1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại ngô hồng gấm xã hợp thanh – huyện lương sơn – tỉnh hòa bình

74 197 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 896,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những bệnh sản khoa thường gặp ở lợn nái sinh sản là bệnh viêm tử cung, viêm vú, sót nhau.... Số con cai sữa/ nái/ năm Đây là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật rất quan trọng, quyết đ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

PHẠM THÁI MINH

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG

VÀ PHÕNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRANG TRẠI NGÔ HỒNG GẤM – XÃ HỢP THANH - LƯƠNG SƠN – HÒA BÌNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

PHẠM THÁI MINH

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG

VÀ PHÕNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRANG TRẠI NGÔ HỒNG GẤM – XÃ HỢP THANH - LƯƠNG SƠN – HÒA BÌNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp: K45 – TY – N03 Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017

Giảng viên hướng dẫn: TS Ngô Nhật Thắng

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập lý thuyết tại trường và thực tập tại cơ sở, đến nay

em đã hoàn thành bản khoá luận tốt nghiệp đại học Để hoàn thành bản khoá luận này

em đã nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi – Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và trang trại chăn nuôi “ Ngô Hồng Gấm” xã Hợp Thanh, Huyện Lương Sơn, Tỉnh Hòa Bình Em cũng nhận sự giúp đỡ nhiệt tình của người thân trong gia đình Để đáp lại tình cảm đó, qua đây em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc và kính trọng tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập

Trước tiên, em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi thú y cùng tập thể các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy dỗ và dìu dắt em trong suốt thời gian học tại trường cũng như thời gian thực tập tốt nghiệp

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, chỉ bảo và hướng dẫn nhiệt

tình của cô giáo hướng dẫn TS Ngô Nhật Thắng người đã trực tiếp hướng dẫn em

thực hiện thành công khóa luận này

Em cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Chủ trang trại Ngô Hồng Gấm, kĩ sư kĩ thuật cùng toàn thể anh chị em công nhân trong trang trại đã hướng dẫn em các công tác kỹ thuật, theo dõi các chỉ tiêu và thu thập số liệu làm cơ sở cho khóa luận này

Qua đây, em cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã giúp đỡ và động viên em trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường

Cuối cùng, em xin trân trọng gửi tới các thầy giáo, cô giáo trong hội đồng đánh giá khóa luận lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng 12 năm 2017

Sinh viên

Phạm Thái Minh

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Hàm lượng axit amin thích hợp cho lợn nái chửa và lợn nái nuôi

con 12

Bảng 2.2.Những biểu hiện khi lợn sắp đẻ 16

Bảng 3.1 Lịch sát trùng chuồng trại 33

Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi của trại năm 2016 và 5 tháng đầu năm 2017 46 Bảng 4.2 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập 47

Bảng 4.4 Một số chỉ tiêu kĩ thuật của đàn lợn nái sinh sản tại trại 49

Bảng 4.5 Kêt quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 50

Bảng 4.6 Lịch phòng bệnh của trại lợn nái 51

Bảng 4.7 Kết quả chẩn đoán bệnh trên đàn lợn nái 52

Bảng 4.8 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái tại trại 53

Bảng 4.9 Khả năng phối đạt của lợn nái sau điều trị 54

Bảng 4.10 Kết quả thực hiện phẫu thuật trên đàn lợn con 55

Bảng 4.11 Bảng hạch toán kinh tế tại cơ sở trong 6 tháng 56

Trang 6

MụC LụC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1.Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của trang trại 3

2.1.2 Đánh giá chung 6

2.2 Tổng quan tài liệu 7

2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 7

2.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái 9

2.2.3 Quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản giai đoạn chửa, đẻ, nuôi con 11

2.2.4 Một số bệnh hay gặp ở lợn nái sinh sản 16

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 27

2.3.1 Tổng quan các nghiên cứu trong nước 27

2.3.2 Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài 29

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG,NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

3.1 Đối tượng 31

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 31

Trang 7

3.3 Nội dung thực hiện 31

3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 31

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 31

3.4.2 Phương pháp thực hiện 32

3.4.3 Quy trình xuất bán lợn 44

3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 44

Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 46

4.1 Tình hình chăn nuôi tại trại lợn Ngô Hồng Gấm, xã Hợp Thanh, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình 46

4.2 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng trên đàn lợn nái tại trại 47

4.2.1 Số lượng nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại 47

4.2.2 Tình hình sản xuất của đàn lợn nái tại trại Ngô Hồng Gấm, xã Hợp Thanh, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình 48

4.2.3 Một số chỉ tiêu kĩ thuật của đàn lợn nái sinh sản tại 49

4.3 Kết quả thực hiện các biện pháp phòng và trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại 50

4.3.1.Thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh trên đàn lợn nái tại trại 50

4.3.2 Kết quả tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn nái tại trại 51

4.4 Kết quả công tác chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn tại trại 52

4.4.1 Kết quả chẩn đoán trên đàn lợn nái tại trại 52

4.4.2 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản tại trại Ngô Hồng Gấm, xã Hợp Thanh, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình 53

4.5 Khả năng phối đạt của đàn lợn đàn lợn sinh sản sau điều trị 54

4.6 Kết quả thực hiện một số công việc tại cơ sở 55

4.7 Hạch toán kinh tế cho đàn lợn nái tại cơ sở 56

Trang 8

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57

5.1 Kết luận 57

5.2 Đề nghị 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60 MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP

Trang 9

2

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong ngành chăn nuôi – thú y hiện nay, chăn nuôi lợn là một trong các ngành đem lại hiệu quả kinh tế cao Nó chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Chăn nuôi lợn là một nghề của người nông dân Từ việc chăn nuôi nhỏ lẻ tại các hộ gia đình nhằm tận dụng các phế phụ phẩm nông nghiệp, hiện nay đã có nhiều phương thức chăn nuôi đa dạng góp phần nâng cao thu nhập của người dân Chăn nuôi lợn ở nước ta đang được chú ý phát triển, ngày càng chiếm ưu thế và có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống của nhân dân Con lợn đã cung cấp nhu cầu về thịt cho thị trường trong nước và xuất khẩu, đồng thời cung cấp nguồn phân bón cho ngành trồng trọt và các sản phẩm phụ cho ngành công nghiệp chế biến Để đáp ứng được nhu cầu thị trường, trong những năm gần đây nhà nước đã có những chính sách đầu tư lớn về quy mô chăn nuôi, con giống, kỹ thuật chăm sóc và nuôi dưỡng Bên cạnh những thành tựu đạt được, nghề chăn nuôi lợn đang phải đối mặt với khó khăn ngoài các nguyên nhân như sự cạnh tranh với các ngành nghề khác, các chính sách, chi phí đầu vào, chi phí thức ăn… ngành chăn nuôi lợn còn phải đối mặt với tình hình dịch bệnh, lợn hay mắc một số bệnh như: Bệnh truyền nhiễm, kí sinh trùng, đặc biệt là bệnh sản khoa Một trong những bệnh sản khoa thường gặp ở lợn nái sinh sản là bệnh viêm tử cung, viêm vú, sót nhau Để phát triển hơn nữa ngành chăn nuôi lợn, cần chú ý đến chăn nuôi lợn nái là một trong những khâu quan trọng góp phần quyết định đến sự thành công trong ngành chăn nuôi lợn Đặc biệt là trong việc chăn nuôi lợn nái ở nước ta để có đàn con nuôi thịt sinh trưởng và phát triển tốt, cho tỷ lệ nạc cao, và đây cũng chính là mắt xích quan trọng để tăng nhanh đàn lợn cả về số lượng và chất lượng Xuất phát từ thực tiễn trên được sự đồng ý của Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên và sự phân công của

khoa Chăn Nuôi Thú Y cùng với sự hướng dẫn của cô giáo TS Ngô Nhật Thắng,

em tiến hành thực hiện đề tài “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và

phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại “Ngô Hồng Gấm ”- Xã Hợp Thanh – Huyện Lương Sơn – Tỉnh Hòa Bình

