1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Áp dụng quy trình phòng, trị bệnh viêm vú, viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại bùi thanh phong đan phượng hà nội và thử nghiệm một số phác đồ điều trị

70 154 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, nhằm đẩy mạnh việc nâng cao khả năng sinh sản của lợn nái và đề xuất các phương án phòng và điều trị bệnh sản khoa cho lợn nái, em đã tiến hành thực hi

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học: 2013 - 2017

Thái Nguyên - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y

Khóa học : 2013 - 2018

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y

Lớp : K45 Thú y - N02 Khóa học : 2013 - 2017 Giảng viên hướng dẫn : TS Đặng Thị Mai Lan

Thái Nguyên - 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trải qua một thời gian dài học tập rèn luyện tại trường Đại học Nông

Lâm Thái Nguyên và sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp, em đã nhận được sự

quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô, bạn bè và người thân để có thể

hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Em xin chân thành cảm ơn tới Ban Giám hiệu trường Đại học Nông

Lâm Thái Nguyên, cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú

y Các thầy cô đã tận tâm chỉ bảo cho em qua từng buổi học trên lớp cũng như

những buổi nói chuyện, thảo luận Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá

trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là

hành trang quý báu để em bước vào đời

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến cô giáo

hướng dẫn, Tiến sĩ Đặng Thị Mai Lan - giảng viên khoa Chăn nuôi Thú y đã

chỉ bảo em tận tình trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực

hiện đề tài tốt nghiệp này

Em xin chân thành cảm ơn toàn thể kĩ sư, công nhân tại trại Bùi Thanh

Phong, đặc biệt là anh Bùi Thanh Phong đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ em

trong quá trình thực tập tại cơ sở

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và người thân,

những người đã cho em niềm tin, động lực để bước về phía trước

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày… tháng 12 năm 2017 Sinh viên

Tạ Thị Huyền Trang

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1: Kết quả phòng bệnh cho lợn 38

Bảng 4.2 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn 41

Bảng 4.3: Kết quả công tác khác trên đàn lợn 43

Bảng 4.4: Tình hình nhiễm bệnh viêm vú, viêm tử cung của đàn lợn nái nuôi tại trại trong 3 năm gần đây 44

Bảng 4.5 Tình hình mắc bệnh viêm vú, viêm tử cung ở lợn nái theo giống, dòng 45

Bảng 4.6: Tỷ lệ mắc bệnh viêm vú, viêm tử cung của đàn lợn nái theo lứa đẻ 46

Bảng 4.7: Tỷ lệ mắc bệnh viêm vú, viêm tử cung ở đàn lợn nái theo các tháng theo dõi 48

Bảng 4.8: Tỷ lệ mắc bệnh viêm vú, viêm tử cung theo hình thức đẻ 49

Bảng 4.9: Triệu chứng chính của lợn mắc bệnh viêm vú, viêm tử cung 50

Bảng 4.10: Kết quả điều trị bệnh viêm vú, viêm tử cung tại trại 51

Trang 5

E coli Escherichia coli

FSH Follicular Stimulating Hormone

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích của đề tài 1

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2.Ý nghĩa thực tiễn 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Điều kiện vật chất, cơ sở hạ tầng của trại lợn Bùi Thanh Phong - Đan Phượng - Hà Nội 4

2.2 Cơ sở khoa học của đề tài 7

2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn cái 7

2.2.2 Một số loại thuốc phòng và trị bệnh sử dụng trong đề tài 22

2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 25

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 25

2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 26

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 28

3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 28

3.3.1 Nội dung nghiên cứu 28

3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi 28

3.4 Phương pháp nghiên cứu 29

Trang 7

3.4.1 Phương pháp điều tra 29

3.4.3 Phương pháp tính toán các chỉ tiêu 30

3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 30

Phần 4 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƢỢC 31

4.1 Kết quả thực hiện quy trình phòng và trị bệnh tại cơ sở 31

4.1.1 Công tác chăn nuôi 31

4.1.2 Công tác thú y 35

4.2 Kêt quả tình hình mắc bệnh viêm vú, viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản 435

4.2.1 Tình hình nhiễm bệnh viêm vú, viêm tử cung của lợn nái nuôi tại trại trong 3 năm gần đây 435

4.2.2 Tình hình mắc bệnh viêm vú, viêm tử cung ở lợn nái theo giống, dòng 46

4.2.3 Tình hình mắc bệnh viêm vú, viêm tử cung của đàn lợn nái theo lứa đẻ 46

4.2.4 Tình hình mắc bệnh viêm vú, viêm tử cung ở lợn nái theo tháng theo dõi 47

4.2.5 Tình hình mắc bệnh viêm vú, viêm tử cung theo hình thức đẻ ………

479 4.2.6 Những triệu chứng chính của lợn nái mắc bệnh viêm vú, viêm tử cung 46

4.2.7 Kết quả điều trị bệnh viêm vú, viêm tử cung của lợn nái tại trại 51

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53

5.1 Kết luận 53

5.2 Đề nghị 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi lợn là một ngành đang được chú trọng đầu tư và phát triển,

vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân vừa giúp xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế đất nước

Chăn nuôi lợn không những đáp ứng nhu cầu thực phẩm của người dân,

mà còn giúp phát triển ngành công nghiệp chế biến Hiện nay, nhu cầu của xã hội về thịt lợn cả số lượng và chất lượng ngày càng cao, để đáp ứng nhu cầu

ấy thì chăn nuôi lợn ngày càng mở rộng phát triển

Ở nước ta đã chú ý đầu tư, phát triển chăn nuôi lợn bằng cách áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao hiệu quả chăn nuôi Bằng những nỗ lực của tất cả mọi người, ngành chăn nuôi lợn đã có sự phát triển mạnh, nhiều trang trại có quy mô lớn được xây dựng với đội ngũ kỹ thuật viên giàu kinh nghiệm và có kỹ thuật cao

Bên cạnh đó, vẫn còn có một số cơ sở chăn nuôi nhỏ của người dân còn thiếu kỹ thuật, thiếu vốn đầu tư nên hiệu quả kinh tế thấp, chăn nuôi gặp nhiều rủi ro Trong đó, quá trình chăm sóc lợn nái gặp nhiều khó khăn, khiến lợn nái dễ mắc các bệnh về sản khoa như: viêm vú, viêm tử cung, viêm âm đạo, nhiễm trùng huyết sau khi đẻ,

Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, nhằm đẩy mạnh việc nâng cao khả năng sinh sản của lợn nái và đề xuất các phương án phòng và điều trị bệnh

sản khoa cho lợn nái, em đã tiến hành thực hiện đề tài : “Áp dụng quy trình phòng, trị bệnh viêm vú, viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại Bùi Thanh Phong - Đan Phượng - Hà Nội và thử nghiệm một số phác

đồ điều trị”

1.2 Mục đích của đề tài

- Áp dụng được quy trình phòng và trị bệnh viêm vú, viêm tử cung

Trang 10

- Nắm được tình hình mắc bệnh viêm vú và viêm tử cung ở đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại lợn Bùi Thanh Phong - Đan Phượng - Hà Nội

- Xác định được hiệu quả một số phác đồ điều trị bệnh viêm vú và viêm

tử cung, từ đó chọn ra được phác đồ điều trị bệnh có hiệu quả nhất

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

- Từ kết quả của đề tài bổ sung thêm những hiểu biết về bệnh viêm vú

và viêm tử cung ở lợn nái sinh sản, là cơ sở khoa học cho những biện pháp phòng và trị bệnh có hiệu quả

1.3.2.Ý nghĩa thực tiễn

- Xác định hiệu lực của một số loại thuốc trong điều trị bệnh viêm vú

và viêm tử cung trên lợn nái sinh sản

- Những khuyến cáo từ kết quả của đề tài giúp cho người chăn nuôi lợn nái hạn chế được những thiệt hại do bệnh gây ra

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý

Trại Bùi Thanh Phong nằm ở đập tràn Đan Phượng thuộc địa bàn xã Đồng Tháp - huyện Đan Phượng - thành phố Hà Nội Trại được xây dựng ở

vị trí thuận lợi: Xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông

Huyện Đan Phượng nằm ở phía Tây Bắc trung tâm thành phố Hà Nội, tại khoảng giữa của trục đường quốc lộ 32 từ trung tâm Hà Nội đi Sơn Tây Phía Bắc giáp Sông Hồng (sang bờ bên kia là huyện Đông Anh, Mê Linh, Hà Nội)

Phía Đông giáp quận Từ Liêm, huyện Hoài Đức

Phía Tây giáp huyện Phúc Thọ

Phía Nam giáp huyện Hoài Đức

* Khí hậu, thủy văn

Hà Nội có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 4 mùa rõ rệt Mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, lạnh, khô, ít mưa Mùa hè chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng, nóng, ẩm, mưa nhiều Từ tháng 1 đến tháng 3 vẫn có giá lạnh nhưng vì là tiết xuân nên có mưa nhẹ (mưa xuân) đủ độ ẩm cho sinh vật phát triển Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng có mưa to và bão Tháng

8, 9, 10 là ngày thu, khí hậu mát mẻ

Mùa khô từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau, đây là thời kỳ giá lạnh, không mưa to Những ngày cuối thu se se lạnh và chóng hoà nhập vào mùa đông Nhiệt độ trung bình mùa đông: 17,2ºC (lúc thấp xuống tới 2,7ºC) Trung bình mùa hạ: 29,2ºC (lúc cao nhất lên tới 39ºC) Nhiệt độ trung bình cả năm: 23,2ºC; lượng mưa trung bình hàng năm: 1.800mm

Trang 12

* Giao thông, thủy lợi

Huyện Đan Phượng có Quốc lộ 32 chạy qua khoảng 4 km, nếu đi từ phía Hà Nội lên Sơn Tây đến km 16 + 500 là ngã Tư Trôi (thuộc huyện Hoài Đức) rẽ phải khoảng 300m sẽ đến xã Tân Lập - huyện Đan Phượng

So với các Quận Huyện của thủ đô Hà Nội, Đan Phượng có số khu vực hành chính và diện tích tự nhiên thuộc loại nhỏ nhất (chỉ ngang bằng 1 xã của Huyện Ba Vì, Phú Xuyên, Ứng Hòa, Chương Mĩ )

Các dự án đường sắt đô thị đi qua địa bàn huyện (dự kiến) là các tuyến

số 3 (Trôi - Nhổn - Yên Sở), tuyến số 4 (Liên Hà - Bắc Thăng Long)

Huyện Đan Phượng là huyện có hệ thống sông Hồng, Sông Đáy chảy qua Xưa kia là ngã ba sông (Sông Hồng, Sông Nhuệ, Sông Đáy) nên địa hình của huyện là tương đối bằng phẳng, chủ yếu là đất phù sa Chiều cao trung bình là 6 - 8 m so với mực nước biển

* Dân cƣ, kinh tế - xã hội

Xét về mảng văn hóa giáo dục Đan Phượng thuộc hạng đầu của Thành phố Hà Nội hiện nay (tất cả các trường Tiểu học trong huyện đã đạt chuẩn Quốc gia, có những xã có số dân khoảng 17.000 người như ở Tân Hội, 14.800 người như ở Tân Lập, hơn 10.000 người như ở Thị Trấn Phùng, Hồng Hà, Phương Đình )

Hiện nay, trên địa bàn huyện đã hình thành khu đô thị Tân Tây Đô, khu nhà ở Tân Lập cũng như khu đô thị sinh thái cao cấp Phoenix Garden

2.1.2 Điều kiện vật chất, cơ sở hạ tầng của trại lợn Bùi Thanh Phong - Đan Phượng - Hà Nội

2.1.2.1 Quá trình thành lập và phát triển của trại

Trang trại sản xuất lợn giống của ông Bùi Thanh Phong nằm trên địa

phận xã Đồng Tháp - huyện Đan Phượng - TP Hà Nội Trại được thành lập

năm 2003, có diện tích là 7200 m² Là trại lợn tư nhân do ông Nguyễn Xuân

Tiến thành lập

Trang 13

Giai đoạn năm 2003 - 2015 trại cho công ty CP thuê làm trại gia công,

từ năm 2015 đến nay trại chuyển lại thành trại tư nhân do ông Nguyễn Xuân Tiến, ông Bùi Thanh Phong và ông Vũ Thanh Biện cùng làm chủ và ông Nguyễn Xuân Tiến quản lí

2.1.2.2 Cơ sở vật chất của trại

* Khu nhà ở của công nhân viên

Trại được xây dựng trên đất 5% của xã Đồng Tháp với thời gian thuê là

50 năm Trại chia làm 2 khu riêng biệt là khu trại chăn nuôi và khu nhà ở, được ngăn cách với nhau bởi 2 ao cá Trại được bao bọc bởi hệ thống cây xanh phân tầng, đảm bảo vừa mát mẻ, vừa thanh lọc không khí, giảm mùi, tránh ô nhiễm môi trường

Khu nhà ở của công nhân viên được xây dựng phù hợp với yêu cầu thực tế của trại 300 nái Gồm: 1 phòng kĩ sư, 2 phòng công nhân, 1 phòng trực đêm Hệ thống nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh cũng được xây dựng phù hợp, có hệ thống nóng lạnh đầy đủ

* Khu trại chăn nuôi

Khu trại chăn nuôi được xây dựng theo đúng tiêu chuẩn Gồm: chuồng cách li, chuồng cai sữa, chuồng bầu, chuồng đẻ, phòng khai thác tinh, khu để phân, bể ngâm rửa dụng cụ, sân phơi, nhà vệ sinh và hệ thống xử lí chất thải Mỗi chuồng được xây dựng hợp lí, trong đó: Khu chuồng bầu có 2 ô lớn dành cho lợn đực hoạt động và phối, 5 ô cho lợn đực, 245 ô chuồng dành cho lợn nái Khu lợn nái chia ra 4 khu vực riêng: khu lợn bầu, khu lợn cai sữa, khu lợn cách ly, khu phối Khu lợn bầu cũng được sắp xếp riêng theo từng giai đoạn mang thai của lợn Khu lợn cai sữa, khu cách ly và khu phối được xếp sát nhau để tiện cho việc theo dõi Chuồng bầu mỗi ô nái có kích thước 2,4m × 0,65m/ô; hai ô chuồng đực giống có kích thước 5m × 6m Lợn nằm trên sàn bê tông cao 0,5m có khe thoát nước Ngoài ra, chuồng bầu trang bị 5 bóng đèn hồng ngoại ở mỗi đầu dãy chuồng để sưởi ấm

Trang 14

Chuồng đẻ được chia ra: 50 ô chuồng chờ đẻ, 72 ô chuồng đẻ Hai khu chuồng này đều xây dựng hệ thống sàn bê tông cao khoảng 1m, có khe thoát nước và chia từng ô riêng biệt: chuồng đẻ mỗi ô có kích thước 2,4m × 1,6m/ô

và trang bị hệ thống lồng úm

Các chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 8 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ và chuồng bầu, 2 quạt thông gió đối với các chuồng cách li và cai sữa Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,2m2

; cách nền 1,2m; khoảng cách giữa các cửa là 2,5m Trên trần được lắp hệ thống chống nóng tôn lạnh Ngoài ra, mỗi chuồng đều có hệ thống ống nước, máy bơm để đáp ứng nhu cầu uống nước và vệ sinh chuồng trại Máng ăn được xây dựng hiện đại, có kệ

để thuốc, dụng cụ cần thiết và đảm bảo an toàn vệ sinh

Phòng khai thác tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác

2.1.2.3 Cơ cấu tổ chức trang trại

2.1.2.4 Tình hình sản xuất của trại Bùi Thanh Phong

Trang trại Bùi Thanh Phong chuyên sản xuất con giống với các giống lợn được nhập ngoại như: Landrace (Pháp), Yorkshire (Anh) Hiện ở trại có 05 lợn đực giống, các lợn đực giống được đặt nuôi ở đầu chuồng gần giàn mát,

Trang 15

nhằm mục đích tiện cho phối giống, kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Tinh lợn được khai thác đều có chất lượng tốt, đáp ứng được yêu cầu của khách hàng Trại sản xuất lợn giống theo hình thức phối gom 5 tuần phối 1 lần và 4 tuần đẻ 1 lần Mỗi nái được phối 2 - 3 liều tinh (nái hậu bị và nái kiểm định phối 3 liều tinh, nái cơ bản phối 2 liều tinh)

Trung bình, lợn nái của trại sản xuất được 2,45 - 2,50 lứa/năm Số con

sơ sinh là 11,21 con/đàn, số con cai sữa là 10,63 con/đàn Lợn con theo mẹ được nuôi 17 - 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang chuồng cai sữa Lợn con nuôi trong chuồng cai sữa từ 07 - 15 ngày thì xuất bán

2.2 Cơ sở khoa học của đề tài

2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn cái

2.2.1.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục lợn cái

Cơ quan sinh dục của lợn cái cấu tạo gồm bộ phận sinh dục bên trong

và bộ phận sinh dục bên ngoài

Bộ phận sinh dục bên ngoài: âm môn, âm vật, tiền đình

Bộ phận sinh dục bên trong: Buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung và

âm đạo

Nguyễn Mạnh Hà và cs (2012) [4] cho biết: đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh dục lợn cái như sau:

* Bộ phận sinh dục bên ngoài

- Âm môn (Vulva): Nằm ở dưới hậu môn Phía ngoài âm môn có 2 môi

Nối liền 2 môi là 2 mép Trên 2 môi âm môn có sắc tố đen và nhiều tuyến tiết Tuyến tiết chất nhờn trắng và tuyến mồ hôi

- Âm vật (Clitoris): Cấu tạo cũng có thể hổng như con đực Trên âm vật

có nếp da tạo mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gấp xuống dưới Âm vật được phủ bởi một lớp niêm mạc có chứa các đầu mút thần kinh cảm giác, do đó trong thực tế sau khi dẫn tinh cho gia súc cái, các dẫn tinh viên thường xoa bóp nhẹ

Trang 16

vào âm vật kích thích con cái hưng phấn để cổ tử cung co thắt và con vật trở lại trạng thái bình thường

- Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogentalis): Là giới hạn giữa âm

môn và âm đạo Trong tiền đình có màng trinh, phía trước màng trinh là âm đạo, phía sau là âm môn, sau màng trinh là lỗ niệu đạo Tiền đình có một số

tuyến hướng quay về âm vật

* Bộ phận sinh dục bên trong

- Âm đạo (Vigina): Phía trước âm đạo là cổ tử cung, phía sau là tiền

đình có màng trinh che lỗ âm đạo Âm đạo là lỗ tròn để chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối Đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ, kích thước âm đạo của lợn là 10 - 12 cm

- Tử cung (Uterus): Tử cung là nơi làm tổ, cung cấp chất dinh dưỡng

cho sự phát triển của bào thai Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bóng đái Tử cung gồm 3 phần: sừng, thân, cổ tử cung

+ Ngoài cùng là lớp tương mạc được nối với dây chằng rộng Lớp cơ:

cơ trơn rất phát triển dày, khỏe có cấu tạo với chức năng chứa thai phát triển

và đẩy thai khi đẻ Cơ dọc ở ngoài, cơ vòng ở trong Cơ vòng phát triển mạnh

ở cổ tử cung tạo thành cơ thắt Lớp niêm mạc trong cùng có màu hồng nhạt có nhiều nếp gấp, trong niêm mạc có nhiều tuyến tiết ra chất nhờn Niêm mạc đến cổ tử cung thì thắt tùy thuộc vào từng loại gia súc

+ Mạch quản thần kinh: Động mạch đến từ động mạch tử cung - buồng trứng và động mạch tử cung Thần kinh đến từ đám rối treo đằng sau và đám rối hạ vị Sừng tử cung của lợn dài ngoằn nghèo như ruột non dài từ 0,5 - 1m Dây chằng rộng dài nên khi thiến có thể kéo sừng tử cung ra ngoài được + Thân tử cung ngắn, niêm mạc thân và sừng tử cung là những nếp nhăn nheo theo chiều dọc Thai làm tổ ở sừng tử cung Cổ tử cung không có nếp gấp hoa nở mà là những cột thịt xen kẽ cài răng lược với nhau

Trang 17

- Buồng trứng (Ovarium): Có hai buồng trứng treo ở cạnh trước dây

chằng rộng và nằm trong xoang chậu Bên ngoài là một màng liên kết sợi chắc như màng bao dịch hoàn Bên trong buồng trứng chia làm hai miền: miền vỏ và miền tủy, được cấu tạo bởi lớp mô liên kết sợi xốp tạo cho buồng trứng một chất đệm

+ Miền vỏ: đặc biệt quan trọng với chức năng sinh dục, đảm bảo quá trình phát triển của trứng cho đến khi trứng chín và rụng

+ Miền tủy: nằm ở giữa gồm nhiều mạch máu, dây thần kinh, mạch bạch huyết và tổ chức liên kết dày đặc đảm bảo nhiệm vụ nuôi dưỡng và bảo

vệ trứng

Buồng trứng như một tuyến nội tiết của gia súc cái Buồng trứng có hai chức năng: Nội tiết (tiết ra hormone sinh dục cái oestrogen) và ngoại tiết (bài noãn) Các hormone sinh dục cái: estrogen, progesteron và inhibin tham gia

vào việc điều khiển chu kì sinh sản của lợn cái Estrogen cần thiết cho sự phát

triển của tử cung và hệ thống dẫn của tuyến vú Progesteron do thể vàng tiết

ra kích thích sự phân tiết của tử cung để nuôi dưỡng thai, ức chế sự co thắt của tử cung và phát triển nang tạo sữa của tuyến vú Oxytocin được tiết ra chủ yếu bởi phần sau của tuyến yên và cũng được tiết bởi thể vàng của buồng trứng khi con vật gần sinh, nó làm co thắt cơ tử cung trong lúc sinh đẻ và cũng làm co thắt cơ trơn tuyến vú để thải sữa Relaxin do thể vàng tiết ra gây dãn nở xương chậu, làm dãn và mềm cổ tử cung, do đó mở rộng đường sinh

dục khi lợn sắp sinh Inhinbin có tác dụng ức chế sự phân tiết kích tố noãn

(FSH) từ tuyến yên, do đó ức chế sự phát triển noãn nang theo chu kì

Khi noãn nang bào thành thục thì màng liên kết buồng trứng sẽ tách ra

Tế bào trứng rời khỏi buồng trứng đi vào loa kèn, noãn nang bào rách ra sẽ liền ngay Các tế bào phân chia nhanh thành một khối tế bào lớn để lấp kín xoang noãn bào và trở thành thể vàng Nếu tế bào trứng được thụ tinh thì thể vàng tồn tại và tiết ra hormone progesterone có tác dụng an thai và ngược lại

Trang 18

- Ống dẫn trứng (Oviductus):Là một ống nhỏ ngoằn ngoèo nằm ở màng

treo buồng trứng

Cấu tạo gồm 3 phần: ngoài cùng là sợi liên kết được kéo dài từ màng treo buồng trứng Giữa là lớp cơ trơn Trong cùng là niêm mạc được cấu tạo bằng tế bào hình trụ, hình vuông làm nhiệm vụ tiết dịch Bề ngoài niêm mạc được phủ một lớp nhung mao, luôn rung động để đẩy tế bào trứng hoặc hợp

tử xuống tử cung làm tổ

Ống dẫn trứng có chức năng là vận chuyển trứng và tinh trùng theo hướng ngược chiều nhau Bộ phận giống như tua diềm vận chuyển trứng đã rụng từ bề mặt buồng trứng đến phễu Trứng được chuyển qua những lớp nhầy đi đến phồng ống dẫn trứng, nơi xảy ra sự thụ tinh và được lưu lại trong ống dẫn trứng khoảng 3 ngày trước khi chúng được chuyển đến tử cung Thời gian trứng di chuyển trong ống dẫn trứng từ 3 - 10 ngày Ống dẫn trứng cung cấp điều kiện thuận lợi cho sự hợp nhất của các giao tử và cho sự phát triển

ban đầu của phôi (Nguyễn Mạnh Hà và cs., 2012) [4]

2.2.1.2 Cấu tạo tuyến vú

Tuyến vú là dạng đặc biệt của tuyến mồ hôi tạo thành, tất cả động vật

có vú đều có tuyến vú Nhưng chỉ ở con cái dưới ảnh hưởng điều hòa của các hormone sinh sản mới phát dục và hoàn thiện trước khi đẻ lần đầu tiên

Đến thời kỳ chửa, nuôi con, bao tuyến có xoang tiết, ống dẫn sữa tăng lên không ngừng, thể tích bầu vú lớn, tiết ra sữa cung cấp kháng thể và chất dinh dưỡng cho con non Qua một thời gian tiết sữa thể tích bao tuyến nhỏ

dần, ống dẫn sữa teo đi, lượng sữa giảm đến ngừng, bầu vú nhỏ lại

- Núm vú: Ở lợn có nhiều đôi vú từ vùng ngực đến vùng bẹn (thường có

từ 5 đến 8 đôi) Mỗi núm vú có 2 tuyến sữa, đầu núm có 2 - 3 ống dẫn sữa thông với các ống dẫn sữa lớn Đầu núm vú là một thụ quan bên ngoài quan trọng góp phần điều hòa phản xạ tiết sữa Ở đầu núm vú có sợi cơ trơn xếp

Trang 19

thành vòng tạo thành cơ vòng đầu vú, giữ cho đầu vú ở trạng thái khép kín khi không thải sữa

- Bao tuyến: Do những tế bào biểu mô phân tiết tạo thành, là nơi sản

sinh ra sữa Các bao tuyến giống như những túi nhỏ và những ống dẫn nhỏ trực tiếp thông với xoang bao tuyến

- Ống dẫn sữa: Các ống dẫn sữa đầu tiên là các ống dẫn nhỏ, sau đó tập

trung thành các ống dẫn trung bình, ống dẫn lớn; ở lợn không có bể sữa

2.2.1.3 Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái

* Sự thành thục về tính

Theo Nguyễn Văn Trí (2008) [21]: Tuổi động dục đầu tiên ở lợn nái ngoại Yorkshire, Landrace là 6 - 7 tháng tuổi tương ứng với trọng lượng 65 - 70kg và lợn nái lai F1 là 6 tháng tuổi tương ứng với trọng lượng 50 - 55kg

Thời điểm động dục của lợn cái khác nhau trên cùng một giống lợn Con vật được chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ thành thục nhanh hơn những con ít được chăm sóc Sự kích thích của con đực làm con lợn cái nhanh động dục hơn so với những con không được tiếp xúc với lợn đực

Theo Nguyễn Mạnh Hà và cs (2012) [4] thì sự thành thục về tính dục ngoài việc phụ thuộc vào sự điều hòa của thần kinh, thể dịch còn phụ thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh khác như: Giống, dinh dưỡng, khí hậu, mùa vụ, sự tiếp xúc giữa con đực và con cái… Các giống lợn nội thành thục sớm hơn lợn ngoại, lợn lai.Gia súc nhiệt đới thành thục sớm hơn gia súc ôn đới

Sau khi thành thục về tính dục, lợn bắt đầu có hoạt động sinh sản Dưới

sự điều hòa của hormone tuyến yên, nang trứng tăng trưởng, thành thục (chín)

và rụng Kèm theo quá trình này là hàng loạt biến đổi toàn thân và cơ quan sinh dục được biểu hiện bởi các triệu chứng đặc biệt, gọi là triệu chứng động dục Do trứng rụng có tính chất chu kỳ nên động dục cũng theo chu kỳ Một

chu kỳ của lợn dao động trong khoảng 18 - 22 ngày, trung bình là 21 ngày

Trang 20

Một cơ thể được gọi là thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ thể phát triển căn bản đã hoàn thiện Dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết tố (các phản xạ về sinh dục) Khi có các noãn bào chín và tế bào trứng rụng

* Chu kỳ động dục

Theo Nguyễn Mạnh Hà và cs (2012) [4]: Sau khi thành thục tính dục, gia súc cái bắt đầu có hoạt động sinh sản Dưới sự điều hòa của hormone tuyến yên, nang trứng tăng trưởng, thành thục (chín) và rụng Kèm theo quá trình này là hàng loạt biến đổi toàn thân và cơ quan sinh dục được biểu hiện bởi các triệu chứng đặc biệt, gọi là triệu chứng động dục

Độ dài chu kì động dục, thời gian động dục và thời điểm rụng trứng là khác nhau giữa các loài gia súc

Ở lợn chu kì động dục là 19 - 22 ngày, thời gian động dục 48 - 72 giờ, thời gian rụng trứng 35 - 45 giờ sau khi bắt đầu động dục

Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [16] cho biết: Chu kỳ động dục của gia súc chia làm 4 giai đoạn:

+ Giai đoạn trước động dục: Là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục lúc này buồng trứng to hơn bình thường

Giai đoạn này các tế bào của vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lông nhung tăng lên, đường sinh dục xung huyết, nhu động sừng tử cung tăng lên, dịch nhầy ở âm đạo tăng nhiều Nhưng tính hưng phấn chưa cao Khi noãn bào chín, tế bào trứng được tách ra, sừng tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung mở hoàn toàn Niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều lúc này con vật bắt đầu xuất hiện tính dục

+ Giai đoạn động dục: Lúc này cơ thể gia súc cái và cơ quan sinh dục

có biểu hiện hàng loạt những biến đổi sinh lý Bên ngoài âm hộ phù thũng, niêm mạc xung huyết Niêm dịch trong suốt từ trong chảy ra nhiều, con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ, gia súc không yên tĩnh, ăn uống giảm, kêu, rống, phá chuồng, nhảy lên lưng con khác, thích gần con đực Giai đoạn này

Trang 21

tế bào trứng ra khỏi buồng trứng gặp tinh trùng sẽ được thụ thai thì chu kỳ sẽ dừng lại Gia súc cái trong giai đoạn có thai đến khi đẻ xong thì chu kỳ tính không xuất hiện

+ Giai đoạn sau động dục: Giai đoạn này cơ thể gia súc và cơ quan sinh dục dần dần trở lại bình thường Các phản xạ động dục, tính hưng phấn dần mất hẳn, con vật chuyển sang thời kỳ yên tĩnh hoàn toàn

+ Giai đoạn nghỉ ngơi: Đây là giai đoạn dài nhất, các biểu hiện về tính của gia súc ở thời kỳ này yên tĩnh hoàn toàn Cơ quan sinh dục không có biểu hiện hoạt động, trong buồng trứng thể vàng teo đi, noãn trong buồng trứng bắt

đầu phát dục và lớn lên, các cơ quan sinh dục đều ở trạng thái sinh lý

- Thời điểm phối giống thích hợp

Quá trình chăn nuôi lợn nái sinh sản, người chăn nuôi phải biết chính xác chu kỳ và các giai đoạn của quá trình động dục để chủ động điều chỉnh thời điểm phối giống, sinh đẻ của lợn nái cho thuận lợi nhất, đem lại hiệu quả kinh tế cao và hạn chế được rủi ro tới mức thấp nhất Đồng thời có thể cân bằng được chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc sao cho phù hợp nhất Có thể phối giống kịp thời, đúng thời điểm, vừa tăng số lượng lợn con/lứa vừa không bỏ

lỡ mất chu kì phối giống, tăng số lần phối/năm, nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái

Thời gian tinh trùng lợn đực sống trong tử cung lợn nái khoảng 45 đến

48 giờ, thời gian trứng của lợn nái tồn tại và thụ thai có hiệu quả là rất ngắn,

do vậy phải tiến hành đúng lúc Thời điểm phối giống thích hợp nhất là vào giữa giai đoạn chịu đực

Chỉ nên phối giống cho nái hậu bị từ lần động dục thứ 2 khi đạt 6 - 7 tháng tuổi, nặng trên 50 kg đối với lợn nội, 7 - 8 tháng tuổi và nặng 60 - 70 kg đối với lợn lai (nội × ngoại), 9 - 10 tháng tuổi nặng trên 80 - 90 kg đối với lợn

ngoại và lợn lai (ngoại × ngoại) (Nguyễn Khắc Tích, 2002) [20]

Trang 22

Đối với lợn nái ngoại, lợn nái lai thời điểm phối giống thích hợp nhất là sau khi có hiện tượng chịu đực 6 - 8 giờ hoặc cho phối vào cuối ngày thứ 3 và sáng ngày thứ tư kể từ khi bắt đầu động dục

Đối với lợn nái nội nên phối giống vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 vì thời gian động dục ngắn hơn

Khi thực hiện thụ tinh nhân tạo, nếu thấy lợn nái chịu đực buổi sớm thì cho phối vào buổi chiều, nếu có biểu hiện chịu đực buổi chiều thì sáng hôm sau phối, thường cho phối 2 lần (phối lặp) ở giai đoạn chịu đực hay “chặn đầu

khóa đuôi” của thời kỳ rụng trứng

- Sinh lý quá trình mang thai

Sau thời gian lưu lại ở ống dẫn trứng khoảng 3 ngày để tự dưỡng (noãn hoàng và dịch thể do ống dẫn trứng tiết) hợp tử bắt đầu di chuyển xuống tử cung, tìm vị trí thích hợp để làm tổ, hình thành bào thai Sự biến đổi nội tiết tố trong cơ thể mẹ trong thời gian có chửa như sau: progesterone trong 10 ngày đầu có chửa tăng rất nhanh cao nhất vào ngày chửa thứ 20 rồi giảm xuống ở 3 tuần đầu, sau đó duy trì ổn định trong thời gian có chửa để an thai, ức chế động dục, 1 - 2 ngày trước khi đẻ progesterone giảm đột ngột Estrogen trong suốt thời kỳ có chửa duy trì ở mức độ thấp, cuối thời kỳ có chửa khoảng 2 tuần thì bắt đầu tăng dần, đến khi đẻ thì tăng cao nhất Thời gian có chửa của lợn nái bình quân là 114 ngày

Nguyễn Văn Trí (2008) [21] cho rằng: thời gian chửa của lợn nái được

chia làm hai thời kì:

+ Chửa kỳ I: là thời gian lợn có chửa từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 84 + Chửa kỳ II: là thời gian lợn chửa từ ngày 85 đến khi đẻ

- Quá trình đẻ

Đẻ là một quá trình sinh lý phức tạp chịu sự điều hòa của cơ chế thần

kinh - thể dịch, với sự tham gia tác động cơ giới của thai đã thành thục

Trang 23

Khi gần đẻ con cái sẽ có những biểu hiện: trước khi đẻ 1 - 2 tuần nút

niêm dịch cổ tử cung, đường sinh dục lỏng, sánh và dính chảy ra ngoài Trước khi đẻ 1 - 2 ngày, cơ quan sinh dục bên ngoài bắt đầu có những thay đổi: âm môn phù to, nhão ra và xung huyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu vú căng to, sữa bắt đầu tiết

Lợn nái có hiện tượng cắn ổ, bứt rứt, khó chịu, thường đứng lên nằm xuống liên tục Lợn cong lưng rặn, ỉa liên tục, mỗi lần ỉa rất ít

Thời gian đẻ của lợn thường từ 2 - 6 giờ, được tính từ khi cổ tử cung

mở cho đến khi bào thai cuối cùng ra ngoài

Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định thời gian lợn đẻ:

Trước khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra nước trong

Trước khi đẻ 1 ngày, hàng vú giữa vắt ra sữa đầu

Trước khi đẻ 12 giờ, hàng vú trước vắt ra sữa đầu

Trước khi đẻ 2 - 3 giờ, hàng vú sau vắt ra sữa đầu

2.2.1.4 Nguyên nhân gây viêm vú, viêm tử cung ở lợn nái sinh sản

* Nguyên nhân gây viêm vú

Viêm vú là một bệnh thường xảy ra đối với lợn nái, với biểu hiện một hoặc nhiều bầu vú sưng, nóng, đỏ, đau có khi thành u, cục làm lợn đau đớn, bệnh có thể gây chết lợn nái và làm chết lợn con do thiếu sữa

Các nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú:

- Do các hệ vi khuẩn gây bệnh như: trực khuẩn đường ruột, liên cầu khuẩn dung huyết và các loại trực khuẩn gây thối Chúng xâm nhập vào tuyến vú qua vết thương, vết xây sát trên bầu vú hoặc qua lỗ núm vú

- Kế phát từ một số bệnh: sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau khi đẻ, Khi lợn nái bị bệnh này vi khuẩn theo máu về tuyến vú, cư trú tại đây và gây

ra bệnh

Trang 24

- Quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng kém, chất độn chuồng và ổ đẻ bẩn Sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch hàng ngày

- Thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn tới viêm vú

- Lợn con bú làm xước bầu vú hoặc lợn con bị bệnh không bú, sữa xuống nhiều hoặc bầu vú căng dễ dẫn đến viêm vú Lợn con bú một hàng vú, hàng vú còn lại căng sữa

* Nguyên nhân gây viêm tử cung

Lợn nái bị mắc viêm tử cung có thể do nhiều nguyên nhân:

- Cơ quan sinh dục lợn nái phát triển không bình thường gây khó đẻ hoặc lợn nái khó đẻ do thai quá to, thai ra ngược, thai phát triển không bình thường

- Phối giống lợn nái tơ quá sớm, lợn nái quá già, lợn nái mang nhiều thai Lợn nái tơ động dục lần đầu đã phối giống luôn, bộ máy sinh dục chưa hoàn thiện hẳn, đường sinh dục nhỏ, xương chậu bé Lợn nái sinh từ lứa thứ

10 trở đi nên loại bỏ do cơ tử cung bị dãn, co bóp yếu, sức đề kháng kém

- Do lứa đẻ trước đã bị viêm tử cung làm cho niêm mạc tử cung biến đổi, sót nhau dẫn đến bị thối rữa tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn

- Trong quá trình có thai, lợn nái ăn uống không hợp lí Lợn ăn nhiều tinh bột, protein và trong khi cơ thể ít vận động, sức khỏe yếu, béo dẫn đến khó đẻ Dinh dưỡng kém, ít vận động, chăm sóc không tốt, lợn nái sẽ ốm yếu làm giảm sức đề kháng dẫn đến vi trùng dễ dàng xâm nhập gây viêm nhiễm

- Do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây sát sẽ tạo ra các ổ viêm nhiễm trong âm đạo hoặc tử cung hoặc do tinh dịch bị nhiễm khuẩn

- Lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền bệnh sang lợn nái

Trang 25

- Bệnh còn xảy ra khi chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý và vệ sinh chuồng trại kém hoặc do thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt kéo dài

- Nái ngoại nhập sức đề kháng yếu hơn nái nội nên cũng dễ mắc bệnh

hơn do chưa thích nghi với điều kiện môi trường

- Bệnh kế phát từ các bệnh khác như bệnh viêm âm đạo, tiền đình, bàng quang hoặc các bệnh truyền nhiễm: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao Do nấm xâm nhập gây viêm

- Mầm bệnh qua niêm mạc đi vào máu, xâm nhập vào tử cung, nguyên nhân chính là sự kém nhu động của ruột nhất là táo bón Vi khuẩn xâm nhập

từ ngoài vào do vi khuẩn hiện diện trong phân và nước tiểu

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [5]: bệnh viêm tử cung do vi khuẩn

Streptococcus và Colibacilus nhiễm qua cuống rốn của lợn con sang lợn mẹ

do đẻ khó, sát nhau, xảy thai hay qua dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây sát tạo các ổ viêm nhiễm trong tử cung, âm đạo

Viêm tử cung thường xảy ra trong lúc sinh do nhiễm khuẩn E.coli dung huyết, Staphylococus spp và Staphylococcus aureus, đó là nguyên nhân chính

gây bệnh (Nguyễn Như Pho, 2002) [13]

Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [8] cho biết: do trong quá trình mang thai lợn ăn nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc bị một số

bệnh truyền nhiễm như: xảy thai truyền nhiễm (Brucellosis), xoắn khuẩn (Leptospirosis) và một số bệnh truyền nhiễm khác làm cho cơ thể lợn nái yếu dần dẫn đến việc sẩy thai, đẻ non, thai chết lưu từ đó dẫn đến viêm tử cung

2.2.1.5 Hiểu biết về bệnh viêm vú, viêm tử cung ở lợn nái sinh sản

* Bệnh viêm vú

- Nguyên nhân: là do các hệ vi khuẩn gây bệnh như: trực khuẩn đường

ruột, liên cầu khuẩn dung huyết và các loại trực khuẩn gây thối khác Chúng

Trang 26

xâm nhập vào tuyến vú qua vết thương, vết xây sát trên bầu vú hoặc qua lỗ núm vú

- Triệu chứng: vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn,

không xuống sữa, nếu vắt mạnh sữa chảy ra có nhiều lợn cợn lẫn máu; sau 1 -

2 ngày thấy có mủ, lợn mẹ giảm ăn hay bỏ ăn, sốt cao 40 - 41,50C

Tùy vào triệu chứng mà người ta chia viêm vú làm các thể khác nhau Viêm vú chia thành các thể như sau:

+ Viêm vú thể thanh dịch: Tuyến vú bị xung huyết, dịch viêm tiết ra nhiều Nước viêm thải ra thấm vào các nang sữa làm quá trình lưu thông mạch máu và mạch lâm ba bị trở ngại Lá vú sưng to, có khi cả bầu vú sưng Lúc đầu sữa biến đổi không rõ về sau sữa loãng, chất lượng sữa giảm, sờ tay vào con vật cảm giác đau

+ Viêm vú thể cata: Trong nang sữa chứa rất nhiều dịch rỉ viêm, tế bào biểu bì phình to ra, bị thoái hóa và bong ra Cơ thể bình thường không có triệu chứng toàn thân, lúc đầu sữa loãng, có nhiều gạch vón, lượng sữa giảm, vắt sữa có những cục nhỏ màu xanh hay vàng nhạt, sờ bầu vú thấy nóng

+ Viêm vú thể fibrin: Lúc đầu lá vú chứa nhiều nước vàng Fibrinogen

và tế bào chết Fibrinogen dưới tác dụng của men do tế bào bị tổn thương tiết ra sẽ biến thành fibrin Khi vắt sữa có một ít dịch màu vàng chứa fibrin

và cục casein bị đông vón Nhiệt độ cơ thể 40 - 410C, vú viêm cứng, sưng to,

sờ thấy đau

+ Viêm vú thể cata có mủ: Trong nang sữa và ống dẫn có hồng cầu, bạch cầu, mủ và tế bào hoại tử Sữa mất hẳn, thể tích vú tăng, màu đỏ Sờ con vật thấy đau, vắt sữa thấy loãng, sữa đóng vón, có mủ, máu Con vật có triệu chứng toàn thân: Sốt cao, kém ăn, hô hấp và tuần hoàn tăng

+ Viêm vú thể áp xe: Trong tuyến vú xuất hiện một hay nhiều bọc áp

xe to hay nhỏ nằm sát dưới da hay ở sâu bên trong Sau đó, bọc mủ phát triển

to nổi rõ ở dưới da Vật ngừng tiết sữa, sữa vắt ra có đầy mủ máu và casein

Trang 27

+ Viêm vú thể plegemin: Là loại viêm tích mủ dưới da và tổ chức liên kết của lá vú Thường do kế phát từ viêm cata và viêm có mủ Lượng sữa ít có nhiều gạch nhỏ, sờ bầu vú thấy nóng, con vật sốt, tim mạch rối loạn

+ Viêm vú thể có máu: Là loại viêm cấp tính, thường kế phát từ viêm thanh dịch, cata hoặc do viêm phúc mạc Tuyến vú bị chấn thương, các tế bào tuyến sữa bị thấm dịch và hồng cầu Da vú có đám đỏ, vắt sữa con vật thấy đau Sữa loãng màu hồng hay đỏ, con vật sốt cao 40 - 410

C, bỏ ăn

- Điều trị: Dùng một số loại kháng sinh như penicillin, streptomycine,

tremothoprime/sulfat, amoxicillin, enrofloxacin và ceftiofur, bơm qua lỗ tiết sữa của lá vú bị viêm Nếu có triệu chứng toàn thân thì tiêm vào bắp

Kết hợp với các thuốc kháng viêm và tiêm oxytocine để kích thích tiết sữa

Tăng cường vắt sữa để giảm áp lực bầu vú, xoa bóp nhẹ đầu vú từ 10

- 15 phút và xoa 2 - 3 lần/ngày bằng dầu long não hoặc Ichthyol

Giảm thức ăn tinh và tăng cường cho lợn mẹ ăn các thức ăn chứa nhiều nước

Ngoài dùng thuốc và các phương pháp trên để điều trị thì tùy từng thể viêm vú khác nhau ta cũng có những phương pháp xử lí khác nhau

+ Viêm vú thể thanh dịch: Dùng paraphin đun nóng bôi lên da vú bị viêm dày 1 cm, để trong 30 phút Dùng norsulpharol 6 - 8g uống 2 lần/ngày, uống 4 - 5 ngày

+ Viêm vú thể cata: Nếu sữa có nhiều cục đông vón thì dùng bicacbonat natri 2% liều 40 - 50ml bơm vào đầu vú rồi vắt sữa ra

+ Viêm vú thể fibrin: tiêm trực tiếp kháng sinh vào lá vú và tiêm bắp + Viêm vú thể cata có mủ: Không được chườm nóng bầu vú để tránh lưu thông huyết làm vi khuẩn tới các nơi khác gây viêm Dùng sulfamid 2% liều 250ml, nitrat bạc 0,5 - 1% liều 150ml hoặc cồn iode 5% liều 50ml bơm vào lá vú

Trang 28

+ Viêm vú thể áp xe và viêm vú thể plegemin: Không xoa bóp tuyến

vú, chườm nóng hoặc đắp paraphin lên da vú Loại bỏ bọc mủ dưới da đã chín, tránh mạch quản và sát trùng Trường hợp viêm nặng có thể cắt hẳn lá

vú bị viêm Dùng kháng sinh tiêm thẳng vào bọc mủ

+ Viêm vú thể có máu: Không cho vận động để tránh máu chảy nhiều, hạn chế uống nước, nếu bể sữa có nhiều máu cục dùng nước muối 1% liều 200ml hoặc dùng novocain 0,5% liều 80 - 100ml bơm vào lá vú để làm tan máu cục

* Bệnh viêm tử cung

- Nguyên nhân: Do đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ làm

tổn thương niêm mạc tử cung, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và gây viêm Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như lao, phó thương hàn, sảy thai truyền nhiễm

- Triệu chứng: Theo Đặng Thanh Tùng (1999) [22]: Viêm tử cung

thường xuất hiện trên nái sau khi sinh từ 2 - 3 ngày Trong quá trình đẻ, dịch

và các chất trong tử cung chảy ra, cổ tử cung mở, niêm mạc tử cung xây sát,

vi khuẩn xâm nhập gây viêm tử cung

Nguyễn Văn Thanh (2007) [15] cho biết: lợn nái bị viêm tử cung có các chỉ tiêu lâm sàng như: thân nhiệt, tần số hô hấp đều tăng Lợn bị sốt theo quy luật: sáng sốt nhẹ 39 - 39,50

C; chiều 40 - 410C Con vật ăn kém, sản lượng sữa giảm, có khi con vật cong lưng như rặn đái Cơ quan sinh dục chảy niêm dịch lẫn nhiều lợn cợn, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu đỏ Khi lợn nái nằm lượng sản dịch chảy ra nhiều hơn Trong trường hợp thai chết lưu

âm đạo sưng tấy, đỏ, có chứa dịch tiết màu vàng sẫm, nâu và có mùi hôi thối Xung quanh âm hộ, mép và đuôi dính bết niêm dịch, có khi niêm dịch khô đóng thành vảy trắng, lợn nái mệt mỏi, đi lại khó khăn

Trang 29

Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đằng Phong (2001) [11]: dựa vào vị trí viêm tại tử cung chia làm 3 thể: viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung và viêm tương mạc tử cung

+ Viêm nội mạc tử cung: Thân nhiệt lợn nái hơi cao, ăn kém, lượng sữa

giảm ít, có khi con vật cong lưng như rặn đái, âm hộ chảy ra niêm dịch lợn cợn đục hoặc có mủ Khi nằm, lượng niêm dịch chảy ra nhiều hơn Xung quanh âm hộ và gốc đuôi thường dính bết niêm dịch, có khi niêm dịch khô thành những đám vảy trắng

+ Viêm tương mạc tử cung: Lợn nái có biểu hiện toàn thân: nhiệt độ

tăng cao, tim đập nhanh, con vật ủ rũ, mệt mỏi, ể oải, đại tiểu tiện khó khăn,

ăn uống kém hoặc bỏ ăn Lượng sữa rất ít hoặc mất hẳn, thường kế phát viêm

vú Con vật luôn biểu hiện đau đớn khó chịu, lưng và đuôi cong rặn liên tục

Từ âm hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có màu nâu và mùi thối khắm Khi kích thích thành bụng thấy con vật có phản xạ đau

rõ rệt, rặn nhanh hơn, từ âm hộ chảy ra nhiều dịch hơn

Trường hợp một số vùng của tương mạc đã dính với bộ phận xung quanh thì vị trí và hình dáng của tử cung thay đổi về trạng thái, có khi không thấy một hoặc cả hai buồng trứng Nếu điều trị không kịp thời sẽ thành viêm mãn tính, tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì quá trình thụ tinh và sinh đẻ lần sau gặp nhiều khó khăn, có thể dẫn tới vô sinh Thể viêm này thường kế phát viêm phúc mạc, bại huyết hay huyết nhiễm mủ

+ Viêm cơ tử cung: Thân nhiệt tăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm,

lượng sữa giảm hoặc mất hẳn Mép âm đạo tím thẫm, niêm mạc âm đạo khô, nóng và có màu đỏ thẫm Gia súc luôn biểu hiện đau đớn, rặn liên tục Trong

cơ quan sinh dục luôn chảy ra ngoài hỗn dịch màu nâu đỏ, lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh, thối Có thể kế phát viêm vú,

có khi viêm phúc mạc, ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh sản lần sau, nếu điều trị không khỏi sẽ dẫn tới vô sinh

Trang 30

Bệnh nặng, can thiệp chậm có thể dẫn tới nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ

- Điều trị : Bệnh viêm tử cung cần phải nhanh chóng chữa trị kịp thời để

giảm thiệt hại đến mức thấp nhất, đồng thời tăng khả năng phục hồi của lợn nái Đối với từng thể viêm, tình trạng nặng hay nhẹ mà con vật biểu hiện ra cần nhanh chóng đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhất, thời gian điều trị ngắn, chi phí điều trị thấp nhất và đạt được hiệu quả điều trị cao nhất

Đối với thể viêm nội mạc tử cung màng giả không nên thụt rửa do niêm mạc tử cung đã bị hoại tử, những vết thương đã ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [6]: phác đồ hiệu quả điều trị bệnh viêm tử cung như sau: Thụt rửa tử cung bằng các thuốc sát trùng như: biocid -

30, lugol 5%, han - iodine 5%,…

Tiêm một trong các loại kháng sinh: oxytetracyclin, gentamicin, , penicillin,…

Tiêm oxytocin để đẩy các niêm dịch và dịch viêm ra ngoài

Dùng thuốc trợ sức, trợ lực như: ADE, B.complex…

2.2.2 Một số loại thuốc phòng và trị bệnh sử dụng trong đề tài

* Nova - Oxytocin: Sản phẩm của công ty WHO - GMP Quy cách

đóng lọ 100ml

- Thành phần: Oxytocin 1000UI

Tá dược vừa đủ

- Công dụng: Kích thích xuống sữa, phòng sót nhau, sót con, can thiệp

đẻ khó Do oxytocin có tác dụng kích thích gây co bóp tử cung, tăng trương lực

cơ Oxytocin còn có tác dụng lên các tế bào biểu mô cơ (là những tế bào nằm thành hàng rào bao quanh tuyến sữa), nên khi các tế bào này co bóp sẽ ép vào nang tuyến và đẩy sữa ra ống tuyến giúp bài tiết sữa trên tuyến sữa đang bài tiết Phòng băng huyết, chảy máu dạ con khi đẻ Chữa liệt ruột, bí đái

Trang 31

- Cách dùng: Tiêm bắp thịt, dưới da hoặc tiêm tĩnh mạch, với liều từ

3 - 5ml/lần/con 1 liều duy nhất Nếu cần thiết có thể tiêm liều thứ 2 sau 3 giờ

* Pendistrep LA: Thuốc do công ty Thuốc Thú y Phenix sản xuất

Quy cách đóng lọ 100ml

- Thành phần: Procaine benzylpenicillin: 120 000 UI

Benzathine benzylpenicillin: 80 000 UI

- Công dụng: Điều trị nhiễm trùng vết thương, viêm phổi, tụ huyết

trùng, lepto, viêm tử cung, đau móng, viêm vú

- Cách dùng: tiêm bắp thịt, lắc kỹ trước khi sử dụng, tiêm 1ml/10 -

12kg thể trọng/ ngày/ lần, tiêm trong 3 - 5 ngày liên tục

Trường hợp nặng có thể sử dụng liều gấp đôi

* Anagin + C: Thuốc do công ty cổ phần Anova pharma sản xuất Quy

cách đóng lọ 100ml

- Thành phần: Anagin: 25g

Vitamin C 10g

Dung môi vừa đủ: 100ml

- Công dụng: Anagin có tác dụng giảm sốt, giảm đau nhanh ngay sau

khi tiêm thuốc Kháng viêm trong các bệnh nhiễm trùng hoặc chấn thương

- Cách dùng: Tiêm bắp thịt 2 lần/ ngày cho đến khi hết triệu chứng sốt,

lợn con tiêm 1ml/ 10kg thể trọng; lợn to tiêm 1ml/ 15kg thể trọng

* Cefquinom 150 LA: Thuốc của công ty thuốc thú y Marphavet Quy

cách đóng lọ 100ml

- Thành phần: Cefquinom sulfate 1500mg

Tá dược vừa đủ

- Công dụng: đặc trị viêm vú, viêm tử cung, hen suyễn… ở lợn nái Sử

dụng sản phẩm không tồn dư kháng sinh, không ảnh hưởng đến chất lượng và sản lượng sữa

Trang 32

- Cách dùng: liều chung 1ml/10 - 15kg thể trọng/ngày, dùng 3 - 5 ngày

- Công dụng: Là kháng sinh phổ rộng đặc trị cả vi khuẩn gram (-) và

gram (+) như: E coli, Salmonella, bệnh sưng phù mặt, bệnh đóng dấu, hội

chứng viêm dạ con mất sữa,…

- Cách dùng: lắc kĩ trước khi sử dụng, liều trung bình 1ml/1kg

TT/ngày Liên tục 3 - 5 ngày

* Gluco - K- C: Thuốc của công ty Cổ phần Thuốc thú y Marphavet

Trang 33

- Cách dùng: hòa nước hoặc trộn thức ăn với liều 2g/lít nước uống trong

3 - 5 ngày hoặc 100g/40kg thức ăn

2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Madec và Neva (1995) [9], khi điều tra 147 lợn nái 1 - 6 tuổi trong vòng 1 - 2 năm không chửa thấy 50% trường hợp bị viêm trong tử cung và những biến đổi có u ở ống dẫn trứng, buồng trứng và tử cung

Christensen và cs (2007) [24], khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho thấy, vi khuẩn chính gây viêm vú là

Staphylococcus spp và Arcanobacterium pyogenes

Kemper và Gerjets (2009) [25] cho biết: vi khuẩn phân lập được trong

các mẫu sữa của lợn mắc bệnh viêm vú là: E coli 38,9%; Staphylococcus spp 14,8%; Enterococcus spp 33,3%; Klebsiella spp 3,7%

Theo Muirhead và Alexander (2010) [27], nguyên nhân gây viêm vú ở lợn do nhiều loại vi khuẩn hoặc có thể do kế phát từ bệnh khác, xảy ra lác đác

ở từng cá thể hoặc cả đàn Bệnh thường xuất hiện tập trung từ khi lợn đẻ đến

12 giờ sau đó, vi khuẩn xâm nhập vào một hay nhiều bầu vú thông qua núm

vú do trầy xước (do răng của lợn con hay nền chuồng cứng)

Shrestha (2012) [28] cho rằng: khi lợn nái mắc hội chứng viêm tử cung, viêm vú và mất sữa sẽ gây chết khoảng 2% lợn nái nhưng tỷ lệ chết ở lợn con lên tới 80% do đói, tiêu chảy…

Kemper và cs (2013) [26] đã cho biết: khi tiến hành phân lập vi khuẩn

từ 1026 mẫu sữa của lợn nái bị mắc bệnh viêm vú và 972 mẫu sữa từ lợn nái khỏe tại Berlin và Munich kết quả cho thấy: có đến 78,0% mẫu sữa từ bệnh

viêm vú có vi khuẩn E coli và 70,4% từ sữa của lợn khỏe, điều này cho thấy

vi khuẩn E coli luôn có trong sữa lợn

Trang 34

2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Lê Văn Năm và cs (1999) [10] cho biết: Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức năng cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở trong dạ con cản trở sự di chuyển của tinh trùng tạo độc tố có hại cho tinh trùng như: Spermiolisin (độc tố làm tiêu tinh trùng) Các độc tố của

vi khuẩn, vi trùng và các đại thực bào tích tụ gây bất lợi với tinh trùng, ngoài

ra nếu có thụ thai được thì phôi ở trong môi trường dại con bất lợi cũng dễ bị chết non

Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [1] cho biết: Bệnh viêm tử cung xảy ra

ở những thời gian khác nhau nhưng bệnh xảy ra nhiều nhất vào thời gian sau

đẻ 1 - 10 ngày

Đoàn Thị Kim Dung và cs ( 2002) [3] cho biết: dùng thuốc nam để điều tri ̣ bê ̣nh viêm tử cung và cho hiê ̣u quả tốt: Nước sắc vỏ xoan, lá bạch đàn đồng nữ 500g, nước sa ̣ch 3000ml Các nguyên liệu này cho vào ấm đun trong

30 phút, chắt lấy nướ c để nguô ̣i rồi dùng nước đó thu ̣t rửa tử cung , âm đa ̣o bi ̣ viêm ngày 1 lần, rửa liên tu ̣c 7 - 10 ngày

Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [5] cho biết: bệnh viêm tử cung do vi

khuẩn Streptococcus và Colibacilus nhiễm qua cuống rốn của lợn con sang

lợn mẹ do đẻ khó, sát nhau, xảy thai hay qua dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây sát tạo các ổ viêm nhiễm trong tử cung, âm đạo

Còn Lê Thị Tài và cs (2002) [14] thì: đây là một bệnh khá phổ biến ở gia súc cái Nếu không được chữa trị kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của gia súc cái

Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [2] cho rằng: không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì lợn nái động dục lần đầu cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích đủ chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con cái

Trang 35

lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ rồi mới cho phối giống Thường cho phối giống vào lần động dục thứ 2 - 3 trở đi

Lê Thị Kim Ngọc (2004) [12] cho biết: lợn Yorkshire, Landrace trong giai đoạn nuôi con mắc bệnh viêm tử cung chiếm 15% và được điều trị kịp thời khỏi 100% song đã ảnh hưởng đến sức khỏe của lợn nái, phần lớn là do

các trường hợp khó đẻ dẫn đến viêm tử cung

Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [8] cho biết: do trong quá trình mang thai lợn ăn nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động, hoặc bị một số

bệnh truyền nhiễm như: xảy thai truyền nhiễm (Brucellosis), xoắn khuẩn (Leptospirosis) và một số bệnh truyền nhiễm khác làm cho cơ thể lợn nái yếu

dần dẫn đến việc sẩy thai, đẻ non, thai chết lưu từ đó dẫn đến viêm tử cung

Theo Nguyễn Quang Linh (2005) [7] thì: Bệnh viêm vú thường xảy ra sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 7 - 10 ngày, có trường hợp đến một tháng

Bùi Thị Tho và cs (2005) [18] cho rằng: Phần lớn những trường hợp lợn đẻ khó đều dẫn tới viêm tử cung

Theo Trần Thanh Vân và cs (2005) [23] cho biết: chữa bê ̣nh viêm vú , sưng vú, tắc tia sữa bằng: Bồ công anh 50g rửa sa ̣ch, giã nát cho thêm ít muối,

ít nước, chắt lấy nước cho uống, phần bã đắp phần vú bi ̣ sưng

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [6] thì cho biết: dụng cụ thụ tinh nhân tạo quá cứng sẽ gây xây sát và tạo ra các ổ viêm trong âm đạo, tử cung Tinh dịch bị nhiễm khuẩn, lợn đực giống bị viêm niệu quản và dương vật nên khi nhảy trực tiếp hoặc khai thác tinh nhân tạo sẽ truyền lây mầm bệnh cho lợn nái Rối loạn sinh sản do nhiều nguyên nhân gây ra

Ngày đăng: 19/09/2018, 16:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Nguyễn Như Pho (2002), “Ảnh hưởng của việc tăng cường điều kiện vệ sinh đến hội chứng MMA và năng suất sinh sản của heo nái”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của việc tăng cường điều kiện vệ sinh đến hội chứng MMA và năng suất sinh sản của heo nái”, "Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y
Tác giả: Nguyễn Như Pho
Năm: 2002
14. Lê Thị Tài, Đoàn Thị Kim Dung, Phương Song Liên (2002), Phòng và trị một số bệnh thường gặp trong thú y bằng thuốc Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị một số bệnh thường gặp trong thú y bằng thuốc Nam
Tác giả: Lê Thị Tài, Đoàn Thị Kim Dung, Phương Song Liên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
15. Nguyễn Văn Thanh (2007), “Mối liên hệ giữa bệnh viêm tử cung của lợn nái ngoại với hội chứng tiêu chảy lợn con đang bú mẹ và thử nghiệm biện pháp phòng trị”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp, tập V, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối liên hệ giữa bệnh viêm tử cung của lợn nái ngoại với hội chứng tiêu chảy lợn con đang bú mẹ và thử nghiệm biện pháp phòng trị”, "Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Năm: 2007
16. Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006), Giáo trình sinh lý học vật nuôi, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh lý học vật nuôi
Tác giả: Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2006
17. Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Duy Hoan (2002), Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Duy Hoan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
18. Bùi Thị Tho, Nguyễn Thị Anh Đào (2005), Dược lý học thú y, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dược lý học thú y
Tác giả: Bùi Thị Tho, Nguyễn Thị Anh Đào
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2005
19. Chu Thi ̣ Thơm, Phan Thi ̣ Lài, Nguyễn Văn Tô (2005), Hướng dẫn phòng, trị bằng thuốc Nam một số bê ̣nh ở gia súc , Nxb Lao Đô ̣ng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn phòng, trị bằng thuốc Nam một số bê ̣nh ở gia súc
Tác giả: Chu Thi ̣ Thơm, Phan Thi ̣ Lài, Nguyễn Văn Tô
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 2005
20. Nguyễn Khắc Tích (2002), Chăn nuôi lợn, Bài giảng cho cao học và nghiên cứu sinh, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn
Tác giả: Nguyễn Khắc Tích
Năm: 2002
21. Nguyễn Văn Trí (2008), Hỏi đáp kĩ thuật chăn nuôi lợn nái sinh sản ở hộ gia đình, Nxb Khoa học tự nhiên và Công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp kĩ thuật chăn nuôi lợn nái sinh sản ở hộ gia đình
Tác giả: Nguyễn Văn Trí
Nhà XB: Nxb Khoa học tự nhiên và Công nghệ
Năm: 2008
23. Trần Thanh Vân, Bùi Thị Thơm và Hà Thị Hảo (2016), Giáo trình Chăn nuôi chuyên khoa, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.2. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Chăn nuôi chuyên khoa
Tác giả: Trần Thanh Vân, Bùi Thị Thơm và Hà Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2016
24. Christensen RV., Aalbaek B. and Jensen H.E. (2007), “Pathology of udder lesions in sows”, J. Vet. Med. A Physiol Pathol Clin Med. 2007 Nov, 54(9), pp. 491 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pathology of udder lesions in sows”, "J. Vet. Med. A Physiol Pathol Clin Med
Tác giả: Christensen RV., Aalbaek B. and Jensen H.E
Năm: 2007
25. Kemper N. và Gerhets I. (2009), “Bacteria in milk from anterior and posterior mammary glands in sow affected and unaffected by pospartum dysgalactia syndrome”, Acta Veterrnaria Scandinavica (51), pp. 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bacteria in milk from anterior and posterior mammary glands in sow affected and unaffected by pospartum dysgalactia syndrome”, "Acta Veterrnaria Scandinavica
Tác giả: Kemper N. và Gerhets I
Năm: 2009
26. Kemper N., Bardehle D., Lehmann J., Gerjets Looft H., Preissler R Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm