1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện quy trình chăm sóc và phòng, trị bệnh cho lợn nái, lợn con tại trại chăn nuôi bùi huy hạnh , xã tái sơn huyện tứ kỳ tỉnh hải dương

60 164 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 640,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Phạm Hữu Doanh và cs 2003 [5] cho rằng: Không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi t

Trang 1

-

TẠ THỊ MAI

Tên chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC VÀ PHÕNG, TRỊ BỆNH

CHO LỢN NÁI, LỢN CON TẠI TRẠI CHĂN NUÔI

BÙI HUY HẠNH, TỨ KỲ - HẢI DƯƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Khóa học: 2013 - 2017

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 2

-

TẠ THỊ MAI

Tên chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC VÀ PHÒNG, TRỊ BỆNH

CHO LỢN NÁI, LỢN CON TẠI TRẠI CHĂN NUÔI

BÙI HUY HẠNH, TỨ KỲ - HẢI DƯƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017 Giảng viên hướng dẫn: TS Hà Văn Doanh

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự dạy bảo tận tình của các thầy cô giáo, em đã nắm được

những kiến thức cơ bản ngành học của mình Trong đó ngoài sự nỗ lực của

bản thân, em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói chung và các thầy cô khoa Chăn nuôi thú y nói riêng, đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu và bổ ích Vậy nên

em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới: Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, cùng toàn thể các thầy cô giáo trong trường đã nhiệt tình dạy dỗ, dìu dắt em trong suốt thời gian học tập tại trường, tạo nền tảng để em phát huy trong sự nghiệp của mình

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn: TS Hà Văn Doanh người đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo em trong suốt quá trình thực tập để em có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Đồng thời, em xin gửi lời cảm ơn tới ông Bùi Huy Hạnh - chủ trang trại, cùng toàn thể các cô, chú, anh chị kỹ sư, công nhân trong trang trại đã tạo điều kiện giúp đỡ cho em trong suốt quá trình thực tập tại cơ sở

Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân,

và bạn bè, những người đã bên em, động viên và giúp đỡ em vượt qua những khó khăn trong suốt quá trình học tập và rèn luyện

Bản thân em thấy mình còn nhiều khiếm khuyết, những hạn chế về mặt kiến thức và chuyên môn nên bài khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót

Em kính mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của quý thầy cô cùng toàn thể các bạn để em có điều kiện bổ sung, nâng cao kiến thức của mình

Em xin chân thành cảm ơn !

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017

Sinh viên

Tạ Thị Mai

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Cơ cấu đàn lợn của trại 5

Bảng 3.1: Lịch sát trùng của trại lợn nái 34

Bảng 3.2: Lịch tiêm phòng của trại lợn nái 35

Bảng 4.1: Kết quả công tác chăm sóc 40

Bảng 4.2: Kết quả công tác khử trùng tại cơ sở 41

Bảng 4.3: Kết quả công tác tiêm phòng 42

Bảng 4.4: Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn con nuôi tại trại 43

Bảng 4.5: Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn con từ sơ sinh đến 7 ngày tuổi 44 Bảng 4.6: Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái 46

Trang 5

Khoa học kỹ thuật Nhà xuất bản Thể trọng Tiêu chuẩn Việt Nam Vitamin

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục tiêu 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 3

2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở 4

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến nội dung của chuyên đề 6

2.2.1 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 6

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 26

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 30 3.1 Đối tượng 30

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 30

3.3 Nội dung tiến hành 30

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 30

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 30

3.4.2 Phương pháp theo dõi và thực hiện 31

3.4.3 Phương pháp tính toán các chỉ tiêu 39

Trang 7

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40

4.1 Kết quả công tác chăm sóc đàn lợn nái và lợn con theo mẹ 40

4.2 Kết quả thực hiện công tác phòng bệnh cho lợn 41

4.2.1 Vệ sinh phòng bệnh 41

4.2.2 Tiêm phòng vacxin 42

4.3 Kết quả thực hiện công tác chẩn đoán và điều trị bệnh gặp trên đàn lợn nái và lợn con tại trại 43

4.3.1 Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn con từ sơ sinh đến 7 ngày tuổi trong 6 tháng thực tập 43

4.3.2 Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn con từ sơ sinh đến 7 ngày tuổi tại trại trong thời gian thực tập 44

4.3.3 Kết quả thực hiện công tác chẩn đoán và điều trị bệnh gặp trên đàn lợn nái nuôi tại trại 45

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47

5.1 Kết luận 47

5.2 Đề nghị 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49 PHỤ LỤC

Trang 8

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trồng trọt và chăn nuôi luôn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam Trong đó chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng luôn đóng góp một phần lớn vào thu nhập của người dân Ngày nay, khi đời sống của người dân ngày một nâng cao thì nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm thịt, đặc biệt là thịt lợn chất lượng cao ngày một tăng Bên cạnh đó, cùng với các chính sách quan tâm của Nhà nước đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi trang trại phát triển

Nhưng bên cạnh những thuận lợi, chúng ta cũng phải đối mặt với những thách thức, khó khăn, đặc biê ̣t là vấn đề di ̣c h bê ̣nh.Dịch bệnh thường xuyên xảy ra đã gây nhiều thiệt hại, làm hạn chế sự phát triển, giảm hiệu quả kinh tế của ngành chăn nuôi Đòi hỏi mỗi cơ sở chăn nuôi phải chuẩn bị tốt công tác giống, dinh dưỡng, chăm sóc vệ sinh, đặc biệt là việc phát hiện, xử

lý các bệnh trên heo, đây là những khâu cơ bản nhất đóng vai trò hết sức quan trọng đến sự sống còn của một trại heo bất kì

