hơn, kiểm soát tốt hơn và được hỗ trợ đầy đủ là cần thiết

Adamo KB 1,3,6 , Ferraro ZM , Gold eld G 1 1,3,6 , Keely E , Stacey D , Hadjiyannakis S 5,8 4,9 1,6,7 ,

Jean-Philippe S , Walker M , Barrowman NJ

1 Healthy Active Living and Obesity Research Group, Children’s Hospital of Eastern Ontario Research

2

Institute, Ottawa, ON, Canada; C hildren’s Hospital of Eastern Ontario Research Institute, Clinical

3

Research Unit Ottawa, ON, Canada; U niversity of Ottawa, Faculty of Health Sciences, School of

4

Human Kinetics, Ottawa, ON, Canada; U niversity of Ottawa, Faculty of Health Sciences, School of

5

Nursing Ottawa, ON, Canada; U niversity of Ottawa, Faculty of Medicine, Obstetrics/Gynecology,

6

Ottawa, ON, Canada; U niversity of Ottawa, Faculty of Medicine, Pediatrics, Ottawa, ON, Canada;

7 Children’s Hospital of Eastern Ontario, Centre for Healthy Active Living, Ottawa, ON, Canada;

8 The Ottawa Hospital, Division of Endocrinology and Metabolism, Riverside Campus; Ottawa, ON,

9

Canada; T he Ottawa Hospital Research Institute, Centre for Practice Changing Research (CPCR), Ottawa, ON, Canada

Contemp Clin Trials 2013; 35: 87–96

Đề cương thử nghiệm quản lý béo phì bà mẹ (MOM): can thiệp

lối sống trong thai kỳ để giảm thiểu bệnh béo phì xuôi dòng

Bình luận

Ngày đăng: 19/09/2018, 20:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w