1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU RẦY MỀM (HOMOPTERA: APHIDIDAE) GÂY HẠI TRÊN MỘT SỐ CÂY RAU, MÀU, HOA KIỂNG VÀ KHẢO SÁT HIỆU LỰC 4 LOẠI THUỐC TRỪ RẦY MỀM TẠI TP. HỒ CHÍ MINH VÀ CÁC VÙNG PHỤ CẬN

81 232 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU RẦY MỀM HOMOPTERA: APHIDIDAE GÂY HẠI TRÊN MỘT SỐ CÂY RAU, MÀU, HOA KIỂNG VÀ KHẢO SÁT HIỆU LỰC 4 LOẠI THUỐC TRỪ RẦY MỀM TẠI TP... NGHIÊN CỨU

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU RẦY MỀM (HOMOPTERA: APHIDIDAE) GÂY HẠI TRÊN MỘT SỐ CÂY RAU, MÀU, HOA KIỂNG

VÀ KHẢO SÁT HIỆU LỰC 4 LOẠI THUỐC TRỪ

RẦY MỀM TẠI TP HỒ CHÍ MINH

VÀ CÁC VÙNG PHỤ CẬN

Họ tên sinh viên: VÕ THỊ THỦY Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT Niên khóa: 2005-2009

Tháng 08/2009

Trang 2

NGHIÊN CỨU RẦY MỀM (HOMOPTERA: APHIDIDAE) GÂY HẠI TRÊN MỘT SỐ CÂY RAU, MÀU, HOA KIỂNG VÀ KHẢO SÁT

HIỆU LỰC 4 LOẠI THUỐC TRỪ RẦY MỀM TẠI

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Con xin chân thành khắc ghi công ơn cha, mẹ đã sinh thành, tần tảo dưỡng dục con nên người và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho con có được như ngày hôm nay

Em xin chân thành khắc ghi công ơn:

™ PGS.TS Nguyễn Thị Chắt, cô đã tận tình hướng dẫn, dìu dắt và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn đến:

™ Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, ban chủ nhiệm khoa Nông Học đã quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian học tập tại trường cũng như thời gian thực hiện đề tài

™ Toàn thể quý Thầy, Cô khoa cơ bản và khoa Nông Học Trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh đã tận tình truyền đạt, chỉ bảo những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi trong thời gian học tập tại trường

™ Tất cả bạn bè đã luôn bên cạnh động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Tp.Hồ Chí Minh, tháng 08/2009 Sinh viên thực hiện

Võ Thị Thủy

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài “Nghiên cứu rầy mềm (Homoptera: Aphididae) gây hại trên một số cây rau, màu, hoa kiểng và khảo sát hiệu lực 4 loại thuốc trừ rầy mềm tại Tp Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận” được tiến hành tại Tp Hồ Chí Minh và một số vùng

phụ cận, trong thời gian từ tháng 02/2009 đến 06/2009 Thí nghiệm xác định thành phần rầy mềm (Homoptera: Aphididae) trên một số cây rau, màu, hoa kiểng Khảo sát một số đặc điểm hình thái, sinh học và sự biến động gây hại của rầy mềm gây hại chính trên cây trồng và khảo nghiệm hiệu lực của 4 loại thuốc trừ rầy mềm

Giáo viên hướng dẫn: PGS TS NGUYỄN THỊ CHẮT

Kết quả thu được 10 loài rầy mềm: Aphis craccivora Koch., Aphis fabae Scopoli., Aphis glycine Matsumura., Aphis gossypii Glover., Aphis nerii Boyer., Aphis spiraecola Patch., Brachycaudus cardui Linnaeus., Rhopalosiphum maidis Fitch., Myzus persicae Sulzer và 1 loài Cinara sp

Thành trùng cái không cánh Aphis craccivora Koch có cơ thể hình oval, màu

nâu đen bóng, kích thước trung bình 1,68 ± 0,11 mm, 1,09 ± 0,09 mm Đây là loài sinh sản vô tính đẻ con 61,65 ± 16,69 con/con cái, thời gian đẻ 8,84 ± 2,57 ngày Ấu trùng trải qua 4 tuổi trong 4,94 ± 0,68 ngày, vòng đời 6,36 ± 1,29 ngày

Thành trùng cái không cánh Aphis nerii Boyer có cơ thể hình oval, màu vàng

cam, kích thước 0,37 ± 0,06 mm, 0,19 ± 0,04 mm Đây là loài sinh sản vô tính, đẻ con 33,78 ± 9,54 con/con cái, thời gian đẻ 5,75 ± 1,51 ngày Ấu trùng trải qua 4 tuổi trong 5,15 ± 0,69 ngày, vòng đời 7,18 ± 1,54 ngày

Trên đậu bắp, mật số Aphis gossypii Glover xuất hiện ở 3 đỉnh điểm: giai đoạn

25, 46 và 67 ngày sau trồng Tỉ lệ đọt bị hại trong vườn có 4 thời điểm, 3 thời điểm tương đồng với diễn biến của mật số và 1 thời điểm đầu vụ

Trên trúc đào, mật số Aphis nerii Boyer xuất hiện nhiều vào 3 thời điểm: nửa

đầu tháng 3, nửa đầu tháng 4 và đầu tháng 5 Tỉ lệ đọt bị hại trên các vườn chỉ có 2 đỉnh cao vào nửa đầu tháng 3 và cuối tháng 4

4 loại thuốc thí nghiệm: Asmai 250 WP, Brightin 1.8 EC, Nimbecidine, Anfaza

250 WDG và 1 nghiệm thức đối chứng (Nước lã) được bố trí kiểu hoàn toàn ngẩu nhiên trên vườn dưa leo ở Xuân Thới Sơn, Hóc Môn, Tp Hồ Chí Minh

Trang 5

Tỉ lệ rầy mềm chết giữa các nghiệm thức tăng dần ở thời điểm 3, 5, 7 ngày sau phun và khác biệt ở mức rất có ý nghĩa trong thống kê Trong đó, nghiệm thức phun Brightin 1.8 EC có tỉ lệ rầy mềm chết tăng nhanh, đều và đạt tỉ lệ cao nhất là 89,76 %

so với các nghiệm thức còn lại

Hiệu lực của các thuốc thí nghiệm khác biệt không có ý nghĩa thời điểm 1 ngày sau phun, nhưng khác biệt có ý nghĩa ở thời điểm 3 ngày sau phun và khác biệt rất có

ý nghĩa trong thống kê ở thời điểm 5, 7 ngày sau phun Trong đó, các thuốc Anfaza

250 WDG, Brightin 1.8 EC đều có hiệu lực tăng nhanh và đạt tối đa là 99,83 %

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Trang tựa ………i

Lời cảm ơn ……….ii

Tóm tắt ……… iv

Mục lục ……… vi

Danh sách các chữ viết tắt ……… vii

Danh sách các hình ……… viii

Danh sách các bảng và biểu đồ ……… x

Chương 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề ……….1

1.2 Mục tiêu đề tài ……… 2

1.3 Nội dung nghiên cứu ………2

1.4 Giới hạn đề tài ……… 2

Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ……….3

2.1 Đặc điểm chung về họ rầy mềm Aphididae gây hại cây trồng ……… ……3

2.1.1 Vị trí phân loại họ rầy mềm Aphididae ………3

2.1.2 Đặc điểm chung họ rầy mềm Aphididae ……… 4

2.2 Một số rầy mềm họ Aphididae gây hại cây trồng ………5

2.3 Một số đặc điểm hình thái, sinh học và ký chủ của rầy mềm gây hại phổ biến trên cây trồng ……… 10

2.4 Tập quán sinh sống và mức độ gây hại của họ rầy mềm Aphididae ……… 14

2.5 Biện pháp phòng trừ 17

Chương 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ……… 18

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu ……… 18

3.2 Điều kiện thời tiết khí hậu ……… 19

3.3 Vật liệu nghiên cứu 20

3.4 Phương pháp nghiên cứu ………20

3.4.1 Điều tra thành phần rầy mềm trên một số cây rau, màu và cây hoa kiểng …… 21

3.4.2 Khảo sát đặc điểm hình thái, sinh học rầy mềm gây hại chính trên cây rau màu và cây kiểng ……… 22

Trang 7

3.4.3 Khảo sát sự biến động mức độ gây hại của rầy mềm gây hại trên cây rau và cây

hoa kiểng ……… 23

3.4.4 Khảo sát hiệu lực trừ rầy mềm của một số thuốc hóa học, sinh học ………… 24

3.5 Xử lý số liệu và phân tích thồng kê ……….…… 24

Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ………25

4.1 Một số loài rầy mềm gây hại trên cây rau, màu và cây hoa kiểng ……….31

4.2 Một số đặc điểm hình thái, sinh học rầy mềm gây hại chính trên cây rau, màu và cây kiểng ……… 32

4.2.1 Một số đặc điểm hình thái, sinh học rầy mềm đậu Aphis craccivora Koch ….35

4.2.2 Một số đặc điểm hình thái, sinh học rầy mềm trúc đào Aphis nerii Boyer…… 38

4.3 Biến động mức độ gây hại của rầy mềm gây hại trên cây rau và cây kiểng ở Tp Hồ Chí Minh và Đồng Nai……… ………40

4.3.1 Diễn biến mức độ gây hại của Aphis gossypii Glover gây hại trên đậu bắp tại Tp Hồ Chí Minh, năm 2009……….…… 41

4.3.1 Biến động mức độ gây hại của Aphis nerii Boyer gây hại trên trúc đào ở Tp Hồ Chí Minh và Đồng Nai, năm 2009 ……… 42

4.4 Hiệu lực của 4 loại thuốc trừ rầy mềm……… ………….44

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ……….45

5.1 Kết luận ……… 46

5.2 Đề nghị ……… 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TS: Tiến sĩ

PGS: Phó giáo sư

ctv: cộng tác viên

A nerii: Aphis nerii

A fabae: Aphis fabae

A gossypii: Aphis gossypii

A spiraecola: Aphis spiraecola

A craccivora: Aphis craccivora

B cardui: Brachycaudus cardui

R maidis: Rhopalosiphum maidis

NSP: Ngày sau phun thuốc

NTP: Ngày trước phun thuốc

Prob (Propbability): Giá trị xác xuất

CV (Coefficient of variation): Hệ số biến động

LSD (Least Significant Diffrence Test): Trắc nghiệm phân hạng

CRD (Complete Randomized Design): Kiểu thí nghiệm hoàn toàn ngẫu nhiên

Trang 9

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình Trang

3.1 Sơ đồ điều tra theo đường ziczac ……… 23

4.1 Mẩu Aphis craccivora Koch .27

4.2 Một số rầy mềm gây hại cây trồng……… …… 30

4.3 Vòng đời của Aphis craccivora Koch….….……… 34

4.4 Vòng đời của Aphis nerii Boyer .38

4.5 Rầy mềm gây hại chính Aphis craccivora Koch và Aphis nerii Boyer 39

7.1 Một số rầy mềm khác gây hại cây trồng 52

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

Bảng Trang

4.1 Một số rầy mềm gây hại trên cây trồng ở Tp Hồ Chí Minh và một số vùng phụ

cận, năm 2009 25 4.2 Ký chủ và tần số xuất hiện của rầy mềm ở Tp Hồ Chí Minh và một số vùng phụ

cận, năm 2009 31

4.3 Kích thước các pha phát triển của Aphis craccivora Koch tại phòng thí nghiệm

Bảo vệ thực vật 2, Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, Năm 2009 32

