Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa, giáo viên hướng dẫn và cơ sở thực tập em tiến hành thực hiện chuyên đề : “Áp dụng quy trình kỹ thuật trong phò
Trang 1TRƯỜNG ĐẠIHỌC NÔNG LÂM
PHỐ HÀ NỘI”
KHÓALUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠIHỌC
Hệ đàotạo : Chính quy Chuyên ngành : Thúy
Khóahọc : 2013– 2017
TháiNguyên, năm 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠIHỌC NÔNG LÂM
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này trước hết em xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu và bổ ích trong suốt những năm học vừa qua
Em xin dành lời cảm ơn sâu sắc tới Th.S Nguyễn Mạnh Cường đã tận tình giúp
đỡ và hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong khoa Thú y, đặc biệt là các thầy cô giáo trong bộ môn Vi sinh vật đã giúp đỡ em hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp này
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới ông Nguyễn Thanh Lịch, chủ trang trại cùng toàn thể anh em kỹ thuật, công nhân trong trang traị đã tạo điều kiện giúp đỡ cho em trong suốt quá trình thực tập
Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến toàn thể gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực tập tốt nghiệp
Trong quá trình thực tập vì chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế, chỉ dựa vào kiến thức đã học cùng với thời gian hạn hẹp nên báo cáo không tránh khỏi sai sót Kính mong được sự góp ý nhận xét của quý thầy cô để giúp cho kiến thức của em ngày càng hoàn thiện và có nhiều kinh nghiệm bổ ích cho công việc sau này
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2017
Sinh viên
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Lịch sát trùng tại trại 34
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi của trại trong 3 năm gần đây 45
Bảng 4.2 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 45
Bảng 4.3 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại 47
Bảng 4.4 Kết quả điều trị cho đàn lợn tại trại 48
Bảng 4.5 Kết quả thực hiện phẫu thuật trên đàn lợn con 49
Bảng 4.6 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn 50
Bảng 4.7 Tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi qua các tháng 52
Bảng 4.8 Kết quả điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con 53
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1.Điều kiện cơ sở 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 3
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại 4
2.1.3 Thuận lợi và khó khăn của trại 3
2.2 Cơ sở khoa học của chuyên đề 4
2.2.1 Đặc điểm sinh lý của lợn con 4
2.2.2 Hiểu biết về hội chứng tiêu chảy 8
2.2.3 Nguyên nhân gây ra hội chứng tiêu chảy 10
2.2.4 Cơ chế sinh bệnh 18
2.2.5 Triệu chứng 20
2.2.6 Bệnh tích 21
2.2.8 Biện pháp phòng và trị tiêu chảy cho lợn 22
2.3 Tình hình nghiên cứu hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ trong và ngoài nước 27
Trang 72.3.1 Nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy trong nước 27
2.3.2 Nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy ngoài nước 30
PHẦN 3:ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 31
3.1 Đối tượng theo dõi 31
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 31
3.3 Nội dung thực hiện 31
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 31
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 31
3.4.2 Một số công thức tính các chỉ tiêu theo dõi 31
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 32
3.4.4 Phương pháp thực hiện 32
3.4.5 Chẩn đoán và điều trị bệnh gặp trên đàn lợn nái và lợn con tại trại 37
3.4.6.Các công tác khác 42
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 44
4.1 Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh tại trại 45
4.1.1 Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại 45
4.1.2 Kết quả phòng, trị bệnh cho đàn lợn tại trại bằng thuốc và vắc xin 46
4.2 Kết quả thực hiện biện pháp phẫu thuật trên đàn lợn con tại trại 49
4.3.Kết quả áp thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nuôi tại trại 50
4.4 Kết quả theo dõi và điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 51
4.4.1 Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 51
4.4.2 Kết quả điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn 52
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỂ NGHỊ 54
Trang 85.1 Kết luận 54
5.2 Đề nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
I Tài liệu Tiếng Việt 56
II Tài liệu Tiếng Anh 59
Phụ Lục
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1.Đặt vấn đề
Chăn nuôi ngày càng có vị trí hết sức quan trọng trong cơ cấu của ngành nông nghiệp Chăn nuôi không những cung cấp một lượng lớn thực phẩm cho nhu cầu tiêu thụ trong nước mà còn cung cấp cho xuất khẩu Sản phẩm của ngành chăn nuôi là nguồn thực phẩm không thể thiếu được đối với nhu cầu đời sống con người Chủ trương hiện nay của nhà nước là phát triển ngành chăn nuôi thành ngành sản xuất hàng hóa nhằm tạo ra sản phẩm chăn nuôi có chất lượng cao, phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và một phần cho xuất khẩu
Nói đến ngành chăn nuôi phải kể đến chăn nuôi lợn bởi tầm quan trọng
và ý nghĩa thiết thực của nó đối với đời sống kinh tế - xã hội của nhân dân Chăn nuôi lợn đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập và là cơ hội làm giàu cho nông dân Là nguồn cung cấp thực phẩm với tỷ trọng cao và chất lượng cho con người, phân bón cho ngành trồng trọt, các sản phẩm như da, mỡ cho ngành công nghiệp chế biến, ngoài
ra chăn nuôi còn góp phần giữ vững cân bằng sinh thái giữa cây trồng, vật nuôi và con người
Ngành chăn nuôi lợn nước ta đã và đang từng bước đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tế sản xuất, từ khâu cải tạo con giống, nâng cao chất lượng thức ăn đến việc hoàn thiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng Tuy vậy, bên cạnh những tiến bộ đạt được, chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng còn gặp không ít khó khăn, đặc biệt là vấn đề dịch bệnh diễn biến ngày càng phức tạp Dịch bệnh thường xuyên xảy ra đã gây nhiều thiệt hại, làm hạn chế sự phát triển, giảm hiệu quả kinh tế của ngành chăn nuôi Trong đó hội chứng tiêu chảy với đặc điểm dịch tễ hết sức phức tạp đang gây nên những thiệt hại to lớn, làm giảm năng suất, chất lượng đàn vật nuôi nói chung và