Là sinh viên được đào tạo trong ngành thú y, ngoài việc học các lí thuyết trên sách vở, internet, các bài giảng dạy của các giảng viên trên lớp,…Thì vẫn chưa đủ để em có cái nhìn sâu hơn, toàn cảnh hơn về thực tiễn chăn nuôi của nước ta,… Chính vì thế việc thực tập trong các trang trại chăn nuôi giúp cho em có điều kiện tiếp xúc trực tiếp và hiểu rõ hơn về nghề nghiệp sau này của mình, Đồng thời có điều kiện đem những cái học được từ

lí thuyết, gắn với thực tế, dùng lí thuyết lí giải những vấn đề mà mình gặp phải trong khoảng thời gian thực tập tại trại Đây là cơ hội để em có thể được

cọ sát, được thể hiện năng lực, được học hỏi các kinh nghiệm thực tế từ các anh chị trong nghề, rèn luyện và nâng cao các kĩ năng chuyên môn, kĩ năng

Trang 9

mềm Để từ đó có cơ sở vững chắc, đáp ứng được nhu cầu của xã hội cũng như các cơ quan tuyển dụng

Vì vậy, trong quá trình thực tập tại trại chăn nuôi của ông Bùi Huy Hạnh

em đã tiến hành thực hiện chuyên đề:” Thực hiện quy trình chăm sóc và phòng,

trị bệnh cho lợn nái, lợn con tại trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh , xã Tái Sơn, huyện

- Nắm bắt được tình hình chăn nuôi, công tác thú y tại trang trại

- Thực hiện thành thạo các thao tác kỹ thuật thú y

- Biết được các phương pháp phòng và điều trị bệnh

- Nâng cao tay nghề, củng cố kiến thức đã học và học hỏi được nhiều kiến thức thực tế

1.2.2 Yêu cầu

- Phải nắm vững kiến thức đã học

- Phải chịu khó, tỷ mỷ, mạnh dạn tiếp cận đàn gia súc

- Chấp hành đúng sự phân công của trại, nắm được nội dung thực tập tại cơ sở

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập

Trang trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh nằm độc lập giữa một vùng bát ngát màu xanh của cánh đồng lúa trên địa bàn xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Đây là một trong những trang trại có quy mô lớn nhất của tỉnh Hải Dương, trang trại có tổng diện tích 3ha, trong đó diện tích 1ha là khu chăn nuôi tập trung cùng các công trình phụ cận và 2ha trồng cây xanh và ao hồ

Được thành lập và đi vào sản xuất từ năm 2007 với số vốn đầu tư lên tới 20 tỷ đồng, trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản do Công ty Cổ phần thức

ăn chăn nuôi Việt Nam (một chi nhánh của Tập đoàn CP Thái Lan) cung cấp

2 giống lợn Landrace - Yorkshire và Pietrain - Duroc Khu sản xuất gồm 6 dãy chuồng đẻ và 2 dãy chuồng bầu, 4 chuồng cách ly nuôi 1.200 lợn nái ngoại, 30 lợn đực, 120 lợn hậu bị cùng 2500 lợn con đã tách mẹ Lợn sau khi sinh 19 đến 23 ngày thì được cai sữa Mỗi năm trang trại cho xuất ra thị trường khoảng 20.000 - 25.000 con lợn giống

Trang trại áp dụng quy trình nuôi lợn theo kỹ thuật cao từ khâu chọn giống đến kỹ thuật chăn nuôi Khu sản xuất được phân ra nhiều phân khu chuồng trại liên hoàn nhau để nuôi lợn theo từng giai đoạn riêng và áp dụng chế độ nuôi dưỡng phù hợp cho từng loại lợn Thức ăn cho mỗi loại lợn cũng

có chế độ dinh dưỡng khác nhau Lợn được nuôi trong chuồng kín có hệ thống quạt thông gió, hệ thống giàn mát tự động và sưởi ấm đủ yêu cầu về nhiệt độ Quá trình cho lợn ăn, uống nước được điều khiển theo hệ thống hoàn toàn tự động bằng dây chuyền được nhập từ nước ngoài

Trang 11

Đội ngũ cán bộ kỹ thuật và nhân viên của trại gồm 1 kỹ sư chính, 2 tổ trưởng và 30 công nhân phụ trách, trang trại đã góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong vùng còn nhiều khó khăn này

Với việc chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp, các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi của trại được thực hiện chủ động và tích cực Trang trại đã chủ động liên hệ với cơ sở thú y địa phương tổ chức tiêm phòng đầy đủ cho đàn lợn Mỗi con lợn đều có một hồ sơ riêng cho việc phối tinh, đẻ, xuất chuồng, nhập chuồng… chính xác tới từng ngày Để phòng tránh dịch bệnh, khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt Mọi nhân viên trong trại cho đến khách, muốn vào chuồng lợn đều phải đi qua hệ thống sát trùng, tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo, đeo khẩu trang và đi ủng chuyên dụng Trong các chuồng lợn, ngày vài lần, công nhân làm vệ sinh cũng như phun thuốc sát trùng xuống nền chuồng Xung quanh trang trại được trồng cây xanh, đào những hồ sinh học để tạo môi trường tự nhiên thông thoáng cho lợn sinh trưởng và phát triển tốt nhất Hàng ngày, toàn bộ lượng phân mà đàn lợn thải ra đều được đóng bao, chuyển ra khu tập trung cách xa khu sản xuất và bán lại cho nhân dân trồng rau màu xung quanh vùng Trang trại đã kết hợp với Công ty Cổ phần đầu tư Tài nguyên và Môi trường (ETEC) đầu tư xây dựng hầm xử lý yếm khí (UASB) với 3 hầm Biogas có tổng dung tích là 150m3 Do đó, nguồn nước thải rửa chuồng được thu gom và xử lý tại đây nên không gây ô nhiễm sau khi xả ra ngoài môi trường

2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở

2.1.2.1 Đối tượng sản xuất

Trang trại Bùi Huy Hạnh chuyên nuôi lợn sinh sản, cung cấp 2 giống lợn là Landrace - Yorkshire và Pietrain - Duroc Lợn sau khi sinh 19 - 23 ngày thì được xuất chuồng