4.4 Chu kỳ sinh trưởng của Aphis craccivora Koch trên đậu đũa, phòng thí nghiệm

Bảo vệ thực vật 2, trường Đại học Nông Lâm Tp.HCM, năm 2009 33

4.5 Đặc điểm của thành trùng Aphis craccivora Koch trên đậu đũa, phòng thí nghiệm

Bảo vệ thực vật 2, trường Đại học Nông Lâm Tp.HCM, năm 2009 35

4.6 Kích thước các pha phát triển của Aphis nerii Boyer tại phòng thí nghiệm Bảo vệ

thực vật, Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, năm 2009 36

4.7 Chu kỳ sinh trưởng của Aphis nerii Boyer trên trúc đào, phòng thí nghiệm Bảo vệ

thực vật 2, trường Đại học Nông Lâm Tp.HCM, năm 2009 37

4.8 Đặc điểm của thành trùng Aphis nerii Boyer trên trúc đào, phòng thí nghiệm Bảo

vệ thực vật 2, trường Đại học Nông Lâm Tp.HCM, năm 2009 37

4.9 Tình hình phát sinh gây hại của Aphis gossypii Glover trên đậu bắp tại Tp Hồ Chí

Minh, năm 2009 40

4.10 Tình hình phát sinh gây hại của Aphis nerii Boyer trên trúc đào tại Tp Hồ Chí

Minh và Đồng Nai, năm 2009 41

4.11 Ảnh hưởng của các loại thuốc thí nghiệm đến tỉ lệ rầy mềm chết, Tp Hồ Chí

Minh, năm 2009 43

4.12Hiệu lực của các thuốc thí nghiệm trừ rầy mềm trên cây dưa leo tại xã Xuân Thới

Sơn, Hóc Môn, Tp Hồ Chí Minh, năm 2009 .44

Biểu đồ

3.1 Nhiệt độ, ẩm độ trung bình tại Tp Hồ Chí Minh từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2009

18

Trang 11

3.2 Nhiệt độ, ẩm độ trung bình ở phòng thí nghiệm Bảo Vệ Thực Vật 2, Đại học Nông

Lâm Tp Hồ Chí Minh từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2009 19 3.3 Lượng mưa tại khu vực Tp Hồ Chí Minh từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2009 19

4.1 Tình hình phát sinh, gây hại của Aphis gossypii trên đậu bắp tại Tp Hồ Chí Minh,

năm 2009 ……… 41

4.2 Tình hình phát sinh, gây hại của Aphis nerii trên trúc đào tại Tp Hồ Chí Minh và

Đồng Nai, năm 2009 ………42

Trang 12

Chương 1

GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề

Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế nông nghiệp đang phát triển Với đặc điểm là nước thuộc khu vực nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều, đa dạng và phong phú về chủng loài thực vật, thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, đồng thời cũng là điều kiện tốt cho sự phát sinh, phát triển của các loại dịch hại nông nghiệp Trong các loài sâu hại cây trồng có thể nói rầy mềm là đối tượng khá phổ biến

Kí chủ của rầy mềm tương đối phong phú gồm có nhóm các cây rau như rau họ thập

tự, họ đậu đỗ, họ cà, họ bầu bí; nhóm cây màu như bắp, khoai lang; nhóm cây ăn quả như xoài, cam, quýt, chuối, đào; nhóm cây công nghiệp ngắn ngày như thuốc lá, mía; nhóm cây công nghiệp lâu năm như cà phê, cacao, chè; cùng với nhiều loại cây cảnh

và hoa kiểng Trong đó, có nhiều cây trồng là đối tượng bị rầy mềm gây hại thường xuyên như nhóm rau họ cà, đậu đỗ, bầu bí, bắp, khoai lang và một số cây hoa kiểng

Ngoài đặc điểm chung của họ rầy mềm Aphididae là chích hút các bộ phận non của cây trồng làm đọt chùn lại, lá xoắn cong; tiết dịch đường trong quá trình sống, thu

hút nấm bồ hóng đen (Capnodium sp.) phát triển Nhiều loài trong họ rầy mềm còn là vector truyền bệnh virus như rầy mềm thuốc lá Myzus persicae truyền bệnh vi rút

khảm cà chua TMV

Họ rầy mềm Aphididae là một họ lớn trong bộ cánh đều Homoptera Theo Van Emden (1972), trên thế giới đã phát hiện 3.805 loài rầy mềm Ở nước ta, theo kết quả điều tra bổ sung về rầy mềm ở miền Bắc Việt Nam của Quách Thị Ngọ, Đào Đăng Tựu và Doãn Thị Xuyến (2008) đã tìm thấy 56 loài rầy mềm gây hại trên một số cây trồng

Thành phần rầy mềm họ Aphididae khá đa dạng và phong phú có quy luật phát sinh, gây hại khá phức tạp Cùng với tình hình sử dụng thuốc hóa học tràn lan như hiện nay, chiều hướng phát triển của rầy mềm ngày càng phức tạp làm cho bà con nông dân

và các nhà vườn tốn nhiều chi phí để phòng trừ mà hiệu quả không cao Ở Việt Nam, những tài liệu nghiên cứu về rầy mềm gây hại cây trồng chưa nhiều Những nghiên

Trang 13

cứu về thành phần, mức độ gây hại và những biện pháp phòng trừ rầy mềm thì chưa cụ thể Xuất phát từ thực tế trên và được sự chấp thuận của khoa Nông học, chúng tôi tiến

hành thực hiện đề tài “ Nghiên cứu rầy mềm (Homoptera: Aphididae) gây hại trên một số cây rau, màu, hoa kiểng và khảo sát hiệu lực của 4 loại thuốc trừ rầy mềm tại Tp Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận”

1.2 Mục tiêu đề tài

Xác định thành phần rầy mềm (Homoptera: Aphididae) gây hại trên một số cây rau, màu, hoa kiểng Khảo sát một số đặc điểm hình thái, sinh học, biến động của loài rầy mềm gây hại chính trên cây trồng ở Tp Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận và khảo nghiệm hiệu lực thuốc hóa học và sinh học trừ rầy mềm

1.3 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra thành phần các loài rầy mềm gây hại trên một số cây rau, màu và cây hoa kiểng tại Tp Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận

- Khảo sát một số đặc điểm hình thái, sinh học một số loài rầy mềm gây hại chính trên cây trồng

- Khảo sát sự biến động mức độ gây hại của một số loài rầy mềm phổ biến trên cây trồng

- Khảo nghiệm hiệu lực 4 thuốc hóa học và sinh học trừ rầy mềm

1.4 Giới hạn đề tài

- Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 02/2009 đến tháng 06/2009

- Địa điểm nghiên cứu đề tài chỉ thực hiện ở Tp Hồ Chí Minh và một số vùng phụ cận

- Đối tượng nghiên cứu là rầy mềm trên một số cây rau, màu và cây hoa kiểng

Trang 14

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm chung về họ rầy mềm Aphididae gây hại cây trồng

2.1.1 Vị trí phân loại họ rầy mềm Aphididae

Theo C.F Smith và C.S Parron (1978); Manya B Stoetzel (1998); Zia Uddin Ahmed (2008) sơ bộ đến họ rầy mềm Aphididae:

Giới- Kingdom: Animalia

Š Tiếng nước ngoài: Aphids, Greenfly, Blackfly, Plant-lice

Š Tiếng Việt: Rầy mềm, rệp muội, rệp đen, rệp vừng

2.1.2 Đặc điểm chung họ rầy mềm Aphididae

Trên thế giới:

Theo Eric Day (1996) rầy mềm là loại côn trùng có kích thước cơ thể nhỏ, mềm Màu cơ thể đa dạng tùy theo loài và loại cây mà chúng ăn Một vài loài có phủ lớp sáp hoặc lông mịn Hầu hết các loài đều có 2 ống bụng và ống mông ở cuối cơ thể, đây là điểm đặc trưng để nhận dạng rầy mềm với các loại côn trùng khác Nhìn chung, thành trùng rầy mềm thường ở dạng không cánh, dạng có cánh xuất hiện khi gặp điều kiện bất lợi, mật số cao, thiếu thức ăn

Theo M L Flint (2008) rầy mềm có nhiều thế hệ trong năm Phần lớn sinh sản

vô tính, ấu trùng có 4 tuổi Một vài loài giao phối, đẻ trứng trong mùa thu và mùa đông Trên họ Phong lan, rầy mềm có 6 giai đọan: Trứng, 4 giai đoạn ấu trùng và thành trùng kéo dài trong 7 ngày phụ thuộc vào từng loài loài rầy mềm, điều kiện môi trường, đặc biệt là yếu tố nhiệt độ với 15 - 40 thế hệ trên năm (Paul J Johnson, 2003)

Trang 15

Theo Troy Bartlett và ctv (2004) nghiên cứu ở Liên Bang Mỹ và Canada về cách gây hại của rầy mềm Chúng hút dịch cây, tiết ra chất dịch ngọt, là nguồn thức ăn dồi dào cho kiến Kiến được đánh giá là “kẻ bảo vệ”, một vài loài thực hiện chức năng

di chuyển rầy mềm từ cây này sang cây khác khi nguồn thức ăn không đủ và một vài loài kiến giữ trứng rầy mềm dưới ngực trong thời gian qua đông Loài ăn rầy mềm khá

đa dạng như bọ cánh lưới, bọ rùa, bọ xít, ruồi ăn rầy mềm Ngoài ra, rầy mềm còn bị tấn công bởi ong ký sinh

Việt Nam

Theo Nguyễn Mạnh Chinh (2002) rầy mềm có cơ thể mềm, kích thước cơ thể rất nhỏ (1 - 2 mm) Có 2 ống bụng và ống mông ở cuối bụng Thường có 2 dạng có cánh và không cánh, tùy theo điều kiện dinh dưỡng và thời tiết, nếu nguồn thức ăn dồi dào và phong phú thì chủ yếu tồn tại dạng không cánh, quần tụ thành đám, nếu điều kiện bất lợi thì chủ yếu dạng có cánh, dể di chuyển đi tìm thức ăn

Rầy mềm có 2 kiểu sinh sản: Vô tính đẻ ra con và hữu tính có giao phối đực cái

đẻ ra trứng Một rệp cái đẻ trung bình 30 - 50 con Chúng có vòng đời khá ngắn từ 15 -

20 ngày Đặc biệt, rầy mềm có thể phát triển đến 20 - 30 thế hệ khi nhiệt độ thích hợp

từ 20 - 30oC

2.2 Một số rầy mềm họ Aphididae gây hại cây trồng

2.2.1 Nghiên cứu trên thế giới:

Có khoãng 3.805 loài rầy mềm được tìm thấy trên thế giới (Van Emden, 1972) Năm 1997, Remaudiere và Remaudiere phát hiện có khoãng 5000 loài, phần lớn ở vùng Ôn đới (Blackman và Eastop, 2000) Trong đó, Aphis là giống lớn nhất trong họ Aphididae, với 400 loài được đánh giá (Remaudiere & Remaudiere, 1997) và gần 150 loài được tìm thấy ở Bắc Mĩ (Smith & Parron, 1978) Có 25 loài được tìm thấy từ 49 loài cây kiểng ở Sao Paulo, Brazil (B G Peronti và Carlos Roberto Sousa-Silva, 2001). Năm 2003, Paul J Johnson nhận định có gần 4500 loài rầy mềm, với hơn 80 loài phổ biến trên thế giới Theo Troy Bartlett và ctv (2004) nghiên cứu ở Liên Bang

Mỹ và Canada có 224 giống, 40 giống phụ, 1351 loài rầy mềm với khoãng 80 loài gây hại phổ biến trên cây trồng nông nghiệp và cây hoa kiểng Theo M Murat Aslan (2005) ghi nhận ở tỉnh Kahramanmara, Thổ Nhĩ Kỳ từ năm 1998 – 2001 có 68 loài với

4 loài mới

Trang 16

2.2.2 Nghiên cứu trong nước:

Năm 1993, Waterhouse ghi nhận có 9 loài phổ biến, 30 loài được định danh trong 45 loài rầy mềm điều tra được ở các tỉnh Đồng Bằng Bắc Bộ và các vùng phụ cận (Quách Thị Ngọ, 2002) Theo kết quả điều tra được của Viện Bảo Vệ Thực Vật, năm 2006 ở ngoại thành Hà Nội, Xuân Mai (Hà Tây), Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Điện Biên đã thu được 12 loài rầy mềm Theo kết quả điều tra bổ sung về rầy mềm ở miền Bắc Việt Nam của Quách Thị Ngọ, Đào Đăng Tựu và Doãn Thị Xuyến (2008) đã

tìm thấy 56 loài với 36 loài đã được định danh Trong đó, có 2 loài là Tetraneura radicicola Strand và Greenidea ficicola Takahashi mới phát hiện ở Việt Nam

2.3 Một số đặc điểm hình thái, sinh học và ký chủ của rầy mềm gây hại phổ biến trên cây trồng

2.3.1 Nghiên cứu ngoài nước

∗ Rầy mềm đậu Aphis craccivora Koch (Homoptera- Aphididae)

Rầy mềm đậu có kích thước cơ thể nhỏ Thành trùng cái không cánh màu đen, ống bụng và ống mông màu đen, chân từ nâu đến vàng Ấu trùng có màu nhạt hơn, phủ lớp sáp mỏng Thành trùng không phủ sáp (CABI, 2005)

Trên Dâm bụt, ấu trùng trải qua 4 giai đoạn Thường là 1 tuần để con non mới

đẻ phát triển thành trùng Con cái trong 1 thế hệ có thể đẻ 100 con trong 30 ngày (Geocities.com)

Theo Ilse Schreiner (2000) rầy mềm đậu có giai đoạn trứng phát triển trong cơ thể mẹ và ấu trùng được sinh ra Ở vùng nhiệt đới, rầy mềm sinh sản vô tính Chúng có nhiều ký chủ nhưng chủ yếu được tìm thấy trên cây họ đậu Ký chủ chính của rầy mềm

là đậu Vigna unguiculata, đậu xanh Vigna radiata, đậu Arachis hypogaea, đậu Cajanus cajan, Medicago sativa và nhiều cây trồng khác Chúng phân bố rộng khắp

thế giới (CABI, 2005)

∗ Rầy mềm đậu đen Aphis fabae Scopoli (Homoptera- Aphididae)

Theo M.N Berim (2004) nghiên cứu ở Russia (Nga) cho thấy, con cái không cánh màu đen hoặc xanh nâu có lớp bụi sáp Chiều dài cơ thể thay đổi từ 1,8 - 2,5 mm Chân và râu có màu vàng nhạt Ống bụng dài gấp đôi ống mông và cổ chân màu nâu đen Râu màu nâu đen dài 2/3 cơ thể Đầu và ngực con cái có cánh màu đen, bụng màu

xanh đen Trứng hình oval màu đen

Trang 17

Ấu trùng kéo dài 8 - 15 ngày Tuổi thọ con cái vô tính từ 45 - 52 ngày, có khả

năng đẻ nhiều đến 30 con Con cái đẻ từ 6 đến 10 trứng

Rầy mềm đậu đen phân bố rộng khắp Tây Âu, Châu Á, Châu Phi, Bắc và Nam

Mỹ Chúng là loài đa thực trên cây trồng nông nghiệp với các ký chủ chính là đậu faba

Vicia faba, đậu Phaseolus vulgaris, Beta vulgaris và nhiều cây khác (CABI, 2005).

∗ Rầy mềm bông vải Aphis gossypii Glov (Homoptera- Aphididae)

Theo John L Capinera (2007) rầy mềm bông vải có thể hoàn thành vòng đời

trong 1 tuần và nhiều thế hệ được sản sinh khi điều kiện thuận lợi

Trứng: Mới đẻ có màu vàng, sau đó đen sạm

Ấu trùng: Thay đổi màu sắc từ xanh nhạt đến màu tím hoặc xanh, đầu màu đen

Thành trùng cái không cánh dài 1 - 2 mm Màu cơ thể đa dạng, xanh nhạt và

xanh đậm là phổ biến Ống bụng màu đen, nhỏ, ống mông trắng

Thời gian sinh sản của thành trùng khoãng 15 ngày Nhiệt độ tối hảo cho sự

sinh sản khoãng 21 - 270C

Theo Lewis Wilson và ctv nghiên cứu ở Úc năm 2008 cho thấy, rầy mềm bông

vải hoàn toàn là con cái, sinh sản vô tính Ấu trùng có thể hoàn thành trong 4 - 6 ngày

Sau khi trưởng thành, chúng có thể sinh sản ngay Con cái có trong chúng nhiều con

non ở các giai đoạn khác nhau của cây bông vải, điều này giải thích tại sao nhiều thế

hệ có thể được tạo ra trong thời gian ngắn

Một số cây ký chủ của rầy mềm bông vải là họ bông, họ cúc, họ đậu, họ cà, họ

bầu bí và một số họ khác Phân bố rộng khắp thế giới và ưu thế ở vùng nhiệt đới (Aphidweb.com)

∗ Rầy mềm đậu tương Aphis glycine Matsumura (Homoptera- Aphididae)

Rầy mềm đậu tương có kích thước cơ thể nhỏ, có cánh hoặc không cánh, cơ thể

màu vàng nhạt với ống bụng đen và ống mông màu xanh Ở giữa tháng 8, thành trùng

thường có màu nhạt hơn (Phillip Glogoza, 2004)

Ký chủ đông của Aphis glycine là Rhamus spp (họ Rhamnaceae), ký chủ hè là

họ đậu Fabaceae và cây dại Glycine, nó được xem là loài rầy mềm trên đậu tương

Rầy mềm đậu tương xuất hiện phổ biến trên đậu tương ở Trung Quốc,

Philippines, Nhật, Indonesia, Thái Lan, Hàn Quốc và Nam Triều Tiên Gần đây, chúng

còn được ghi nhận ở Châu Úc, Mỹ và Canada (CABI, 2005)

Trang 18

∗ Rầy mềm trúc đào Aphis nerii Boyer (Homoptera- Aphididae)

Theo H J Mc Auslane (2007) thành trùng cái rầy mềm trúc đào có thể có cánh hoặc không cánh Con cái có cánh màu vàng hoặc đen với gân cánh màu đen, trong khi dạng không cánh màu vàng với râu, chân, ống bụng và ống mông có màu đen, kích thước cơ thể từ 1,5 - 2,6 mm Ấu trùng tương tự dạng không cánh, chỉ khác là kích thước cơ thể nhỏ hơn