Trang 10

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Nắm được quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản

- Nắm được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản,khẩu phần ăn và cách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai

- Nắm được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản và biện pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất

- Giúp sinh viên củng cố kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp

- Góp phần giúp cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng chăn nuôi

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trang trại “Ngô Hồng Gấm”- xã Hợp Thanh – huyện Lương Sơn – tỉnh Hòa Bình

- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi

- Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn nái sinh sản và áp dụng được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng

Trang 11

PHầN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1.Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của trang trại

2.1.1.1 Quá trình thành lập

Trại lợn Ngô Hồng Gấm nằm trên địa phận thôn Dẻ Cau - xã Hợp Thanh - huyện Lương Sơn - tỉnh Hòa Bình Là trại lợn gia công của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam Trang trại do bà Ngô Thị Hồng Gấm làm chủ và được cán bộ kỹ thuật của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trang trại

2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức

Trại có đội ngũ cán bộ kĩ thuật giỏi, giàu kinh nghiệm thực tế và có ban lãnh đạo năng động nhiệt tình và giàu năng lực Hơn nữa, trại còn có nhiều công nhân giỏi, có nhiều năm kinh nghiệm trong nghề

Cơ cấu lao động của trại gồm: 23 người

Chủ trại: 1

Người Quản lý trại: 1

Người Kỹ sư chăn nuôi: 2

Người Kế toán: 1

Người nấu ăn: 1

Người thợ cơ khí: 1

Người Công nhân: 10

Sinh viên thực tập: 6 người

Với đội ngũ nhân công trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổ chuồng

đẻ, tổ chuồng bầu Các tổ có bảng chấm công riêng cho từng công nhân trong tổ, ngoài ra các tổ trưởng có nhiệm vụ đôn đốc quản lý chung các thành viên trong tổ nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm và thúc đẩy sự phát triển của trang trại

Trang 12

2.1.1.3 Cơ sở vật chất của trang trại

* Hệ thống chuồng trại

Hệ thống chuồng trại được xây dựng trên nền đất cao, dễ thoát nước Được

bố trí tách biệt với khu hành chính và hộ gia đình, được xây dựng theo hướng Đông Nam - Tây Bắc, đảm bảo mát về mùa hè, ấm về mùa đông Xung quanh khu sản xuất có hàng rào bao bọc và có cổng ra vào riêng

Hiện nay trại xây dựng với quy mô phù hợp theo hướng chăn nuôi công nghiệp Hệ thống chuồng lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái chờ phối và lợn nái chửa Chuồng lồng, nền sàn nhựa cho lợn nái đẻ, lợn con và lợn con sau cai sữa cùng với hệ thống nước uống tự động Hệ thống che chắn kín đáo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Hệ thống mái che hai ngăn có độ thông thoáng tốt, có tường rào bao quanh chuồng trại Ở cuối mỗi ô chuồng đều có hệ thống thoát phân

và nước thải Hệ thống nước sạch được đưa về từng ô chuồng đảm bảo cho việc cung cấp nước uống tự động cho lợn, nước tắm cho lợn và nước rửa chuồng hàng ngày Trại đã lắp đặt hệ thống nước máy đảm bảo cung cấp nước sạch cho lớn uống, tắm và vệ sinh chuồng trại

* Các công trình khác

Gần khu chuồng, trại cho xây dựng một phòng kĩ thuật, một nhà kho, năm phòng sát trùng, nhà vệ sinh, nhà ăn trưa riêng cho công nhân Phòng kĩ thuật được trang bị đầy đủ các dụng cụ thú y như: Panh, dao mổ, bơm tiêm, kìm bấm số tai, kìm bấm nanh, bình phun thuốc sát trùng, cân, các loại thuốc thú y đồng thời cũng

Trang 13

2.1.1.4 Tình hình sản xuất của trang trại

* Công tác chăn nuôi

Hiện nay, trại có 1250 đầu nái và 115 hậu bị, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,46 - 2,48 lứa/năm Số con sơ sinh là 11,51 con/lứa, số con cai sữa

là 10,8 con/lứa, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các Trại chăn nuôi lợn giống của Công ty Theo đánh giá của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam thì Trại Ngô Hồng Gấm là một trong những trại đứng tốp đầu trong khu vực miền bắc

Ngoài ra trại có 15 con lợn đực Pi-Du 31 (Pietrain-Duroc), các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Lợn nái được phối 3 lần và được luân chuyển đến khu chăm sóc nuôi dưỡng riêng

Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam cấp cho từng đối tượng lợn của trại

* Công tác vệ sinh thú y của trại

Vệ sinh phòng bệnh là công tác rất quan trọng Nó có tác dụng tăng sức đề kháng cho vật nuôi, giảm nguy cơ xảy ra dịch bệnh, hạn chế những những bệnh có tính chất lây lan từ đó phát huy tốt tiềm năng của giống

- Công tác vệ sinh:

Chuồng trại được xây dựng thoáng mát về mùa Hè, mùa Đông được che chắn cẩn thận, xung quanh các chuồng nuôi có rèm che bằng tấm lưới nhựa để tránh ánh nắng chiếu trực tiếp vào trong chuồng nuôi Trước cửa vào các chuồng có chậu pha nước sát trùng để dẫm ủng để hạn chế mầm bềnh xâm nhập từ môi trường vào chuồng nuôi Hàng ngày luôn có công nhân và sinh viên quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn, phun thuốc sát trùng, hành lang đi lại được quét dọn và rắc vôi theo quy định Công nhân, kỹ sư, khách tham quan trước khi vào khu chăn nuôi đều phải sát trùng tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo bảo hộ lao động

- Công tác phòng bệnh:

Trang 14

Trong khu vực chăn nuôi hạn chế đi lại giữa các chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột và có chậu pha nước sát trùng để dẫm ủng, các phương tiện vào trại được sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào Quy trình phòng bệnh bằng vắc- xin luôn được trang trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng,

từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con Lợn được tiêm vắc- xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng vắc- xin cho đàn lợn luôn đạt 100%

- Công tác trị bệnh:

Cán bộ kỹ thuật có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trại luôn được kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách ly, điều trị ở ngay giai đoạn đầu, nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 - 90% trong một thời gian ngắn Vì vậy, không gây thiệt hại lớn về số lượng đàn gia súc

Hàng tháng có bác sĩ thú y của công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam về kiểm tra, điều trị và đánh giá tình hình tại trang trại Từ đó tư vấn các biện pháp phòng trị để việc chăn nuôi tại trại ngày càng phát triển

2.1.2 Đánh giá chung

2.1.2.1 Thuận lợi

Được sự quan tâm tạo điều kiện và có các chính sách hỗ trợ đúng đắn của các ngành, các cấp có liên quan như UBND xã Hợp Thanh, Trạm thú y huyện Lương Sơn tạo điều kiện cho sự phát triển của trại

Được Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam cung cấp về con giống, thức

ăn, thuốc thú y, đội ngũ kĩ thuật viên giỏi và có nhiều kinh nghiệm Trang trại có vị trí thuận lợi, địa hình, đường đi khá thuận tiện cho việc vận chuyển con giống cũng như thức ăn chăn nuôi

Chủ trại năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân

Trang 15

Công nhân làm việc nhiệt tình, năng động và có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc Do đó đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại

2.2 Tổng quan tài liệu

2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái

2.2.1.1 Quy luật sinh trưởng và phát dục của bào thai

Hiểu rõ quy luật sinh trưởng và phát dục của bào thai có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác chăm sóc và nuôi dưỡng nái mẹ trong thời kỳ mang thai Đây

là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ lệ sảy thai, chết thai và số lượng cũng như khối lượng sơ sinh trên ổ và trên con