Trang 10chăn nuôi lợn nói riêng Ở Việt Nam tỷ lệ lợn mắc hội chứng tiêu chảy rất cao, có địa phương lên tới 70% - 80%, tỷ lệ chết 18% - 20% Lợn mắc bệnh tiêu chảy không chết cũng còi cọc và chậm phát triển
Hội chứng tiêu chảy xảy ra ở các giống lợn mọi lứa tuổi, gây hậu quả nghiêm trọng và tổn thất rất lớn Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa, giáo viên hướng dẫn và cơ sở thực tập em
tiến hành thực hiện chuyên đề : “Áp dụng quy trình kỹ thuật trong phòng và
trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại lợn Nguyễn Thanh Lịch, xã Ba Trại, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục tiêu
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại cơ sở
-Xác định được quy trình phòng, trị bệnh và nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn con tại trại
1.2.2 Yêu cầu
- Nắm vững quy trình phòng, trị bệnh và nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn
con tại trại
- Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở
- Chăm chỉ, học hỏi để năng cao kỹ thuật, tay nghề của cá nhân
Trang 11PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1.Điều kiện cơ sở
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập
Trại lợn của ông Nguyễn Thanh Lịch thuộc thôn 6, xã Ba Trại, huyện Ba
Vì, thành phố Hà Nội Xã Ba Trại là một trong 7 xã miền núi thuộc huyện Ba
Vì, nằm dưới chân núi Ba Vì Nhìn chung địa hình của xã phần lớn là đồi gò,
độ cao các quả đồi chênh nhau từ 5 đến 20 mét, độ dốc không lớn Diện tích ruộng có 730 mẫu bắc bộ phần lớn là ruộng chằm, diện tích còn lại là đất đồi Đặc điểm chung của Ba Trại bị chi phối bởi các yếu tố vĩ độ Bắc, cơ chế gió mùa, sự phối hợp giữa gió mùa và vĩ độ tạo nên khí hậu nhiệt đới ẩm với mùa đông lạnh và khô Nhiệt độ bình quân năm trong khu vực là 23,40
C
Trại có diện tích đất là 2 ha, được xây dựng cách xa với đường lớn, xa trường học và nơi ít dân cư sinh sống, bao quanh trại chủ yếu là đồi cây và cách xa trại là cánh đồng lúa Trại nằm trên địa hình khá cao ráo dễ thoát nước vào mùa mưa nhiều Xung quanh các chuồng nuôi được trồng cây tạo
bóng râm mát cho mùa hè
Trang trại chăn nuôi Nguyễn Thanh Lịch nằm trên địa bàn xã Ba Trại, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội Được thành lập và đi vào sản xuất từ năm
2010 với số vốn đầu tư lên tới 18 tỷ đồng, trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản cho công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam (chi nhánh của Tập đoàn CP Thái Lan) cung cấp giống lợn con của cái Landrace – Yorkshire với đực Pietrain – Duroc Khu sản xuất gồm 3 chuồng đẻ và 1 khu chuồng bầu, 3 chuồng cách ly, nuôi 1.237 lợn nái, 160 lợn nái hậu bị, 13 lợn đực khai thác,
10 lợn đực hậu bị Lợn sau khi sinh 18 đến 21 ngày thì được cai sữa Mỗi năm
trang trại cho xuất ra thị trường khoảng 25.000 – 30.000 lợn con
Với việc chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp, các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi của trại được thực hiện chủ động và tích cực Vệ sinh phòng bệnh nhằm nâng cao sức đề kháng cho đàn lợn luôn là vấn đề được đặc biệt
Trang 12quan tâm Cùng với việc vệ sinh thức ăn, nước uống, vật nuôi, dụng cụ chăn nuôi, sinh sản… thì việc vệ sinh chuồng trại, cải tạo tiểu khí hậu chuồng nuôi luôn được cán bộ kỹ thuật và đội ngũ công nhân kỹ thuật thực hiện chặt chẽ
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại
Đội ngũ cán bộ kỹ thuật và nhân viên của trại gồm 21 người, bao gồm:
14 công nhân và sinh viên thực tập
2.1.3 Thuận lợi và khó khăn của trại
+ Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,
do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay
2.2 Cơ sở khoa học của chuyên đề
2.2.1 Đặc điểm sinh lý của lợn con
Sinh lý của lợn con theo mẹ là khả năng thích ứng của cơ thể từ môi trường trong bụng mẹ có nhiệt độ từ 38 – 40oC ra môi trường bên ngoài có
Trang 13nhiệt độ thấp hơn, làm ảnh hưởng đến sự thành thục và hoàn thiện về chức năng của các cơ quan bên trong cơ thể lợn sơ sinh
Cơ năng điều tiết thân nhiệt
Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con còn kém do:
+ Hệ thần kinh của lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh Trung khu điều tiết thân nhiệt ở vỏ não mà não của gia súc là cơ quan phát triển muộn nhất ở
cả hai giai đoạn trong và ngoài thai
+ Diện tích bề mặt của cơ thể lợn con so với khối lượng cơ thể cao hơn lợn trưởng thành nên lợn con dễ bị nhiễm lạnh (Đào Trọng Đạt và
Sau khi đẻ 1 giờ nếu lợn con được bú sữa đầu thì 8–12 giờ sau thân nhiệt
sẽ ổn định, nếu sau 4 giờ mới được bú sữa đầu thì sau 18–24 giờ thân nhiệt mới đạt mức bình thường Như vậy quy định không quá 2 giờ nếu lợn mẹ chưa đẻ xong phải cho những lợn con đã sinh bú sữa đầu Lợn con rất mẫn cảm với nhiệt độ vì khi ra khỏi cơ thể mẹ lợn con chưa thể thích ứng được với môi trường bên ngoài, cơ quan điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh Khả năng
tự điều hòa thân nhiệt của lợn con tăng chậm từ khi mới sinh cho đến 2 tuần tuổi, do vậy trong 2 tuần tuổi chúng rất dễ mẫn cảm với thay đổi lớn của nhiệt
độ bên ngoài Mỗi loài gia súc, đều có một giới hạn sinh thái về nhiệt độ và
ẩm độ nhất định, độ ẩm không khí trong chuồng nuôi cao là điều bất lợi cho
Trang 14lợn con, bởi vì độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn phát triển, ngoài ra độ ẩm càng cao thì nhiệt độ trong chuồng càng giảm Cho nên việc quản lý độ ẩm và nhiệt độ trong chuồng nuôi phù hợp với mọi lứa tuổi của lợn và nhiệt độ trong chuồng nuôi được ổn định là rất quan trọng
Đặc điểm tiêu hóa của lợn con
Sau khi sinh ra, chức năng của các cơ quan trong cơ thể lợn con nhất là