Rầy mềm trúc đào sinh sản vô tính, đẻ con và duy trì đặc tính con mẹ Tiến trình của ấu trùng trải qua 5 giai đoạn, không qua giai đoạn nhộng, thành trùng hình thành từ tuổi cuối của ấu trùng

Ký chủ của rầy mềm trúc đào chủ yếu gồm vài giống Asclepiadaceae

(Gomphocarpus, Asclepias và Calotropis) và Apocynaceae (Nerium and Vinca) Một

số họ Compositae, Convolvulaceae, và Euphorbiaceae Ngoài ra chúng còn được tìm thấy trên họ cam quýt

∗ Rầy mềm xanh Aphis spiraecola Patch (Homoptera- Aphididae)

Theo K.R Lyla và P.J Joy (1982) thành trùng dạng có cánh hay không cánh đều có màu xanh Sinh sản vô tính quanh năm, ống bụng dài hơn ống mông và đều có màu đen Có 4 giai đoạn ấu trùng Mỗi giai đoạn thường kéo dài 1 - 2 ngày Tuổi thọ thành trùng thường 6 - 11 ngày, chu kỳ sống kéo dài 12 - 18 ngày Ống mông chưa biểu hiện rỏ ở giai đoạn ấu trùng tuổi nhỏ và thấy rỏ ở tuổi 4 và thành trùng Mỗi con cái đẻ 10 - 25 con

Rầy mềm xanh Aphis spiraecola là loài đa thực Ký chủ chính (ký chủ đông) là Spiraecola spp và Citrus spp Chúng có nhiều ký chủ phụ, hơn 20 họ đặc biệt là họ

Caprifoliaceae, Compositae, Rosaceae, Rubiaceae và Rutaceae Rầy mềm xanh phân bố rộng khắp vùng ôn đới và nhiệt đới (CABI, 2005)

∗ Rầy mềm kê Brachycaudus cardui Linnaeus (Homoptera- Aphididae)

Thành trùng rầy mềm kê dài 1,8 – 2,4 mm, cơ thể màu nâu vàng, xanh hoặc nâu với đốm đen lớn ở bụng Ống bụng màu đen

Ký chủ chính của Brachycaudus cardui là anh đào, mận, mơ và các ký chủ khác

(Alain Fraval, 1997)

Trang 19

∗ Rầy mềm Cinara sp (Homoptera- Aphididae)

Theo Susan Halbert (2008) giống Cinara spp có cơ thể dài khoãng 1 mm Ống

bụng thì dính sát vào cơ thể, không giống như hầu hết các loài rầy mềm khác Miệng

hút của các loài thuộc giống Cinara spp khá dài, gần vượt qua bụng Đốt cuối của

miệng hút dài như kim chích

∗ Rầy mềm thuốc lá Myzus persicae Sulzer (Homoptera- Aphididae)

Rầy mềm có trứng màu đen nhạt được đẻ qua đông ở vùng ôn đới Riêng ở Hawaii, không có dạng trứng Ấu trùng màu xanh vàng với 3 sọc đen trên lưng bụng, nhưng không thấy ở thành trùng Ở Hawaii, có 4 giai đoạn ấu trùng Thành trùng không cánh thay đổi màu sắc từ xanh đến vàng xanh, thành trùng có cánh có bụng màu đen hoặc nâu đen Râu dài 2/3 cơ thể Trong điều kiện thích hợp thành trùng cái đẻ 50 ấu trùng (Ronald F L Mau, Jayma L Martin Kessing, 1991)

Theo ACTA và C.A Dedryver (1982) trung bình có 80 ấu trùng/con cái, dạng không cánh đẻ nhiều hơn dạng có cánh

Ký chủ đông của rầy mềm thuốc lá là đào Nhưng là loài đa thực với ký chủ hè với hơn 40 họ cây trồng khác nhau (CABI, 2005)

∗ Rầy mềm bắp Rhopalosiphum maidis Fitch (Homoptera- Aphididae)

Theo T Jude Boucher (2005) rầy mềm bắp có màu xanh đậm hoặc đen Cây ký chủ gồm nhiều loại cỏ (lồng vực, lác rận và đuôi chồn) và hầu hết cây ngũ cốc (bắp, lúa mạch, lúa mạch đen, kiều mạch, lúa mì, kê và cao lương) Không có giai đoạn trứng và con đực Ấu trùng hoàn thành ít nhất trong 6 ngày Có 9 thế hệ trên năm ở miền Bắc nước Mỹ Rầy mềm bắp phân bố rộng khắp từ vùng ôn đới đến vùng nhiệt

đới (CABI, 2005)

2.3.2 Nghiên cứu trong nước

∗ Rầy mềm đậu Aphis craccivora Koch (Homoptera- Aphididae)

Theo Lê Văn Ninh, Nguyễn Thị Kim Oanh (2002) rầy mềm trưởng thành có 2 loại hình, loại có cánh và không có cánh Cơ thể bóng, màu nâu đậm Chân màu vàng Ống bụng và ống mông màu đen, ống bụng dài gấp đôi ống mông

Ở 3 ngưỡng nhiệt độ 20 0C; 250C; 300C Rầy non có 4 tuổi Thời gian trưởng thành trước đẻ khoãng 1 ngày Thời gian vòng đời tương đối dài từ 7,6 - 9,1 ngày Thời gian

Trang 20

trưởng thành là từ 6,9 đến 7,4 ngày Tuổi thọ của rầy mềm đậu trung bình là 14,5 - 15,1 ngày

Theo kết quả điều tra tổng hợp từ 1977 - 2000 của Viện BVTV, Trường Đại

học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh và Đại học Cần Thơ ký chủ của Aphis craccivora là

rau họ thập tự, dưa, bầu bí, đậu đỗ các loại và cây họ cam quýt

∗ Rầy mềm đậu tương Aphis glycines Matsumura (Homoptera- Aphididae)

Cơ thể màu xanh lục vàng, ngực và đầu có màu đen hay xanh lục đậm, bụng màu nhạt, dài từ 1,7 - 2 mm, rộng từ 0,7 - 0,9 mm Râu màu trắng bẩn nhưng các đốt roi râu màu nâu đen, ngắn hơn cơ thể Vòi chích hút kéo dài vượt khỏi đốt chậu chân giữa Ống bụng màu nâu Dạng không cánh có cơ thể màu vàng xanh đến vàng tươi, 2 mắt đen, râu ngắn hơn 1/2 thân mình và có màu trắng giống như chân, dài từ 1,5 - 2

mm, rộng từ 0,7 đến 1,2 mm Các đặc điểm khác đều giống như dạng có cánh (VNG, 2008)

Theo kết quả điều tra tổng hợp từ 1977 - 2000 của Viện BVTV, Trường Đại

học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh và Đại học Cần Thơ ký chủ của Aphis glycines là rau

họ đậu đỗ các loại

∗ Rầy mềm bông vải Aphis gossypii Glov (Homoptera- Aphididae)

Rầy mềm bông vải còn được gọi là rầy mật, rầy nhớt cả ấu trùng lẫn thành

trùng đều rất nhỏ, dài độ 1 - 2mm, có màu vàng (Nguyễn Văn Măng, 2008)

Ở nước ta, rầy mềm chỉ sinh sản vô tính - đẻ con Một con cái có thể đẻ 40 - 50 con Con cái có cánh đẻ ít hơn con cái không cánh (Nguyễn Thị Chắt, 2006)

Theo kết quả điều tra tổng hợp từ 1977 - 2000 của Viện BVTV, Trường Đại

học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh và Đại học Cần Thơ ký chủ của Aphis gossypii khá

đa dạng gồm cây rau họ thập tự, họ cà, họ bầu bí, đậu đỗ các loại và một số cây công nghiệp khác

∗ Rầy mềm thuốc lá Myzus persicae Sulzer (Homoptera- Aphididae)

Theo Sở Khoa Học và Công Nghệ Bắc Ninh (2009) rầy mềm thuốc lá phát triển theo 2 giai đoạn: rầy non và rầy trưởng thành Rầy mềm cái trưởng thành không đẻ trứng mà đẻ rầy non Có 2 dạng rầy trưởng thành: có cánh và không có cánh Rầy mềm cái không có cánh to hơn rầy mềm cái có cánh, đẻ cũng nhiều hơn, mỗi ngày có thể đẻ

4 - 6 rầy non Rầy mềm cái có cánh thường hình thành khi thức ăn ở nơi quần thể rầy

Trang 21

mềm sống đã cạn kiệt, hoặc khi thời tiết chuyển mùa, bất lợi cho rầy sinh sống Rầy mềm cái có cánh chủ yếu làm nhiệm vụ di chuyển tìm nguồn thức ăn và bảo tồn nòi giống nên chỉ đẻ rầy mềm non trong vài ngày, mỗi ngày đẻ 2 - 3 rầy mềm non

Theo kết quả điều tra tổng hợp 1977 - 2000 của Viện BVTV, Trường Đại học

Nông Lâm TP Hồ Chí Minh và Đại học Cần Thơ ký chủ của Myzus persicae gồm cây

rau họ thập tự, họ cà, đậu đỗ các loại, ngô, cao lương và một số cây công nghiệp khác

∗ Rầy mềm bắp Rhopalosiphum maidis Fitch (Homoptera- Aphididae)

Theo Sở Khoa Học và Công Nghệ Đồng Tháp (2009) rầy mềm bắp là một loài sâu hại thường xuyên xuất hiện và gây hại, đôi khi rất trầm trọng đối với cây bắp ở nhiều vùng trồng bắp của nước ta, nhất là vào những thời điểm thời tiết có ẩm độ cao trong năm Chúng là một loài côn trùng đa thực, ngoài cây bắp chúng còn gây hại nhiều lọai cây trồng khác như : kê, cao lương, mía, nhiều lọai cỏ trồng làm thức ăn cho gia súc Ngoài ra chúng còn là môi giới truyền bệnh virus gây một số bệnh cho cây bắp như bệnh vàng lùn, bệnh khảm lá, bệnh đỏ lá

Rầy mềm sinh sản chủ yếu theo kiểu đơn tính và đẻ con Thực tế đồng ruộng cho thấy trong một quần thể rầy mềm thường hiện diện nhiều lọai hình của rầy mềm như: rầy mềm cái có cánh, rầy mềm cái không có cánh, rầy mềm non

2.4 Tập quán sinh sống và mức độ gây hại của họ rầy mềm Aphididae

2.4.1 Nghiên cứu ngoài nước

• Tập quán sinh hoạt

Theo Bastiaan M Drees (1996) rầy mềm hút dịch cây bằng ống hút Hầu hết rầy mềm có khả năng tiết ra một loại dịch gọi là “mật” tương tự nước đường, chúng rơi xuống lá hoặc bất cứ vật gì dưới chúng Một loại nấm gọi là “ Nấm mốc”

(Capnodium spp.) phủ trên bề mặt của dịch mật này tạo thành lớp muội đen Kết quả là

ánh sáng không thể đến bề mặt lá, ngăn quá trình quang hợp, tổng hợp đường của cây Mặt khác, chất dịch mật này thu hút kiến, ruồi và những côn trùng khác Một vài loài rầy mềm phụ thuộc lớn vào kiến để sống sót và phát tán

Một số loài rầy mềm chủ yếu gây hại trên lá, trong khi một số loài khác gây hại trên hoa, trái, đọt, thân và rể Nếu không kiểm tra kỹ và kịp thời, rầy mềm làm cây chậm phát triển, xoăn đọt, trái và lá bị dị dạng, mất màu, hoặc có thể gây u trên lá, thân và rể Chúng là vector quan trọng truyền virus gây bệnh cho cây Rầy mềm bông

Trang 22

vải Aphis gossypii là vector cho hơn 50 loài virus và gần 100 loài virus xâm nhiễm vào cây trồng nhờ vector rầy mềm thuốc lá Myzus persicae

Theo M.N Berim (2004) nghiên cứu rầy mềm đậu đen Aphis fabae ở Russia cho thấy chúng qua đông trên chồi của cây nam việt quất (Viburnum opulus L.) và nhài (Philadelphus coronaries L.) Vào giữa tháng 5, rầy mềm có cánh phát tán trên

cây ký chủ thứ cấp (củ cải trắng, đậu, đậu cove, đậu tằm, khoai tây, và những cây dại)

Theo Ilse Schreiner (2000) rầy mềm đậu Aphis craccivora có giai đoạn trứng

phát triển trong cơ thể mẹ và ấu trùng được sinh ra Khi mới hình thành quần thể, chúng thường ở dạng không cánh, khi mật số cao thì dạng có cánh xuất hiện và phân tán đến những cây khác Ở vùng nhiệt đới, rầy mềm sinh sản vô tính Chúng có nhiều

ký chủ nhưng chủ yếu được tìm thấy trên cây họ đậu

Rầy mềm đậu nành Aphis glycine sống sót qua mùa đông ở giai đoạn trứng

Theo Lewis Wilson và ctv (2008) nghiên cứu trên rầy mềm bông Aphis gossypii

ở Úc cho thấy, chúng chèn ống hút vào mô lá hoặc mô cây và thăm dò cho đến khi tiếp xúc được với dịch cây Chất dịch trong cây giàu hàm lượng đường nhưng nghèo amino acid - cần cho sự phát triển của rầy mềm Khi lượng amino acid tích lũy đủ cho sự phát triển của rầy mềm thì lượng đường đã quá thừa, nên chúng được tiết ra ngoài tạo thành chất “dịch mật” Chất dịch mật thu hút sự phát triển nấm mốc trên bề mặt lá bông vải Cách ăn của rầy mềm gây hại trên bông vải theo 4 cách:

1 Ấu trùng gây hại vào giai đoạn sinh trưởng và phát triển của trái, giảm sự phát triển của cây

2 Sự có mặt của rầy mềm trên lá chiếm diện tích, ống hút của nhiều rầy mềm gây tổn thương bề mặt lá, làm giảm quá trình quang hợp

3 Lớp dịch mật của rầy mềm thu hút nấm bồ hóng, phủ lên lá, ngăn quá trình quang hợp

Trang 23

4 Rầy mềm thường tập trung ở thân, lá non và trái để lại triệu chứng như xoăn đọt, cong mép lá

Theo H J McAuslane (2001) ấu trùng rầy mềm trúc đào Aphis nerii hút dịch

cây và thiết lập quần thể lớn Thông thường, thành trùng dạng không cánh chiếm ưu thế Khi mật số quá đông hình thành dạng có cánh và phát tán đến ký chủ mới Chúng

là vector của một số virus gây bệnh như khảm trên mía, đốm vòng đu đủ

• Yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triển

Theo M.N Berim (2004) nghiên cứu rầy mềm đậu đen Aphis fabae ở Russia di

chú kéo dài 8 -15 ngày, phụ thuộc vào điều kiện thời tiết

Rầy mềm sinh sản ở thời tiết ấm áp tốt hơn điều kiện thời tiết khô trong tháng

4- 5 Mật số rầy mềm lớn nhất vào tháng 7 Thiên địch của rầy mềm gồm Coccinella septempunctata L., Coccinella quinquepunctata L., Adalia bipunctata L., Adalia decimpunctata L., Adonia variegate Goeze, Calvia quatuordecimpunctata L., Propylaea quatuordecimpunctata L., Exochomus quadripustulatus L., Thea vigintiduopunctata L., Sphaerophoria scripta L., Sphaerophoria menthastri L., Syrphus corollae F., Syrphus balteatus Deg., Scaeva pyrastri L., Chrysopa vulgaris Schn., Chrysopa perla L., Ephedrus plagiator Nees., và Aphidencyrtus aphidivorus

Mayr

Theo John L Capinera (2007) rầy mềm bông vải có chu kỳ sống rất khác nhau giữa miền Nam và miền Bắc nước Mỹ Ở miền Bắc, trứng được đẻ trên ký chủ chính vào mùa thu, sinh con vào mùa hè Khi mật số cao, thiếu cây ký chủ, hoặc đến mùa thu thì việc hình thành dạng có cánh ưu thế Ở miền Nam, dạng hữu tính không quan trọng, con cái đẻ con mà không cần giao phối Khác với nhiều loài rầy mềm khác, rầy mềm bông vải ít bị ảnh hưởng bởi thời thời tiết nóng Mật số tiếp tục tăng nếu điều kiện thức ăn và thời tiết thuận lợi

2.4.2 Nghiên cứu trong nước

Rầy mềm đậu Aphis craccivora có khả năng ngưng phát dục vào mùa khô khi

điều kiện bất lợi Rầy mềm chỉ phát triển thuận lợi ở nhiệt độ 16 – 24 oC và ẩm độ 50 -

80 % Trong khoãng thời gian nhiệt độ và ẩm độ này với điều kiện thức ăn đầy đủ, một lứa rầy chỉ kéo dài 6- 8 ngày (Nguyễn Thị Chắt, 2006)

Trang 24

Theo Nguyễn Văn Măng (2008) rầy mềm bông vải Aphis gossypii sống thành

đám đông ở mặt dưới lá non từ khi cây có 2 lá mầm đến khi thu hoạch, chích hút nhựa làm cho ngọn dây dưa chùn đọt và lá bị vàng Chúng có rất nhiều thiên địch như bọ rùa, dòi, kiến, nhện nấm

Theo Sở Khoa Học và Công Nghệ Bắc Ninh (2009) rầy mềm thuốc lá Myzus

persicae chích hút dịch cây ở các bộ phận non, làm cho lộc non bị cong queo, rụng

sớm; cành lá non không sinh trưởng được Thời kỳ cây ra hoa - quả, chúng gây hại làm rụng hoa quả non khá nhiều Rầy mềm thuốc lá được xác định là môi giới truyền bệnh virút gây khảm nhàu lá khoai tây và nhiều cây trồng khác Ngoài ra, chúng còn bài tiết chất dịch thức ăn cho kiến và làm môi trường cho nấm muội đen phát triển Trong các

ổ rầy mềm có thể gặp kiến lui tới ăn chất dịch mật do rầy tiết ra và khi cần thiết, chúng tha từng con rầy mềm đưa đi nơi khác Đây được coi là hiện tượng cộng sinh giữa kiến

và rầy mềm Chất dịch mật rầy mềm thuốc lá tiết ra sau khi kiến ăn vẫn còn dính bám trên bề mặt lá, cành non, tạo điều kiện cho nấm muội đen phát triển, bao bọc mặt lá, mặt quả, cản trở khả năng quang hợp của các bộ phận lá, làm cho cây chậm lớn, quả giảm chất lượng

Theo Sở Khoa Học và Công Nghệ Đồng Tháp (2009) vào đầu vụ bắp, rầy mềm

cái có cánh Rhopalosiphum maidis từ những cây kí chủ phụ, từ những ruộng bắp

xuống giống sớm hoặc những ruộng bắp vụ trước bay tới đẻ ra rầy con, những rầy con này sẽ phát triển thành những rầy mềm cái không có cánh, những rầy mềm cái không

có cánh này tiếp tục sinh sản theo kiểu đơn tính nhiều thế hệ nối liếp nhau đến khi số lượng dầy đặc (mật số cao), nguy cơ thiếu thức ăn bị đe dọa thì trong quần thể rầy mềm xuất hiện những con cái có cánh, những con có cánh này lại bay đi nơi khác tìm nguồn thức ăn mới (ruộng bắp khác hoặc ký chủ phụ) để tiếp tục gây hại và sinh sản duy trì nòi giống Nếu mật số rầy mềm thấp, ruộng không bị thiếu thức ăn thì đến cuối

vụ, khi cây bắp chuyển dần sang già cứng, thức ăn không còn phù hợp nữa thì trong quần thể rầy mềm cũng xuất hiện những con rầy cái có cánh bay đi tìm nguồn thức ăn mới (những ruộng bắp mới xuống giống của vụ sau hoặc trên các cây kí chủ phụ) để sinh sống và sinh sản, giống như trường hợp thiếu thức ăn Trong một vụ bắp, rầy mềm thường xuất hiện và gây hại nhiều nhất từ khi cây bắp có 8-9 lá trở đi Những