Trang 12

2.1.2.2 Kết quả sản xuất của cơ sở trong những năm gần đây

Trang trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh là một trong những trang trại có quy mô lớn nhất của tỉnh Hải Dương Với số vốn đầu tư lớn, áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, trại luôn đạt kết quả sản xuất cao Dưới đây

là một số chỉ tiêu mà trại đã đạt được trong 3 năm gần đây:

Bảng 2.1: Cơ cấu đàn lợn của trại Năm

Chỉ tiêu

2015 2016 5 tháng đầu

năm 2017

Tổng số heo con sinh ra (con) 23.615 37.905 15.787

Tổng số heo con sinh sống (con) 22.086 36.010 14.839

Số heo con chết, loại sau sinh (con) 975 1.895 948

Số lợn con cai sữa/nái/năm (con) 21.699 30.033 10.929

(Nguồn: Số liệu thống kê của trại trong 3 năm)

Qua bảng trên ta có thể thấy, kết quả sản xuất của trại tăng lên theo từng năm: số heo nái hậu bị từ năm 2015 là 140 nái, tới năm 2016 tăng lên

190 nái, tăng 136% Tỷ lệ phối đậu thai từ 91,34% (năm 2015) tăng lên 92,04% (năm 2016) Số heo con sinh ra, sống tới lúc cai sữa tăng lên, từ năm

2015 là 21.699 con tới năm 2015 là 30.033 con

Để đạt được những kết quả như trên, ngoài việc áp dụng khoa học kỹ thuật, đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất, đội ngũ nhân viên có tay nghề cao…, trang trại đã tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về vệ sinh thú y, với phương châm “phòng dịch hơn dập dịch” Trang trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh

là một gương sáng điển hình về mô hình chăn nuôi gia công theo hướng công nghiệp hóa hiện nay

Trang 13

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến nội dung của chuyên đề

2.2.1 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề

2.2.1.1 Đại cương về sinh lý sinh sản của lợn nái

 Sự thành thục về tính

Khi gia súc thành thục về tính thì cơ thể con cái đặc biệt là cơ quan sinh dục đã phát triển cơ bản hoàn thiện Dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết, con vật xuất hiện các phản xạ về sinh dục, khi đó trên buồng trứng có khả năng thụ thai, tử cung cũng sẵn sàng cho thai làm tổ, biểu hiện của con vật là lông mượt, tai thính, thường xuyên phá chuồng và nhảy lên lưng những con khác

Sự thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào: giống, tính biệt và các điều kiện ngoại cảnh như chăm sóc nuôi dưỡng

- Giống: Các giống khác nhau thì thành thục về tính cũng khác nhau, những giống thuần hóa sớm hơn thì tính thành thục sớm hơn những giống thuần hóa muộn, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn những giống có tầm vóc lớn

Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [5] cho rằng: Tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4-5 tháng khi khối lượng đạt từ 20- 25kg Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nội thuần, ở lợn lai F1 (có sẵn máu nội) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng

cơ thể đạt 50-55kg Ở lợn ngoại động dục muộn hơn so với lợn lai, tức là lúc động dục 6-7 tháng khi lợn có khối lượng 60-80kg Tuỳ theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn

Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4-5 tháng tuổi (121-158 ngày tuổi) các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) có tuổi động dục lần đầu muộn hơn từ 7- 8 tháng tuổi

Trang 14

- Điều kiện nuôi dưỡng, quản lý

Cùng một giống nhưng nếu điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý tốt thì gia súc phát triển tốt, sự thành thục về tính sớm hơn và ngược lại

- Điều kiện ngoại cảnh

Khí hậu và nhiệt độ cũng có ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính gia súc, những giống lợn nội nuôi ở vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường thành thục về tính sớm

Trong điều kiện chăn thả chung giữa gia súc đực và gia súc cái cũng ảnh hưởng tới tính thành thục sớm của gia súc cái Theo Paul Highes và Tilton (1996) [31], nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với lợn đực 2 lần/ ngày với thời gian 15-20 phút thì 83% lợn cái ngoài 90kg động dục là 165 ngày tuổi

Lợn cái hậu bị nếu nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi động dục lần đầu dài hơn lợn nuôi chăn thả Vì lợn nuôi chăn thả sẽ tăng cường trao đổi chất, tổng hợp được sinh tố và có được tiếp xúc với lợn đực nhiều hơn nên có tuổi động dục lần đầu sớm hơn

- Tuổi thành thục về tính của gia súc

Tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc, nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớn lên Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [5] cho rằng: Không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục lần đầu rồi mới cho phối giống

 Chu kỳ tính và thời điểm phối giống thích hợp

- Chu kỳ tính

Trang 15

Chu kỳ sinh dục được bắt đầu khi gia súc đã thành thục về tính, nó tiếp tục xuất hiện và chấm dứt hoàn toàn khi cơ thể đã già yếu Sau khi thành thục

về tính gia súc cái bắt đầu hoạt động sinh sản Dưới sự điều hòa của hoocmon tuyến yên, nang trứng tăng trưởng, thành thục, trứng chín và rụng Mỗi lần xuất hiện trạng thái rụng trứng như trên thì toàn bộ cơ thể cũng như cơ quan sinh dục phát sinh hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo, chức năng sinh

lý Các biến đổi lặp đi lặp lại theo chu kỳ như trên được gọi là chu kỳ động dục (chu kỳ tính)

Theo Nguyễn Thiện và cs (1993) [26], chu kỳ tính của lợn nái thường diễn ra trong phạm vi 19 - 21 ngày Thời gian động dục thường kéo dài khoảng 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại), và được chia làm ba giai đoạn: giai đoạn trước khi chịu đực (bắt đầu), giai đoạn chịu đực (phối giống), giai đoạn sau chịu đực (kết thúc)

Giai đoạn trước khi chịu đực: Lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, chưa cho phối và lợn chưa chịu đực Thời gian rụng trứng khi có hiện tượng trên đối với lợn ngoại và lợn nái lai là 35-40h, với lợn nội là 25-30h