Theo Bùi Hữu Đoàn và cs, (2009) [7] cho biết: quá trình phát triển của phôi thai trải qua 3 giai đoạn sau:

+ Giai đoạn phôi thai (1 - 22 ngày)

Giai đoạn này được tính từ ngày thứ nhất đến ngày thứ 22 sau khi thụ tinh Sau khi thụ tinh được 20 giờ thì sự phân chia tế bào bắt đầu diễn ra Phôi thai được hình thành sau thụ tinh là thời điểm cho quá trình phát triển của cơ thể mới

Từ một tế bào, phôi tăng cường trao đổi chất thành túi phôi Tiếp theo túi phôi thực hiện quá trình phân cắt, phôi thai phát triển thành hợp tử Trong giai đoạn này hợp tử sử dụng chất dinh dưỡng của tế bào trứng và tinh trùng

Sau khi thụ tinh được 5-6 ngày thì mầm thai và túi phôi được hình thành Lúc đầu mầm thai lấy chất dinh dưỡng từ tế bào trứng, chất tiết từ các tuyến nội mạc tử cung Sau khi các màng thai được hình thành, mầm thai lấy chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ bằng con đường thẩm thấu qua các màng Sau 7 - 8 ngày, màng ối được hình

Trang 16

thành, màng ối chứa dịch lỏng vừa bảo vệ phôi vừa cung cấp chất dinh dưỡng cho phôi Màng niệu được hình thành sau 12 ngày, là nơi chứa chất cặn bã do thai thải

ra trong quá trình trao đổi chất Ở cuối thời kỳ này, một số cơ quan trao đổi chất như: đầu, hố mắt, tim, gan đã hình thành nhưng chưa hoàn chỉnh

Đáng chú ý trong 3 tuần đầu này là sự liên kết giữa cơ thể mẹ và thai chưa chắc chắn, phôi thai mới hình thành nên chưa đảm bảo an toàn Khối lượng phôi thai trong giai đoạn này rất nhỏ, ở cuối giai đoạn mỗi phôi chỉ nặng 1-2 gam Vì vậy, kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc trong 3 tuần đầu là cực kỳ quan trọng Mỗi tác động của ngoại cảnh không tốt đến nái mẹ (như: tiếng ồn, ô nhiễm, quá nóng, hay quá lạnh ) đều ảnh hưởng tới phôi thai, dễ dẫn đến sảy thai Dinh dưỡng hay chất lượng thức ăn không tốt (như: ôi thiu, lên men, mốc ) cũng gây hậu quả tương

tự Cần có sự chăm sóc cẩn thận với nái chửa trong 3 tuần đầu sau khi thụ tinh

+ Giai đoạn tiền thai (23 -39 ngày)

Thời kỳ này nhau thai phát triển đầy đủ hơn, quá trình phát triển diễn ra mạnh mẽ để hoàn chỉnh các cơ quan mới Ở cuối thời kỳ này, hầu hết các cơ quan

đã cơ bản hình thành, khối lượng phôi tăng lên 6-7 gam

+ Giai đoạn bào thai (40 -114 ngày)

Đây là giai đoạn sinh trưởng mạnh nhất của bào thai Các cơ quan bộ phận được hoàn chỉnh dần Quá trình trao đổi chất của thai diễn ra mãnh liệt Đặc điểm của từng giống đã bắt đầu được thể hiện (khoang, đốm, loang ) Khối lượng của bào thai tăng mạnh, đặc biệt từ ngày thứ 80 trở đi thai phát triển rất mạnh Cuối thời kỳ này, khối lượng bào thai tăng gấp 100 lần kỳ trước

2.2.1.2 Đặc điểm lợn nái chửa

Theo Nguyễn Quang Linh (2005) [15]: thời gian chửa của lợn trung bình là

114 ngày, dao động trong vòng từ 111 ngày đến 118 ngày chia làm hai giai đoạn:

+ Giai đoạn chửa kỳ I: từ lúc phối giống có chửa đến ngày chửa thứ 84 Bào thai phát triển chậm, chỉ chiếm 1/4 khối lượng lợn con sơ sinh

+ Giai đoạn chửa kỳ II: từ ngày 84 đến khi đẻ, bào thai lớn nhanh chiếm 3/4 trọng lượng sơ sinh

Trang 17

Nhưng trên thực tế để tiện theo dõi và chăm sóc, giai đoạn chửa kỳ II được phân ra làm hai giai đoạn nhỏ:

- Giai đoạn 1: 84 - 100 ngày

- Giai đoạn 2: 100 -114 ngày

Mỗi giai đoạn này đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc là khác nhau Đặc biệt chú ý trong 2 tuần cuối (100 - 114 ngày) dinh dưỡng và chăm sóc phải thật hợp lý Đây là thời kỳ lợn mẹ cần nhiều chất dinh dưỡng nhất cho sự phát triển của bào thai Tuy nhiên thể tích bào thai lớn làm giảm lượng thức ăn thu nhận, vì vậy cần phải cho nái

ăn nhiều bữa và đảm bảo chất dinh dưỡng Trong thời kỳ mang thai tính thèm ăn của nái bị giảm xuống, để khắc phục điều này cần chế biến và bảo quản thức ăn thật tốt, kích thích tính ngon miệng cho nái thu nhận thức ăn cao Giai đoạn này lợn mẹ cần sự yên tĩnh, những tác động kích thích từ bên ngoài dễ dẫn đến hiện tượng đẻ non hay xáo trộn sinh lý lợn mẹ, gây khó khăn khi đẻ

Khi thai đã thành thục sẽ được cơ thể mẹ đẩy ra ngoài (trong khoảng 113 -

116 ngày), lợn thường đẻ vào ban đêm, thời gian đẻ trung bình từ 2 - 6 giờ Nếu sức khoẻ của lợn mẹ và các thai bình thường thì không cần can thiệp nhiều trong khi lợn

đẻ Nhưng nếu có khó khăn trong quá trình lợn đẻ (sức khoẻ nái mẹ kém, thai nằm sai ngôi, thai chết khô, chết lưu ) thì can thiệp ngay để đảm bảo cho cả lợn mẹ và đàn con

2.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái

2.2.2.1 Số con sơ sinh còn sống đến 24h/lứa đẻ

Là chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng Nó phụ thuộc vào khả năng đẻ nhiều hay ít con của giống, trình độ phối giống của người nuôi dưỡng chăm sóc và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái chửa Trong 24 giờ sau khi sinh những con không đạt khối lượng sơ sinh trung bình của giống, dị dạng thì sẽ bị loại

Lợn con mới sinh có thể chia thành 3 dạng dưới đây:

Loại thai non: là loại thai phát triển không hoàn toàn, chết trong thời gian có chửa và trước khi sinh ra

Trang 18

Loại thai gỗ: là loại thai chết trong tử cung lợn mẹ lúc 25 - 90 ngày tuổi Dịch thai và tất cả các dịch trong tế bào tổ chức bào thai được cơ thể mẹ hấp thụ qua niêm mạc tử cung, các tổ chức khác của thai rắn lại, thể tích co nhỏ thành cục màu nâu đen, cứng

Loại đẻ ra còn sống: trong vòng 24 giờ sau khi sinh, những lợn con không đạt khối lượng sơ sinh trung bình của giống, không phát dục hoàn toàn, dị dạng Thì sẽ bị loại thải Ngoài ra, một số lợn con mới sinh chưa nhanh nhẹn dễ bị lợn mẹ

đè chết

Số con chết lúc sơ sinh, số thai non, số thai gỗ là nguyên nhân làm giảm số lượng lợn con sơ sinh sống đến 24 giờ/lứa

2.2.2.2 Số con cai sữa/ nái/ năm

Đây là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật rất quan trọng, quyết định năng suất trong chăn nuôi lợn nái, nó phụ thuộc vào kỹ thuật chăn nuôi lợn con bú sữa, khả năng tiết sữa khả năng nuôi con của lợn mẹ và khả năng hạn chế các yếu tố gây bệnh cho lợn con

Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [22] : hiệu quả chăn nuôi lợn nái sinh sản được đánh giá bằng số lợn con cai sữa/nái/năm Các nhà nghiên cứu tập trung vào vấn đề lợn con chết từ sơ sinh đến cai sữa đã thống kê khoảng 3 - 5% số lợn con chết khi sơ sinh, bao gồm: lợn chết do lợn mẹ đẻ khó và lợn con chết trong giai đoạn chửa

kỳ cuối.Các nguyên nhân chủ yếu lợn con chết trong giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa

là bị lợn mẹ đè và không bú được chiếm 50%, nhiễm khuẩn 11,1%, dinh dưỡng kém 8%, di truyền 4,5%, các nguyên nhân khác 26,4% Do đó, cùng với việc cải tạo điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, tích cực kiểm tra thành tích sinh sản của lợn nái thì khả năng truyền giống của lợn đực rất cần thiết, có ý nghĩa trong công tác giống và thực tiễn sản xuất

Theo Trần Đình Miên (1977) [18]sức sinh sản của lợn là một tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng phẩm giống Khả năng sinh sản được biểu hiện qua nhiều chỉ tiêu khác nhau như: đẻ nhiều con, nhiều lứa, tỷ lệ sống khi đẻ và đến cai sữa, tỷ lệ còi cọc, dị hình, khuyết tật Khả năng sinh sản cũng liên quan đến sự thành thục

Trang 19

sớm hay muộn, thời gian mang thai, số lần thụ thai của lợn: “Sinh sản của gia súc là một hình thái của sức sản xuất và cũng là một biểu hiện đặc trưng của tính di truyền

ở mỗi phẩm giống của gia súc”

2.2.3 Quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản giai đoạn chửa, đẻ, nuôi con

2.2.3.1 Chế độ dinh dưỡng

Yếu tố quan trọng đối với lợn nái mang thai và nuôi con là phải cung cấp đầy

đủ số lượng và chất lượng dinh dưỡng cần thiết để có hiệu quả sinh sản cao Chế độ dinh dưỡng bao gồm: dinh dưỡng năng lượng, dinh dưỡng protein, ảnh hưởng của khoáng chất, nguyên tố đa vi lượng và ảnh hưởng của vitamin

*Nhu cầu năng lượng

Năng lượng không thể thiếu được cho cơ thể mẹ duy trì nuôi thai, tiết sữa, nuôi con Nhu cầu năng lượng khác nhau tùy thuộc tùng giai đoạn Cần phải đủ nhu cầu về năng lượng cho lợn nái, tránh cung cấp thừa gây lãng phí thức ăn, giảm giá thành sản phẩm Nếu thiếu sẽ ảnh hưởng đến sinh lý bình thường của con vật.Năng lượng được cung cấp dưới hai dạng:gluxit chiếm 70 - 80%, lipit 10 - 13% tổng số năng lượng cung cấp

* Ảnh hưởng của khoáng chất

Trong cơ thể lợn khoáng chất chứa 3% trong đó có tới 75% là canxi và photpho, xấp xỉ 25% là natri và kali, cũng có một lượng nhỏ magie, sắt, kẽm, đồng, các nguyên tố khác ở dạng dấu vết Ví dụ canxi làm ngăn trở việc hấp thu kẽm gây hiện tượng rối loạn ở da, gây sừng hóa

*Nhu cầu về protein:

Protein là thành phần quan trọng trong khẩu phần thức ăn cung cấp cho lợn,

là thành phần không thể thay thế được cần thiết trước tiên cho mọi hoạt động trao đổi chất trong cơ thể và tham gia cấu tạo nên các mô trong cơ thể Do protein tham gia vào cấu tạo hoạt động trao đổi chất nên hàng ngày luôn có một lượng nhất định protein mất đi Trong quá trình đồng hóa và dị hóa của cơ thể thì hàng ngày luôn có các tế bào sinh trưởng và phát triển, phân chia và các tế bào già cỗi được loại thải ra ngoài Do đó protein được cung cấp để bù đắp lại phần mất đi và một phần khác xây

Trang 20

dựng lên các tế bào mới, tạo sản phẩm chăn nuôi Tuy nhiên việc cung cấp protein phải đảm bảo đủ về số lượng và cân đối về các thành phần axit amin không thay thế: lyzine, methionine, histidin, cystein, tryptophan hay chính sác hơn nhu cầu về protein của lợn chính là nhu cầu về axit amin Ngoài ra thức ăn phải có giá trị sinh học cao, dễ tiêu hóa, hấp thu Để đáp ứng tốt các nhu cầu trên cần cho lợn ăn bằng nhiều loại thức ăn

Bảng 2.1 Hàm lƣợng axit amin thích hợp cho lợn nái chửa và lợn nái nuôi con

Lợn nái chửa Lợn nái nuôi con

* Ảnh hưởng của vitamin

Vitamin cần cho sự chuyển hóa bình thường của mô bào, cho sức khỏe, sinh trưởng và duy trì Một số vitamin lợn có thể tự tổng hợp để đáp ứng nhu cầu như vitamin B12 Một số vitamin lợn hay thiếu cần phải bổ sung (A, D, E) Nếu bổ sung không đúng, thừa hoặc thiếu đều không tốt

- Thiếu vitamin A: lợn con chậm lớn, da khô, mắt kém, lợn nái mang thai dễ xảy thai, đẻ non

- Thiếu vitamin D: thai kém phát triển, dễ bị liệt chân trước và sau khi đẻ

- Thiếu vitamin E: lợn có hiện tượng chết phôi, chết thai, lợn không động dục hoặc chậm động dục

Trang 21

Đặc biệt lợn nái mang thai nếu thiếu vitamin sẽ ảnh hưởng tới khả năng sinh sản Do vậy dinh dưỡng đầy đủ, khẩu phần ăn hợp lý, đáp ứng được nhu cầu sinh trưởng, phát dục trước và sau khi đẻ, nuôi con là một trong những biện pháp hữu hiệu để nâng cao năng suất sinh sản, hiệu quả chăn nuôi

2.2.3.2 Chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái chửa

* Dinh dưỡng lợn nái có chửa

Nguyên tắc nuôi lợn nái có chửa: cho ăn đúng khẩu phần, đảm bảo đủ chất dinh dưỡng, đặc biệt chú ý cho ăn đủ vitamin và khoáng chất Thiếu khoáng, xương lợn con phát triển kém, lợn nái chửa có nguy cơ bại liệt Thiếu vitamin, lợn con phát triển chậm, sức sống kém Không cho ăn quá nhiều tinh bột để chống béo, khó đẻ

- Nhu cầu dinh dưỡng của lợn chửa: đạm thô 13%, NLTĐ 2900 kcal/kg thức ăn

- Mức ăn cho lợn nái có chửa (kg thức ăn đã phối trộn/con/ngày)

Giai đoạn chửa kì I:

+ Với nái hậu bị: 1,6 - 1,8 kg/con/ngày cho ăn ngày 1 lần

+ Với nái dạ: 2 - 2,2 kg/con/ngày cho ăn ngày 1 lần

Giai đoạn chửa kì II:

+ Với nái hậu bị: 2,5 kg/con/ngày cho ăn ngày 2 lần

+ Với nái dạ: 3 kg/con/ngày cho ăn ngày 2 lần

- Mức ăn cho nái chửa còn tùy thuộc vào thể trạng của nái: nái quá gầy phải cho ăn thêm thức ăn tinh, nái quá béo phải giảm thức ăn tinh

- Vào mùa đông những ngày nhiệt độ dưới 15ºC, lợn nái cần cho ăn thêm 0,2

- 0,3 kg/con/ngày để bù phần năng lượng mất đi do chống rét

- Không được cho lợn nái chửa ăn thức ăn ẩm mốc, khô dầu bông, lá đu đủ

do dễ gây sảy thai

- Cho lợn uống nước tự do

* Chăm sóc lợn nái chửa

+ Cho lợn yên tĩnh tuần đầu tiên sau khi phối giống

+ Kiểm tra theo dõi lợn có chửa vào ngày thứ 21 và ngày thứ 42 sau khi phối xem có động dục trở lại không

Trang 22

+ Tắm: 1 lần/ngày vào những ngày nắng nóng

+ Tắt bớt quạt hông gió vào mùa đông, những ngày có nhiệt độ thấp

+ Vệ sinh chuồng trại hàng ngày, giữ cho lợn sạch sẽ, ấm áp mùa đông, thoáng mát mùa hè Xịt rửa gầm chuồng bắng nước pha sát trùng 1 lần/ngày

+ Không nên tiêm phòng, tẩy giun sán, tắm ghẻ vào tháng chửa đầu và trước

đẻ 15 ngày vì do tác động cơ hoành rất dễ sảy thai và đẻ non

+ Cần ghi chép ngày phối giống vào thẻ nái để tính toán ngày đẻ và có kế hoạch trực lợn đẻ

2.2.3.3 Chăm sóc lợn nái đẻ

Mục đích chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lợn đẻ an toàn, lợn con có

tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt, đủ khả năng tiết sữa nuôi con, nâng cao chất lượng đàn con

+ Quy trình dinh dưỡng

Theo Trần Văn Phùng và cs,(2004) [22]: thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao,dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn có

hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứvào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, đẻ trước 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh (0,5kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2 -3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 -5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái

+ Quy trình chăm sóc

Trang 23

Theo Trần Văn Phùng và cs,(2004) [22] việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Cần phải theo dõi thường xuyên sức khỏe lợn mẹ, quan sát bầu vú, thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện các trường hợp bất thường để có biện pháp xử lý kịp thời Trước khi lợn đẻ 10 -15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 -5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Trước khi đẻ 1 tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ, lợn nái đượclau rửa sạch sẽđất hoặc phân bám dính trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ

có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái,chúng ta chuyển nhẹ nhàng

từ chuồng chửa sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới

Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó

là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con.Ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ô úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc 7 -10 ngày tuổi) mà không

bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con Vào ngày dựkiến đẻ của lợn nái, cần chuẩn bị xong ô úm cho lợn con Kích thước ô úm: 1,2m x 1,5m Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống từ 3 - 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh

Trang 24

Bảng 2.2.Những biểu hiện khi lợn sắp đẻ

0 - 10 ngày Vú căng lên và cứng, âm hộ trương mộng

2 ngày Bầu vú cương cứng hơn và tiết ra chất lỏng trong

12 - 14 giờ Nái bồn chồn, tuyến vú bắt đầu tiết sữa

6 giờ Sữa tiết ra nhiều hơn qua 2 lỗ tia sữa

2 - 4 giờ Các vú đều có sữa non vọt thành tia dài

30 phút - 2 giờ Tăng nhịp thở, đi lại không yên

15 - 30 phút Âm hộ tiết ra dịch nhờn màu hồng có lẫn phân su

15 giây - 5 phút Nái nằm nghiêng 1 bên, hơi thở đứt quãng, ép bụng, ép

đùi, quẩy đuôi rặn đẻ

Theo Hoàng Thị Phi Phượng và cs (2013) [23]: lợn con sau khi đẻ nên sử dụng bột mistral để làm khô cơ thể giúp lợn con không bị lạnh, làm sạch và nhanh khô cuống rốn đề phòng nhiễm trùng rốn Lợn con nhanh cứng cáp sau khi sinh, dễ dàng tiếp xúc với vú mẹ và sớm được bú sữa đầu Đó chính là nguồn năng lượng cũng như tăng khả năng miễn dịch từ mẹ truyền cho con Sử dụng bột mistral ngăn chặn vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể ngay từ khi mới sinh ra, giảm tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy và viêm da, tỷ lệ hao hụt của lợn con thấp

Theo Nguyễn Văn Trí (2008) [28]: nếu lợn nái đẻ bọc thì phải xé bọc ngay, lấy nhanh hết dịch ở miệng và mũi, dùng vải mềm lau sạch mũi miệng cho lợn con Nếu lợn con đẻ ra mà bị ngạt thì hà hơi vào mồm lợn con, nâng 2 chân trước lên xuống trong 5 phút lợn con sẽ sống và khỏe dần

2.2.4 Một số bệnh hay gặp ở lợn nái sinh sản

2.2.4.1 Hội chứng viêm vú, viêm tử cung, mất sữa (MMA)

Theo trung tâm Chẩn đoán và cố vấn thú y (2010) [30] hội chứng viêm tử cung - viêm vú - mất sữa (MMA - Mastitis - Metritis - Agalactia) là một hội chứng phức hợp các căn nguyên bệnh trên lợn nái, bệnh thường xảy ra trong giai đoạn lợn nái trước và sau khi

đẻ Giống tên gọi của nó, hội chứng bao gồm hiện tượng viêm vú trên lợn nái (trong giai

Trang 25

đoạn trước khi đẻ), bệnh viêm tử cung ở lợn nái (trong giai đoạn sau đẻ khoảng 1 tuần), hiện tượng mất sữa ở lợn nái (trong giai đoạn lợn nái nuôi con) Hội chứng này nằm trong nhóm bệnh do quản lý, bởi vậy, ta hoàn toàn có thể khống chế được

Theo Nguyễn Thị Hồng Minh và cs (2013) [19], triệu chứng lâm sàng và điển hình của lợn nái mắc hội chứng MMA là: sốt, kém ăn, mệt mỏi, dịch viêm tử cung, không cho con bú, viêm sưng vú Số lượng hồng cầu, thể tích hồng cầu, nồng độ huyết sắc tố và huyết sắc tố trong 1 hồng cầu của lợn mắc hội chứng MMA đều cao hơn các chỉ tiêu ở lợn bình thường

Bệnh viêm vú trên lợn nái

*Nguyên nhân:

Lợn nái bị nhiễm khuẩn: trường hợp này, lợn nái có thể bị một số vi khuẩn

xâm nhập trong núm vú gây viêm vú: E.coli, Staphylococcus, Streptococcus,

Pseunomonas,

Lợn nái thiếu dinh dưỡng: trường hợp này hay gặp vào mùa nóng, lợn nái kém ăn trong khi nhu cầu dinh dưỡng trong lúc này đang cần rất cao để sản sinh ra sữa nuôi con Điều này dẫn đến lợn nái kém sữa, mất sữa

Lợn nái bị phù tuyến vú: nguyên nhân là do lợn nái ăn nhiều trước khi đẻ, lợn nái uống ít nước dẫn đến bị táo bón, hay cũng có thể do lợn nái bị stress Lợn nái bị dịch phù tích lại trong mô bào tuyến vú, dẫn đến các bầu vú cứng, lợn nái cảm thấy khó chịu (nhưng không cảm thấy đau) do sức ép của dịch phù

Lợn nái có tuyến vú kém phát triển: nguyên nhân có thể do di truyền, do hormone, do thiếu dinh dưỡng, độc tố nấm mốc, có thể dẫn đến tuyến vú của lợn nái kém phát triển, gây thiếu sữa, mất sữa

* Triệu chứng

Lê Hồng Mận, (2002) [17] cho biết, bình thường bệnh viêm vú xảy ra ngay sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 5 - 7 ngày có khi đến một tháng Viêm vú thường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú có màu hồng, sưng

đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứng đau Lợn nái giảm ăn, trường hợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42ºC kéo dài trong suốt thời gian viêm,