cơ quan tiêu hoá chưa thành thục Hàm lượng HCl và các men tiêu hoá chưa hoàn thiện Thời gian đầu, dịch tiêu hoá ở lợn con thiếu cả về chất và lượng Lợn con trước một tháng tuổi hoàn toàn không có HCl tự do vì lúc này lượng HCl tiết ra rất ít và nhanh chóng liên kết với niêm dịch
Ở lợn con từ 14 – 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu axit HCl ở dạ dày không còn gọi là trạng thái bình thường nữa Việc tập cho lợn con ăn sớm có tác dụng thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện Vì thế sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl Bởi vì khi được bổ sung thức ăn thì thức ăn sẽ kích thích tế bào vách dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị (giai đoạn con non khác với con trưởng thành là chỉ tiết dịch vị khi thức ăn vào dạ dày)
Lợn con dưới 1 tháng tuổi, dịch vị không có HCl tự do, lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng kết hợp với dịch nhày của dạ dày, hiện tượng này gọi là hypohydric Do dịch vị chưa có HCl tự do nên men pepsin trong dạ dày lợn chưa có khả năng tiêu hóa portein của thức ăn Vì HCl tự do có tác dụng kích hoạt men pepsinnogen không hoạt động thành men pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hóa protein
Khả năng của hệ miễn dịch ở lợn con
Phản ứng miễn dịch là khả năng đáp ứng của cơ thể Phần lớn các chất lạ là mầm bệnh Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể lợn con tương đối dễ dàng, do chức năng của các tuyến chưa hoàn chỉnh Ở lợn con lượng enzym tiêu hoá và lượng
Trang 15HCl tiết ra còn ít, chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối loạn trao đổi chất, dẫn tới khả năng tiêu hoá kém, hấp thu kém Trong giai đoạn này mầm bệnh dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hoá và gây bệnh
Lợn con mới đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể Lượng kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ Cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ
Theo Trần Thị Dân (2008) [4]: Lợn con mới đẻ trong máu không có globulin, nhưng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹ sang qua sữa đầu Lượng globulin sẽ giảm sau 3 – 4 tuần, rồi đến tuần thứ 5 – 6 lại tăng lên và đạt giá trị bình thường 65 mg/100 ml máu Các yếu tố miễn dịch như bổ thể, lyzozyme, bạch cầu… được tổng hợp còn ít, khả năng miễn dịch đặc hiệu của lợn con kém Vì vậy cho lợn con bú sữa đầu rất cần thiết để tăng khả năng bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh, nhất là bệnh lợn con phân trắng
Hệ vi sinh vật đường ruột
Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2004) [27], hệ vi sinh vật đường ruột gồm hai nhóm:
+ Nhóm vi khuẩn đường ruột – vi khuẩn bắt buộc gồm: E.Coli,
Salmonella, Shigella, Klesiella, Proteus… Trong nhóm vi khuẩn này, người ta
quan tâm nhiều nhất đến trực khuẩn E.Coli Đây là vi khuẩn phổ biến nhất
hành tinh, chúng có mặt ở mọi nơi và khi gặp điều kiện thuận lợi, các
chủng E.Coli trở nên cường độc gây bệnh Cấu trúc kháng nguyên của E
Coli rất đa dạng
Theo Bertschinger H U (1999) [37], cho đến nay đã phát hiện có ít nhất
170 kháng nguyên O, 70 kháng nguyên K, 56 kháng nguyên H Ngoài 3 loại kháng nguyên thông thường trên, còn có thêm kháng nguyên bám dính F, yếu
tố gây bệnh không phải là độc tố của E.Coli (Đặng Xuân Bình, 2010) [3]
Trang 16Nhu cầu về một số chất dinh dưỡng và chất khoáng
+ Nhu cầu protein: Lợn con sinh trưởng phát triển nhanh, trong thời gian
bú sữa nguồn năng lượng được cung cấp chủ yếu từ phân giải đường và 1 phần nhỏ protein Nhưng protein chủ yếu là nguyên liệu cho sinh trưởng và phát triển, do vậy nhu cầu về protein rất lớn Như vậy, trong thức ăn tập ăn
của lợn con cần 20-22% protein thô
+ Nhu cầu về lipit: Trong thời kì bú sữa, nhu cầu về lipit rất thấp vì khả
năng tiêu hóa lipit rất thấp
+ Nhu cầu về gluxit: Thời kì từ sơ sinh đến cai sữa nguồn năng lượng do gluxit cung cấp chiếm 70-80% do vậy nhu cầu về gluxit cũng rất lớn, ngoài nguồn có từ sữa( chủ yếu là từ đường lactoza) lúc nhỏ, đến khi tập ăn, ngoài
nguồn từ sữa lợn con được cung cấp qua thức ăn tập ăn(gluxit chiếm 70-75%)
+Nhu cầu về khoáng: Khoáng chiếm 4-5% khối lượng cơ thể, có 3
nhóm khoáng:
Đa lượng: Ca, P, Na, Mn, Cl, Fe, S
Vi lượng: Cu, Mo, Mg, Zn, Al, F
Siêu vi lượng: Acemic, bismus, thủy ngân
+ Nhu cầu Vitamin: Vitamin là chất xúc tác sinh học tổng hợp, tham gia vào một số men tiêu hóa phân giải các chất dinh dưỡng, tham gia cấu tạo màng tế bào Lượng vitamin vô cùng nhỏ, nhưng lại có tác dụng rất lớn cho sinh trưởng, phát dục và sinh sản
+Nhu cầu về nước: Nước chiếm 50-60% khối lượng cơ thể, trong máu nước chiếm 80 – 95% Cơ thể mất 10% nước sẽ gây rối loạn chức năng trao đổi chất, nếu mất 20% lượng nước lợn con sẽ chết
2.2.2 Hiểu biết về hội chứng tiêu chảy
Tiêu chảy là thuật ngữ chỉ hiện tượng đại tiện phân lỏng, được mô tả là phân lỏng, nhiều nước, có máu hoặc mủ Tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của
Trang 17quá trình bệnh lý ở đường tiêu hóa, là hiện tượng con vật đi ỉa nhanh, nhiều lần trong ngày, phân có nhiều nước do rối loạn chức năng tiêu hóa, ruột tăng cường co bóp và tiết dịch (Phạm Ngọc Thạch, 1996) [29] Hoặc chỉ phản ánh đơn thuần sự thay đổi tạm thời của phân gia súc bình thường khi gia súc đang thích ứng với những thay đổi trong khẩu phần ăn Tiêu chảy xảy ra ở nhiều bệnh và bản thân nó không phải là bệnh đặc thù (Archie H, 2000) [12]
Tuỳ theo đặc điểm, tính chất, diễn biến bệnh, hoặc loài gia súc, hoặc nguyên nhân chính gây bệnh mà hội chứng tiêu chảy được gọi bằng tên khác nhau như bệnh xảy ra đối với gia súc non theo mẹ, gọi là bệnh lợn con ỉa phân trắng, hay bê nghé ỉa phân trắng,… còn ở gia súc sau cai sữa
là chứng khó tiêu, chứng rối loạn tiêu hoá, hoặc hội chứng rối loạn tiêu hoá Nếu xét về nguyên nhân chính gây bệnh thì có các tên gọi như bệnh
Colibacillosis do vi khuẩn E Coli gây ra, bệnh Phó thương hàn lợn do vi
khuẩn Samonella cholerae suis gây ra, bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE) do Coronavirus gây ra …
