Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái lai dòng CP90 tại trại lợn của công ty Cổ phần thương mại dịch vụ Đông Átrang trại tổng hợp Đông HòaĐông Á Đông Hưng Thái Bình.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái lai dòng CP90 tại trại lợn của công ty Cổ phần thương mại dịch vụ Đông Átrang trại tổng hợp Đông HòaĐông Á Đông Hưng Thái Bình.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái lai dòng CP90 tại trại lợn của công ty Cổ phần thương mại dịch vụ Đông Átrang trại tổng hợp Đông HòaĐông Á Đông Hưng Thái Bình.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái lai dòng CP90 tại trại lợn của công ty Cổ phần thương mại dịch vụ Đông Átrang trại tổng hợp Đông HòaĐông Á Đông Hưng Thái Bình.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái lai dòng CP90 tại trại lợn của công ty Cổ phần thương mại dịch vụ Đông Átrang trại tổng hợp Đông HòaĐông Á Đông Hưng Thái Bình.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái lai dòng CP90 tại trại lợn của công ty Cổ phần thương mại dịch vụ Đông Átrang trại tổng hợp Đông HòaĐông Á Đông Hưng Thái Bình.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái lai dòng CP90 tại trại lợn của công ty Cổ phần thương mại dịch vụ Đông Átrang trại tổng hợp Đông HòaĐông Á Đông Hưng Thái Bình.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái lai dòng CP90 tại trại lợn của công ty Cổ phần thương mại dịch vụ Đông Átrang trại tổng hợp Đông HòaĐông Á Đông Hưng Thái Bình.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái lai dòng CP90 tại trại lợn của công ty Cổ phần thương mại dịch vụ Đông Átrang trại tổng hợp Đông HòaĐông Á Đông Hưng Thái Bình.
Trang 1NGUYỄN THỊ TUYẾT
Tên chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƢỠNG VÀ PHÒNG TRỊ MỘT SỐ BỆNH SINH SẢN TRÊN ĐÀN LỢN NÁI LAI DÒNG CP 90 TẠI TRẠI LỢN CỦA CÔNG TY CPTMDV ĐÔNG Á - TRANG TRẠI TỔNG
HỢP ĐÔNG HÕA - ĐÔNG Á - ĐÔNG HƢNG - THÁI BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2013 - 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ TUYẾT
Tên chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ MỘT SỐ BỆNH SINH SẢN TRÊN ĐÀN LỢN NÁI LAI DÒNG CP 90 TẠI TRẠI LỢN CỦA CÔNG TY CPTMDV ĐÔNG Á - TRANG TRẠI TỔNG
HỢP ĐÔNG HÕA - ĐÔNG Á - ĐÔNG HƯNG - THÁI BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2013 - 2017
Giảng viên HD: TS Trương Hữu Dũng
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và thời gian học tập ở trại lợn của công ty CPTMDV Đông Á- trang trại tổng hợp Đông Hòa-Đông Á-Đông Hưng-Thái Bình, em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của nhiều tổ chức cá nhân
Để hoàn thành khóa luận này, em đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy
cô, gia đình và bạn bè Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu nhà trường, cùng toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Em xin đặc biệt cảm ơn đến thầy giáo TS Trương Hữu Dũng, thầy đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo động viên, giúp đỡ em về mọi mặt trong quá trình tiến hành khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn bác Nhâm Xuân Tiến (chủ trại) và chú Đoàn Trọng Hóa (quản lý trại) cùng các cán bộ công nhân viên trại nơi cơ sở em thực tập đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng em xin được cám ơn sự động viên, khích lệ, giúp đỡ của các thầy cô, gia đình và bạn bè đã động viên giúp đỡ em hoàn thành tốt việc học tập, nghiên cứu của mình trong suốt thời gian vừa qua