Trang 26

sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú Lợn con thiếu sữa kêu la chạy vòng quanh lợn mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy tọp, tỷ lệ chết cao 30 - 100% Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa

có những cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện những mảnh cazein màu vàng, xanh lợn cợn, đôi khi có máu

* Hậu quả của bệnh viêm vú

Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa, từ đó ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ

- Theo Nguyễn Đức Lưu và cs, (2004) [16] bệnh viêm tử cung và viêm vú là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm, mất sữa ở lợn nái nuôi con

- Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [2] mất sữa sau khi đẻ là do kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm cơ thể thường sốt cao liên tục 2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồi chức năng tiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra

ở lứa đẻ tiếp theo

Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa có nhiều chất độc, sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con bú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh và trọng lượng cai sữa thấp

Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khó chữa, lợn nái có thể chết

Viêm vú kéo dài dẫn đến teo đầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa đẻ sau

Bệnh viêm tử cung ở lợn nái

Bệnh viêm tử cung xảy ra trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau Lợn nái

đẻ ít lứa, nhiều lứa hay đang nuôi con đều có thể mắc bệnh song tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào yếu tố vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6] viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào, tổ

Trang 27

chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí mất khả năng sinh sản của gia súc cái

* Nguyên nhân bệnh viêm tử cung

Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [2], Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [13] bê ̣nh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được

vô trùng khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm

- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ

- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát

- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để dẫn đến viêm

- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao… gây viêm

- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm

Nguyễn Hoài Nam và cs (2016) [20] cho biết, hầu hết lợn nái can thiệp bằng tay sau khi đẻ đều mắc bệnh viêm tử cung (96,47%), trong khi đó lợn không có sự can thiệp bằng tay khi đẻ có tỷ lệ viêm tử cung là 69,06%

Đoàn Kim Dung và cs (2002) [5] cho biết, nguyên nhân gây viêm tử cung là

do vi khuẩn tu ̣ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E.coli…

* Triệu chứng:

Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4-5 ngày cá biệt tới 6-7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sang vàng hay trắng

Trang 28

và trong Trong trường hợp viêm thì sản dịch có thể có màu đen hôi thối, mùi tanh rất khó chịu

Theo Phạm Ngọc Thạch và cs, (2013) [25] bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:

+ Thể cấp tính: con vật sốt 41- 42ºC trong vài ngày đầu âm môn sưng tấy đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra màu trắng đục đôi khi có máu lờ lờ

+ Thể mãn tính: không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch nhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không liên tục mà chỉ chảy ra từng đợt

từ vài ngày đến 1 tuần Lợn nái thường thụ tinh không có kết quả hoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo tử cung lan sang thai làm chết thai

* Hậu quả của bê ̣nh viêm tử cung

Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con

Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6], Trần Thị Dân (2004) [3] cho biết: khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:

- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai

Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có thể bám chặt vào tử cung

Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiều prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết progesterone nữa, do đó hàm lượng progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung tăng nên gia súc cái có chửa

dễ bị sảy thai

- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai phát triển kém hoặc thai chết lưu

Trang 29

Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu

- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy

Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có mặt của

vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết kích thích tố

tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc

- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính không có khả năng động dục lại

Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết progesterone

Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được

và không thải trứng được

- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh

đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng

Để phát hiện là lợn nái có bị viêm hay không, ta có thể quan sát qua dịch tiết

từ tử cung từ đó phát hiện bệnh viêm tử cung ở lợn nái

* Điều trị:

Theo Trần Thị Thuận (2005) [27], thụt rửa tử cung, âm đạo bằng một số các dung dịch sau: nước muối NaCl 1 - 2%, thuốc tím KMnO4 0,1%, lugol 0,5 - 1%, rivanol 1 - 2%, thụt rửa 2 - 3 lần trong ngày đầy tiên, những ngày sau mỗi ngày một

Trang 30

lần Nếu con vật sốt, mệt mỏi tiêm thuốc toàn thân: kháng sinh penicillin + streptomycin hoặc ampicillin và thuốc trợ sức B - complex, cafein natribenzoat

Theo Phùng Quang Trường và cs (2016) [29]: lợn viêm tử cung tiêm dưới da

1 mũi 2 ml lutalyse, thụt rửa tử cung 100 ml dung dịch lugol 0,1% và sau đó là 100

ml dung dịch neomycin (5mg/kg)

2.2.4.2 Bệnh sót nhau

Trong quá trình sinh đẻ bình thường của lợn mẹ, sau khi sổ thai 10-60 phút thì nhau thai sẽ ra ngoài Nếu quá thời gian trung bình kể trên mà nhau thai không

được đẩy ra ngoài thì được gọi là sót nhau

* Nguyên nhân: Theo Văn Lệ Hằng và cs (2009) [9] bệnh sót nhau có thể do nhiều nguyên nhân

+ Giai đoạn chửa nhất là thời gian cuối lợn không được vận động thích hợp, dẫn đến cơ tử cung bị liệt, khi đẻ tử cung co bóp yếu, không đẩy được nhau và thai ra

+ Lợn nái bị viêm niêm mạc tử cung nên sau đẻ nhau không ra hết

+ Can thiệp vội vàng, thô bạo, không đúng kỹ thuật nên nhau thai bị đứt và sót lại

+ Tử cung co bóp kém không đẩy được nhau thai ra được

+ Lợn nái quá già, đẻ nhiều đuối sức, lợn mẹ quá gầy hoặc quá béo

+ Khẩu phần ăn thiếu khoáng, nhất là canxi

+ Tất cả những ca đẻ khó → ảnh hưởng đến quá trình co bóp của tử cung → giảm sức rặn của con mẹ

+ Nhau mẹ và nhau con dính lại với nhau do con vật mắc các bệnh truyền

nhiễm đặc biệt bệnh Brucellosis (sẩy thai truyền nhiễm), hoặc do cấu tạo của nhau

làm cho nhau mẹ và nhau con liên kết chặt chẽ

*Triệu chứng: theo Phạm Sỹ Lăng và cs, (2014) [14] căn cứ vào mức độ sát nhau người ta chia ra làm 3 loại:

+ Sát nhau hoàn toàn: toàn bộ nhau thai còn dính trên niêm mạc tử cung của con mẹ

Trang 31

+ Sát nhau không hoàn toàn: phía sừng tử cung không chứa nhau thai ở gia súc đơn thai, chứa ít thai ở gia súc đa thai thì nhau thai đã tách ra khỏi niêm mạc tử cung của con mẹ Phía còn lại nhau thai còn dính chặt trong tử cung

+ Sát nhau từng phần: phần lớn màng nhau đã tách khỏi niêm mạc tử cung, chỉ một phần màng nhung hoặc núm nhau con còn dính với niêm mạc tử cung của con mẹ

Biểu hiện triệu chứng khi lợn nái bị sót nhau: con vật đứng nằm không yên, nhiệt độ hơi tăng, thích uống nước, sản dịch chảy ra màu nâu Để dễ phát hiện có sót nhau hay không khi đỡ đẻ cho lợn người ta thường gom toàn bộ nhau lại cho đến khi lợn đẻ xong, đếm số nhau ra và số lợn con sẽ phát hiện lợn có sót nhau hay không

* Điều trị: theo Trịnh Đình Thâu và cs, (2010) [26] can thiệp kịp thời ngay khi nái có biểu hiện bệnh, không để quá muộn sẽ gây ra viêm tử cung, can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnh tay, tránh những tổn thương Tiêm oxytoxin dưới

da để kích thích co bóp tử cung cho nhau còn sót lại đẩy ra ngoài hết Sau khi nhau thai ra dùng nước muối sinh lý 0,9% để rửa tử cung trong ba ngày liên tục