Trang 25

ruộng gieo dầy, bít bùng, không thông thoáng, tạo ẩm độ không khí trong ruộng cao, thường là những ruộng bị rầy mềm gây hại nhiều hơn những ruộng khác

2.5 Biện pháp phòng trừ

2.5.1 Nghiên cứu ngoài nước

Theo John L Capinera, 2007 rầy mềm có nguồn ký chủ rộng nên sử dụng biện pháp luân canh là khó khăn

Loại bỏ cây bị nhiễm ngay sau thu hoạch, hoặc ngăn chúng phát tán

Thu don, tiêu diệt cỏ dại vì đây có thể là nguồn ký chủ phụ trong thời gian qua đông

Dầu thực vật thích hợp cho việc kiểm soát rầy trên phong lan Neem và dầu thực vật thường có hiệu quả, nhưng dầu thực vật thường có mùi sau khi dùng Dầu tỏi, cam quýt là thuốc trừ rầy mềm hiệu qủa

Xà phòng và chất ngăn chặn Về kỹ thuật, xà phòng là muối kali alkaline của acid béo Trong khi chất ngăn chặn là hợp chất tổng hợp có hoạt tính tương tự chất hóa học Tuy nhiên, xà phòng phản ứng với hợp chất alkaline chứa Na, K, Ca hoặc

Mg, trong khi chất ngăn chặn thường trung tính và không phản ứng với nước cứng

Xà phòng trừ rầy là công thức đặc biệt an toàn cho cây trồng, là tác nhân tiêu diệt và kiểm soát rầy mềm hiệu quả cũng như sâu hại khác trên phong lan, đặc biệt trong điều kiện ở nhà và trong nhà kính Chúng khá an toàn, ít độc với người, dể áp dụng, ít hơi độc so với thuốc trừ sâu khác Tuy nhiên, chúng chỉ hiệu quả trong điều kiện ẩm, không khô

Thuốc trừ rầy phổ biến và hiệu quả nhất cho việc kiểm soát rầy mềm là malathion, acephate, diazinon và methiocarb Ngoài ra, còn một số thuốc được sử

Trang 26

dụng phổ biến như Abamectin dùng trong điều kiện đồng ruộng, Azadirachtin dùng trong điều kiện nhà kính

Kiểm soát sinh học bằng thiên địch:

Muỗi ăn rầy mềm Aphidoletes aphidomyza (Diptera, Cecidomyiidae) là loại côn

trùng nhỏ Ấu trùng có thể ăn 10 - 100 con rầy mềm tùy vào kích thước rầy mềm và điều kiện môi trường Muỗi ăn rầy mềm hoạt động ở ẩm độ cao và hiệu quả ít nhất trong 16 giờ/ngày Ấu trùng là giòi có kích thước nhỏ, màu vàng nhạt, hoạt động trên

lá và chồi, nơi mà nó chích và tấn công rầy mềm Thành trùng hút dịch mật của rầy mềm và các chất lỏng khác Mỗi con cái có thể đẻ 70 trứng trên bề mặt lá

Chuồn chuồn cỏ: Chuồn chuồn cỏ xanh (Neuroptera, Chrysopidae) và chuồn chuồn cỏ nâu (Neuroptera, Hemerobiidae) Ấu trùng ăn rầy mềm, rệp sáp, ấu trùng rầy phấn trắng và một số sâu hại khác Thành trùng hút dịch mật, nước đường và một số chất lỏng khác

Bọ rùa (Coleoptera, Coccinellidae) được biết cả ấu trùng và thành trùng đều là

thiên địch của rầy mềm, rầy xanh, rệp sáp, nhện đỏ và một số sâu hại khác Nhưng có một số loài bọ rùa cũng gây hại Có nhiều loài có ích trên thế giới, nhưng chỉ một số loài có giá trị thương mại

Ruồi ăn rầy mềm (Diptera, Syrphidae) là họ lớn của bộ hai cánh với rất nhiều

loài Ấu trùng là giòi ăn rầy mềm, loài Scaeva pyrastri có thể ăn 500 con rầy mềm

trong qúa trình phát triển

Ong ký sinh (Hymenoptera, Aphidiidae và Aphelinidae): Có nhiều loài phổ

biến và có giá trị thương mại như Aphelinus abdominalis, Aphidius matricarae, Aphidius colmani, Diaeretiella rapae, Lysiphlebus testaceipes và nhiều loài khác Tất

cả những con ong nhỏ (< 1,5 mm) đẻ trứng bên trong rầy mềm và ấu trùng của ong ăn các bộ phận bên trong của rầy mềm Hiệu qủa của những con ong này được ước tính bởi màu tím hoặc đen của rầy mềm với những lổ hỏng lớn ở bụng, nơi mà ong con chui ra Việc ký sinh rầy mềm có hiệu qủa cao khi mật số rầy mềm thấp, ong ký sinh mẩn cảm với thuốc trừ sâu và bẫy Nhà kính là nơi tốt để ngăn sự thoát ra của ong ký sinh

Nấm gây bệnh Beauveria bassiana: Xâm nhiễm cao với rầy mềm và một số sâu

hại khác

Trang 27

Theo Phillip Glogoza (2004) ngưỡng phòng trừ rầy mềm Aphis glycine trên đậu

tương ở Bắc Darkota, Mỹ là 250 con/cây vào thời điểm: Mật số rầy mềm có xu hướng tăng nhanh vì điều kiện thích hợp; Kiểm tra xác rầy mềm bị ký sinh và con có cánh; Không phun thuốc nếu thấy xác rầy mềm bị ký sinh nhiều hoặc có quá nhiều rầy mềm

có cánh; Cây được đánh giá là trên ngưỡng phòng trừ thì việc sử dụng thuốc vẫn có hiệu quả, dù có ảnh hưởng đến kinh tế

Ngoài ra, có thể phòng trừ rầy mềm theo tự nhiên khi: Cường độ mưa lớn, kéo dài; Có nhiều loài ăn thịt và ký sinh rầy mềm xuất hiện như ấu trùng, thành trùng bọ rùa, bọ cánh lưới, muỗi ăn rầy, ong ký sinh; Mật số rầy mềm có thể giảm nhanh do tác động của nhiều yếu tố như điều kiện thức ăn thiếu, quần thể quá đông và sự phát triển của nhiều thành trùng có cánh

2.5.2 Nghiên cứu trong nước

Theo Sở Khoa Học và Công Nghệ Đồng Nai (2009) để phòng trị rầy mềm bắp

có hiệu quả cao nên kết hợp nhiều biện pháp một cách đồng bộ ngay từ đầu vụ Sau đây là một số biện pháp chính:

Trước khi làm đất, gieo hạt cần dọn sạch sẽ cỏ dại trong ruộng và xung quanh

để tiêu diệt những con rầy mềm đang sinh sống trên đó, không cho chúng tích lũy số lượng để từ đó di chuyển sang phá ruộng bắp ở đầu vụ, hạn chế nguồn rầy mềm tích lũy ban đầu

Không nên gieo quá dầy dễ làm cho ruộng bắp bít bùng, tạo ấm độ trong ruộng cao thuận lợi cho rầy mềm phát sinh gây hại Gieo trồng với mật độ thích hợp với yêu cầu của từng loại giống mà nhà sản xuất giống đã khuyến cáo

Nếu ruộng thường bị rầy mềm gây hại nên trồng xen bắp với những cây thuộc họ đậu đỗ để tăng cường hoạt động của hệ thiên địch, đặc biệt là nhóm bắt mồi ăn thịt như ruồi ăn rầy mêm, một số loài bọ rùa như bọ rùa chữ nhân, bọ rùa 4 vạch, bọ rùa 6 vạch, bọ rùa 2 đốm đỏ, bọ rùa 8 vệt

Để diệt trừ rầy mềm có thể sử dụng một trong các lọai thuốc trừ sâu phun xịt trực tiếp lên chỗ có rầy mềm đang gây hại: Ofunack 40EC; Elsan 50EC; Netoxin 95WP; Catodan 90WP; Supracide 4oEC; Admire 050EC; Regent 800WG; Fentox 25EC; Sumicidin 10EC/20EC…

Trang 28

Nếu đã áp dụng nhiều biện pháp mà vẫn chưa mang lại kết qủa cao, có thể luân canh cây bắp trên diện rộng một vài vụ với cây lúa nước hoặc một số loại rau trồng nước khác

Theo Trần Thế Lâm và Lê Quang Quyến nghiên cứu biện pháp phủ rơm và phủ màng nilon lên mặt luống tại Nha Hố (Ninh Sơn, Ninh Thuận) vào vụ đông xuân 2003, giúp cây bông sinh trưởng tốt hơn hẳn so với không phủ Trong đó, phủ rơm có tác dụng tốt hơn so với phủ màng nilon Phủ rơm và phủ màng nilon lên mặt luống bông

có tác dụng hạn chế sự phát sinh phát triển và gây hại của bọ trĩ, rầy mềm bông vải và rầy xanh hai chấm so với đối chứng không phủ

Theo Bùi Minh Hồng, Hà Quang Hùng (2005) thành phần ruồi bắt mồi họ

Syrphidae ăn rầy mềm hại rau họ thập tự ở Gia Lâm, Hà Nội gồm 7 loài Ichiodon scutellaris Fabricius; Episyrphus balteatus de Geer; Clythia sp; Syrphus confrater Wiede mann; Syrphus ribesii Linne; Megayphis zonata Fabricius; Paragus quadrifaciatus Meign, trong đó loài phổ biến là Clythia sp và Syrphus ribesii Linne

Trang 29

Chương 3

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 02/2009 đến tháng 06/2009

- Địa điểm: Đề tài được thực hiện tại Tp Hồ Chí Minh (Thủ Đức, Hóc Môn, Củ Chi)

và một số vùng phụ cận như Đồng Nai, Bình Dương

3.2 Điều kiện thời tiết khí hậu

Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo Cũng như các tỉnh ở Nam bộ, đặc điểm chung của khí hậu-thời tiết Thành phố Hồ Chí Minh

là nhiệt độ cao đều trong năm và có hai mùa mưa - khô rõ ràng Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau (Nguồn: HCM Cityweb)

Biểu đồ 3.1: Nhiệt độ, ẩm độ trung bình tại Tp Hồ Chí Minh từ tháng 2 đến tháng 6

Ẩm độ (%)

Nhiệt độ

Ẩm độ

Trang 30

Ẩm độ (%)

Nhiệt độ

Ẩm độ

Biểu đồ 3.2: Nhiệt độ, ẩm độ trung bình ở phòng thí nghiệm Bảo Vệ Thực Vật 2, Đại

học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2009

0 50 100 150 200 250 300 350

Lượng mưa (mm/tháng)

tháng 3 và tăng dần đến tháng 5, giảm vào tháng 6

Trang 31

3.3 Vật liệu nghiên cứu

- Rầy mềm trúc đào Aphis nerii được thu thập từ vườn trúc đào ở Tân Vạn, Biên Hòa,

Đồng Nai

- Rầy mềm đậu Aphis craccivora được thu thập từ vườn đậu đủa ở vườn Ca Cao,

Trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh

- Lá trúc đào được dùng để nuôi ấu trùng, thành trùng rầy mềm trúc đào

- Trái đậu đủa được dùng để nuôi ấu trùng, thành trùng rầy mềm đậu

- Vật liệu thu mẫu: Kính lúp cằm tay, dao, kéo, túi ni lông, dây thun, keo, hộp nhựa, dung dịch ngâm giữ mẫu: cồn 70%

- Vật liệu ghi nhận đặc điểm hình thái của rầy mềm: Máy ảnh KTS, kính lúp sôi nổi, kính hiển vi, thước đo vi trắc

- Vật liệu nuôi giữ mẫu: khay nhựa hình chữ nhật, xốp giữ ẩm, hũ thủy tinh nhỏ

- Vật liệu thí nghiệm ngoài đồng ruộng: Thuốc bảo vệ thực vật, bình phun thuốc, bảng

- Tài liệu phân loại: Aphidweb.com, Aphids on the World’s Herbaceous Plants and Shrubs (R.L Blackman and V.F Eastop, 2006), CAB International (2005), PaDIL

(Pests and Diseases Image Library)

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Điều tra thành phần rầy mềm trên một số cây rau, màu và cây hoa kiểng

a Phương pháp

- Thu thập thành phần rầy mềm trên một số cây rau, màu và cây hoa kiểng

- Tiến hành điều tra theo phương pháp ngẫu nhiên tại Tp Hồ Chí Minh (Thủ Đức, Hóc Môn, Củ Chi) và một số vùng phụ cận như Đồng Nai, Bình Dương

- Mẫu rầy mềm thu thập ngoài đồng ngâm trong dung dịch cồn 70 % mang về bảo quản, xử lí theo quy trình của SEL (Systematic Entomology Laboratory)- USDA để

phân loại

Quy trình xử lí mẫu:

1 a Ngâm rầy mềm trong dung dịch KOH 10 % từ 24- 48h để làm mềm phần bên trong cơ thể (Không nên ngâm mẫu quá lâu nếu không thật sự cần thiết vì KOH sẻ phá vỡ hoặc làm phai màu cơ thể)

Hoặc:

Trang 32

b Đun trong KOH 10 - 20 phút trên bếp điện Đậy nắp lọ đựng mẫu để ngăn sự thoát hơi

2 Dùng kim rạch 2 bên bụng Nếu mẫu nhiều, thay đổi vị trí rạch, một số mẫu có thể rạch hoàn toàn bên trái hoặc bên phải

3 Với kim nhỏ, ấn nhẹ vào bụng và đưa phần bên trong ra ngoài

4 Rửa mẫu trong nước cất khoãng 5 phút

5 Nếu mẫu mất màu, có thể nhuộm mẫu Ngâm trong chất nhuộm màu 5 phút

6 Rửa mẫu và ngâm trong cồn 70 % từ 5 - 10 phút

7 Ngâm mẫu trong cồn 95 % để mẫu dể thoát hơi

8 Ngâm mẫu trong dầu đinh hương ít nhất 5 phút Mẫu có thể được ngâm trong dầu đinh hương qua đêm nếu chưa có thời gian đưa lên slide

9 Nhỏ giọt Balsam Canada vào giữa slide Đưa mẫu lên slide

10 Chụp hình mẫu và bảo quản slide cố định trong hộp đựng slide

11 Để nhãn ở góc trái slide, gồm các thông tin sau:

- Tần số xuất hiện được tính theo công thức:

TSXH (%) = Số cây xuất hiện rầy mềm/Tổng số cây điều tra x 100

Mật độ xuất hiện được chia thành các mức:

+: Mật độ xuất hiện ít, TSXH < 5%

++: Mật độ xuất hiện thường xuyên, 10% < TSXH < 35%

+++: Mật độ xuất hiện phổ biến, 36% < TSXH <50%

++++: Mật độ xuất hiện rất phổ biến, TSXH > 50%

c Thời gian theo dõi

1 tháng/lần

Trang 33

3.4.2 Khảo sát đặc điểm hình thái, sinh học rầy mềm gây hại chính trên cây rau màu và cây hoa kiểng

a Phương pháp

Thu mẫu 2 loài rầy mềm Aphis craccivora Koch., Aphis nerii Boyer nuôi cá

thể trên ký chủ của chúng theo phương pháp của Van Emden (1972) trên đảo thức ăn,

Cụ thể:

- Cắm một lá trúc đào hoặc một khúc đậu đủa dài 3- 5 cm vào miếng xốp nhỏ

- Đặt các mẫu vào trong khay nhựa 27,5*28,5 cm có chứa nước

- Mỗi khay chứa 50 mẫu Mỗi mẫu chứa một con rầy mềm

b Chỉ tiêu theo dõi

1 Thời gian trước đẻ con

2 Thời gian đẻ con

3 Thời gian sau đẻ con

4 Tuổi thọ thành trùng

5 Khả năng đẻ con

6 Màu sắc, kích thước thành trùng, ấu trùng

7 Số lần lột xác của ấu trùng

8 Thời gian mỗi tuổi

9 Thời gian ấu trùng phát triển

- Chọn 3 - 4 vườn điển hình cố định để điều tra

- Mỗi vườn đậu bắp điều tra 5 điểm tịnh tiến không lặp lại (Hình 3.1), mỗi vườn trúc đào điều tra 5 điểm ngẩu nhiên

- Mỗi điểm điều tra 3 cây, mỗi cây điều tra 4 lá hoặc đọt

Trang 34

Hình 3.1: Sơ đồ điều tra theo đường ziczac

b Chỉ tiêu theo dõi

1 Thành phần rầy mềm

2 Mật độ rầy mềm (con/đọt)

Mật độ rầy mềm được tính theo công thức:

Mật đô (con/đọt) = Tổng số rầy mềm ở các đọt điều tra/Tổng số đọt điều tra

3 Tỉ lệ đọt bị hại (%)

Tỉ lệ đọt bị hại (TLĐBH) được tính theo công thức:

TLĐBH (%) = Số đọt bị hại/Tổng số đọt điều tra x 100

c Thời gian theo dõi

7 ngày/lần

Trang 35

3.4.4 Khảo sát hiệu lực trừ rầy mềm của một số thuốc hóa học, sinh học

- Cách phun: phun ướt đều lên lá, đọt với liều lượng theo khuyến cáo

b Chỉ tiêu theo dõi

Số lượng rầy mềm ở các nghiệm thức trước khi phun thuốc và sau khi phun thuốc 1, 3, 5, 7 ngày

Hiệu lực của thuốc được tính theo công thức Henderson – Tilton:

Hiệu lực (%) = [1 - (Ta x Cb/Tb x Ca)] x 100

Trong đó:

Ta: Số lượng cá thể sống trong công thức phun thuốc sau xử lý

Tb: Số lượng cá thể sống trong công thức phun thuốc trước xử lý

Ca: Số lượng cá thể sống trong công thức đối chứng sau xử lý

Cb: Số lượng cá thể sống trong công thức đối chứng trước xử lý

3.5 Xử lý số liệu và phân tích thồng kê

- Tính toán số liệu, vẻ đồ thị bằng phần mềm Microsoft Excel 2003

- Số liệu được xử lý thống kê bằng phần mềm MSTATC kiểu xử lý ANOVA 1

- Số liệu hiệu lực của thuốc biểu thi bằng phần trăm được chuyển đổi theo quy tắc: Arsin (p)1/2 , có sự hiện diện của 0 thì chuyển sang 1/4n và có sự hiện diện của 100 chuyển sang 100 - 1/4n

Trang 36

Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Một số loài rầy mềm gây hại trên cây rau, màu và cây hoa kiểng

Qua thời gian điều tra từ tháng 02/2009 đến tháng 06/2009 tại Tp Hồ Chí Minh

và một số vùng phụ cận, đã ghi nhận được 10 loài rầy mềm gây hại trên một số cây trồng (Bảng 4.1)

Bảng 4.1: Một số rầy mềm gây hại trên cây trồng ở Tp Hồ Chí Minh và một số vùng

phụ cận, năm 2009

STT Tên khoa học Tên thường gọi MĐXH Vị trí gây hại

1 Aphis craccivora (Koch, 1854) Rầy mềm đậu ++ Đọt, trái, lá, hoa

3 Aphis glycine (Matsumura,

1917)

Rầy mềm đậu tương

+ Đọt

4 Aphis gossypii (Glover, 1877) Rầy mềm bông vải +++ Lá, đọt

5 Aphis nerii (Boyer, 1841) Rầy mềm trúc đào + Nụ hoa, lá, đọt

6 Aphis spiraecola (Patch, 1914) Rầy mềm xanh ++ Đọt, lá

7 Brachycaudus cardui

(Linnaeus, 1758)

Rầy mềm kê + Lá, hoa

9 Myzus persicae (Sulzer, 1776) Rầy mềm thuốc lá + Lá

10 Rhopalosiphum maidis (Fitch,

1856)