Thực chất tiêu chảy là một phản ứng tự vệ của cơ thể, nhưng khi cơ thể tiêu chảy nhiều lần trong ngày (5 đến 6 lần trở lên) và nước trong phân từ 75% trở lên gọi là hiện tượng tiêu chảy Tiêu chảy do nhiều nguyên nhân gây ra đồng thời nên gọi là hội chứng tiêu chảy Cho dù do bất cứ nguyên nhân nào dẫn đến tiêu chảy thì hậu quả nghiêm trọng là mất nước, mất chất điện giải và kiệt sức, những gia súc khỏi thường bị còi cọc, thiếu máu, chậm lớn Đặc biệt khi gia súc bị tiêu chảy nặng kèm hiện tượng viêm nhiễm, tổn thương thực thể đường tiêu hóa dẫn đến gia súc có thể chết với tỷ lệ cao, gây thiệt hại lớn về kinh tế
Trang 182.2.3 Nguyên nhân gây ra hội chứng tiêu chảy
Do vi khuẩn
Khi nghiên cứu về nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy nhiều tác giả đã kết luận rằng trong bất cứ trường hợp nào của bệnh cũng có vai trò tác động của vi khuẩn
Trong đường ruột của gia súc nói chung và của lợn nói riêng, có rất nhiều loài vi sinh vật sinh sống Vi sinh vật trong đường ruột tồn tại dưới dạng hệ sinh thái Hệ sinh thái vi sinh vật đường ruột ở trạng thái cân bằng động theo hướng có lợi cho cơ thể vật chủ Hoạt động sinh lý của gia súc chỉ diễn ra bình thường khi mà hệ sinh thái đường ruột luôn ở trạng thái cân bằng
Sự cân bằng này biểu hiện ở sự ổn định của môi trường đường tiêu hóa của con vật và quan hệ cân bằng giữa các nhóm vi sinh vật với nhau trong hệ vi sinh vật đường ruột Dưới tác động của các yếu tố gây bệnh, trạng thái cân bằng này bị phá vỡ dẫn đến loạn khuẩn và hậu quả là lợn bị tiêu chảy Nhiều tác giả nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy đã chứng minh rằng khi gặp những điều kiện thuận lợi, những vi khuẩn thường gặp ở đường tiêu hóa sẽ tăng độc tính, phát triển với số lượng lớn trở thành có hại và gây bệnh
- Các vi khuẩn gây hội chứng tiêu chảy chủ yếu là:
+ Escherichia coli (thường được viết tắt là E Coli) hay còn được gọi là
vi khuẩn đại tràng,là một trong những loài vi khuẩn chính ký sinh trong đường ruột của động vật máu nóng (bao gồm chim và động vật có vú) Vi khuẩn này cần thiết trong quá trình tiêu hóa thức ăn và là thành phần của khuẩn lạc ruột
Sự có mặt của E Coli trong nước ngầm là một chỉ thị thường gặp cho ô nhiễm phân E Coli thuộc họ vi khuẩn Enterobacteriaceae và thường được sử
dụng làm sinh vật mô hình cho các nghiên cứu về vi khuẩn
Trang 19Hình thái: E Coli là một trực khuẩn Gram âm, hình gậy ngắn, kích thước 0,6
x 2 -3µ Khi ở trong cơ thể động vật E colicó hình cầu trực khuẩn đứng riêng
lẻ, đôi khi xếp thành chuỗi ngắn, có lông xung quanh thân nên có thể di động được, không hình thành nha bào, có thể có giáp mô
Độc tố: Vi khuẩn E Coli tạo ra 2 loại độc tố: Nội độc tố và ngoại độc tố
Ngoại độc tố: Là một chất không chịu được nhiệt, dễ bị phá hủy ở 56o
C trong vòng 10 – 30 phút Dưới tác dụng của formol và nhiệt, ngoại độc tố chuyển thành giải độc tố Ngoại độc tố có tính thần kinh và gây hoại tử
Nội độc tố: Là yếu tố gây độc nằm trong tế bào vi khuẩn và gắn với tế bào vi khuẩn rất chặt Nội độc tố có tính kháng nguyên hoàn toàn, chịu nhiệt
và có khả năng sinh choáng mạch máu
+ Salmonella: Salmonella thuộc họ Enterobacteriaceae Các loại gây
bệnh có thể kể đến như: Salmonella typhymurium,Salmonella
enteritidis…Đây là những trực khuẩn Gram âm, hiếu khí tùy ý, hầu hết các Salmonella đều có lông xung quanh thân (trừ Salmonella gallinarum và Salmonella pullorum) vì vậy chúng có khả năng di động, không sinh nha bào,
kích thước khoảng 0,4 – 0,6 x 1 – 3 µm
Salmonella lên men glucose có sinh hơi (trừ Salmonella typhy lên men
glucose không sinh hơi) không lên men lactose, indol âm tính, đỏ methyl dương tính, VP âm tính, urease âm tính H2S dương tính( trừ Salmonella paratyphi A:
Nhiệt độ phát triển từ 5 – 45oC, thích hợp ở 37oC, pH thích hợp = 7,6 nhưng nó có thể phát triển được ở pH từ 6 – 9 Với pH >9 hoặc < 4,5 vi khuẩn
có thể bị tiêu diệt, khả năng chịu nhiệt của vi khuẩn kém: ở 50oC trong 1 giờ,
ở 70o
C trong 15 phút và 100oC trong 5 phút
Ở nồng độ muối 6 – 8% vi khuẩn phát triển chậm và ở nồng độ muối là 8 - 19% sự phát triển của vi khuẩn bị ngừng lại (Nguyễn Như Thanh và cs, 2004) [27]
Trang 20Phạm Sỹ Lăng (2009) [19] cho biết, hội chứng tiêu chảy ở lợn do các
vi khuẩn chủ yếu sau:
* Nguyên nhân do vi khuẩn E coli:
E coli thuộc họ trực khuẩn Enterobacteriaceae, giống Escherichia E coli là một trực khuẩn hình gậy ngắn, bắt màu Gram âm, sống trong điều kiện
hiếu khí, yếm khí tuỳ tiện, phần lớn di động Chúng phát triển dễ dàng trên các môi trường nuôi cấy thông thường
Các yếu tố gây bệnh của E coli: Yếu tố bám dính, khả năng dung huyết,
độc tố đường ruột (enterotoxin)
+ Yếu tố bám dính: Kháng nguyên (yếu tố) bám dính K88 (F4) là một
trong những yếu tố gây bệnh đầu tiên, quan trọng của các chủng E coli độc
+ Khả năng dung huyết: Dung huyết là một yếu tố độc lực quan trọng
của các chủng E coli gây tiêu chảy ở lợn
+ Độc tố đường ruột: Enterotoxin của E coli quyết định mức độ tiêu
chảy của lợn ( Trương Quang và cs, 2007) [23]
* Nguyên nhân do Salmonella
Salmonella thuộc họ trực khuẩn đường ruột Enterobacteriaceae, là một
loại vi khuẩn có hình gậy ngắn, hai đầu tròn, không hình thành nha bào, giáp
mô Đa số Salmonella có khả năng di động, bắt màu Gram âm, vừa hiếu khí
xuất hiện của virus đã làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa, suy giảm sức
đề kháng của cơ thể và gây ỉa chảy ở thể cấp tính
Trang 21* Bệnh viêm ruột dạ dày truyền nhiễm (TGE)
Virus TGE (Transmissible gastro enteritis) được chú ý nhiều trong hội
chứng tiêu chảy ở lợn Virus xuất hiện năm 1935 tại Mỹ và được mô tả lần đầu tiên vào năm 1945 Tại Châu Á bệnh xuất hiện ở Triều Tiên năm 1981; Thái Lan năm 1987… (Niconxki V V, 1986 [37], Đào Trọng Đạt và cs, 1995 [10]) Virus TGE gây bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm ở lợn, là một bệnh có tính chất truyền nhiễm cao, biểu hiện đặc trưng là nôn mửa và tiêu chảy nghiêm trọng Bệnh thường xảy ra ở các cơ sở chăn nuôi tập trung khi thời tiết rét, lạnh Ở lợn, virus nhân lên mạnh nhất trong niêm mạc của không tràng và
tá tràng rồi đến hồi tràng
* Bệnh tiêu chảy truyền nhiễm ở lợn (PED)
Bệnh PED do một loại Coronavirus có tên CV777 gây ra Bệnh xảy ra
với lợn mọi lứa tuổi Đặc tính kháng nguyên của loại virus này hoàn toàn khác kháng nguyên của virus gây bệnh TGE Thể bệnh PED giống như thể bệnh TGE, nhưng nhẹ hơn vì bệnh PED chỉ gây chết khoảng 60% lợn con dưới 21 ngày tuổi, 15% lợn vỗ béo (Đào Trọng Đạt và cs, 1995) [10]
Lợn mắc PED thường có triệu chứng nôn mửa, con vật có biểu hiện đau bụng Virus phá huỷ lông nhung của ruột (đặc biệt là không tràng và hồi tràng) Lợn bỏ ăn uống nhiều nước, thích nằm chúi đầu vào nhau, nằm lên bụng mẹ
Mổ khám thấy ruột non mỏng, ruột bị căng phồng chứa nhiều nước màu vàng
* Bệnh do Rotavirus
Bệnh tiêu chảy do Rotavirus thường xảy ra ở lợn đang bú từ 1 tới 6 tuần
tuổi và cao nhất ở lợn khoảng 3 tuần tuổi.Nguyên nhân có thể do lúc 3 tuần tuổi lượng kháng thể ở sữa mẹ giảm, trong khi đó lợn vừa tập ăn chưa quen với loại thức ăn mới, từ đó tạo điều kiện cho bệnh xảy ra
Trang 22Biểu hiện đặc trưng của bệnh là lợn đi ỉa phân màu trắng hoặc vàng, phân lợn lỏng như nước, sau đó vài giờ hoặc 1 ngày phân sẽ đặc hơn và có dạng như kem rồi keo quánh trước khi trở lại bình thường
Lợn tiêu chảy gầy sút rõ rệt, lông xù Sau khi khỏi bệnh lợn còi cọc, chậm lớn, biếng ăn, còn ở lợn lớn không có biểu hiện lâm sàng (Đào Trọng Đạt và cs, 1995) [10]
Bệnh tích: Thành ruột non mỏng, dạ dày chứa cục sữa hơi vàng lổn nhổn, không tiêu mùi chua (Niconxki V V, 1986)[38]
Do ký sinh trùng
Ký sinh trùng ký sinh trong đường tiêu hóa là một trong những nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy Khi ký sinh trong đường tiêu hóa ngoài việc chúng cướp đoạt chất dinh dưỡng của vật chủ, tiết độc tố đầu độc cơ thể vật chủ, chúng còn gây tác động cơ giới làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa
và là cơ hội khởi đầu cho một quá trình nhiễm trùng Có rất nhiều loại ký sinh trùng đường ruột tác động gây ra hội chứng tiêu chảy như: Sán lá ruột lợn
(Fasciolopsis buski), giun đũa lợn (Ascaris suum)…
Khi nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại Thái Nguyên, Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [17], đã có kết luận: cầu trùng và một số loại giun tròn (giun đũa, giun tóc, giun lươn) là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn con
Giun sán ở đường tiêu hóa có vai trò rõ rệt trong hội chứng tiêu chảy ở lợn
từ sau cai sữa Ở lợn bình thường và lợn bị tiêu chảy đều nhiễm các loại giun đũa, giun lươn, giun tóc và sán lá ruột, nhưng lợn tiêu chảy thấy nhiễm giun sán với tỷ lệ cao hơn và nặng hơn (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2009) [18]
Một số nguyên nhân khác
* Do thời tiết khí hậu
Trang 23Ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức đề kháng của cơ thể gia súc Khi điều kiện thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, quá nóng, quá lạnh, mưa gió, ẩm độ, vệ sinh chuồng trại, đều là các yếu tố stress có hại tác động đến tình trạng sức khỏe của lợn
Ở lợn con, do cấu tạo và chức năng sinh lý của các hệ cơ quan chưa ổn định, hệ thống tiêu hóa, miễn dịch, khả năng phòng vệ và hệ thống thần kinh đều chưa hoàn thiện Vì vậy lợn con là đối tượng chịu tác động của điều kiện ngoại cảnh mạnh nhất, bởi các phản ứng thích nghi và bảo vệ của cơ thể còn rất yếu
Theo Đoàn Thị Kim Dung (2004) [5], các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thể còn rất yếu
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy điều kiện môi trường sống lạnh, ẩm đã làm thay đổi các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu của lợn, biến đổi về chức năng và hình thái của hệ tuần hoàn, hệ nội tiết, liên quan đến phản ứng điều hòa nội mô Trong những trường hợp như thế sức đề kháng của cơ thể giảm đi là điều kiện để cho các vi khuẩn đường ruột tăng số lượng độc tính và gây bệnh
* Do thức ăn và kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng
Vấn đề chăm sóc nuôi dưỡng có vai trò hết sức quan trọng trong chăn nuôi Việc thực hiện đúng quy trình kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng trong chăn nuôi sẽ đem lại sức khỏe và tăng trưởng cho lợn Khi thức ăn chăn nuôi không đảm bảo, chuồng trại không hợp lý, kỹ thuật chăm sóc không phù hợp,
là nguyên nhân làm cho sức đề kháng của lợn giảm, tăng nguy cơ mắc bệnh Thức ăn bị nhiễm độc tố nấm mốc cũng là nguyên nhân gây ra tiêu chảy Trong
các loại độc tố nấm mốc thì Aflatoxin là loại độc tố được quan tâm nhất hiện nay
Trang 24Thức ăn thiếu đạm, tỷ lệ protid và axit amin không cân đối dẫn đến quá trình hấp thu chất dinh dưỡng không tốt Cơ thể lợn thiếu dinh dưỡng, hàm lượng albumin huyết thanh giảm và kéo theo hàm lượng γglobulin huyết thanh cũng giảm Hệ quả là khả năng miễn dịch của cơ thể giảm đi rõ rệt, tạo điều kiện cho các vi khuẩn phát triển và gây bệnh
Nếu khẩu phần thức ăn của lợn thiếu khoáng và vitamin cũng là nguyên nhân làm cho lợn con dễ mắc bệnh Chất khoáng góp phần tạo tế bào, điều hòa thức ăn đạm và chất béo Lợn con thiếu khoáng dễ dẫn đến bị còi xương,
cơ thể suy nhược, sức đề kháng giảm tạo điều kiện cho vi khuản đường ruột tăng độc lực và gây bệnh
Vitamin là yếu tố không thể thiếu được với mọi cơ thể động vật, nó đảm bảo cho quá trình chuyển hóa trong cơ thể diễn ra bình thường Thiếu một vitamin sẽ làm cho lợn còi cọc, sinh trưởng kém, dễ mắc bệnh đường tiêu hóa Laval A (1997) [2] cho biết, thức ăn thiếu các chất khoáng, vitamin cần thiết cho cơ thể gia súc, đồng thời phương thức cho ăn không phù hợp sẽ làm giảm sức đề kháng của gia súc và tạo cơ hội cho các vi khuẩn gây hội chứng tiêu chảy Thức ăn kém chất lượng, ôi thiu, khó tiêu, cho lợn ăn quá nhiều đều
là nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn
* Do stress
Sự thay đổi các yếu tố khí hậu thời tiết, mật độ chuông nuôi, vận chuyển
đi xa đều là các tác nhân stress quan trọng trong chăn nuôi dẫn đến hậu quả giảm sút sức khỏe vật nuôi và bệnh tật trong đó có tiêu chảy
Theo Phạm Khắc Hiếu và Bùi Thị Tho (1998) [16], hệ thống tiêuhóa của lợn mẫn cảm đặc biệt với stress Hiện tượng stress thường gây nên biểu hiện chán ăn, nôn mửa, tăng nhu động ruột, có khi tiêu chảy, đau bụng
* Ảnh hưởng của điều kiện chuồng trại
Trang 25Phần lớn thời gian sống của lợn là ở trong chuồng do vậy chuồng trại có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của chúng Chuồng trại xây dựng đúng kiểu, đảm bảo các chỉ tiêu kỹ thuật, cao ráo, thoáng, độ thông khí tốt, kết hợp với chăm sóc quản lý và vệ sinh chuồng trại tốt sẽ ảnh hưởng rất tốt đến khả năng sinh trưởng và sức kháng bệnh tật của gia súc và ngược lại
Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới của nước ta, về mùa hè khí hậu nóng,
ẩm, về mùa đông khí hậu lạnh, khô nên yêu cầu chuồng nuôi gia súc luôn phải khô ráo, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Do vậy trong xây dựng chuồng trại ngoài việc đảm bảo các yếu tố kỹ thuật cần chú ý đến địa điểm xây dựng chuồng, hướng chuồng, vật liệu xây dựng để dễ dàng khống chế các chỉ tiêu tiểu khí hậu chuồng nuôi phù hợp với từng giai đoạn phát triển của lợn
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1986) [8], chuồng khô, thoáng, đủ ánh sáng thì tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng thấp hơn so với chuồng ẩm, tối
* Ảnh hưởng của độ ẩm chuồng nuôi đến hội chứng tiêu chảy ở lợn
Độ ẩm trong chuồng nuôi 75% là do sản sinh ra từ cơ thể động vật, 20 – 25% từ mặt đất (ổ lót, tường ẩm) bốc ra và 10 – 15% từ không khí bên ngoài chuồng nuôi đưa vào
Trong chuồng nuôi nếu độ ẩm quá cao ảnh hưởng rất xấu đến cơ thể gia súc cho dù nhiệt độ không khí cao hay thấp Độ ẩm trong chuồng nuôi
từ 55 – 85% ảnh hưởng đến cơ thể gia súc chưa rõ rệt nhưng nếu độ ẩm chuồng nuôi >90% sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến cơ thể gia súc Nhiều thí nghiệm cho thấy lợn nuôi trong chuồng có độ ẩm cao trong thời gian dài không muốn ăn, giảm sức tiêu hóa thức ăn, giảm sức đề kháng với bệnh tật trong đó có hội chứng tiêu chảy
Bất kỳ mùa nào độ ẩm chuồng nuôi cao cũng có hại Về mùa nóng, nếu độ
ẩm chuồng nuôi cao thì hơi nước trong cơ thể khó thoát ra ngoài làm cho con
Trang 26vật nóng thêm Về mùa lạnh, nếu độ ẩm chuồng nuôi cao thì nhiệt độ cơ thể lợn lạnh thêm do không khí ẩm dẫn nhiệt nhanh hơn không khí khô, cơ thể lợn
sẽ mất nhiệt nhiều hơn Đặc biệt, với lợn sơ sinh khi chức năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh, lợn con sống trong chuồng có nhiệt độ thấp, ẩm độ cao
sẽ làm cho thân nhiệt lợn con hạ xuống nhanh, sau khi đẻ 30 phút thân nhiệt lợn con có thể giảm thấp đến 5 – 6oC sau đó mới dần ổn định Nếu nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp thì thân nhiệt lợn con phục hồi nhanh và ngược lại, nếu nhiệt độ chuồng nuôi quá lạnh hoặc quá nóng sẽ kéo dài thời gian phục hồi thân nhiệt sẽ làm cho con vật suy yếu rõ rệt Con vật bị stress nhiệt – nguyên nhân gây ỉa chảy Độ ẩm thích hợp trong chuồng nuôi là từ 80 – 85%
Đào Trọng Đạt và cs (1996) [9] cho rằng, các yếu tố lạnh, ẩm ảnh hưởng rất lớn đến lợn sơ sinh, lợn con vài ngày tuổi Trong các yếu tố về tiểu khí hậu thì quan trọng nhất là nhiệt độ và độ ẩm Độ ẩm thích hợp cho lợn từ 75 đến 85% Vì thế việc làm khô và giữ ấm chuồng là vô cùng quan trọng
Theo Phan Địch Lân và cs (1997) [21], chuồng trại ẩm, lạnh tác động vào cơ thể lợn gây rối loạn thần kinh từ đó gây rối loạn tiêu hóa
2.2.4 Cơ chế sinh bệnh
Bệnh tiêu chảy xảy ra hai cơ chế chính là xuất tiết và thẩm thấu:
Tiêu chảy do xuất tiết:
Do độc tố của vi khuẩn E coli, Salmonella hay của virus tác động vào
niêm mạc ruột làm quá trình bài tiết dịch (muối, nước) vào lòng ruột không bình thường sẽ gây ra tiêu chảy xuất tiết
Khi bị tiêu chảy nhiều sẽ gây mất nước cho cơ thể, gây rối loạn chức năng sinh lí tiêu hoá Khi bị rối loạn tiêu hoá dẫn tới rối loạn hệ vi sinh vật đường ruột, một số vi khuẩn có hại phát triển nhanh, do đó độc tố của vi khuẩn tiết ra nhiều, độc tố của vi khuẩn vào máu làm rối loạn cơ năng giải độc của gan và quá trình lọc ở thận (Hồ Văn Nam, 1982) [22]
Trang 27Lợn bị tiêu chảy nhiều sẽ làm cơ thể bị mất nước do đó làm giảm lượng tuần hoàn của cơ thể dẫn đến truỵ tim mạch, gây nên tử vong
Tiêu chảy do thẩm thấu:
Do niêm mạc ruột non được lót bởi lớp liên bào muối và nước qua lại rất nhanh để duy trì sự cân bằng thẩm thấu giữa lòng ruột và dịch ngoại bào Vì vậy khi trong lòng ruột có chất hấp thụ kém và độ thẩm thấu cao thì sẽ gây ra tiêu chảy
Khi nói đến nguyên nhân gây bệnh do E coli, cơ chế gây bệnh được
diễn ra như sau: Khi có điều kiện thuận lợi từ môi trường và vật chủ, vi
khuẩnE coli tăng sinh trong ruột và gây tiêu chảy bằng các yếu tố gây bệnh đặc hiệu Cấu trúc kháng nguyên của E coli rất phức tạp gồm các loại: Kháng
nguyên O (kháng nguyên thân), kháng nguyên H (kháng nguyên lông), kháng nguyên K (kháng nguyên bề mặt, vỏ bọc) và F (kháng nguyên bám dính) (Đỗ
Ngọc Thuý và cs,2002 - 2003) [32] E coli xâm nhập vào cơ thể động vật từ
rất sớm, sau vài giờ được sinh ra Sau khi phát triển và tăng nhanh ở tế bào thành ruột, vi khuẩn xâm nhập vào hệ lâm ba, hệ tuần hoàn gây nhiễm trùng
Các chủng E coli thuộc nhóm ETEC và VTEC thường gây tiêu chảy ở lợn sơ
sinh và lợn con sau cai sữa Dựa vào các yếu tố gây bệnh, người ta đã phân vi
khuẩn E coli thành các loại sau: Enterotoxigenic E coli (ETEC),
Enteropathogenic E coli (EPEC), Sdherence Enteropathogenic E coli
(AEEC) và Verotoxingenic E coli (VTEC) Hầu hết vi khuẩn E coli gây bệnh
sản sinh một hay nhiều kháng nguyên bám dính (Fimbriae), 4 loại kháng nguyên bám dính quan trọng của ETEC gây bệnh ở lợn sơ sinh là F4(K88), F5(K99), F6(987P) và F41 Nhờ các kháng nguyên bám dính này mà vi khuẩn
E coli bám vào các cơ quan cảm nhận (receptor) chuyên biệt trên màng tế
bào của các tế bào biểu mô ruột Sau đó, vi khuẩn xâm nhập vào lớp tế bào biểu mô ruột non và cư trú ở đó, ở đây chúng phát triển và sản sinh độc tố
Trang 28đường ruột Enterotoxin Hai loại độc tố đường ruột đó là độc tố chịu nhiệt (ST) và độc tố không chịu nhiệt (LT) Độc tố đường ruột phá huỷ tổ chức thành ruột và làm thay đổi cân bằng trao đổi nước và chất điện giải, nước được rút vào cơ thể gây tiêu chảy Tiêu chảy làm lợn con mất nước, mất chất điện giải dẫn đến truỵ tim mạch và chết
Tóm lại quá trình tiêu chảy ở lợn con đã đưa lợn con vào 3 trạng thái rối loạn:
- Rối loạn chức năng tiêu hoá và hấp thu
- Rối loạn cân bằng khu hệ vi khuẩn đường ruột
- Rối loạn cân bằng nước và điện giải do lợn con tiêu chảy quá nhiều Lợn con trong tình trạng nhiễm độc, truỵ tim mạch mà chết Những con chữa khỏi bệnh thường chậm lớn, còi cọc
2.2.5 Triệu chứng
Lợn con mắc bệnh đa số thân nhiệt không tăng, nếu tăng thì chỉ sau 2 – 3 ngày rồi hạ xuống trở về lúc bình thường, có con thân nhiệt hạ xuống do ỉa chảy mất nước nhiều Lợn gầy tóp nhanh, lông xù, đuôi rũ, da nhăn nheo, nhợt nhạt, hai chân sau dúm lại và run rẩy, đuôi và khoeo dính đầy phân Tiêu chảy có thể ở mức nhẹ lợn không có biểu hiện mất nước hoặc tiêu chảy nặng với triệu chứng phân toàn nước Phân lợn có màu sắc khác nhau phân vàng kem hay hơi xanh, trắng hoặc xám Phân có thể chảy tự do từ hậu môn xuống sàn Trong trường hợp nặng, triệu chứng lâm sàng là mất nước, rối loạn trao đổi chất, tiêu chảy có thể gây sốt hoặc không sốt và lợn con suy nhược rất nhanh rồi chết Khối lượng cơ thể giảm 30 – 40% do mất nước, bụng hóp lại, lợn gầy, suy kiệt và đi siêu vẹo, mắt trũng sâu, da tái xám và nhợt nhạt Sự mất nước và giảm khối lượng cơ thể làm cho lợn bị suy sụp nhanh, những lợn con này thường bị chết Trong trường hợp mạn tính hay bệnh ít
Trang 29nghiêm trọng, da quanh hậu môn và vùng háng có thể đỏ lên do tiếp xúc với phân kiềm tính, lợn ít bị mất nước, điều trị tích cực thì có thể khỏi bệnh
2.2.6 Bệnh tích
Những bệnh tích điển hình quan sát thấy như: Xác lợn gầy, vùng đuôi bê bết phân Niêm mạc mắt, miệng nhợt nhạt Trong dạ dày chứa đầy hơi hoặc thức ăn chưa tiêu, mùi khó ngửi Thành dạ dày phù và xuất huyết, niêm mạc ruột non xuất huyết Trong ruột non chứa đầy khí căng phồng, có khi lẫn máu Gan, lách, thận không biến đổi nhiều
Theo Lê Văn Dương (2010) [7] cho biết: tỷ lệ phân lập E colitừ phủ
tạng của lợn con mắc tiêu chảy là 90,67% , từ các mẫu phân là 93,33%
Nguyễn Chí Dũng (2013) [6] kết luận: Lợn con bị tiêu chảy có bệnh tích điển hình như ruột bị viêm, xuất huyết (95,45% ở ruột non; 100% ở ruột già)
Dạ dày chứa đầy sữa không tiêu, niêm mạc phủ đầy dịch nhờn, sung huyết (68,18%) Hạch lâm ba màng treo ruột bị sưng, tụ huyết (63,63%)
2.2.7 Một số đặc điểm dịch tễ của hội chứng tiêu chảy
Hội chứng tiêu chảy ở gia súc do nhiều nguyên nhân gây ra Chính vì vậy, sự xuất hiện của bệnh phụ thuộc vào sự xuất hiện các nguyên nhân và sự tương tác giữa nguyên nhân và cơ thể gia súc Các yếu tố như tuổi gia súc, mùa vụ, thức ăn, chuồng trại, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng….đều có ảnh hưởng đến hội chứng tiêu chảy ở gia súc
Ở lợn, hội chứng tiêu chảy có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi Archie H (2000) [12] cho rằng khi bệnh tiêu chảy xảy ra thường gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi Bệnh thường xuất hiện ở 3 giai đoạn phát triển của lợn:
- Giai đoạn sơ sinh: 1 – 4 ngày tuổi
- Giai đoạn lợn con theo mẹ: 5 – 21 ngày tuổi
- Giai đoạn lợn sau cai sữa: >21 ngày tuổi
Trang 30Theo Trần Đức Hạnh (2013) [13]: Lợn con ở một số tỉnh phía Bắc mắc tiêu chảy và chết với tỷ lệ trung bình là 30,32 % và 5,12 %, tỷ lệ mắc tiêu chảy và chết giảm dần theo lứa tuổi, cao nhất ở lợn con giai đoạn từ 21 –
40 ngày (30,97 % và 4,93 %) và giảm ở giai đoạn từ 41 – 60 ngày (30,27
Tiêu chảy là hội chứng gây ra bởi nhiều nguyên nhân kết hợp với nhau, làm mất cân bằng hệ vi sinh vật đường tiêu hoá Do vậy việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt
Theo Lê Văn Tạo (2007) [26], vi khuẩn E Coli gây bệnh ở lợn là vi
khuẩn tồn tại trong môi trường, đường tiêu hoá của vật chủ Khi môi trường quá ô nhiễm do vệ sinh chuồng trại kém, nước uống thức ăn bị nhiễm vi khuẩn, điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bị cảm nhiễm
E Coli, bệnh sẽ nổ ra vì vậy mà khâu vệ sinh, chăm sóc có một ý nghĩa to lớn
trong phòng bệnh
Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phải được vệ sinh tiêu độc trước khi vào đẻ Nhiệt độ trong chuồng phải đảm bảo 32 – 34oC đối
Trang 31với lợn sơ sinh và 28 – 30oC với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo, không thấm ướt, không thay đổi thức ăn đột ngột
Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ, kín ấm áp vào mùa đông và đầu xuân Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng, mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi
- Phòng bệnh bằng bổ sung sắt
Ở lợn con, việc thiếu sắt dẫn đến thiếu máu, làm giảm sức đề kháng cũng
là nguyên nhân gây nên hội chứng tiêu chảy khá cao Lợn con một ngày tuổi
sẽ được cắt nanh, bấm tai và tiêm sắt
- Phòng bệnh bằng vắc xin
Phòng bệnh bằng vắc xin là phương pháp hữu hiệu nhất để ngăn ngừa bệnh đặc biệt là các bệnh có nguyên nhân là vi sinh vật Vắc xin phòng bệnh tiêu chảy cho lợn đã được nghiên cứu khá lâu và đã được sử dụng để phòng ngừa tiêu chảy nhằm tạo miễn dịch chủ động cho đàn lợn chống lại bệnh, các loại vắc xin này đã và đang cho kết quả phòng bệnh một cách khả quan, đạt được mục tiêu làm giảm tỷ lệ bệnh Một số tác giả đã tập trung nghiên cứu chế tạo và sử dụng vắc xin phòng bệnh nhằm kích thích cơ thể chủ động sản sinh kháng thể chống lại mầm bệnh
Bên cạnh các loại vắc xin E Coli, các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu chế vắc xin Salmonella Hiện nay trên thế giới đã có nhiều loại vắc xin phòng bệnh do vi khuẩn Salmonella gây ra ở lợn Mỹ sản xuất vắc xin đa giá thành phần gồm E Coli, Pasteurella multocida, Salmonella choleraesuis Ở Đức chế vắc xin Salmonella typimurium chủng ĐT 104 Hungarichế vắc xin
vi khuẩn Salmonella có bổ trợ glucoza
Ngoài việc sử dụng vắc xin, một số tác giả đã đi sâu nghiên cứu các chế phẩm để phòng và trị hội chứng tiêu chảy Đây là biện pháp vừa giúp tăng khả
Trang 32năng đề kháng, vừa khống chế sự phát triển quá mức của một số loài vi khuẩn có hại cho cơ thể gia súc Trần Thị Hạnh và Đặng Xuân Bình (2002) [14] đã chế tạo
chế phẩm sinh họcE Coli – sữa vàClostridium perfringens– toxoid dùng phòng
tiêu chảy cho lợn con
Như vậy, việc phòng bệnh tiêu chảy cho lợn con đã có rất nhiều nghiên cứu từ rất sớm và có những kết quả khả quan, nhưng hội chứng tiêu chảy ở lợn con là do rất nhiều nguyên nhân gây ra Do vậy biện pháp phòng bệnh tốt nhất là biện pháp vệ sinh chăm sóc, phòng trừ tổng hợp
Trị bệnh
Hiện nay ở nước ta cũng như trên thế giới vấn đề đã và đang thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học là hiệu quả điều trị bệnh Nhiều nghiên cứu mới đây nhất cho rằng việc điều trị sớm, kết hợp nhiều biện pháp tổng hợp nhằm khống chế và khắc phục rối loạn tiêu hoá hấp thu, chống loạn khuẩn đường ruột, đồng thời phải kết hợp điều trị nguyên nhân với điều trị triệu chứng có như thế mới khống chế được bệnh
Phạm Ngọc Thạch (2005) [28] cho biết: để điều trị hội chứng tiêu chảy ở gia súc nên tập trung vào 3 khâu là:
- Loại trừ sai sót trong nuôi dưỡng như loại bỏ thức ăn kém phẩm chất, chăm sóc nuôi dưỡng tốt
- Khắc phục rối loạn tiêu hoá và chống nhiễm khuẩn
- Điều trị hiện tượng mất nước và chất điện giải
Việc sử dụng kháng sinh trong điều trị được nhiều tác giả nghiên cứu và đưa ra nhiều phác đồ điều trị khác nhau, nhưng các tác giả đều thống nhất rằng việc sử dụng kháng sinh có hiệu quả cần xem xét khả năng mẫn cảm và tính kháng thuốc của vi khuẩn, tác dụng kháng sinh sau điều trị
Để điều trị tốt hội chứng tiêu chảy ta phải đảm bảo toàn diện các khâu sau:
Trang 33- Chống viêm ở niêm mạc đường tiêu hoá
- Chống vi khuẩn gây bệnh kế phát bằng thuốc hoá học trị liệu
- Chống loạn khuẩn, khôi phục lại hệ vi sinh vật có lợi trong đường tiêu hoá
- Bổ sung nước, chất điện giải
- Bổ sung Fe, các vitamin, khoáng
- Thực hiện nuôi dưỡng, chăm sóc tốt cả lợn nái và lợn con theo hướng chống
vi khuẩn chống bội nhiễm, một số tác giả nước ngoài đã sử dụng các loại thuốc hoá học trị liệu: Furazolidon, Tetracyclin, Streptomycin, Ampicillin
và các Sulfamid Các tác giả đều nhận thấy rằng hiệu quả chữa bệnh của các loại thuốc trên rất khác nhau ở từng địa phương, còn trong một địa phương thì hiệu quả giảm dần theo thời gian
Theo Trịnh Tuấn Anh (2010) [1]: Các chủng Salmonella spp mẫn cảm với
Ofloxacin và Norfloxacin (100%), tiếp đến là Ciprofloxacin (90%) và Neomycin (80%) Theo tác giả Phạm Khắc Hiếu và cs (1996) [16], bằng phương pháp làm kháng sinh đồ đã xác định được một số loại kháng sinh sau đây thường sử dụng riêng rẽ hoặc phối hợp để điều trị:
- Tetramycin với liều 50 mg/ kg TT
- Neomycin với liều 50 mg/ kg TT
- Biomycin với liều 50 mg/ kg TT Khi điều trị phải tuân theo nguyên tắc: dùng kháng sinh đặc hiệu kết hợp với thuốc bổ trợ tăng sức đề kháng, mau hồi như: vitamin C, B complex, Glucose
Theo Lê Văn Dương (2010) [7]: Các chủng vi khuẩn E coli phân lập
được mẫn cảm với một số loại kháng sinh: Ceftiofur, Amikacin và kháng mạnh với Tetracyclin, Ampicillin…
2.2.9 Một số hiểu biết về thuốc phòng và trị bệnh sử dụng trong chuyên đề
Thuốc Nova – Amcoli
Trang 34- Thành phần: Trong 100 ml chứa: Ampicillin 10.000 mg, Colistin Sulfate 25.000.000 UI
- Công dụng: Đặc trị các bệnh nhiễm trùng trên gia súc, gia cầm
+ Heo: Phù đầu, viêm ruột tiêu chảy, viêm phổi, tụ huyết trùng, viêm vú, viêm tử cung, hội chứng MMA
+ Trâu, bò, dê, cừu: Viêm vú, viêm tử cung, viêm ruột tiêu chảy, viêm phổi, đau móng + Chó, mèo: Viêm ruột tiêu chảy, viêm phổi, viêm tử cung, nhiễm trùng vết thương + Gia cầm: Sưng phù đầu, tụ huyết trùng, thương hàn
- Cách dùng và liều lượng:
+ Tiêm bắp thịt, ngày 1 lần,trong 4 – 5 ngày
+ Heo con, chó, mèo, gia cầm: 1 ml/ 5 kg TT
+ Heo thịt, heo giống, dê, cừu, bê, nghé: 1 ml/ 10 kg TT
+ Trâu, bò: 1 ml/ 12 – 15 kg TT
Thuốc MD Nor 100
- Thành phần: Trong 100 ml chứa 10.000 mg Norfloxacin
- Công dụng: Chuyên trị tiêu chảy, viêm ruột, thương hàn, tụ huyết trùng, viêm vú, viêm tử cung, CRD, viêm phổi, viêm xoang mũi, viêm khớp
- Cách dùng và liều lượng:
+ Tiêm bắp thịt ngày 1 lần
+ Dùng liên tục 3 – 5 ngày
+ Gia súc nhỏ: 1 ml/ 8 -10 kg TT Gia súc lớn: 1 ml/ 10 – 12 kg TT
Thuốc Nova – Atropin
- Thành phần: Trong 100 ml chứa 50 mg Atropine Sulfate
- Công dụng: Điều trị các triệu chứng: Đau bụng do co thắt ruột Tiêu chảy nặng gây mất nước nghiêm trọng, khó thở do phế quản co thắt Tiền mê trong phẫu thuật và giải độc do ngộ độc Dipterex, Pilocarpine
- Cách dùng và liều lượng:
Trang 35+ Chó mèo: 1 ml/ 15 – 20 kg TT
+ Heo: 1 ml/ 12 – 15 kg TT
+ Trâu bò, dê cừu, ngựa: 1 ml/ 8 – 12 kg TT
Thuốc ADE – B.COMPLEX INJ
- Thành phần: Trong 100 ml chứa: Vitamin A, Vitamin D3, Vitamin E, Vitamin B1, Vitamin B2, Vitamin B6, Vitamin B12, Nicotinamide, D-Panthenol
- Công dụng: Phòng ngừa và điều trị bệnh thiếu VTM, tăng cường sức
đề kháng, giúp gia súc mau phục hồi khi mắc bệnh, kích thích tăng năng suất
- Cách dùng và liều lượng :
+ Tiêm bắp thịt, ngày tiêm 1 lần trong 4 -5 ngày liên tục
+ Heo con, gia cầm, chó mèo: 0,5 – 1 ml/ 10 kg TT
+ Heo thịt, heo giống, bê nghé: 1 ml/ 25 – 30 kg TT
2.3 Tình hình nghiên cứu hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ trong và ngoài nước
2.3.1 Nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy trong nước
Tuỳ theo đặc điểm, tính chất, diễn biến; tuỳ theo độ tuổi gia súc; tuỳ theo yếu tố được coi là nguyên nhân chính mà hội chứng tiêu chảy được gọi bằng các tên khác nhau như: Bệnh lợn con ỉa phân trắng, chứng khó tiêu, chứng rối loạn tiêu hoá
Khi lợn nái nuôi con bằng chuồng sàn thì lợn con ít và không ỉa chảy phân trắng, còn lợn con theo mẹ nuôi bằng chuồng nền xi măng thì tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy từ 40 – 45%
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy điều kiện môi trường sống lạnh,
ẩm đã làm thay đổi các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu của lợn, biến đổi về chức năng và hình thái của hệ tuần hoàn, hệ nội tiết, liên quan đến phản ứng điều hòa nội mô Trong những trường hợp như thế sức đề kháng của cơ thể