Giai đoạn chịu đực: Lợn kém ăn, mê ì, lợn đứng yên khi ấn tay lên lưng gần mông, âm hộ giảm độ sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên khi

có đực đến gần và cho đực nhảy Giai đoạn này kéo dài 2 ngày, nếu được phối giống lợn sẽ thụ thai, lợn nội có thời gian ngắn hơn 28-30h

Giai đoạn sau chịu đực: Lợn trở lại bình thường, âm hộ giảm độ nở, đuôi cụp và không chịu đực

- Thời điểm phối giống thích hợp

Thời điểm phối giống thích hợp: Trứng rụng tồn tại trong tử cung 2-3h Tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái 30-48h Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục

Trang 16

Đối với lợn nái nội hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ

3 do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn Thời điểm phối giống có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối chậm đều đạt kết quả kém nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu

- Mang thai: Thời gian mang thái của lợn trung bình là 114 ngày (113 -

115 ngày) Thời gian chửa của lợn nái được chia làm hai thời kỳ:

Chửa kỳ I: Là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu tiên

Chửa kỳ II: Là thời gian lợn chửa từ ngày chửa thứ 85 đến khi đẻ

 Sinh lý đẻ

- Quá trình sinh đẻ

Gia súc cái mang thai trong một thời gian ngắn tùy từng loại gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ dưới tác động của hệ thống thần kinh- thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn đẻ, đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài, quá trình này gọi là quá trình sinh đẻ

Khi gần đẻ con cái sẽ có triệu chứng biểu hiện: trước khi đẻ 1 tuần, nút niêm dịch ở cổ tử cung, đường sinh dục, lỏng, sánh, dính và chảy ra ngoài Trước đẻ 1-2 ngày, cơ quan sinh dục bắt đầu có những thay đổi, âm môn phù

to, nhão ra và sung huyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu căng to, sữa bắt đầu tiết

- Giai đoạn tiết sữa

Khả năng tiết sữa của lợn nái phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng thức

ăn giống lợn và số lượng lợn con, lợn nái thường tiết sữa nhiều nhất vào tuần thứ 2-3 Ở những giống lợn khác nhau thì khả năng tiết sữa khác nhau Sự tiết sữa của lợn nái là một quá trình phản xạ do những kích thích vào đầu vú gây nên, phản xạ tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn và chuyển dần từ trước ra sau Thần kinh giữ vai trò chủ đạo trong quá trình tiết sữa, khi lợn con thúc

bú, những kích thích này chuyển lên vỏ não, từ vỏ não lại chuyển xuống vùng Hypothalamus từ đó các luồng xung động tác động vào tuyến yên và tuyến

Trang 17

yên tiết ra kích tố Oxytocin, kích tố Oxytocin đến tuyến bào kích thích làm cho lợn nái tiết sữa

Qua theo dõi, sản lượng sữa và chất lượng sữa ở các vị trí vú khác nhau cũng không giống nhau, các vú phía trước ngực sản lượng sữa cao, phẩm chất tốt, các vú phía sau nhìn chung kém hơn (vì Oxytocin theo máu đến tuyến vú phía trước sớm hơn, kéo dài hơn nên vú trước nhiều sữa hơn), vì vậy nên cố định cho lợn con sơ sinh có khối lượng kém bú vào vú phía trước

Sản lượng sữa của lợn nái phụ thuộc vào số lợn và chất lượng thức ăn

vì thế trong giai đoạn lợn nái nuôi con thì thức ăn cho lợn nái cần đủ chất dinh dưỡng Chăm sóc lợn nái ăn với khẩu phần đẩy đủ chất dinh dưỡng không những nâng cao sản lượng sữa mà còn giảm tỷ lệ hao mòn của lợn nái

Ở lợn không có bể sữa do đó không thể đo lượng sữa bằng cách vắt sữa

mà chỉ có thể đo lượng sữa của lợn nái qua khối lượng đàn con

Sữa lợn nái là nguồn thức ăn có đầy đủ chất dinh dưỡng, không có loại thức ăn nào có thể so sánh bằng và thay thế được Do đó để tăng năng suất của lợn con phải thoả mãn nhu cầu tối đa trong thời gian bú sữa

2.2.1.2 Đặc điềm sinh lý của lợn con theo mẹ

 Đặc điềm bộ máy tiêu hóa của lợn con theo mẹ

Sau khi sinh, trong thời gian bú mẹ trọng lượng bộ máy tiêu hóa của lợn con tăng từ 10 – 15 lần, chiều dài của ruột non tăng lên gấp 5 lần so với lúc mới sinh Dung tích của bộ máy tiêu hóa cũng tăng từ 40 đến 50 lần Ở ngày tuổi thứ 30 trọng lượng của tuyến tụy tăng lên 4 lần và gan tăng lên 3 lần so với lúc mới sinh Lúc mới sinh dạ dày của một lợn con trung bình nặng

từ 6 – 8 gam và chứa được từ 35 – 50 gam sữa, nhưng sau 3 tuần đã tăng lên gấp 4 lần

Mặc dù bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện Khả năng tiêu hóa của lợn con còn rất kém do số lượng và hoạt lực của

Trang 18

các men trong đường tiêu hóa còn hạn chế Theo Vasnhixky, (1954) [30] dịch

vị của lợn con dưới một tháng tuổi hoàn toàn không có HCl tự do, vì lượng acid tiết ra ít và nó nhanh tróng kết hợp với các niêm dịch làm cho hàm lượng HCl tự do rất ít hoặc hoàn toàn không có trong dạ dày của lợn con bú sữa Vì thiếu HCl tự do nên hệ vi sinh vật lên men dễ phát triển gây hiện tượng tiêu chảy ở lợn con

Trong dịch tụy của lợn trưởng thành có tới 15 loại men tiêu hóa song lợn con chỉ có 2 men là Kimozin và Lipaza, sau một tuần tuổi có thêm một số men như Trypsin và Amilase Hoạt tính cả các men tăng dần theo tuổi, từ 1 đến 28 ngày tuổi hoạt tính của Trypsin tăng 20 lần, Amilase tăng 30 lần, các men như Kimotipxin, Protease, Amilase, Elastase, Carbuaxipolypeptidasa cũng tăng dần theo tuổi của lợn con Hàm lượng vật chất khô trong dịch tụy cũng tăng dần Dịch ruột do 2 tuyến Bruner và Liberkun tiết ra chưa đầy đủ các men tiêu hóa như ở lợn con chưa có men Lactose, các men tiêu hóa khác

có hàm lượng rất thấp không đủ khả năng để tiêu hóa các thức ăn nhân tạo Dịch mật của lợn con trong những tuần tuổi đầu còn hạn chế, chưa có khả năng nhũ tương hóa mỡ

 Khả năng điều hòa thân nhiệt

Ở lợn con dưới 3 tuần, cơ năng điều tiết nhiệt chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt lợn con chưa ổn định, sự sinh nhiệt và thải nhiệt chưa được cân bằng Lớp mỡ dưới ra mỏng, lượng mỡ và glycogen dự trữ thấp, lông thưa nên khả năng cung cấp nhiệt và giữ nhiệt kém Diện tích bề mặt cơ thể so với khối lương chênh lệch tương đối cao nên bị mất nhiệt nhiều khi bị lạnh Hệ thống thần kinh điều khiển cân bằng nhiệt chưa hoàn thiện Trong thời gian này lợn con có khả năng điều hòa thân nhiệt nhờ nước và sự hoạt động rất mạnh của

hệ tuần hoàn cũng như sự thay đổi tư thế của lợn Vì vậy cần phải sưởi ấm đảm bảo cho lợn con không bị lạnh

Trang 19

 Đặc diểm về khả năng miễn dịch

Lợn con sinh ra trong máu hầu như không có kháng thể, song lượng kháng thể trong máu lợn con tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu, cho nên nói rằng ở lợn con khả năng miễn dịch là hoàn toàn thụ động Nó phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu nhiều hay ít từ sữa mẹ Trong sữa đầu của lợn nái có hàm lượng protein cao Những ngày đầu mới đẻ protein trong sữa chiếm 18-19%, trong đó lượng γ-globulin chiếm lượng lớn là 30-35% γ-globulin có tác dụng tạo sức đề kháng, nên sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con,nó được hấp thụ bằng con đường ẩm bào Lợn con có thể hấp thu nguyên vẹn phân tử γ-globulin vì trong sữa đầu có men Antitripsin nó làm mất hoạt lực của men Tripsin của tuyến tụy và cũng

do khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con khá rộng Xuất phát từ

đó chúng ta thấy rằng cho lợn con bú sữa đầu là rất quan trong và việc cho bú được thực hiện càng sớm càng tốt

2.2.1.3 Một số bệnh thường gặp ở lợn nái và lợn con theo mẹ tại trại

 Bệnh viêm tử cung

Bệnh viêm tử cung xảy ra trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau Lợn nái đẻ ít lứa, nhiều lứa hay đang nuôi con đều có thể mắc bệnh song tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào yếu tố vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng, các khu thực vật ở mỗi vùng là khác nhau Khi gia súc sinh đẻ nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây xát, bị tổn thương, vi khuẩn xâm nhập và phát triển gây viêm Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao… thường gây viêm tử cung (Đỗ Quốc Tuấn, 2005 [28])

- Nguyên nhân bệnh viêm tử cung

Viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay các

Trang 20

tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái

Theo các tác g iả Nguyễn Xuân Bình (2000) [1], Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [13], Nguyễn Hữu Phước (1992) [20], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

+ Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm

+ Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ

+ Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát

+ Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung + Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm, Phó thương hàn, bệnh Lao… gây viêm

+ Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau

đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm

Theo Đoàn Kim Dung và Lê Th ị Tài(2002) [6] cho biết, nguyên nhân gây viêm tử cung là do vi khuẩn t ụ ̣cầu vàng(Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết(streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E.coli…

Theo Lê Văn Năm (1999) [16] cho rằng , có rất nhiều nguyên nhân từ ngoại cảnh gây bệnh như: Do thứ c ăn nghèo dinh dưỡng , do can thiệp đỡ đẻ bằng dụng cụ hay thuốc sả n khoa sai kỹ thuật dẫn đến Muxin của chất nhày

Trang 21

các cơ quan sinh dục bị phá hủy hoặc kết tủa , kết hợp với việc chăm sóc nuôi dưỡng bất hợp lý và thiếu vận động đã làm chậm quá trình thu teo sinh lý của

dạ con (trong điều kiện cai sữa bì nh thường dạ ̣con trở về khối lượng kích thước ban đầu khoảng 3 tuần sau đẻ ) Đây là điều kiên ̣ tốt để vi khuẩn xâm nhập vào tử cung gây bệnh Biến chứ ng nh iễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian động đực (vì lúc đó tử cung mở) và do thụ

̣tinh nhân tạo sai kỹ thuật

Bệnh còn xảy ra do thiếu só t về dinh dưỡng và quản lý : Khẩu phần thiếu hay thừa protein trước , trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tử cung Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bột gây đẻ khó, viêm tử cung do xây xát Khoáng chất, vitamin cũng ảnh hưởng đến viêm tử cung

- Triệu chứng:

Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4-5 ngày cá biệt tới 6-7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sang vàng hay trắng và trong Trong trường hợp viêm thì sản dịch có thể có màu đen hôi thối, mùi tanh rất khó chịu

- Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:

+ Thể cấp tính: Con vật sốt 41-42oC trong vài ngày đầu âm môn sưng tấy đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra trắng đục đôi khi có máu lờ lờ

+ Thể mãn tính: Không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch nhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không liên tục mà chỉ chảy

ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần Lợn nái thường thụ tinh không có kết quả hoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo

tử cung lan sang thai làm chết thai

- Hậu quả của bệnh viêm tử cung

Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều

Trang 22

ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:

+ Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai

Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có thể bám chặt vào tử cung

Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiều Prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây

co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai

+ Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng Progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ

mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu

+ Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy

Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có mặt của vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết kích thích tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn

Trang 23

sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc

+ Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone

Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được và không thải trứng được

+ Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng

- Chẩn đoán lâm sàng bệnh viêm tử cung

Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động đực, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định, từ vài ml cho tới 200 ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu máu cá Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính, viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kì cho sữa Hiện tượng chảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung

Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có những mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợn nái còn có thể là do viêm bàng quang có mủ gây ra

Trang 24

Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ chảy ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đực thì

có thể bị nhầm lẫn

Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ nên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặt khác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho chính xác

Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm từ

đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất

Để chẩn đoán người ta dựa vào những triệu chứng điển hình ở cục bộ

cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân

 Hiện tượng đẻ khó

Lợn đẻ mà thời gian sổ thai kéo dài nhưng thai vẫn không được đẩy ra ngoài Bệnh biểu hiện dưới nhiều hình thức, diễn biến khác nhau Nó không những gây tổn thương cho cơ quan sinh dục mà còn dẫn đến hiện tượng vô sinh, thậm chí cả lợn mẹ và lợn con có thể chết

- Nguyên nhân

+ Đẻ khó do nguyên nhân cơ thể mẹ: Khi chăm sóc, nuôi dưỡng không tốt, thức ăn không đầy đủ, chất dinh dưỡng thiếu so với nhu cầu của lợn mang thai dẫn đến cơ thể mẹ suy nhược, sức khỏe kém Trong quá trình đẻ, sức rặn

đẻ của lợn yếu, thậm chí không rặn đẻ, cổ tử cung co bóp yếu nên không đẩy được thai ra ngoài

Trang 25

+ Lợn ăn quá nhiều tinh bột, protein dẫn đến béo cũng gây ra đẻ khó Lợn quá gầy cũng dẫn đến đẻ khó

+ Do cấu tạo tổ chức các phần mềm như: Cổ tử cung, âm đạo giãn nở không bình thường có chỗ giãn quá mạnh, chỗ lại không giãn nên việc đẩy con ra ngoài gặp khó khăn

+ Khung xoang chậu bị biến dạng, khớp bán động háng phát triển không bình thường, vôi hóa cột sống hay xoang chậu hẹp Trong quá trình đẻ

độ giãn nở kém, thai bị mắc trước cửa xoang chậu không ra đươc Khi quá trình rặn đẻ kéo dài, sức co bóp lớn ép lợn con bị chết

+ Ở thời gian có thai kỳ cuối, thai quá to, lợn nái vận động mạnh, chèn

ép tử cung làm tử cung bị xoắn vặn lại, tư thế tử cung thay đổi, đường sinh dục trở nên không bình thường cũng gây đẻ khó

+ Do rối loạn hormone tuyến sinh dục cái: Kích tố nhau thai Relaxin lúc đẻ tiết ra ít nên không làm mất lớp canxi ở bán động háng, không giãn dây chằng xương chậu (không sụt mông) hoặc Prostagladin tiết ít không đủ gây co bóp tử cung nên không tống thai ra ngoài được

+ Đẻ khó do nguyên nhân bào thai

Chiều hướng, tư thế của thai lúc đẻ không bình thường: các trường hợp lợn con nằm không đúng tư thế như: Bốn chân lợn con hướng về xương sống lợn mẹ, lợn con nằm đưa vai ra trước, lợn con đầu ngước ra sau lưng, lợn con đầu quẹo sang một bên, lợn con đưa đầu và bốn chân ra một lượt, lợn con mõm ra trước, hai chân trước co xuống bụng, lợn con đầu cúp xuống ngực

Chế độ dinh dưỡng không phù hợp hoặc do quá ít thai, làm thai quá to không phù hợp với kích thước của xương chậu và đường sinh dục của lợn mẹ Thai bị dị hình hay quái thai

Đẻ khó do nguyên nhân bào thai thường chiếm 3/4, những nguyên nhân

và loại hình đẻ khó có thể xảy ra đơn độc hoặc kết hợp lại với nhau như bào

Trang 26

thai quá to mà xương chậu lại quá nhỏ, thai to cộng với tư thế thai không bình thường… khi rặn đẻ thai bị kẹt không ra được

- Triệu chứng

Lợn nái đến ngày đẻ, nước ối vỡ ra, trong nước ối có lẫn phân su nhưng không thấy thai ra Lợn nái có biểu hiện rặn nhiều lần, rặn mạnh, thậm chí lợn nái còn rặn căng bụng, cong lưng, chân đạp vào thành chuồng để rặn nhưng thai vẫn không ra Do rặn đẻ mạnh trong thời gian dài mà thai vẫn không ra làm cho lợn nái mệt mỏi Nếu để lâu có thể dẫn đến hiện tượng thai bị ngạt

mà chết Khi đưa tay vào đường sinh dục thấy khung xoang chậu hẹp, thai to hoặc ở tư thế không bình thường nằm kẹt ở trước cửa xoang chậu

Khi dùng biện pháp can thiệp không đúng cách, gây xây xát niêm mạc

tử cung, hoặc dụng cụ thủ thuật không đảm bảo vệ sinh làm lợn bị nhiễm một

số bệnh: viêm tử cung, viêm vú, sảy thai truyền nhiễm… khi đó, niêm mạc sẽ

có những vết sẹo gây cản trở cho quá trình thụ thai, thai làm tổ… dẫn đến xảy thai, tiêu thai, đẻ non ở những lần sinh sản tiếp theo, thậm chí là vô sinh

 Bệnh viêm vú

- Nguyên nhân:

Khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn, thì các vi khuẩn,

Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột xâm nhập gây ra viêm vú

Trang 27

Một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần thức ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày

đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập

gây viêm như: E coli, Streptococus, Staphylococus, Klebsiella spp

Theo Phạm Tiến Dân (1998) [4] Luận văn Thạc sĩ chăn nuôi, Đại học Nông Nghiệp I nghiên cứu, xác định vi khuẩn gây viêm vú ở lợn nái sinh sản gồm:

Loại gây bệnh phổ biến nhất là liên cầu trùng Aglactiac Lợn con mới

đẻ có răng nanh mà không bấm khi bú làm xây sát vú mẹ tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập tạo ra các ổ viêm nhiễm trên bầu vú Lợn nái ăn thức ăn nhiều đạm quá sinh nhiều sữa, lợn con bú không hết sữa ứ đọng tạo thành môi trường cho vi trùng sinh sản nhiều (Trương Lăng, 2000) [14]

Lê Hồng Mận (2006) [15] thì lợn chỉ cho con bú một hàng vú, hàng còn lại căng sữa quá nên viêm Sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch sẽ, hàng ngày không vệ sinh bầu vú Do thời tiết thay đổi đột ngột, lạnh quá hoặc nóng quá hay thức ăn khó tiêu cũng ảnh hưởng đến cảm nhiễm vi trùng

Trang 28

Do kế phát từ một số bệnh: Sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau đẻ, viêm bàng quang, viêm thận… Khi nái bị những bệnh này vi khuẩn sẽ theo máu về tuyến vú, cư trú tại đây và gây bệnh

Triệu chứng:

Bình thường bệnh viêm vú thường xảy ra ngay sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 7 - 10 ngày có con đến một tháng

Theo Ngô Nhật Thắng (2006) [25], viêm vú thường xuất hiện ở một vài

vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú, vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng, ấn vào lợn nái có phản ứng đau

Lợn sốt, bỏ ăn, nếu viêm nặng, lợn nái sốt đến 40 - 42o

C, vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng, ấn vào lợn nái có phản ứng đau, núm vú sưng Sản lượng sữa giảm hoặc mất hẳn, lợn nái thường nằm úp đầu

vú xuống sàn, không cho con bú (Lê Hồng Mận, 2006) [15] Lợn con thiếu sữa kêu la, chạy vòng quanh mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy nhanh,

tỷ lệ chết cao từ 30% đến 100%

Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có những cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện các cục cazein màu vàng, xanh lợn cợn có mủ đôi khi có máu

Chẩn đoán:

Dựa vào triệu chứng lâm sàng: bằng mắt thường quan sát thấy bầu vú sưng đỏ, khi xoa bầu vú ta thấy cảm giác nóng và hơi cứng khi vắt sữa thấy không có sữa, lợn nái có cảm giác đau và chỉ thấy nhiều dịch trong hay sữa đặc như bã đậu Một số trường hợp bầu vú chuyển sang thâm đen rất nguy hiểm cho con vật, vì đó là viêm thối rữa rất khó điều trị Lợn nái thường nằm

úp và cho con bú ít, lợn con bú ít, kêu la, gầy yếu, ỉa chảy

Kiểm tra qua kính hiển vi để tìm vi khuẩn: nếu trong sữa có nhiều liên cầu, tụ cầu trùng và các vi trùng khác có thể xác định là bệnh viêm vú cata có

Trang 29

mủ Chuỗi vi trùng dài hay ngắn phụ thuộc vào thời kì bệnh: bệnh cấp tính thì chuỗi vi trùng ngắn, bệnh mãn tính chuỗi vi trùng dài (Nguyễn Hữu Ninh và

cs, 2002) [18]

Hậu quả của bệnh viêm vú

Hậu quả của bệnh viêm vú cũng rất nặng nề Nếu viêm vú ở thể nhẹ điều trị kịp thời thì nái nuôi con vẫn bị giảm lượng sữa, còn nếu nặng ở dạng

vú hoại tử thì phần lớn các tổ chức ở tuyến vú bị hoại tử do các loại vi khuẩn gây hoại tử xâm nhập qua vết thương Trên mặt da vú có màu hồng tím, sờ thấy cứng con vật đau, tế bào bị hoại tử, mủ và mảnh tổ chức thải ra ngoài hạch lâm ba sưng to, sữa màu hồng nhạt và có mùi hôi thối, có triệu chứng toàn thân nếu bị huyết nhiễm trùng hay nhiễm mủ thì bệnh khó chữa, con vật

có thể chết

Nguyễn Xuân Bình (2005) [2] cũng khẳng định lợn nái mất sữa sau khi

đẻ con kế phát từ viêm vú, viêm tử cung do khi viêm cơ thể mẹ thường hay sốt liên tục 2 - 3 ngày, mất nước, nước trong tế bào và mô bào bị giảm, ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là sự hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa Khả năng phục hồi chức năng tiết sữa bị hạn chế thường xảy ra ở các lứa đẻ tiếp theo

Phòng bệnh:

Công tác phòng bệnh cần phải tiến hành: Vệ sinh chuồng nái đẻ sạch sẽ

1 tuần trước khi đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20% sau rửa sạch bằng nước thường Tắm cho lợn nái trước khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục và bầu vú

Cho nái chửa ăn đúng khẩu phần, đủ dinh dưỡng và dễ tiêu hoá Một tuần trước khi đẻ phải giảm dần khối lượng thức ăn, để tránh hiện tượng sữa quá nhiều, lợn con bú không hết dẫn đến chua tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm

Trang 30

nhập, phát triển và gây bệnh Trước khi đẻ 1 ngày phải cho lợn nái nhịn ăn nhưng cho uống nước đầy đủ

Sau khi đẻ lợn con phải được bấm nanh để tránh gây sây sát bầu vú và cho lợn con bú ngay, để giảm sức căng của bầu vú Đồng thời cố định bầu vú cho lợn con để tránh hiện tượng có bầu vú không được bú sẽ gây viêm vú

 Bệnh tiêu chảy ở lợn con

Theo Purvis và cs (1985) [32] cho rằng phương thức cho ăn không phù hợp là nguyên nhân quan trọng gây tiêu chảy ở lợn