Ghi chú: MĐXH: Mật độ xuất hiện

Trong số 10 loài này bao gồm rầy mềm đậu Aphis craccivora Koch., rầy mềm đậu đen Aphis fabae Scopoli., rầy mềm đậu tương Aphis glycine Matsumura., rầy mềm bông vải Aphis gossypii Glover., rầy mềm trúc đào Aphis nerii Boyer., rầy mềm xanh

Trang 37

Aphis spiraecola Patch., rầy mềm kê Brachycaudus cardui Linnaeus., rầy mềm bắp Rhopalosiphum maidis Fitch., rầy mềm thuốc lá Myzus persicae Sulzer và Cinara sp

Đặc điểm nhận dạng, phân loại một số loài rầy mềm:

∗ Aphis craccivora Koch

Thành trùng cái không cánh có cơ thể có màu đen bóng với đốm đen lớn trên lưng bụng và chân vàng; không phủ sáp Ấu trùng phủ lớp sáp tím Kích thước cơ thể nhỏ (1,56 – 1,89mm), tròn Râu có 6 đốt; không có lổ cảm giác phụ ở đốt thứ III (Hình 4.1.1) Ống bụng hình trụ, màu đen, dài gấp 3 lần chiều rộng Ống mông màu đen

Thành trùng cái có cánh có cơ thể màu đen với vạch ở lưng bụng và chân màu

vàng đến nâu Cơ thể nhỏ, tròn Râu 6 đốt, có 4 – 8 lổ cảm giác phụ trên đốt thứ III; không có lổ cảm giác phụ trên đốt IV (Hình 4.1.2) Ống bụng hình trụ, màu đen, dài gấp 3 lần chiều rộng Ống mông màu đen (Hình 4.4.1)

Ghi nhận này phù hợp với kết quả của Manya B Stoetzel (1990); (CABI, 2005)

∗ Aphis fabae Scopoli

Thành trùng cái không cánh có cơ thể tròn, màu đen Râu đầu 6 đốt Gờ đầu không phát triển, Pt dài bằng 2/3 chiều dài đốt VI, không có lỗ cảm giác phụ ở đốt III

Ống bụng đen, dài 2 lần chiều rộng Ống mông đen (Hình 7.1.5)

∗ Aphis glycine Matsumura

Thành trùng cái không cánh có cơ thể màu xanh vàng, ngực và đầu có màu xanh lục đậm, bụng màu nhạt Gờ đầu không phát triển, không có lỗ cảm giác phụ ở đốt thứ III (Hình 4.2.6) Râu ngắn hơn nửa thân, các đốt roi râu màu nâu đen Ống bụng màu nâu Ống mông màu vàng (Hình 4.2.5)

∗ Aphis nerii Boyer

Thành trùng cái không cánh có màu vàng cam, kích thước cơ thể nhỏ 1,37 - 1,81mm, tròn Râu 6 đốt, Pt dài hơn Base 3 - 4 lần ở đốt thứ VI, không có lổ cảm giác phụ ở đốt thứ III (Hình 4.2.4) Ống bụng và ống mông đen, chân và râu đen (Hình 4.2.3)

Thành trùng cái có cánh có cơ thể màu vàng cam với ống bụng, ống mông, chân

và râu đen Cơ thể nhỏ, tròn Râu 6 đốt, Pt dài hơn Base 2 - 3 lần ở đốt VI Có 6 – 13

lổ cảm giác phụ ở đốt thứ III, 0 – 5 lổ cảm giác phụ ở đốt thứ IV (Hình 4.4.2)

Trang 38

Hình 4.1: Mẫu Aphis craccivora Koch

1 Thành trùng cái không cánh; 2 Thành trùng cái có cánh;

3 P (Primer sensoria): Lổ cảm giác chính;

4 S (Secondaries sensoria): Lổ cảm giác phụ

1

Seg VI

P Seg III

Cauda Cornicle

2

Trang 39

∗ Aphis gossypii Glover

Thành trùng cái không cánh có cơ thể nhỏ, tròn màu xanh, xanh vàng, xanh đậm và vàng nhạt (Hình 4.2.1) Râu có 6 đốt, không có lổ cảm giác phụ ở đốt thứ III

Gờ đầu không phát triển Ống bụng hình trụ, màu đen (Hình 4.2.2) Ống mông màu xanh đến xanh đậm

Thành trùng cái có cánh có hình dạng và màu sắc cơ thể tương tự con cái không cánh Cơ thể nhỏ, tròn Râu có 6 đốt, gờ đầu không phát triển, Pt dài hơn Base 2 – 3 lần ở đốt VI; đốt III có 4 lổ cảm giác phụ Ống bụng xanh đậm Ống mông xanh

Ghi nhận này phù hợp với kết quả của Manya B Stoetzel (1990), Gary L Miller và Manya B Stoetzel (1997)

∗ Aphis spiraecola Patch

Thành trùng cái không cánh có cơ thể màu xanh với râu và chân màu xanh Cơ thể nhỏ, tròn Râu 6 đốt Không có lổ cảm giác phụ ở đốt thứ III Ống bụng hình trụ màu nâu đậm đến đen Ống mông màu nâu đậm đến đen (Hình 7.1.1, phụ lục 2)

Thành trùng cái có cánh có cơ thể màu xanh vàng với đầu và ngực có màu nâu

Cơ thể nhỏ, tròn Râu 6 đốt, có 4 – 10 lổ cảm giác phụ ở đốt thứ III và 0 – 4 lổ cảm giác phụ ở đốt thứ IV Ống bụng hình trụ màu đen, ống mông màu đen (Hình 7.1.2, phụ lục 2) Ghi nhận này phù hợp với kết quả của Manya B Stoetzel (1994)

∗ Brachycaudus cardui Linnaeus

Thành trùng cái không cánh có màu sắc cơ thể thay đổi từ vàng đến xanh, có vệt tối lớn ở lưng bụng Chân vàng Râu đầu 6 đốt, gờ đầu không phát triển, Pt dài bằng ¾ đốt VI Đốt III và IV không có lỗ cảm giác phụ Ống bụng hình trụ, đen dài Ống mông đen

∗ Cinara sp

Cơ thể thành trùng cái không cánh dài, màu nâu đỏ, có phủ lớp sáp trắng Rầu đầu 6 đốt, Pt chỉ dài bằng 1/3 đốt thứ VI Ống hút dài hơn nửa cơ thể Ống bụng thì dính sát vào cơ thể Ống mông màu nâu (Hình 7.1.4, phụ lục 2)

∗ Myzus persicae Sulzer

Thành trùng cái không cánh hình oval, màu nâu đỏ Râu đầu 6 đốt, gờ đầu phát triển, Pt dài bằng ¾ đốt VI, không có lỗ cảm giác phụ ở đốt III Ống bụng xanh Ống mông nâu đỏ (Hình 7.1.6, phụ lục 2)

Trang 40

∗ Rhopalosiphum maidis Fitch

Thành trùng cái không cánh có cơ thể hình oval, màu xanh xám Đầu nhọn hình kim Râu đầu 6 đốt, ngắn hơn nửa cơ thể Ống bụng hơi phồng ở giữa Ống mông nhọn xanh đậm (Hình 7.1.3, phụ lục 2)

10 loài rầy mềm ghi nhận trên được thu thập từ 3 nhóm cây ký chủ là nhóm cây rau, nhóm cây màu và nhóm cây hoa kiểng (Bảng 4.2)

Kết quả thu mẫu trên cây trồng ghi nhận rầy mềm bông vải Aphis gossypii là

loài phổ biến và gây hại trên 10 loại cây trồng theo 2 nhóm cây rau và cây hoa kiểng

10 loại cây ký chủ bao gồm bầu, bí đao, dưa leo, khổ qua, cà tím, ớt, đậu bắp và dâm

bụt, tía tô kiểng, xác pháo Trong đó, ở nhóm cây rau Aphis gossypii xuất hiện trên dưa leo là nhiều nhất với 57,5 % và ở nhóm cây hoa kiểng Aphis gossypii xuất hiện nhiều

nhất trên tía tô kiểng với 50 %

Thứ 2 là rầy mềm đậu Aphis craccivora xuất hiện thường xuyên trên cả 3 nhóm

ký chủ Gồm 7 loại cây trồng: đậu côve, đậu đũa, đậu đen, đậu phộng, đậu xanh và cúc

vạn thọ, đậu kiểng Trong đó, Aphis craccivora xuất hiện nhiều nhất trên đậu đũa với

52,5 % ở nhóm cây rau , trên đậu phộng với 60 % ở nhóm cây màu và trên đậu kiểng

là 25 % ở nhóm cây hoa kiểng

Rầy mềm xanh Aphis spiraecola chỉ xuất hiện trên nhóm cây hoa kiểng là hoa

bướm bạc phi và hoa trang đỏ

Các loài rầy mềm còn lại chỉ thấy trên 1 loại cây ký chủ Xuất hiện ở mức độ rất

phổ biến là rầy mềm trúc đào Aphis nerii với 62,5 % trên cây trúc đào, rầy mềm Cinara sp với 60 % trên vạn niên tùng Rầy mềm bắp Rhopalosiphum maidis là loài phổ biến với 45 % trên bắp Xuất hiện thường xuyên là rầy mềm đậu tương Aphis glycine với 35 % và rầy mềm kê Brachycaudus cardui với 30 % trên hoa cúc đồng tiền Xuất hiện ít nhất là rầy mềm thuốc lá Myzus persicae và rầy mềm đậu đen Aphis fabae với 10 %

Như vậy, nhóm cây hoa kiểng là nhóm ký chủ có số loài rầy mềm xuất hiện

nhiều nhất với 7 loài trong 10 loài rầy mềm ghi nhận được Gồm Aphis craccivora Koch., Aphis fabae Scopoli., Aphis gossypii Glover., Aphis nerii Boyer., Aphis spiraecola Patch., Brachycaudus cardui Linnaeus., Cinara sp.; nhóm cây rau và nhóm

cây màu chỉ xuất hiện 3 loài rầy mềm

Ngày đăng: 19/09/2018, 09:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm