BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHẢO NGHIỆM HIỆU QUẢ MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN LÁ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA CÂY HOA
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO NGHIỆM HIỆU QUẢ MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN LÁ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT
CỦA CÂY HOA LÀI (Jasminum sambac L.) TẠI
XÃ NHỊ BÌNH, HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Sinh viên thực hiện: VÕ ĐỨC TẠO Ngành: NÔNG HỌC
Tháng 08/2009
Trang 2KHẢO NGHIỆM HIỆU QUẢ MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN LÁ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT
CỦA CÂY HOA LÀI (Jasminum sambac L.) TẠI
XÃ NHỊ BÌNH, HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3Lời cảm ơn chân thành xin được gửi đến các Cô Chú ở Ấp 1, Xã Nhị Bình, Huyện Hóc Môn Đặc biệt gia đình Chú Nguyễn Văn Hai đã tạo điều kiện và giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình thực tập tại địa phương
Cảm ơn toàn thể các bạn học lớp Nông Học 31 đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học và làm đề tài
Tp Hồ Chí Minh, 08/2009
Sinh viên
Võ Đức Tạo
Trang 4TÓM TẮT
Võ Đức Tạo, Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 08/2009
“Khảo Nghiệm hiệu quả một số loại phân bón lá đến khả năng sinh trưởng và năng
suất của cây hoa lài (Jasminum sambac L.) tại Xã Nhị Bình, Huyện Hóc Môn, Thành
Phố Hồ Chí Minh.”
Giảng viên hướng dẫn: ThS NGUYỄN NGỌC TRÌ
Đề tài được tiến hành nhằm khảo nghiệm hiệu quả của việc xử lý các loại phân bón
lá (NQ - Kích rễ và NQ - Số 1) ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây hoa lài, qua đó đánh giá năng suất và ước lượng hiệu quả kinh tế khi thử nghiệm các loại phân bón lá
Đề tài được triển khai trên diện rộng với diện tích 1.380 m2, thời gian thực hiện đề tài từ 30/03/2009 đến 30/06/2009 tại Xã Nhị Bình, Huyện Hóc Môn, Tp Hồ Chí Minh Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên một yếu tố, với 3 lần lặp lại và 4 nghiệm thức, được đánh số từ 1 đến 4
Trang 5thấy tỉ lệ sâu bệnh ít hơn so với đối chứng, trong đó nghiệm thức 3 có tỉ lệ sâu bệnh thấp nhất
- Về năng suất: ở các nghiệm thức có xử lý phân bón lá cho thấy số lượng chùm bông và số bông tăng lên rõ rệt, bông có trọng lượng nặng hơn, năng suất cao hơn so với nghiệm thức đối chứng, trong đó nghiệm thức 3 cho năng suất cao nhất (129,2 kg/1.000
m2), trong khi nghiệm thức đối chứng là 89,5 (kg/1.000 m2)
- So với nghiệm thức đối chứng thì các nghiệm thức có xử lý phân bón lá đều làm tăng thêm thu nhập đáng kể, trong đó nghiệm thức 3 cho lợi nhuận thu thêm cao nhất là 1,021 triệu đồng
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt iii
Mục lục v
Danh sách các chữ viết tắt viii
Danh sách các hình ix
Danh sách các bảng x
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu 2
1.3 Yêu cầu 2
1.4 Giới hạn của đề tài 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Giới thiệu sơ lược về cây hoa lài 3
2.1.1 Phân loại: 3
2.1.2 Nguồn gốc 4
2.1.3 Đặc điểm hình thái 4
2.1.4 Đặc điểm sinh thái 5
2.2 Tình hình sản xuất lài trên thế giới và trong nước 6
2.2.1 Trên thế giới 6
2.2.2 Trong nước 7
2.3 Kỹ thuật canh tác 8
2.3.1 Chọn và nhân giống 8
Trang 72.3.2 Kĩ thuật trồng 8
2.3.3 Kĩ thuật bón phân 9
2.3.4 Bảo vệ thực vật 9
2.3.5 Thu hái hoa 10
2.4 Công dụng 10
2.5 Giới thiệu sơ lược về phân bón lá 10
2.5.1 Ưu điểm việc sử dụng phân bón lá 11
2.5.2 Nhược điểm của việc sử dụng phân bón lá 11
2.5.3 Cơ chế hấp thu dinh dưỡng qua lá của cây trồng 12
2.5.4 Nguyên tắc sử dụng phân bón lá 12
2.6 Vai trò sinh lý của các nguyên tố N, P, K 13
2.6.1 Vai trò của Nitơ (N) 13
2.6.2 Vai trò của Phospho (P) 13
2.6.2 Vai trò của Kali (K) 14
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 16
3.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 16
3.2 Điều kiện thời tiết, khí hậu ở khu vực TP Hồ Chí Minh 16
3.3 Vật liệu thí nghiệm 17
3.3.1 Cây giống: 17
3.3.2 Phân bón thí nghiệm 17
3.3.2.1 Phân bón lá NQ – kích rễ 17
3.3.2.2 Phân bón lá NQ – Số 1: 17
3.3.3 Dụng cụ, trang thiết bị 18
3.4 Phương pháp thí nghiệm 18
3.4.1 Bố trí thí nghiệm 18
3.4.2 Cách tiến hành 19
3.5 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 19
3.5.1 Các chỉ tiêu về sinh trưởng 19
3.5.2 Các chỉ tiêu về sâu bệnh 20
Trang 83.5.3 Các chỉ tiêu về năng suất 21
3.6 Xử lý số liệu 22
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23
4.1 Ảnh hưởng của phân bón lá đến sự sinh trưởng của cây lài 23
4.1.1 Ảnh hưởng của phân bón lá đến số tược 23
4.1.1 Ảnh hưởng của phân bón lá đến chiều dài tược 25
4.2 Tình hình sâu bệnh hại trên cây lài 27
4.2.1 Tình hình sâu hại 27
4.2.2 Tình hình bệnh hại 28
4.3 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của cây hoa lài .30
4.3.1 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến số chùm bông trên cành 30
4.3.2 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến số bông trên chùm .32
4.3.3 Ảnh hưởng của phân bón lá đến trọng lượng 100 bông 33
4.3.4 Năng suất thực thu ở các nghiệm thức qua 3 đợt hoa 35
4.4 Lợi nhuận thu thêm của các nghiệm thức khi sử dụng phân bón lá qua quá trình thí nghiệm (tính cho 1.000 m2) .36
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38
5.1 Kết luận 39
5.2 Đề nghị 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
PHỤ LỤC 42
Trang 10DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hinh 1 Toàn cảnh khu thí nghiệm 42
Hình 2: Phân bón lá NQ - Kích rễ và NQ - Số 1 42
Hình 3: Một số đối tượng sâu hại trên cây hoa lài 43
Hình 4: Một số triệu chứng bệnh hại trên cây hoa lài 44
Hình 5: Chiều dài tược ở các nghiệm thức 45
Hình 6: Số bông trên chùm ở các nghiệm thức 45
Trang 11DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Diện tích trồng lài tại TP.HCM năm 2007 7
Bảng 3.1: Số liệu thời tiết tại Tp Hồ Chí Minh ở các tháng tiến hành thí nghiệm1 16
Bảng 4.1: Ảnh hưởng của phân bón lá đến số tược/cành của các nghiệm thức 23
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của phân bón lá đến chiều dài tược của các nghiệm thức 26
Bảng 4.3: Tỉ lệ sâu hại trên cây lài ở các nghiệm thức qua các lần theo dõi (%) 27
Bảng 4.4: Tỉ lệ bệnh hại trên cây lài ở các nghiệm thức qua các lần theo dõi (%) 28
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của phân bón lá đến số lượng chùm bông/cành của các nghiệm thức 30
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của phân bón lá đến số bông/chùm của các nghiệm thức 32
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của phân bón lá đến trọng lượng của bông của các nghiệm thức 33
Bảng 4.8: Năng suất thực thu ở các nghiệm thức qua 3 đợt hoa 35
Bảng 4.9: Năng suất và số tiền thu qua 3 đợt hoa ở các nghiệm thức (tính cho 1.000 m2) 36
Bảng 4.10: Bảng tính chi phí thêm khi sử dụng phân bón lá của các nghiệm thức qua quá trình thí nghiệm (tính cho 1.000 m2) 37
Bảng 4.11 Lợi nhuận thu thêm của các nghiệm thức khi sử dụng phân bón lá qua quá trình thí nghiệm (tính cho 1.000 m2) 38
Trang 13Chương 1
GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Cây hoa lài có tên khoa học Jasminum sambac L là cây hương liệu được dùng chủ
yếu trong công nghệ ướp trà Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật ngày nay việc ly trích tinh dầu để sử dụng cho công nghệ chế tạo mỹ phẩm như nước hoa, dầu thơm, xà phòng tắm được thực hiện ngày càng rộng rãi, qua đó góp phần tăng giá trị thương mại cho cây hoa lài
Ở Việt Nam nói chung và TP Hồ Chí Minh nói riêng cây hoa lài là một trong những cây mang lại hiệu quả kinh tế cho một số nhà vườn, ngoài ra cây lài còn được xem
là bài toán thoát nghèo cho bà con nông dân ở nơi đây Tuy nhiên, việc tăng năng suất và phẩm chất cây hoa lài vẫn đang là một vấn đề hạn chế, thêm vào đó sâu bệnh hại làm giảm năng suất và phẩm chất đáng kể, đây cũng là một trong những lý do khiến cho người dân không dám đầu tư trồng mới Theo thống kê của Chi cục Bảo vệ thực vật TP Hồ Chí Minh, năm 2002 diện tích trồng lài của thành phố trên 600 ha nhưng đến tháng 7/2007 chỉ còn 313 ha
Nhị Bình là một trong những xã trồng lài chủ yếu của huyện Hóc Môn, việc bổ sung dinh dưỡng cho cây lài từ phân bón lá đã được người dân nơi đây áp dụng từ lâu, song để đánh giá chất lượng và hiệu quả của từng loại phân bón lá đến sự sinh trưởng và phát triển của cây hoa lài thì vẫn chưa được thực hiện Nông dân chủ yếu canh tác theo hướng tập quán, chưa tính được hiệu quả đầu tư và chưa đánh giá được năng suất qua các đợt thu hoạch
Ngày dài và nắng nóng là điều kiện thuận lợi cho cây lài sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất cao, tuy nhiên vào thời điểm mưa nhiều cây lài trở nên sinh trưởng kém, dễ
Trang 14bị ngập úng và dẫn đến thối rễ, năng suất thấp, sâu bệnh nhiều Đây chính là thực trạng khó khăn cho người dân trồng lài Để tìm ra giải pháp mới giúp cây lài sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất và chất lượng cao hiện đang là vấn đề nan giải Xuất phát từ những ý nghĩa nói trên được sự chấp nhận của Khoa Nông học - Trường Đại Học Nông
Lâm TP Hồ Chí Minh và dưới sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Ngọc Trì, đề tài: “Khảo
nghiệm hiệu quả một số loại phân bón lá đến khả năng sinh trưởng và năng suất trên cây
lài (Jasminum sambac L.) tại Xã Nhị Bình, Huyện Hóc Môn, Thành Phố Hồ Chí Minh”
được tiến hành
1.2 Mục tiêu
Bổ sung một số loại dinh dưỡng cần thiết cho quá trình sinh trưởng của cây lài, Bên cạnh việc tăng năng suất hoa lài nhưng vẫn đảm bảo cho cây lài sinh trưởng khỏe mạnh, hạn chế sâu bệnh
1.3 Yêu cầu
- Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của cây lài
- Theo dõi tình hình sâu bệnh hại trên cây lài
- Theo dõi các chỉ tiêu năng suất của hoa lài trong quá trình thu hoạch
1.4 Giới hạn của đề tài
Đề tài chỉ được nghiên cứu trong thời gian ngắn, từ tháng 3 đến tháng 6/2009 Khối lượng công việc nhiều cho nên đề tài chỉ chỉ tiến hành qua 3 đợt hoa, tại Ấp 1, Xã Nhị Bình, Huyện Hóc Môn
Trang 15Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Giới thiệu sơ lược về cây hoa lài
Đặc điểm họ Oleaceae : Thân gỗ, dạng leo hay mọc thành bụi, phân nhánh lưỡng
phân rất rõ Lá không có lá kèm, thường mọc đối, lá kép lông chim lẻ Hoa lưỡng tính, có
lá bắc và hai lá bắc con Hoa xếp thành chùm kép hay sim ở ngọn Quả dạng quả khô, hay dạng là quả thịt (Trịnh Thị Phi Ly, 2005)
Họ Oleaceae có khoảng 500 loài trong đó có 4 loài phổ biến là:
Trang 162.1.2 Nguồn gốc
Cây hoa lài có nguồn gốc ở Nam Á (Ấn Độ, Philippines, Myanmar và Srilanka).Ở Việt Nam, hoa lài đã có mặt khoảng 1 thế kỷ nay ở làng hoa Ngọc Hà (Hà Nội), làng hoa
Gò Vấp, Hóc Môn (TP Hồ Chí Minh)
Ở miền Nam nước Pháp có 2 loài là Jasminum officinale và Jasminum
grandiflorum Jasminum officinale là loài hoang dại thường sống trên các vùng núi cao,
còn Jasminum grandiflorum thường gọi là lài Tây Ban Nha, được trồng để chiết xuất tinh
dầu tự nhiên (Trịnh Thị Phi Ly, 2005)
Jasminum officinale mọc ở chân núi Himalayas và vùng đồng bằng Granges, được
trồng thương mại ở vùng có khí hậu ôn hòa của Ấn Độ đặc biệt là Uttar Pradesh và Andhra Pradesh Chúng đã được mang tới Trung Quốc, Pháp và Địa Trung Hải, được người Marốc mang tới Tây Ban Nha Đây cũng là loài rất nổi tiếng và phổ biến nhất ở Anh (Maud Grieve, 1931)
2 loài Jasminum angustifolium và Jasminum humile được trồng rộng rãi ở Ấn Độ,
Jasminum fruticans mọc tự nhiên ở phía nam Châu Âu và vùng Địa Trung Hải Ở Trung
Quốc Jasminum nudiflorum được trồng khắp nơi Jasminum nudiflorum là loài lài có hoa
vàng rực rỡ cũng được trồng ở đây (Maud Grieve, 1931)
2.1.3 Đặc điểm hình thái
* Đặc điểm hình thái của loài Jasminum sambac
Theo Nguyễn Hữu Đảng và Phạm Hoàng Hộ (1999) thì cây lài Jasminum sambac
có những đặc điểm sau:
- Cây lài có thân gỗ nhỏ, mọc thành bụi, nhiều cành nhánh, có thể vươn dài như trên giá đỡ, thường cao 0,5 – 3 m
- Lá bóng cả hai mặt, phiến lá hình bầu dục hơi trái xoan, gần như không có cuống
Lá dài 3 – 12,5 cm, rộng 2 – 7,5 cm, ở kẽ lá có những gân phụ, mỗi bên có 5 - 6 gân phụ, lồi ở giữa cong đột ngột ở mép, gân con hình mạng lưới
Trang 17- Rễ thuộc loại rễ chùm, phát triển nhiều, lan rộng
- Hoa màu trắng mọc thành cụm ở nách lá hay ngọn cây, hoa rất thơm, thường mọc thành phát, mỗi phát hoa có từ 3 - 12 hoa, vành hoa trắng thường đôi, cánh hoa tròn hay tròn dài, hoa thường từ 8 - 9 cánh xếp thành 2 lớp
- Lá đài hẹp, có lông ở bìa, đôi khi không có lông, lá bắc hình sợi chỉ
- Quả màu đen hình cầu có 2 ngăn, đường kính 6 mm bao bọc bởi đài
* Đặc điểm hình thái của một số loài khác:
Theo Maud Grieve (1931) đã cho biết ngoài loài Jasminum sambac trên thế giới
còn có rất nhiều loài khác, trong đó có 4 loài phổ biến sau:
- Jasminum officinale là cây bụi thân leo mảnh khảnh, xanh quanh năm, có thể
phát triển đến 10 m Lá màu xanh đậm, hoa nhỏ màu trắng hình giống như ngôi sao
- Jasminum grandiflorum là loại cây mọc lâu năm, có nhiều cành, cành phía dưới
cứng, dạng gỗ còn ở phía trên mọc vươn dài, yếu, dạng cỏ Cành lài có thể mọc từ 1,5 – 2
m, lá hình bầu dục, nhọn ở phía dưới
- Jasminum angustifolium là cây thân leo xanh quanh năm, cao 3 – 3,65 m, lá rộng
màu xanh sáng bóng, hoa màu trắng, tỏa hương thơm quanh năm
- Jasminum nudiflorum có màu vàng rực rỡ vào mùa đông trước khi ra lá, phát
triển nhanh chóng trong bất cứ điều kiện nào
2.1.4 Đặc điểm sinh thái
Nhiệt độ thích hợp cho cây lài sinh trưởng là 20 - 330C, nhiệt độ thấp 8 - 100C cây lài sinh trưởng kém Nhiệt độ ban ngày từ 27 - 320C và ban đêm từ 21 - 270C là tốt nhất
Lài sống được trên nhiều loại đất khác nhau, với pH khoảng 4,6 thì cây lài sinh trưởng tốt nhất
Lài cần nước để sinh trưởng và ra hoa liên tục nhưng không chịu úng do đó cần
trồng nơi cao ráo thoát nước tốt vào mùa mưa, tưới tiêu thuận lợi vào mùa khô
Trang 18Lài là cây thích hợp với loại đất pha sét với độ ẩm trung bình khoảng 25,6 % Ngày dài và thời tiết nóng là điều kiện thuận lợi cho việc ra hoa nhiều và kích thước hoa lớn Cây lài phát triển tốt nhất ở những vùng khô và dưới lượng ánh sáng mặt trời đầy đủ, do đó cần trồng nơi thoáng, rộng, ít bị che bóng
Lài là cây chịu mặn và gió trung bình, nhưng gió mạnh có thể làm gãy cành nhánh, cây phát triển tốt vào mùa xuân, mùa hè và chậm vào mùa đông
Cây lài nếu được chăm sóc tốt thì tuổi thọ có thể kéo dài hơn 15 năm, thường vào giai đoạn mùa mưa phải cắt tỉa ngọn một lần nhằm mục đích hạn chế được sâu bệnh, tỉa
bỏ cành nhánh già, vô hiệu (Rau Hoa Quả Việt Nam, 2007)
2.2 Tình hình sản xuất lài trên thế giới và trong nước
2.2.1 Trên thế giới
Hoa lài được trồng chủ yếu để chiết xuất tinh dầu dùng cho công nghiệp mỹ phẩm như xà phòng gội đầu, nước hoa, ngoài ra ở một số nước trên thế giới hoa lài còn được xem là quốc hoa Hoa lài là quốc hoa của Philippine và được chính phủ công nhận vào năm 1937 Ở Philippine, người ta kết nhiều hoa lại thành vòng để choàng lên cổ, đính lên ngực vào các dịp lễ Tinh dầu của hoa được chưng cất để sản xuất các loại nước hoa có giá trị kinh tế cao Bên cạnh Philippine, hoa lài cũng được xem là quốc hoa ở Indonesia vào năm 1990 Ở Indonesia, hoa lài tượng trưng cho sự thanh khiết, tình yêu Hoa còn tượng trưng cho vẻ đẹp của người phụ nữ Hoa lài được dùng vào các nghi thức tôn giáo, các lễ hội văn hóa (Kenneth W Leonhardt và Glenn I Teves, 2002)
Năng suất thu hoạch trung bình của Pháp là 4 tấn /ha, tổng sản lượng hoa lài nước Pháp đạt tối đa vào năm 1960 với khoảng 538 tấn
Nga được trồng vào năm 1920, năng suất trung bình là 4 - 9 tấn/ha
Ai Cập năm 1912 sản lượng đạt 100 tấn hoa mỗi năm
Italia trồng vào năm 1920 sản lượng hàng năm hiện nay lên tới 500 tấn hoa
Ngoài ra một số nước khác như Angiêri (1900), Marôc (1950), Tây Ban Nha vào năm 1996 (Trần Thị Dung, 1999)
Trang 192.2.2 Trong nước
Ở nước ta hoa lài được trồng ở cả 2 miền nam bắc, chủ yếu là ở miền nam
+ Phía nam: được trồng phổ biến ở TP Hồ Chí Minh, Tỉnh Tiền Giang, Long An, Trà Vinh, Bình Dương
- Hiện nay, ở Tỉnh Tiền Giang Ấp Long Hưng, Xã Long An, Huyện Châu Thành là nơi có mô hình trồng cây hoa lài phổ biến nhất Đến nay, toàn Ấp Long Hưng có hơn 20
ha đất trồng hoa lài chuyên canh Theo tính toán của người dân nơi đây, cứ mỗi công đất trồng lài thì một ngày thu hoạch được gần 10 kg bông lài Với mức giá 20 ngàn đồng/kg thì một công đất mỗi ngày, nông dân có nguồn lãi hơn 50 ngàn đồng (Chu Trinh, 2007)
- Theo số liệu thống kê của Sở Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn Tỉnh Trà Vinh hiện nay toàn Tỉnh Trà Vinh có diện tích trồng cây hoa lài lên tới hơn 43 ha, trong
đó có hơn 37 ha đang cho hoa, thu hoạch đạt 2,78 tấn Trung bình mỗi tháng cho thu hoạch 900 kg hoa trên 1.000 m2 Cây bông lài trồng tập trung ở nơi đất giồng cát Thị xã Trà Vinh và Huyện Châu Thành, bình quân mỗi hộ trồng từ 1 đến 2 công cây bông lài và cao nhất là 5 công (Nguyễn Tân, 2006)
- Riêng TP Hồ Chí Minh diện tích trồng lại hiện nay khoảng gần 313 ha, được trồng chủ yếu ở Quận 12, Huyện Hốc Môn và Huyện Củ Chi
Bảng 2.1: Diện tích trồng lài tại TP HCM năm 2007
(ha) Phường Thạnh Lộc - Quận 12 22 Phường An Phú Đông - Quận 12 56 Phường Thạnh Xuân - Quận 12 85
Xã Nhị Bình - Huyện Hóc Môn 110
Xã Bình Mỹ - Huyện Củ Chi 40 (Chi Cục Bảo Vệ Thực Vật TP HCM, 2008)
Trang 20+ Ở phía bắc: cây hoa lài được trồng chủ yếu để cung cấp hương liệu cho các nhà máy chế biến chè xuất khẩu
Đông Xuân và một số Xã khác thuộc 2 Huyện Đông Anh và Sóc Sơn (Hà Nội) có diện tích trồng lài nhiều nhất, riêng 2 Xã Phù Lỗ và Đông Xuân chiếm gần 200 ha.Hầu hết các hộ trồng lài đều cho thu nhập khá, khoảng từ 15 - 20 triệu/năm, dễ trồng, đầu tư ít, đây chính là bài toán thoát nghèo cho bà con trồng lài nơi đây Vấn đề hiện nay mà người dân trồng lài đang quan tâm là đầu ra cho cây hoa lài thường không ổn định, hoa lài có thời gian tiêu thụ trong ngày, không vận chuyển xa được, hiện tại cây hoa lài chủ yếu bán nhỏ lẻ, chưa có tổ chức đứng ra làm đại lý thu mua thường xuyên, do đó giá cả hoa lài rất bấp bênh, nông dân thường xuyên bị ép giá nhất là trong giai đoạn đợt hoa rộ (Rau Hoa Quả Việt Nam, 2007)
- Lài trâu: kích thước hoa to, số lượng hoa ít mà không thơm
Phương pháp nhân giống: chủ yếu bằng cách giâm cành cho ra rễ rồi đem trồng hoặc tách gốc từ cây mẹ để trồng trực tiếp (Rau Hoa Quả Việt Nam, 2007)
2.3.2 Kĩ thuật trồng
Lài có thể trồng quanh năm, nhưng với các Tỉnh phía Bắc thời vụ tốt nhất từ tháng
2 – 4, các Tỉnh phía Nam trồng trước và sau mùa mưa
Đất làm kỹ, nhặt sạch cỏ dại, sỏi đá, khơi mương rãnh thoát nước để ruộng lài không bị úng ngập Đối với đất cao có thể trồng thành từng băng rộng 3 - 4 m, khoảng cách trồng 40 x 50 cm (45.000 - 50.000 khóm/ha)
Trồng bằng cành chưa ra rễ thì lấp sâu 10 - 15 cm, trồng bằng gốc thì lấp kín phần
cổ rễ, trồng bằng bầu cây thì lấp kín phần hom đã cắm vào bầu
Trang 21Trồng xong tưới đẫm và thường xuyên tưới đủ ẩm cho lài sinh trưởng, phát triển tốt Khi cây đã bén rễ, hồi xanh, pha nước phân chuồng + 3 % đạm urê để tưới
Hàng năm đốn trẻ hoá vườn lài vào tháng 11 - 12 bằng cách dùng dao, kéo sắc cắt toàn bộ thân cành cách gốc 15 – 20 cm, tỉa bỏ bớt các cành già, cành khô, cành sâu bệnh, bón thúc, tưới nước đủ ẩm để cây tiếp tục cho hoa vụ tới (Rau Hoa Quả Việt Nam, 2007)
Sau mỗi đợt thu hoa thì bón thúc thêm cho cây bằng phân chuồng hoai, phân đạm,
và kali bằng cách xới cách gốc 15 cm, bón phân, lấp đất và tưới nhẹ Giai đoạn cây bắt đầu để bông bón định kỳ rãi mỗi tháng 1 lần, cứ dứt đợt hoa là bón lại, mỗi lần bón 10 kg Urea và 20 kg NPK (16 - 16 - 8) Phun bổ sung thêm các loại phân bón lá để tăng năng suất và chất lượng hoa (Rau Hoa Quả Việt Nam, 2007)
2.3.4 Bảo vệ thực vật
Thành phần sâu bệnh gây hại trên cây lài chủ yếu là sâu ăn lá, sâu đục bông, rệp sáp, bệnh chết nhánh, chết bụi, bệnh nấm mốc trắng trên gốc thân, bệnh đốm lá (Kenneth
W Leonhardt và Glenn I Teves, 2002)
Một số loại thuốc hóa học thường sử dụng để phòng trừ sâu bệnh trên cây lài (Trần Huỳnh Đức, 2007)
▪ Thuốc trừ bệnh: Kocide 5,8 DF, COC 85 WP, Viben – C 50 BTN
▪ Thuốc trừ sâu: Lannate 40 SP, Vifast 5 ND, Fastac 5 EC, Selecron 500 ND
▪ Rệp sáp: nên dùng máy bơm tưới vườn có áp suất cao tia xịt vào chỗ bị hại
→ Sau mỗi lần phun xịt thuốc phải để ít nhất 1 tuần lễ mới hái bông
Trang 222.3.5 Thu hái hoa
Lài trồng được 1 năm thì bắt đầu cho thu hoa lứa đầu và thu liên tục trong khoảng
7 - 10 năm mới phải trồng lại Thời điểm thu hoa bắt đầu từ 10 giờ sáng, tốt nhất là từ 3 -
6 giờ chiều thì hoa lài sẽ cho nhiều hương thơm nhất Chọn hái những nụ hoa to có màu trắng tinh, hái lúc hoa chưa nở (Kenneth W Leonhardt và Glenn I Teves, 2002)
2.4 Công dụng
Hương lài được ứng dụng trong việc gia hương trà, trà lài gói được sản xuất thử nghiệm theo dự án Bộ Công Nghiệp năm 1994 - 1996, trà lài túi lọc sản xuất tại TP HCM năm 1997 - 1998
Hoa lài ứng dụng trong sản xuất xà phòng lài có mùi thơm dịu và bền tại nhà máy
xà phòng Hà Nội năm 1994 (Phùng Thị Bạch Yến, 2000)
Lá lài có vị cay tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, hoa lài có thể chữa cảm sốt, đầy bụng, rễ lài chữa mất ngủ và giảm đau (Hoài Vũ, tháng 4 năm 2009)
Tinh dầu hoa lài được sử dụng để sản xuất các loại nước hoa nổi tiếng đồng thời được sử dụng để pha trộn làm dầu massage hoặc pha loãng để tắm, làm giảm căng thẳng thần kinh, giải stress (Trần Thanh Lương và Nguyễn Ngọc Hạnh, 2005)
2.5 Giới thiệu sơ lược về phân bón lá
Sử dụng phân bón lá là việc làm đã được thực hiện từ giữa thế kỷ 17 ở các nước phát triển như Mỹ và các nước Châu Âu Việt Nam đến thế kỷ 20 mới bắt đầu sử dụng phân bón lá với sản phẩm đầu tiên là Komix của Công ty Thiên Sinh (Anh Thi, 2007)
Việc sử dụng phân bón lá được xem như phương pháp bón phân bổ sung hoặc dùng chữa trị các loại bệnh sinh lý thực vật do sự xáo trộn hoặc thiếu chất dinh dưỡng đất đai, làm ảnh hưởng đến các chất kích thích tố trong cây, ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ của hệ thống rễ và sự phát triển của cây Mặc khác kích thích sự phát triển cây hoặc rễ củ trước khi trổ bông, tăng quang hợp tăng tính chống chịu, tăng năng suất và phẩm chất, hạn chế sâu bệnh (Trần Văn Đạt, 2004)
Trang 23Sử dụng phân bón lá đúng phương pháp có thể thu được lợi tức kinh tế cao vì hiệu quả của sự hấp thụ phân bón lá cao đến 80 % so với 20 - 50 % phân bón được hấp thụ ở rễ (Nguyễn Bảo Vệ, 1999)
Phân bón lá có thể gồm các chất dinh dưỡng chính như chất đạm, lân, canxi (Ca)
và các chất vi lượng như chất sắt (Fe), kẽm (Zn), đồng (Cu), boron (B), mangan (Mn), manhe (Mg) và cả chất kích thích tố Trên thị trường người ta tìm thấy các phân bón lá dưới hình thức đơn chất hoặc hợp chất giữa chất dinh dưỡng và chất kích thích tố Phân bón lá còn được phối hợp với thuốc sát trùng hoặc sát khuẩn, nhằm tăng gia hiệu năng của phân bón lá trong lĩnh vực bảo vệ mùa màng và đồng thời bớt tốn kém trong khi áp dụng Tuy nhiên sự phối hợp các chất này cần được nghiên cứu về hóa tính hỗ tương giữa các chất kích thích tố khi áp dụng Do đó khi sử dụng phân bón lá đòi hỏi sự hiểu biết chính xác về tình trạng dinh dưỡng đất đai của mình, các cấu tố của phân bón lá và các phương pháp, điều kiện áp dụng phân bón lá thích ứng để nâng cao mức độ hữu hiệu (Trần Văn Đạt, 2004)
2.5.1 Ưu điểm việc sử dụng phân bón lá
Theo Nguyễn Huy Phiêu và ctv (2007) sử dụng phân bón lá có những ưu điểm sau:
- Chất dinh dưỡng được cung cấp cho cây nhanh hơn phân bón gốc, có thể khắc phục nhanh tình trạng thiếu dinh dưỡng của cây trồng, đặc biệt đối với phân vi lượng
- Hiệu suất sử dụng dinh dưỡng cao hơn, trong phân bón lá hiện nay ngoài các yếu
tố đa, trung, vi lượng còn được bổ sung các chất điều hòa sinh trưởng như IAA, NAA, các
vi sinh vật có ích, tạo nên chức năng của phân bón lá
- Chi phí thấp hơn, giảm được công vận chuyển và công phun thuốc
- Ít ảnh hưởng đến môi trường và đất trồng
- Dùng phân bón lá, lượng bón chỉ tốn bằng 1/4 so với phân bón qua đất
2.5.2 Nhược điểm của việc sử dụng phân bón lá
Theo Nguyễn Bảo Vệ (1999) việc sử dụng phân bón lá có một số nhược điểm sau:
- Dễ bị rửa trôi khi gặp điều kiện mưa bão
Trang 24- Dinh dưỡng bám vào nơi không đúng mục đích gây thiệt hại
- Dễ gây oxi hóa hay phân hủy các chất xúc tác bề mặt đối với các hợp chất hữu cơ mẫn cảm, xảy ra trước khi thấm qua biểu bì
2.5.3 Cơ chế hấp thu dinh dưỡng qua lá của cây trồng
Theo Nguyễn Ngọc Trì (2007) cơ chế của việc hấp thu dinh dưỡng qua lá bao gồm các đặc điểm sau:
- Sự hấp thu dinh dưỡng khoáng khi phun phân qua lá được gọi là dinh dưỡng lá
- Dung dịch khoáng phun trên lá cây khi có tác nhân làm ướt thì có thể theo con đường khí khổng hoặc cutin xâm nhập vào trong tế bào nhu mô lá và hầu hết tích lũy lại trong lá
- Mức độ xâm nhập dinh dưỡng vào lá phụ thuộc vào cấu trúc, hình dáng lá, loại phân bón, tuổi cây và tuổi lá, nồng độ phân và pH dung dịch khi phun Giá trị của phân bón lá phụ thuộc nhiều vào các chất hoạt động bề mặt
- Ẩm độ, nhiệt độ, ánh sáng lúc phun phân và giai đoạn sau đó có ảnh hưởng lớn tới hiệu quả hấp thu phân
2.5.4 Nguyên tắc sử dụng phân bón lá
Theo TS Trần Văn Đạt (2004) Phân bón lá là loại phân được sử dụng để bổ sung
dinh dưỡng chứ không phải để thay thế phân bón đất Việc sử dụng phân bón lá như thế nào cho có hiệu quả là câu hỏi cần lưu ý cho người sử dụng Nếu có điều kiện, sự phân tích đất đai và lá cây để xác định tình trạng dinh dưỡng của đất và cây trước khi áp dụng
phân bón lá là điều cần thiết Cần bón phân theo các nguyên tắc sau:
- Đúng loại phân cho từng loại cây trồng
- Sử dụng phân bón lá với nồng độ chính xác: phân bón lá thường ở dạng đậm đặc,
do đó khi sử dụng nên pha đúng nồng độ chỉ dẫn, việc phun quá nồng độ sẽ gây ảnh hưởng đến sự phát triển của cây trồng, như ngộ độc, cây mọc vống, gây đột biến
- Phun đúng lúc cho từng giai đoạn sinh trưởng của cây
Trang 25- Phun phân bón lá đúng chỗ và đồng đều
- Môi trường và khí hậu thuận lợi để phun phân bón lá: có ánh sáng, không gió, không mưa, nhiệt độ trung bình và ẩm độ đất thấp để sự hấp thụ phân vào lá và chuyển vị trong cây được hữu hiệu
2.6 Vai trò sinh lý của các nguyên tố N, P, K
Theo Nguyễn Nọc Trì (2007) số lượng khoáng thiết yếu đối với thực vật bậc cao bao gồm 17 nguyên tố (H, C, O, N, K, Ca, Mg, P, S, Cl, B, Fe, Mn, Zn, Cu, Ni, Mo) Trong đó N, P, K là 3 nguyên tố giữ vai trò rất quan trọng trong quá trình sinh trưởng và phát triển của thực vật Sau đây là vai trò của các nguyên tố N, P, K
2.6.1 Vai trò của Nitơ (N)
Cây hấp thu nitơ dưới dạng NO3- và NH4+, trong cây thì dạng NO3- phải chuyển thành NH4+ trước khi kết hợp với acid hữu cơ và các phân tử hữu cơ khác
Nitơ là thành phần của nhiều phân tử quan trọng bao gồm protein, nucleic acid, hormon (IAA, cytokinin), và chlorophyll
Cây mà thiếu N thì sẽ sinh trưởng chậm, thân lùn, lá vàng, nhưng nếu dư N thì cây cây sẽ sinh trưởng chậm, trì hoãn việc ra hoa
2.6.2 Vai trò của Phospho (P)
Cơ thể thực vật sử dụng P dưới dạng muối của acid phosphoric Các hợp chất P trong cơ thể thực vật được chia làm 5 nhóm theo bản chất hóa học và chức năng sinh lý:
- Nhóm nucleotit bao gồm AMP, ADP, ATP Nhóm này đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình cố định, dự trữ và chuyển hóa năng lượng, đồng thời chúng cũng tham gia vào quá trình biến đổi và sinh tổng hợp các hydratcacbon, lipid và protein
- Hệ thống coenzim Đóng vai trò quan trọng trong việc tạo thành các hợp chất và năng lượng trong các quá trình hô hấp và quang hợp
- Nhóm các hợp chất acid nucleic và nucleoproteit Có vai trò trong việc sinh tổng hợp protein và các quá trình sinh trưởng phát triển của thực vật
Trang 26- Nhóm poliphosphat Cần để hoạt hóa ARN trong quá trình sinh tổng hợp protein
hỗ đó quy định chiều hướng và cường độ các quá trình sinh trưởng và phát triển của cơ thể thực vật, qua đó quyết định đến quá trình năng suất của chúng
Cây trồng nếu thiếu P lá mềm yếu, sự sinh trưởng của rễ thân cành, sự đẻ nhánh đều yếu, bộ rễ sinh trưởng yếu, khả năng phân hóa mầm hoa chậm
2.6.2 Vai trò của Kali (K)
Trong cơ thể thực vật K tồn tại dưới dạng muối như KCl, KHCO3, KH2PO4, hoặc các dạng muối của acid hữu cơ như pyruvate, citrate, oxalate
K rất dễ xâm nhập vào tế bào và làm tăng tính thấm của màng tế bào đối với các chất khác do đó K ảnh hưởng đến nhiều quá trình trao đổi chất theo các hướng khác nhau Một số vai trò chủ yếu của K như sau :
- K ảnh hưởng đến quá trình trao đổi hydrat cacbon: làm tăng quá trình quang hợp, tăng quá trình vận chuyển các hợp chất hydrat cacbon
- K ảnh hưởng sâu sắc đến đặc tính lý hoá của hệ thống keo trong nguyên sinh chất như tăng quá trình thuỷ hoá, giảm độ nhớt, tăng hàm lượng nước liên kết
- K ảnh hưởng tích cực đến các quá trình sinh tổng hợp các sắc tố trong lá
- K ảnh hưởng tốt đến quá trình đẻ nhánh, hình thành bông và chất lượng hạt ở các cây ngũ cốc
Trang 27- K giúp cây tăng tính chống chịu đối với nhiệt độ thấp, khô hạn và bệnh K làm tăng hô hấp
- K tham gia vào quá trình hoạt hoá nhiều enzym như amylaza, invectaza, phospho-tran-axetylaza, axetyl-CoA-cystetaza, pyruvat-phospho-kinaza, ATP-aza
` - K làm tăng quá trình sinh tổng hợp protein và acid amin Khi thiếu K thì NH3
tăng lên đến mức độc cho cây
- K có vai trò đặc biệt trong việc điều hoà áp suất thẩm thấu của tế bào, quan trọng trong các hoạt động chuyển động của cây như đóng mở khí khổng và lá ngủ
Trang 28Chương 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
3.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm
- Đề tài được tiến hành từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2009
- Địa điểm thí nghiệm được tiến hành tại vườn lài Ấp 1, Xã Nhị Bình, Huyện Hóc Môn TP Hồ Chí Minh
3.2 Điều kiện thời tiết, khí hậu ở khu vực TP Hồ Chí Minh
Bảng 3.1 Số liệu thời tiết tại Tp Hồ Chí Minh ở các tháng tiến hành thí nghiệm
Tháng Nhiệt độ trung
bình (0C)
Lượng mưa (mm)
Ẩm độ (%)
Số giờ nắng (giờ)
Lượng bốc hơi (mm)
(Nguồn: Viện khoa học khí tượng thủy văn và môi trường)
Qua bảng 3.1 cho thấy nhiệt độ tương đối ổn định qua các tháng, nhiệt độ biến động từ 28,5oC đến 29,5oC Với nhiệt độ trung bình khoảng 29oC tương đối thích hợp cho
sự sinh trưởng của cây lài
Ẩm độ qua các tháng không chênh lệch nhiều, tuy nhiên ẩm độ trung bình khoảng
76 % thì không thích hợp với điều kiện sinh trưởng cho cây lài, trong khi cây lài ưa ẩm độ thấp (26 %)
Trang 29Lượng mưa trung bình giữa các tháng có sự chênh lệch nhiều, trong đó lượng mưa cao nhất là ở tháng 5 ( 319 mm) và thấp nhất là tháng 3 (58 mm), 2 tháng còn lại có lượng mưa trung bình cũng tương đối cao
Lượng bốc hơi trung bình giữa các tháng cũng thấp gần 107 mm
Các số liệu trên cho thấy mưa nhiều và ẩm độ cao là điều kiện thời tiết không thích hợp cho sự sinh trưởng của cây lài
3.3 Vật liệu thí nghiệm
3.3.1 Cây giống:
- Giống lài sẻ (7 năm tuổi) trồng tại Xã Nhị Bình, Huyện Hóc Môn
- Cây giống có nguồn gốc Xã Thạnh Lộc, Quận 12, Tp Hồ Chí Minh
Kích thích ra nhiều rễ tơ, rễ ăn sâu nên hạn chế đỗ ngã
Giúp cây cứng cáp, xanh tốt, tăng năng suất
3.3.2.2 Phân bón lá NQ – Số 1:
- Thành phần: N (3 g/lít), P2O5hh (2 g/lít), K2O (3 g/lít), hữu cơ (45 g/lít), các acid amin như: Alanin (0,5 g/lít), Glycine (0,26 g/lít), Leucine (0,24 g/lít), Isolecine (0,15 g/lít), Threonine (0,18 g/lít), Proline (0,16 g/lít), Hydroxyproline (0,13 g/lít), Aspartic acid (0,16 g/lít), Glutamic acid (0,68 g/lít), Tyrosine (0,13 g/lít)
- Cách sử dung: pha 50 cc vào bình 16 lít, phun 2 bình cho 1 công (1.000m2)
Trang 30- Công dụng:
Giải độc phèn, chống ngộ độc hữu cơ, phòng ngẹt rễ, thối rễ vàng lá do ngộ độc hữu cơ, hạn chế tuyến trùng hại rễ
Kích thích ra nhiều rễ tơ, rễ ăn sâu nên hạn chế đỗ ngã
Giúp cây cứng cáp, xanh tốt, tăng năng suất
3.3.3 Dụng cụ, trang thiết bị
- Cân điện tử, cân 5 kg, thước đo, bình phun 16 lít, cọc, bảng nhựa, bao nhựa
- Dụng cụ bảo hộ lao động: khẩu trang, áo mưa, mũ
3.4 Phương pháp thí nghiệm
3.4.1 Bố trí thí nghiệm
Kiểu thí nghiệm: thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu
nhiên một yếu tố (Random Complete Block Dezign – RCBD), gồm có 4 nghiệm thức, và
Trang 31- Diện tích toàn khu thí nghiệm : 1.380 m2
- Diện tích 1 ô thí nghiệm : 115 m2
- Số ô thí nghiệm: 12 ô
* Các nghiệm thức : có 4 nghiệm thức
- Nghiệm thức 1 : phun phân bón lá NQ - Kích rễ
- Nghiệm thức 2 : phun phân bón lá NQ - Số 1
- Nghiệm thức 3 : phun kết hợp cả 2 loại phân NQ - Kích rễ và NQ - Số 1
- Nghiệm thức 4 : Nghiệm thức đối chứng (không phun)
3.4.2 Cách tiến hành
- Thời gian phun phân: Cứ 15 ngày phun phân 1 lần, phun phân lần thứ nhất ngay sau khi dứt đợt thu hoạch rộ (ngày 31 tháng 3) Tiến hành phun phân qua 3 đợt hoa
- Theo dõi khả năng sinh trưởng
- Điều tra tình hình sâu bệnh hại trên ruộng thí nghiệm
- Thu hoạch: thu hoạch vào tất cả các ngày trong 3 đợt hoa
3.5 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
- Lài là cây có rất nhiều cành nhánh, việc theo dõi rất khó khăn do đó chỉ tiến hành theo dõi qua các điểm đại diện
- Chọn 5 điểm chéo góc trong ô thí nghiệm để theo dõi, mỗi điểm tương ứng với một cây, mỗi nghiệm thức được theo dõi ở cả 3 lần lặp lại
- Trên một cây chọn ba cành ngẫu nhiên theo 3 hướng khác nhau để theo dõi, ba cành này được đánh dấu bằng cách cột 3 sợi dây nilon khác màu (đỏ, trắng, vàng)
3.5.1 Các chỉ tiêu về sinh trưởng
+ Chỉ tiêu theo dõi:
- Chiều dài tược
- Số tược/cành
Trang 32+ Phương pháp theo dõi:
- Đo chiều dài tược: chiều dài của 1 tược được tính từ gốc tược cho đến ngọn của tược đó, đo tất cả các tược trên 3 cành theo dõi, sau đó tính chiều dài trung bình của 1 tược, chỉ đo các tược mới ra, không đo tược cũ ở lần theo dõi trước (tược đã ra chùm bông)
- Đếm số tược: đếm tất cả các tược trên 3 cành theo dõi, sau đó tính số tược trung bình trên 1 cành Chỉ đếm các tược mới ra, không đếm số tược cũ ở lần theo dõi trước (tược đã ra chùm bông)
+ Thời gian theo dõi:
- Cứ 10 ngày đo đếm một lần, theo dõi lần thứ nhất vào ngày 10/04 (sau khi phun phân lần đầu tiên)
3.5.2 Các chỉ tiêu về sâu bệnh
Sâu bệnh làm cho năng suất của hoa lài giảm, phẩm chất hoa kém, cây sinh trưởng chậm, để đánh giá mức độ gây hại của sâu bệnh ở các nghiệm thức, chúng tôi tiến hành theo dõi sâu bệnh và đánh giá tỉ lệ sâu bệnh hại trong quá trình thí nghiệm
+ Phương pháp theo dõi: chọn 5 điểm chéo góc trong 1 ô nghiệm thức, mỗi điểm gồm 4 cây được đánh dấu để theo dõi Tổng số cây theo dõi của 1 nghiệm thức ở 3 lần lặp lại là 60 cây
+ Nội dung theo dõi: quan sát và ghi nhận số cây bị sâu bệnh trên 1 ô nghiệm thức, cây được tính là bị sâu bệnh khi quan sát thấy có xuất hiện triệu chứng gây hại của bất kỳ loại sâu bệnh nào
+ Thời gian theo dõi: cứ 10 ngày theo dõi 1 lần, theo dõi lần đầu tiên từ lúc phun phân 10 ngày (ngày 10 tháng 4)
Số cây bị sâu (bệnh) hại
- Tỉ lệ sâu (bệnh) hại (%) = x 100
Tổng số cây theo dõi
Trang 333.5.3 Các chỉ tiêu về năng suất
So với các loại cây trồng khác, lài là loại cây trồng có thời vụ thu hoạch rất đặc biệt Lài cho hoa liên tục mỗi ngày qua các đợt, do đó năng suất được đánh giá dựa vào các đợt hoa trong năm Trung bình trong một năm có 8 - 10 đợt hoa, trong nội dung thí nghiệm chỉ tiến hành theo dõi qua 3 đợt hoa
+ Chỉ tiêu theo dõi:
- Số chùm bông/cành
- Số bông/chùm
- Trọng lượng 100 bông
- Năng suất
+ Phương pháp theo dõi:
- Số chùm bông: tiến hành theo dõi số chùm bông trên 3 cành đã được đánh dấu, sau đó tính trung bình số chùm bông trên 1 cành
- Số bông: trên 1 cành chọn 3 chùm bông ngẫu nhiên để theo dõi, sau đó tính số bông trung bình trên 1 chùm bông
- Trọng lượng 100 bông: cân 100 bông ở từng ô nghiệm thức
- Năng suất: cân tổng trọng lượng bông ở từng ô nghiệm thức
+ Thời gian theo dõi:
- Đếm số chùm bông, và số bông: theo dõi 2 lần trong 1 đợt hoa, theo dõi lần đầu tiên khi cây bắt đầu xuất hiện bông, lần thứ 2 cách lần thứ nhất 7 ngày
- Trọng lượng 100 bông: cứ 5 ngày theo dõi một lần Theo dõi từ lúc bắt đầu thu hoạch
- Năng suất: theo dõi vào tất cả các ngày trong một đợt thu hoạch
Trang 343.6 Xử lý số liệu
- Các số liệu được xử lý bằng phần mềm MSTATC 1.2 (1991) Thông qua bảng Anova (F - value hay Prob) mà kết luận sự khác biệt giữa các nghiệm thức có ý nghĩa thống kê hay không Nếu có ý nghĩa thống kê thì tiến hành trắc nghiệm phân hạng để đánh giá chi tiết hơn về các cặp nghiệm thức
- Sử dụng phương pháp phân tích thống kê dân số côn trùng, cỏ dại và thiệt hại cây trồng của tác giả Trần Công Thiện để chuyển đổi số liệu bằng cách dùng căn bậc hai (x)1/2 Để áp dụng cho chỉ tiêu theo dõi sâu bệnh
- Sử dụng phần mềm Excel để tính toán số liệu
Trang 35Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Ảnh hưởng của phân bón lá đến sự sinh trưởng của cây lài
Quá trình sinh trưởng của cây lài chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như điều kiện thời tiết, sâu bệnh, biện pháp canh tác, ngoài ra phân bón cũng là yếu tố quan trọng Việc
bổ sung dinh dưỡng cho cây lài là điều cần thiết nhằm giúp cây sinh trưởng tốt và cho năng suất cao
Để biết được ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến sự sinh trưởng của cây lài, chúng tôi tiến hành đánh giá 2 chỉ tiêu sinh trưởng là số tược và chiều dài tược qua các giai đoạn sinh trưởng của 3 đợt hoa
4.1.1 Ảnh hưởng của phân bón lá đến số tược
Bảng 4.1: Ảnh hưởng của phân bón lá đến số tược/cành của các nghiệm thức
Số tược trung bình qua các lần theo dõi (tược/cành) Nghiệm
thức 10/04
Lần 1
20/04 Lần 2
30/04 Lần 3
10/05 Lần 4
20/05 Lần 5
30/05 Lần 6
9/06 Lần 7
19/06 Lần 8
29/06 Lần 9
5,5 5,7 6,2 5,2
6,7b 7,1ab 7,8a 6,3b
6,4b 6,7ab 7,4a 5,9b
5,1 5,4 5,6 4,7
6,8ab 7,1ab 7,8a 6,1b
5,9bc 6,2ab 6,7a 5,3c
4,8 5,1 5,5 4,5
12,25 0,4477
6,47 0,0316
7,39 0,0387
8,34 0,1473
7,56 0.0412
6,84 0,0269
15,34 0,4334
` * Ghi chú: Những giá trị trung bình trong cùng một cột có cùng kí tự theo sau
không có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê
Trang 36Bảng 4.1 cho thấy ở 2 lần theo dõi đầu tiên (ngày 10/04 và 20/04) giữa các nghiệm thức có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê ở mức 0,05, nghiệm thức 1 và đối chứng không có sự khác biệt, nghiệm thức 2 và 3 đều có sự khác biệt có ý nghĩa so với đối chứng, trong đó nghiệm thức 3 cho số tược cao nhất (9,3 tược ở ngày 10/04 và 8,5 tược ở ngày 20/04), thấp nhất là nghiệm thức đối chứng (7,4 tược ở ngày 10/04 và 6,7 tược ở ngày 20/04) Nhưng ở lần theo dõi thứ 3 (ngày 30/04) lúc này sự khác biệt giữa các nghiệm thức không có ý nghĩa về mặt thống kê, số tược biến động rất thấp (cao nhất ở nghiệm thức 3 là 6,2 tược và nghiệm thức đối chứng thấp nhất là 5,2 tược) Sỡ dĩ ở lần theo dõi thứ 3 số tược biến động giữa các nghiệm thức giảm xuống đáng kể so với 2 lần theo dõi trước đó là do cây lài đang trong thời kì sinh trưởng sinh thực, khả năng ra tược
bị ức chế
Ở lần theo dõi thứ 4 và thứ 5 (ngày 10/05 và 20/05) đây là giai đoạn cây lài bước sang đợt sinh trưởng sinh dưỡng mới (đợt hoa thứ 2), khả năng ra tược là nhiều hơn so với thời điểm trước đó 10 ngày (ngày 30/04) Sự khác biệt giữa các nghiệm thức lúc này là có
ý nghĩa về mặt thống kê ở mức 0,05, các nghiệm thức 1, 2 và đối chứng không có sự khác biệt, chỉ có nghiệm thức 3 có sự khác biệt có ý nghĩa so với nghiệm thức đối chứng, trong
đó nghiệm thức 3 cho số tược cao nhất và đối chứng cho số tược thấp nhất Tuy nhiên ở lần theo dõi thứ 6 (ngày 30/05) cho thấy khả năng ra tược giảm xuống đáng kể so với 2 lần theo dõi trước đó, sự khác biệt giữa các nghiệm thức không có ý nghĩa về mặt thống
kê, tuy nhiên các nghiệm thức có xử lý phân bón lá đều cho số tược cao hơn so với nghiệm thức đối chứng, trong đó nghiệm thức 3 cao nhất (5,6 tược)
Sau khi dứt đợt hoa thứ 2, thì cây lài bắt đầu chuyển sang giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng mới (đợt hoa thứ 3), khả năng ra tược tăng lên đáng kể so với thời điểm trước
đó 10 ngày, điều này thể hiện rõ ở lần theo dõi thứ 7 và 8, sự khác biệt giữa các nghiệm thức ở 2 lần theo dõi này là có ý nghĩa về mặt thống kê, nghiệm thức 1 và đối chứng không có sự khác biệt, nghiệm thức 2 và 3 có sự khác biệt có ý nghĩa so với nghiệm thức đối chứng, trong đó cao nhất là nghiệm thức 3 (7,8 tược ở ngày 9/06 và 6,7 tược ở ngày 19/06), thấp nhất là nghiệm thức đối chứng (6,1 tược ở ngày 9/06 và 5,3 tược ở ngày
Trang 3719/06) Tương tự với 2 lần theo thứ 3 và thứ 6, ở lần theo dõi thứ 9 (ngày 29/06) thời điểm này cây lài đã chuyển sang thời kỳ sinh trưởng sinh thực, mặc khác giai đoạn này mưa nhiều, cây lài sinh trưởng rất kém Kết quả xử lý thống kê cho thấy các nghiệm thức
có sự khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê, trong đó nghiệm thức đối chứng cho số tược thấp nhất (4,5 tược), cao nhất vẫn là nghiệm thức 3 (5,5 tược)
Quá trình sinh trưởng của cây lài có sự tương quan ức chế giữa các bộ phận sinh trưởng, trong giai đoạn sinh trưởng sinh thực, sự sinh trưởng bông đã làm ức chế khả năng ra tược, ngoài ra điều kiện thời tiết cũng ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của cây lài, trong thời điểm mưa nhiều và ẩm độ cao, khả năng quang hợp kém do đó cây lài sinh trưởng chậm, và kả năng ra tược bị ảnh hưởng đáng kể điều này thể hiện rõ ở 2 lần theo dõi (30/05 và 29/06)
Nguyên tố Kali (K), Lân (P) có vai trò quan trọng trong việc tạo thành các hợp chất và năng lượng trong các quá trình hô hấp và quang hợp, tăng cường quá trình trao đổi chất, do đó việc nảy chồi và hình thành tược diễn ra mạnh hơn, qua các lần theo dõi cho thấy phân bón lá có tác dụng tăng cường khả năng ra tược của cây lài
4.1.1 Ảnh hưởng của phân bón lá đến chiều dài tược
Qua bảng 4.2 cho thấy, ở các lần đo 1 (ngày 10/04), lần đo 4 (ngày 10/05) và lần
đo 7 (ngày 9/06) chiều dài tược trung bình giữa các nghiệm thức cao hơn so với các lần
đo còn lại, do ở các thời điểm này cây lài đang trong thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng, mức
độ ra tược rất mạnh Kết quả xử lý thống kê cho thấy chiều dài tược trung bình giữa các nghiệm thức ở 3 lần đo này có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê ở mức 0,05 Trong lần đo 1 chỉ có nghiệm thức 3 có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng, trong đó nghiệm thức 3 cho chiều dài tược cao nhất (7,4 cm), thấp nhất là nghiệm thức đối chứng (6,1 cm) Trong 2 lần đo (ngày 10/05) và (ngày 9/06) cho thấy nghiệm thức 2 và 3 có sự khác biệt có ý nghĩa so với các nghiệm thức đối chứng, trong đó nghiệm thức 3 vẫn cho chiều dài tược trung bình cao nhất (6,9 cm ở lần đo 4 và 6,6 cm ở lần đo 7), nghiệm thức đối chứng vẫn cho chiều dài tược trung bình thấp nhất (5,6 cm ở lần đo 4
và 5,4 cm ở lần đo 7)
Trang 38Bảng 4.2: Ảnh hưởng của phân bón lá đến chiều dài tược/cành của các nghiệm thức
Chiều dài tược trung bình qua các lần đo (cm) Nghiệm
thức 10/04
Lần 1
20/04 Lần 2
30/04 Lần 3
10/05 Lần 4
20/05 Lần 5
30/05 Lần 6
9/06 Lần 7
19/06 Lần 8
29/06 Lần 9
5,1 5,3 5,6 5,0
6,2ab 6,5a 6,9a 5,6b
5,6 5,6 5,9 5,2
4,5 4,7 5,0 4,4
5,8bc 6,2ab 6,6a 5,4c
4,8 5,2 5,4 4,4
4,4 4,6 4,8 4,1
11,48 0,5986
6,42 0,0314
10,83 0,6289
11,21 0,4996
5,86 0.0351
8,91 0,1335
10,83 0,4316
* Ghi chú: Những giá trị trung bình trong cùng một cột có cùng kí tự theo sau
không có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê
Ở các lần đo còn lại (ngày 20/04, 30/04, 20/05, 30/05, 19/06 và 29/06) cho thấy chiều dài tược trung bình giữa các nghiệm thức rất thấp, đây chính là các thời điểm cây lài trong giai đoạn sinh trưởng sinh thực, do đó mức độ ra tược rất chậm Ở các lần đo này cho thấy chiều dài tược trung bình giữa các nghiệm thức có sự khác biệt không có ý nghĩa
về mặt thống kê Tuy nhiên các nghiệm thức có phun phân thì có chiều dài tược trung bình cao hơn so với nghiệm thức đối chứng, trong đó nghiệm thức 3 cho chiều dài tược trung bình cao nhất và thấp nhất là nghiệm thức đối chứng Xét tại thời điểm các nghiệm thức cho chiều dài tược trung bình thấp nhất (ngày 29/06) thì nghiệm thức 3 cao nhất (4,8 cm) và nghiệm thức đối chứng là thấp nhất (4,1 cm)
Trong điều kiện thời tiết thuận lợi thì quá trình quang hợp, đồng hóa diễn ra nhanh hơn, cây có khả năng tích lũy vật chất và chuyển hóa năng lượng đầy đủ, chính các điều kiện này giúp cây lài sinh trưởng tốt và khả năng ra tược mạnh hơn (trong lần đo 1 ngày
Trang 3910/04), ngược lại khi thời tiết không thuận lợi thì quá trình sinh trưởng của cây lài sẽ chậm dần (thấp nhất ở lần đo 9 ngày 29/06)
Chiều dài tược trung bình giữa các nghiệm thức qua các lần đo hầu như không có
sự chênh lệch nhau nhiều, tuy nhiên ở các nghiệm thức có phun phân đều cho chiều dài tược trung bình cao hơn so với nghiệm thức đối chứng
4.2 Tình hình sâu bệnh hại trên cây lài
Sâu bệnh hại là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng
và phát triển của cây hoa lài, qua đó làm giảm năng suất, phẩm chất của bông Trong thời
gian theo dõi đã ghi nhận lại một số sâu bệnh hại chủ yếu như: sâu ăn lá (Palpita
vitrealis), sâu đục nụ (Hendecasis sp.), bọ trĩ (Thrips sp.) Bệnh đốm lá, thối tím bông,
chết nhánh, chết bụi
4.2.1 Tình hình sâu hại
Bảng 4.3: Tỉ lệ sâu hại trên cây lài ở các nghiệm thức qua các lần theo dõi (%)
Tỉ lệ sâu hại qua các lần theo dõi (%) Nghiệm
thức 10/04
Lần 1
20/04 Lần 2
30/04 Lần 3
10/05 Lần 4
20/05 Lần 5
30/05 Lần 6
9/06 Lần 7
19/06 Lần 8
29/06 Lần 9
Qua bảng 4.3 cho thấy sâu hại luôn có mặt trên ruộng lài, tuy nhiên mức độ gây hại
ở mỗi thời điểm là khác nhau
Ở 3 lần theo dõi ngày (10/04, 20/04 và 30/04) thì tỉ lệ sâu hại tương đối thấp, do trước khi thí nghiệm thì cây lài đã được phun thuốc trừ sâu Ở lần theo dõi thứ 4 và thứ 5
Trang 40cho thấy tỉ lệ sâu hại tăng lên, cao nhất là lần theo dõi thứ 5 ngày 20/05 (18,33 % ở nghiệm thức đối chứng) Ở thời điểm này quan sát thấy sâu hại nhiều, chủ vườn tiến hành phun thuốc để trừ sâu, do đó ở lần theo dõi thứ 6 (ngày 30/05) tỉ lệ sâu hại giảm xuống thấy rõ, cao nhất là nghiệm thức đối chứng (6,67 %)
Tuy nhiên ở các lần theo dõi sau đó (ngày 9/06, 19/06, 29/06) thì tỉ lệ sâu hại tăng rất nhiều, trong đó cao nhất là lần theo dõi thứ 9 (ở nghiệm thức đối chứng là 26,67 %)
Do ở các thời điểm này mưa nhiều, cây lài cho bông ít, kí chủ gây hại chủ yếu ở thời điểm này là sâu ăn lá, mức độ gây hại rất nhanh
Kết quả xử lý thống kê ở 3 lần theo dõi ngày 20/05, 19/06 và 29/06 (xem phần phụ lục 2) cho thấy sự khác biệt giữa các nghiệm thức là không có ý nghĩa về mặt thống kê, tuy nhiên các nghiệm thức có xử lý phân bón lá đều cho tỉ lệ sâu hại thấp hơn nghiệm thức đối chứng
4.2.2 Tình hình bệnh hại
Bảng 4.4: Tỉ lệ bệnh hại trên cây lài ở các nghiệm thức qua các lần theo dõi (%)
Tỉ lệ bệnh hại qua các lần theo dõi (%) Nghiệm
thức 10/04
Lần 1
20/04 Lần 2
30/04 Lần 3
10/05 Lần 4
20/05 Lần 5
30/05 Lần 6
9/06 Lần 7
19/06 Lần 8
29/06 Lần 9
4 (ĐC) 1,67 3,33 5 6,67 13,33 6,67 8,33 11,67 21,67
Bảng 4.4 cho thấy ở các lần theo dõi (10/04, 20/04, 30/04) tỉ lệ bệnh còn rất thấp,
do trước khi thí nghiệm thì cây lài đã được phun thuốc trừ bệnh, đồng thời trong thời điểm này thời tiết nắng nóng thuận lợi cho cây lài sinh trưởng mạnh, tỉ lệ bệnh thấp Tuy