Niconxki (1971) [17] đã nhấn mạnh “Khi cơ thể gia súc non bị lạnh kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm số lượng bạch cầu và tác dụng thực bào, giảm khả năng diệt trùng của máu do đó gia súc dễ bị vi khuẩn tấn công”

Bệnh tiêu chảy lợn con ở nước ta đã được nghiên cứu từ năm 1959 tại các cơ sở chăn nuôi tập trung (trại chăn nuôi và các nông trường quốc doanh)

Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [23] thì bệnh tiêu chảy lợn con

là một hội chứng hay nói cách khác là một trạng thái lâm sàng rất đa dạng, đặc biệt là dạng viêm dạ dày ruột, tiêu chảy và gầy sút nhanh Tác nhân gây bệnh chủ yếu là E.coli, ngoài ra có sự tham gia của Salmonella và vai trò thứ yếu là Proteus, Streptococcus Bệnh xảy ra quanh năm ở những nơi tập trung nhiều gia súc, bệnh thường phát mạnh từ mùa đông sang mùa hè (tháng 11 đến tháng 5) đặc biệt khi thời tiết thay đổi đột ngột (từ oi bức chuyển sang mưa rào, từ khô ẩm chuyển sang rét).Tỷ lệ mắc bệnh tới 50% và tỷ lệ chết tới 30- 45% (Nguyễn Như Thanh, 1997) [22]

- Nguyên nhân:

+ Do vi khuẩn: Vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy cho lợn thường gặp bao gồm một loại như E Coli, Salmonella, Shigella, Clostridium perfringens… Lợn con sơ sinh có thể bị nhiễm bệnh do vi khuẩn từ chuồng nuôi, da lợn mẹ, phân lợn mẹ thải ra Do đó, trong điều kiện vệ sinh kém hoặc trong hệ thống

Ngày đăng: 19/09/2018, 16:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Bi ̀nh (2000), Phòng trị bệnh lợn nái, lợn con, lợn thịt, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trị bệnh lợn nái, lợn con, lợn thịt
Tác giả: Nguyễn Xuân Bi ̀nh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
2. Nguyễn Xuân Bình (2005), Phòng trị bệnh lợn nái, lợn con, lợn thịt, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trị bệnh lợn nái, lợn con, lợn thịt
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
3. Lê Xuân Cường (1986), Năng suất sinh sản của lợn nái, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất sinh sản của lợn nái
Tác giả: Lê Xuân Cường
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1986
5. Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2003), Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con
Tác giả: Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
6. Đoa ̀n Kim Dung, Lê Thi Tài (2002), Phòng và trị bệnh lợn nái để sản xuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị bệnh lợn nái để sản xuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu
Tác giả: Đoa ̀n Kim Dung, Lê Thi Tài
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
7. Trần Tiến Dũng , Dương Đi ̀nh Long , Nguyêñ Văn Thanh (2002), Sinh sản gia súc , Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng , Dương Đi ̀nh Long , Nguyêñ Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
8. Bùi Hữu Đoàn, Nguyễn Xuân Trạch, Vũ Đình Tôn (2009), Giáo trình chăn nuôi chuyên khoa, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi chuyên khoa
Tác giả: Bùi Hữu Đoàn, Nguyễn Xuân Trạch, Vũ Đình Tôn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2009
9. Dương Mạnh Hùng (2012), Giống vật nuôi, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giống vật nuôi
Tác giả: Dương Mạnh Hùng
Năm: 2012
10. Nguyễn Đức Hưng, Phùng Thăng Long, Nguyễn Xuân Bả (2005), Giáo trình chăn nuôi đại cương, Trường Đại học Nông Lâm Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi đại cương
Tác giả: Nguyễn Đức Hưng, Phùng Thăng Long, Nguyễn Xuân Bả
Năm: 2005
11. John Mabry (1998) “Đánh giá lợn Quốc Gia sử dụng BLUP ở Hoa Kỳ”, Hội Chăn nuôi Việt Nam, Tr. 5 – 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá lợn Quốc Gia sử dụng BLUP ở Hoa Kỳ"”
12. John R.Dichl (1992), Quản lý lợn cái và lợn đực hậu bị để sinh sản có hiệu quả, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý lợn cái và lợn đực hậu bị để sinh sản có hiệu quả
Tác giả: John R.Dichl
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1992
13. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (2002), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, tập II, Nxb Nông nghiệp, Tr. 44 – 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
14.Trương Lăng (2000), Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn
Tác giả: Trương Lăng
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2000
15. Lê Hồng Mận (2006), Kỹ thuật mới về chăn nuôi lợn ở nông hộ, trang trại và phòng chữa bệnh thường gặp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật mới về chăn nuôi lợn ở nông hộ, trang trại và phòng chữa bệnh thường gặp
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
16.Lê Văn Năm (1999), Cẩm nang bác sĩ thú y hướng dẫn phòng và trị bệnh lợn cao sản, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ẩm nang bác sĩ thú y hướng dẫn phòng và trị bệnh lợn cao sản
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
17. Nikonski (1986), Bệnh lợn con (Phạm Tuân, Nguyễn Đình Trí dịch), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh lợn con
Tác giả: Nikonski
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1986
18. Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đằng Phong (2002), Bệnh sản khoa gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sản khoa gia súc
Tác giả: Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đằng Phong
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
19. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2004), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
20. Nguyễn Hữu Phước (1992), Tạp chí Khoa học Nông nghiệp, Nxb Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học Nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Hữu Phước
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp
Năm: 1992
21.Đoàn Văn Soạn, Đặng Vũ Bình (2011), “Khả năng sinh sản của các tổ hợp lai giữa nái (Yorkshire x Landrace) với đực Duroc và L19”, Tạp chí Khoa học và Phát triển, Tr. 614-621 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sinh sản của các tổ hợp lai giữa nái (Yorkshire x Landrace) với đực Duroc và L19”, "Tạp chí Khoa học và Phát triển
Tác giả: Đoàn Văn Soạn, Đặng Vũ Bình
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w