- Tiêmoxytoxin dưới da để kích thích co bóp cơ trơn tử cung đẩy nhau ra hết

- Sau khi nhau ra, dùng thuốc tím nồng độ 0,1% hoặc nước muối 0,9% để rửa tử cung trong ba ngày liên tục

2.2.4.3 Bệnh bại liệt sau sinh

Là bệnh mà lợn mẹ mất khả năng vận động sau thời gian sổ thai

*Nguyên nhân gây bệnh

- Do thai quá to, tư thế và chiều hướng của thai không bình thường

- Quá trình thủ thuật kéo thai quá mạnh hay không đúng thao tác…

Trang 32

Từ đó gây tổn thương thần kinh tọa hoặc ảnh hưởng đến đám rối hông khum

→ lợn mẹ bại liệt

*Biểu hiện bệnh:

- Lúc đầu lợn mẹ đi lại khó khăn, về sau không đứng lên được mà nằm bẹp 1 chỗ

- Bệnh thường kế phát với 1 số bệnh ở hệ tiêu hóa, hô hấp như: chướng bụng đầy hơi, viêm phế quản cấp

- Nếu bệnh kéo dài, con vật dễ bị loét từng mảng da phía tiếp xúc với nền chuồng

- Sau 3 - 4 tuần con vật gầy dần và chết

*Biện pháp khắc phục

- Thao tác can thiệp kịp thời, đúng kỹ thuật

- Hằng ngày trở mình cho lợn mẹ → tránh bầm huyết, hoại tử da và kế phát với chướng bụng, đầy hơi

- Lấy dây bao tải cám xoắn lại buộc hay chân sau khép lại cho lợn đứng vững hơn

- Tăng cường thức ăn có bổ sung nguyên tố vi lượng nhất là canxi và phốt pho

- Tiêm mg-calcium cho lợn Đồng thời kết hợp với châm cứu

2.2.4.4 Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS)

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs, (2012) [10] nguyên nhân gây hội chứng rối

loạn hô hấp và sinh sản ở lợn là 1 vi rút thuộc họ Arterviridae gây nên Vi rút PRRS

chỉ gây bệnh cho lợn, lợn ở tất cả các lứa tuổi đều mẫn cảm, nhưng lợn con và lợn nái mang thai thường mẫn cảm hơn cả Loài lợn rừng cũng mắc bệnh, đây có thể coi

là nguồn dịch thiên nhiên

Nguyễn Bá Hiên và cs, (2013) [11] cho biết: triệu chứng bệnh thể hiện khác nhau tùy thuộc độc lực chủng vi rút, sức đề kháng của cơ thể, tính mẫn cảm của vật chủ, sự nhiễm trùng kế phát và các yếu tố quản lý đàn Ở lợn nái trong tháng đầu tiên khi bị nhiễm vi rút, lợn biếng ăn từ 7 - 14 ngày (10 - 15% đàn) Sốt 39ºC - 40ºC Sảy thai vào giai đoạn cuối (1 - 6%), đây là dấu hiệu đầu tiên nhận biết bệnh Tai chuyển màu xanh trong khoảng thời gian ngắn (2%) nên được gọi là “bệnh tai xanh” Lợn bị đẻ non (10 - 15%), động dục giả (3 - 5 tuần sau khi thụ tinh), đình dục hoặc chậm động dục lại sau khi đẻ Lợn ho và có dấu hiệu của viêm phổi

Trang 33

Theo Williamso (2012) [31] bệnh có triệu chứng sinh sản là: bệnh gây ra xảy thai muộn, chết sơ sinh, sơ sinh yếu, lợn con tầm vóc thay đổi trong cùng lứa và giữa các lứa, tăng tỷ lệ chết trước cai sữa và thường trở đi trở lại Các lứa đẻ có thể thấy thai bị chết ở các giai đoạn với các thai khô, đẻ ra chết ngay, sơ sinh bị yếu cùng với những lợn con còn sống của cùng một mẹ Lợn nái và các lợn đẻ lứa đầu

có thể ít có triệu chứng hoặc không thèm ăn thoáng qua, thể trạng chung xấu, có khi

có sốt và đôi khi bị chết Có thể thấy ho ở những lợn non hơn như lợn đẻ lứa đầu Khi sinh ra lợn con khả năng sống kém và lợn mẹ bị ảnh hưởng tiết sữa, tăng tỷ lệ chết trước cai sữa vì những nguyên nhân khác nhau và bất thường Tính trầm trọng của bệnh rất thay đổi theo các nguyên

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2013) [11],bệnh tích thường gặp: não sung huyết, phổi viêm tụ huyết hoặc xuất huyết, hạch amidan sưng, sung huyết, gan sưng, tụ huyết, lách sưng, nhồi huyết, thận xuất huyết đinh ghim, hạch màng treo ruột xuất huyết, loát van hồi manh tràng Lợn con sảy thai thường nhỏ, gầy còm

Theo Tiêu Quang An và Nguyễn Hữu Nam (2011) [1]: bệnh tích đại thể biểu hiện rõ ở các nội tạng như phổi, tim, lách, ruột, hạch ruột Đặc biệt bệnh tích ở phổi, phổi bẹp áp sát vào khung sườn, rìa phổi có dịch nhầy đặc giống như đờm, mặt cắt phổi có mủ, nhiều lợn bệnh có bệnh tích viêm phổi dính sườn Bệnh tích vi thể ở phổi, hạch phổi, hạch amidan, hạch ruột, sự tăng sinh và thoái hoá tế bào Bệnh tích

vi thể đặc trưng khi lợn mắc PRRS ở phổi, hạch phổi và hạch amidan rất rõ ràng 100% các tiêu bản thấy sung huyết và xuất huyết Các phế nang chứa đầy dịch rỉ viêm Sự thâm nhiễm tế bào và tăng sinh các nang lympho

Phòng bệnh: thực hiện các biện pháp chăn nuôi “cùng vào, cùng ra”; vệ sinh, sát trùng thường xuyên; tránh nhập lợn vào trại trong lúc dịch đang đe dọa; loại thải những lợn còi cọc bệnh nặng; kiểm soát nguồn tinh tốt; tiêm đây đủ vắc xin phòng bệnh

Điều trị: loại bỏ những conn bệnh quá nặng, tách những con bỏ ăn ra chuồng riêng, tuyệt đối không nhập lợn khỏe, lợn vừa cai sữa vào khu vực lợn bệnh Không tắm lợn đang có dấu hiệu bệnh mà chỉ rửa chuồng, vệ sinh Sát trùng chuồng trại ngày 1 - 2 lần Sử dụng cám có thuốc kháng sinh cho đến khi hết bệnh Dùng kháng

Trang 34

sinh phổ rộng như: amoxilin la, oxytetracyline la, tiamutilin… Dùng thuốc hạ sốt, giảm đau, kháng viêm nếu đàn có dấu hiệu sốt cao

2.2.4.5 Hiện tượng chậm động dục trở lại của lợn nái

Sau khi cai sữa cho lợn con, thông thường lợn mẹ sẽ động dục trở lại vào ngày thứ 4-7 (chiếm 85 - 90%) Nếu 10 ngày sau khi cai sữa lợn con mà không thấy lợn mẹ động dục trở lại thì lợn mẹ đó gọi là chậm động dục trở lại Bệnh thường gặp tại các cơ sở chăn nuôi có điều kiện nuôi dưỡng kém

- Do chuồng trại chật hẹp, lợn mẹ không thường xuyên được đi lại vận động nên sinh ra béo mập và làm cho cơ quan sinh dục không phát triển Chuồng nuôi quá nhiều lợn gặp thời tiết nắng nóng kéo dài cũng có thể làm rối loạn sinh sản

- Do lai tạo đồng huyết, cận huyết → giống lợn bị thoái hóa, chậm sinh, vô sinh Lợn nái có chửa sẽ khó đẻ, thai yếu và dễ sinh ra quái thai

- Do nội tiết bên trong cơ thể lợn: nhiều trường hợp trên buồng trứng có u nang và u nang này dẫn đến việc khả năng lợn không sinh sản là 4%

- Do nhiều nguyên nhân khác dẫn đến → rối loạn hormon sinh sản → thể

vàng không tiêu biến đi như bình thường → nồng độ hoocmon Progesteron tăng

cao → ức chế tiết hoocmon LH và FSH → ức chế quá trình động dục → lợn mẹ chậm động dục trở lại

*Cách phòng:

Trang 35

- Phòng ngừa bằng dinh dưỡng: cho lợn ăn với khẩu phần thức ăn cân đối đạm, canxi và vitamin, nhất là vitamin E

- Chăm sóc quản lý: cai sữa cho lợn con lúc 3-5 tuần tuổi và cho lợn nái tiếp xúc với lợn đực giống từ ngày đầu cai sữa lợn con

- Sử dụng kích dục tố tiêm cho lợn mẹ → thúc đẩy nhanh quá trình động dục lại

*Khắc phục:

- Kiểm tra lại thức ăn cho lợn xem thức ăn có đảm bảo chất lượng hay không

để có thể kịp thời loại bỏ thức ăn hôi mốc và cân đối lại các thành phần và giá trị dinh dưỡng như: chất bột, đường, đạm, khoáng cho hợp lý

- Cần bổ sung thức ăn giàu dinh dưỡng cho lợn, nhất là đạm, khoáng, vitamin Các chất này có nhiều trong thịt, cá, trứng, tôm, cua, khô dầu đậu, đỗ, dầu

cá, bí đỏ, giá đỗ nảy mầm, rau xanh non ngon

- Bổ sung vào cám cho lợn ăn hàng ngày các loại thuốc bổ trợ như vitamin

A, D, E, C, B.complex…

- Tiêm thuốc kích dục tố PGF2α cho lợn nái

- Nếu lần 1 không đậu thì tiếp tục cho phối lần 2, nếu đã qua 2 lần phối giống

mà vẫn không đậu thì nên loại thải

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước

2.3.1 Tổng quan các nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam một số nhà khoa học thú y đã có những nghiên cứu tổng kết về bệnh sinh sản trên đàn lợn nái Bệnh sinh sản có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái, nó không chỉ làm giảm sức sinh sản của lợn nái mà còn có thể làm cho nái mất khả năng sinh sản, chậm sinh hay làm giảm khả năng sống sót của lợn con

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs, (2002) [13] bệnh viêm tử cung do vi khuẩn

Streptococcus và Colibacilus nhiễm qua cuống rốn của lợn con sang lợn mẹ do đẻ

khó, sát nhau, sảy thai hay qua dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây xát tạo các ổ viêm nhiễm trong tử cung, âm đạo

Trang 36

Nguyễn Xuân Bình (2005) [2] cho biết: những nái bị viêm tử cung thường sốt theo quy luật sáng chiều (sáng sốt nhẹ, chiều sốt nặng)

Theo Trần Tiến Dũng và cs,(2002) [6] khi gia súc bị bệnh viêm tử cung ở thể viêm cơ, viêm tương mạc thì không nên tiến hành thụt rửa bằng các chất sát trùng với thể tích lớn Vì khi bị tổn thương nặng, cơ tử cung co bóp yếu, các chất bẩn không được đẩy ra ngoài, lưu trong đó làm cho bệnh nặng thêm Các tác giả đề nghị nên dùng oxytoxin kết hợp PGF2α hoặc kết hợp với kháng sinh điều trị toàn thân và cục bộ

Phạm Hữu Doanh và cs,(2003) [4] cho biết: trước khi đẻ lau, xoa vú và tắm cho nái Cho con đẻ đầu tiên bú ngay sau 1 giờ đẻ, cắt răng nanh lợn con Chườm nước đá vào bầu vú để giảm sưng, giảm sốt Tiêm kháng sinh penicillin 1,5 - 2 triệu đơn vị với 10ml nước cất tiêm quanh vú Nếu nhiều vú bị viêm thì pha loãng liều thuốc trên với 20 ml nước cất, tiêm xung quanh các vú viêm Tiêm trong 3 ngày liên tục

Theo Trần Tiến Dũng và cs,(2002) [6] bệnh viêm đường sinh dục ở lợn chiếm tỷ lệ cao từ 30 - 50%, trong đó viêm cơ quan bên ngoài ít, chiếm tỷ lệ 20%, còn lại 80% là viêm tử cung Viêm tử cung là một quá bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm hủy các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái

Theo Nguyễn Đức Lưu và cs, (2004) [16] trong quá trình mang thai lợn ăn khẩu phần nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc bị nhiễm một số bệnh truyền

nhiễm như: bệnh xoắn khuẩn (Leptospirosis), bệnh sảy thai truyền nhiễm

(Brucellosis) và một số bệnh truyền nhiễm khác làm cơ thể lợn nái yếu dần dẫn đến

lợn sảy thai, đẻ non, thai chết lưu dẫn đến viêm tử cung

Nguyên nhân chính dẫn đến bệnh viêm tử cung của nái là do: thiếu về dinh dưỡng, chăm sóc, quản lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi, tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe, kích dục tố, nhiễm trùng sau khi sinh Từ những yếu tố đó ta có thể đề ra phương pháp phòng bệnh viêm tử cung Do nhiễm vi khuẩn

Staphylococcus, Streptococcus vì các nguyên nhân như lợn con có răng nanh làm

Trang 37

xây xát vú mẹ tạo điều kiện vi trùng xâm nhập Lợn nái nhiều sữa con bú không hết làm sữa ứ đọng nhiều tạo môi trường cho vi trùng sinh sản gây viêm vú Lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng còn lại căng sữa quá nên viêm

2.3.2 Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài

Hiện nay, ngành chăn nuôi lợn trên thế giới đang rất phát triển, các nước không ngừng đầu tư cải tạo chất lượng đàn giống và áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi Tuy nhiên vấn đề hạn chế bệnh sinh sản là một vấn đề tất yếu cần phải giải quyết, đặc biệt là bệnh viêm đường sinh dục Đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về bệnh viêm đường sinh dục và đã đưa ra các kết luận giúp cho người chăn nuôi lợn nái sinh sản hạn chế được bệnh này Tuy vậy, tỷ lệ mắc bệnh viêm đường sinh dục trên đàn lợn nái sinh sản vẫn rất cao

Ở Pháp Pierre Brouillet và Bernard Farouilt (2003) [20] đã nghiên cứu và kết luận: điều trị bệnh viêm vú trong thời kỳ cho sữa là một yếu tố cơ bản trong khống chế bệnh viêm vú Nó phải được tiến hành sớm và đạt kết quả, xác định nguyên nhân không chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng mà phải tính đến các chỉ tiêu chăn nuôi và có thể dựa vào các kết quả của phòng thí nghiệm Sự hiểu biết đầy đủ các phương pháp điều trị, nhất là về dược lực học và dược động học cho phép đáp ứng tốt hơn cách điều trị

Trekaxova A.V (1983) [24] cho biết:chữa bệnh viêm vú cho lợn nái hướng vào việc đưa ra các phương pháp chữa kết hợp Dùng novocain phong bế phối hợp với điều trị bằng kháng sinh cho kết quả tốt Để phong bế thần kinh tuyến sữa, tác giả đã dùng dung dịch novocain 0,5% liều từ 30 - 40ml cho mỗi túi vú Thuốc tiêm vào mỗi thuỳ vú bệnh, sâu 88 - 10cm Dung dịch novocain còn được bổ sung 100 -

200 ngàn đơn vị penicillin hay kháng sinh khác Đồng thời, lợn nái còn được tiêm bắp cùng một loại kháng sinh trong novocain này, từ 400 - 600 đơn vị, mỗi ngày 2 -

Ngày đăng: 19/09/2018, 14:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w