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái nguyên, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Thị Tuyết
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục tiêu của chuyên đề 2
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 3
2.1.2 Đánh giá chung 6
2.1.3 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở 6
2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước 6 2.2.1 Cơ sở khoa học 6
2.2.2 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước 16
2.3 Một số bệnh sinh sản thường gặp ở lợn nái 22
2.3.1 Bệnh viêm tử cung 22
2.3.2 Bệnh viêm vú 24
2.3.3 Bệnh bại liệt sau khi đẻ 27
2.3.4 Bệnh đẻ khó 28
2.3.5 Bệnh sẩy thai 30 2.4 Phương pháp ch ẩn đoán lâm sàng một số bệnh sinh sản của lợn nái 31
Trang 5Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 33
3.1 Đối tượng và phạm vi thực hiện 33
3.2 Địa điểm và thời gian thực hiện 33
3.3 Nội dung thực hiện 33
3.4 Phương pháp thực hiện và các chỉ tiêu 33
3.4.1 Phương pháp thực hiện 33
3.4.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 33
3.4.3 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác định 35
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 36
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
4.1 Tình hình chăn nuôi lợn nái tại trại trong 3 năm gần đây (2015 - 2017) 37
4.2 Thực hiện biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn 38
4.2.1 Thực hiện chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản 38
4.2.2 Thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con 39
4.3 Kết quả thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn công ty CPTMDV Đông Á-trang trại tổng hợp Đông Hòa 41
4.3.1 Vệ sinh phòng bệnh 41
4.3.2 Phòng bệnh bằng vaccine 44
4.4 Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh 45
4.4.1 Hội chứng tiêu chảy lợn con 46
4.4.2 Bệnh phân trắng lợn con 46
4.4.3 Bệnh viêm phổi 47
4.5 Tình hình đẻ của đàn lợn nái tại trại 48
4.5.1.Tình hình mắc bệnh sinh sản ở đàn lợn nái của trại 49
4.5.2 Tỷ lệ mắc bệnh sinh sản ở đàn lợn nái tại trại 50
4.6 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị 54
Trang 64.7 Công tác khác 56
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57
5.1 Kết luận 57
5.2 Đề nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 7ĐT : Điều trị
ĐD : Động dục ĐVT : Đơn vị tính
Kg : Kilogam KHKT : Khoa học kỹ thuật LMLM : Lở mồm long móng
Ml : Mililit MMA : Mastitis Metritis Agalactia - Hội chứng viêm vú, viêm tử cung và mất sữa
Nxb : Nhà xuất bản SFV : Dịch tả
STT : Số thứ tự
TB : Trung bình
TT : Thể trọng
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Quy mô đàn lợn trong 3 năm gần đây 2015- 2017 6
Bảng 3.1 Bố trí phác đồ điều trị 35
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn sinh sản của trang trại (2015 - 2017) 37
Bảng 4.4: Lịch phòng bệnh của trại lợn nái 44
Bảng 4.5 Kết quả tiêm vaccine phòng bệnh cho lợn tại trại 45
Bảng 4.6 Tình hình đẻ của đàn lợn nái 48
Bảng 4.7 Tình hình mắc bệnh sinh sản của đàn lợn nái 49
Bảng 4.8 Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ 51
Bảng 4.9 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở các tháng theo dõi 52
Bảng 4.10 Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm vú theo lứa đẻ 53
Bảng 4.12 Hiệu quả điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản 54
Bảng 4.13 Hiệu quả điều trị bệnh viêm vú ở lợn nái sinh sản 55
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi đang phát triển khá mạnh, trong đó ngành chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng và đem lại nhiều lợi ích cho người chăn nuôi Hàng năm, ngành chăn nuôi lợn cung cấp trên 70% sản lượng thịt cho thị trường Thịt lợn có giá trị dinh dưỡng cao, khả năng sử dụng thịt, mỡ lợn của con người là tương đối tốt Không những cung cấp nguồn thực phẩm lớn cho con người, chăn nuôi lợn còn cung cấp một lượng phân bón khá lớn cho ngành trồng trọt và cung cấp các sản phẩm phụ như: da, mỡ… cho ngành công nghiệp chế biến
Xã hội ngày càng phát triển, mức sống của người dân ngày càng được nâng cao Do vậy nhu cầu thực phẩm của con người bây giờ không chỉ đòi hỏi đáp ứng đủ về số lượng mà còn cả về chất lượng Trên thực tế, nhu cầu sử dụng thịt lợn chiếm tỷ lệ cao trong tổng số thịt tiêu thụ trên toàn thế giới, điều này chứng tỏ tính ưu việt của thịt lợn trong cuộc sống của con người Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra cho ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng là đầu tư phát triển đàn lợn để tăng cả chất lượng và số lượng đáp ứng nhu cầu của thị trường tiêu dùng
Nước ta đã nhập một số giống lợn nái ngoại như Yorkshire, Landrace, Duroc, Pietrain… về để nuôi thuần, lai kinh tế và tạo giống mới nhằm nâng cao số lượng và chất lượng đàn lợn Việt Nam và đã thu được kết quả cao Kết quả cho thấy các giống lợn ngoại có tính thành thục sớm, tăng trọng nhanh, chất lượng thịt tốt và có giá trị kinh tế cao
Tuy nhiên, tại trại chăn nuôi lợn của công ty CPTMDV Đông Á-trang trại tổng hợp Đông Hòa việc phát triển đàn lợn nái lai dòng CP90 yêu cầu cao
về kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng Đặc biệt lợn nái vẫn hay mắc các bệnh về
Trang 10sinh sản như viêm tử cung, viêm vú, đẻ khó… Lợn bị các bệnh về đường sinh sản sẽ làm giảm sức đề kháng và khả năng sinh sản làm giảm tỷ lệ thụ thai, mất sữa ảnh hưởng đến thế hệ con Nếu bệnh nặng có thể gây mất khả năng sinh sản làm tăng tỷ lệ loại thải dẫn đến làm giảm số lượng đàn gây thiệt hại cho người chăn nuôi
Trước tình hình thực tế đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Thực hiện
quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái lai dòng CP90 tại trại lợn của công ty CPTMDV Đông Á-trang trại tổng hợp Đông Hòa-Đông Á-Đông Hưng-Thái Bình”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục tiêu của chuyên đề
Nắm được tình hình chăn nuôi và vệ sinh phòng bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại của công ty CPTMDV Đông Á-trang trại tổng hợp Đông Hòa-Đông Á-Đông Hưng-Thái Bình
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập
*Điều kiện tự nhiên
Đông Á là 1 xã của huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, nước Việt Nam
Xã Đông Á có tổng số diện tích 6,47 km², nằm ở phía đông nam của huyện Đông Hưng Phía đông giáp với xã Đông Huy, huyện Đông Hưng Phía nam giáp với xã Đông Hoàng, huyện Đông Hưng và các xã Vũ Tây, An Bình, huyện Kiến Xương (ranh giới tự nhiên là sông Trà Lý)
Phía tây giáp với xã Đông Hoàng, huyện Đông Hưng Phía bắc giáp các
xã Đông Vinh và Đông Phong, huyện Đông Hưng
Khí hậu Thái Bình mang tính chất cơ bản là nhiệt đới ẩm gió mùa Thái Bình có nhiệt độ trung bình 23º-24ºC, tổng nhiệt độ hoạt động trong năm đạt 8400-8500ºC, số giờ nắng từ 1600-1800h, tổng lượng mưa trong năm 1700-2200mm, độ ẩm không khí từ 80-90% Gió mùa mang đến Thái Bình một mùa đông lạnh mưa ít, một mùa hạ nóng mưa nhiều và hai thời kỳ chuyển tiếp ngắn
*Quá trình thành lập
Trại chăn nuôi Nhâm Xuân Tiến là trại lợn gia công cho công ty CP Việt Nam, nằm tại thôn Đông Hoà, xã Đông Á, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình Trại được xây dựng năm 2011 và đưa vào sản xuất từ năm 2012 cho đến nay, với quy mô xây dựng cho tổng số nái là 2400 con Hoạt động theo phương thức chủ trại đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đưa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y và cán bộ kỹ thuật
* Cơ sở vật chất của cơ sở
Về nhân sự:
Trang 12Trại gồm có 65 người trong đó có:
Cơ sở vật chất trong chuồng trại chăn nuôi được trại chú trọng đầu tư theo đúng yêu cầu của công ty CP Có hệ thống quạt gió, giàn mát, điện sáng, núm uống nước cho lợn tự động, có hệ thống bóng điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông Ngoài ra trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện cho cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi những khi mất điện
Về cơ sở hạ tầng:
Chỗ ăn, nghỉ ngơi sạch sẽ, rộng rãi, thoáng mát Bảo hộ lao động gồm:
2 bộ bảo hộ lao động và 1 đôi ủng Đồ dùng cá nhân gồm có: 1 màn, 1 chiếu,
1 chăn, 1 gối
Trại xây dựng gồm 2 khu tách biệt: Khu nhà ở và sinh hoạt của công nhân, sinh viên và khu chuồng nuôi Khu nhà ở rộng rãi có đầy đủ nhà tắm, nhà vệ sinh tiện nghi Khu nhà ăn cũng được tách biệt có nhà ăn ca (buổi trưa)
Trang 13và nhà ăn chung (buổi tối) Khu nhà bếp rộng rãi và sạch sẽ Thức ăn cung cấp cho trang trại đều là những thức ăn do trang trại tự cung tự cấp Nghiêm cấm mang những đồ tươi sống vào trại tránh gây dịch bệnh
Trại có một nhà kho là nơi chứa thức ăn cho lợn và một kho thuốc là nơi cất giữ và bảo quản các loại thuốc, vaccine, dụng cụ kỹ thuật để phục vụ công tác chăm sóc, điều trị cho đàn lợn của trại
Hệ thống chuồng nuôi
Khu vực chuồng nuôi của trại được xây dựng trên một khu vực cao, dễ thoát nước và được bố trí tách biệt với khu sinh hoạt chung của công nhân, gồm: 6 chuồng lợn đẻ, 4 chuồng lợn bầu, 1 chuồng lợn đực, 1 phòng tinh và 3 chuồng cách ly (một chuồng cách ly lợn con sau 21 ngày chưa được xuất bán) Trong đó 6 chuồng lợn đẻ, mỗi chuồng được tách ra làm 2 dãy nhỏ mỗi dãy với 54 ô chuồng sàn với kích thước mỗi ô là 2,4m × 1,6m/ô Chuồng lợn bầu gồm 4 chuồng với kiểu chuồng cũi sắt mỗi chuồng có 560 ô, kích thước 2,4m × 0,65m/ô Các chuồng nuôi đều được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng, cửa sổ và hệ thống vòi uống nước tự động ở mỗi ô chuồng Mùa hè có hệ thống làm mát bằng quạt thông (6 quạt đối với chuồng đẻ và 8 quạt đối với chuồng bầu) và giàn mát Đối với chuồng bầu có thêm hệ thống làm mát bằng giàn phun sương
Sau mỗi chuồng đều có đường rãnh thoát nước thải, các đường rãnh này đều thông về một bể chứa nước thải tập trung
Nguồn nước được sử dụng trong trại được cung cấp từ hệ thống giếng khoan, nước sau khi được bơm lên 2 bể được sử lý bằng hóa chất Sau đó được bơm lên một bể ở trên cao, lợi dụng áp lực của nước để đưa nước tới hệ thống cung cấp nước uống, giàn mát và các vòi nước phục vụ cho công việc vệ sinh
Trang 142.1.2 Đánh giá chung
Cơ sở vật chất, các trang thiết bị của trang trại được đầu tư đầy đủ, đồng
bộ, thống nhất, đáp ứng tối ưu cho công tác sản xuất
Công tác giống, chăm sóc và nuôi dưỡng lợn luôn được thực hiện đúng quy trình chăn nuôi tập trung khép kín
Công tác thú ý luôn được đề cao và thực hiện nghiêm túc
2.1.3 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở
* Đối tượng
Lợn nái lai dòng CP90 đang nuôi trong giai đoạn sinh sản
*Kết quả sản xuất của cơ sở
Bảng 2.1 Quy mô đàn lợn trong 3 năm gần đây 2015- 2017
2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Cơ sở khoa học
2.2.1.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục cái
Theo Đặng Quang Nam (2002) [16], cơ quan sinh dục cái có các bộ phận sau:
Buồng trứng (Ovarium): gồm một đôi (dài 1,5 - 2,5cm, khối lượng 3 - 4
gam) nằm trước cửa xoang chậu, ứng với vùng đốt sống hông 3 - 4 Bề mặt buồng trứng có nhiều u nổi lên
Buồng trứng được bọc ở ngoài màng liên kết sợi chắc, bên trong chia làm 2 phần, cả 2 phần đều phát triển một thứ mô liên kết sợi xốp tạo nên một loại chất đệm Dưới lớp màng liên kết của buồng trứng có nhiều tế bào trứng
Trang 15non phát triển dần thành nang trứng nguyên thủy, sau đó phát triển thành nang trứng sơ cấp và cuối cùng phát triển thành bao noãn chín Dưới tác dụng của kích tố đặc biệt là kích tố sinh dục tuyến yên, trứng chín sẽ rụng
Như vậy, buồng trứng có 2 chức năng là sản sinh ra tế bào trứng và tiết
ra hormone sinh dục có ảnh hưởng tới tính biệt, tới chức năng tử cung (đặc
biệt là đặc tính sinh dục phụ thứ cấp của con cái)
Ống dẫn trứng (Oviductus): Ống dẫn trứng dài 15 - 20cm, uốn khúc
nằm ở cạnh trước dây chằng rộng Ống dẫn trứng bắt đầu ở bên cạnh buồng trứng đến đầu tử cung và được chia làm 2 phần: phần trước tự do có hình phễu loe ra gọi là loa vòi (loa kèn) có tác dụng hứng tế bào trứng chín rụng, phần sau thon nhỏ có đường kính dài 0,2 - 0,3cm nối với sừng tử cung
Cấu tạo ống dẫn trứng xếp từ ngoài vào trong gồm có: màng tương mạc đến từ dây chằng rộng, lớp cơ (2 lớp: cơ vòng ở trong, cơ dọc ở ngoài), lớp niêm mạc trong cùng có nhiều nếp chạy dọc và không có tuyến
Tử cung (Uterus): tử cung là nơi cung cấp dinh dưỡng và phát triển của
thai Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bóng đái
Tử cung gồm 3 phần: sừng, thân, cổ tử cung Sừng tử cung dài ngoằn ngoèo như ruột non, dài 30 - 50cm, có dây chằng rất dài nên khi thiến có thể kéo sừng tử cung ra ngoài được Thân tử cung ngắn, niêm mạc thân và sừng
tử cung là những gấp nếp nhăn nheo theo chiều dọc Thai làm ổ ở sừng tử cung Cổ tử cung không có gấp nếp hoa nở mà là những cột thịt xen kẽ cài răng lược với nhau
Âm đạo (Vagina): âm đạo là đoạn nối tiếp sau cổ tử cung, trước âm hộ
Đây là nơi tiếp nhận dương vật khi giao phối, phía trên là trực tràng, phía dưới là bóng đái, nó được ngăn cách với âm hộ bởi màng trinh
Cấu tạo: lớp ngoài là tương mạc phủ phần trước âm đạo Lớp giữa là lớp cơ trơn xếp theo các chiều khác nhau dính lẫn lộn với tổ chức liên kết
Trang 16bọc ngoài Lớp niêm mạc có nhiều gấp nếp nhăn nheo theo chiều dọc, trong
đó có nhiều chất nhờn Âm đạo có khả năng co gian rất lớn và là đường đi
ra của thai
Âm hộ (Vulva): đây là đoạn sau cùng của bộ máy sinh dục cái, sau âm
đạo và ngăn cách âm đạo bởi màng trinh Âm hộ nằm dưới hậu môn và được thông ra ngoài bởi một khe thẳng đứng gọi là âm môn Trong âm hộ còn có lỗ
thông với bóng đái, tuyến tiền đình (Barthonlin) và khí quan cương cứng gọi
là âm vật (Clitoris)
Âm môn là một khe thẳng đứng dưới hậu môn, có 2 môi nối với nhau bởi 2 mép Môi lớn ở ngoài dày trùm lấy môi nhỏ ở trong Mép trên hơi nhọn, mép dưới rộng bao quanh âm vật Mép trên và dưới được bao bởi lớp da mỏng mịn, phía dưới mép dưới có lông
Bộ phận phía trong âm hộ và âm môn:
Màng trinh (Hymen): ngăn cách giữa âm đạo và âm hộ
Lỗ đái là đường thông ra của niệu đạo con cái Lỗ đái nằm ở thành dưới
âm môn ngay sau dưới màng trinh, hình một cái khe có van trùm lên, cánh van hướng về sau Bên cạnh lỗ đái còn có lỗ đổ ra của ống tuyến tiền đình Đôi tuyến này tiết ra dịch nhờn làm ẩm ướt cửa vào âm đạo phía trong âm hộ
và có thành phần sát khuẩn
Âm vật (Clitoris): là tổ chức cương cứng, có nhiều dây thần kinh nên
cảm giác tập trung ở đây cao
Cấu tạo âm hộ từ ngoài vào có các lớp sau: lớp da mỏng mịn có nhiều sắc tố, lớp cơ gồm cơ thắt và dây treo âm hộ, lớp niêm mạc trong cùng có nhiều tuyến tiết dịch nhờn
Tuyến vú (Mamma): lợn là động vật đa thai có từ 6 - 8 đôi vú xếp thành
2 hàng từ vùng ngực đến vùng bụng bẹn Tuyến này chỉ phát triển khi con nái đến tuổi thành thục về tính và phát triển to nhất ở thời kỳ chửa, đẻ Thời kỳ
Trang 17con vật đẻ, tuyến vú tiết ra sữa cung cấp dinh dƣỡng cho con sơ sinh và lúc còn non Vú gồm có bầu vú và núm vú:
Bầu vú: bầu to đó là nơi sản sinh và chứa sữa Ngoài cùng là lớp da mỏng mịn tùy theo vị trí mà lớp da này do da ngực, nách hay da bụng, bẹn kéo đến, tiếp đến là lớp cơ Trong cùng có 2 phần cơ bản là bao tuyến và ống dẫn xen kẽ giữa phần cơ bản ở trong nhƣ tổ chức mỡ, tổ chức liên kết, hệ thống mạch quản thần kinh bao vây và chia vú làm nhiều thùy nhỏ trong đó
có nhiều sợi đàn hồi
Bao tuyến là nơi sản sinh ra sữa giống nhƣ một cái túi, từ đó sữa theo 3 loại ống dẫn: nhỏ, trung bình, lớn rồi đổ vào xoang sữa ở đáy tuyến và bong
ra ở đỉnh đầu vú
Để hình thành một lít sữa phải có 540 lít máu đi qua tuyến vú Vì vậy,
sự cung cấp máu cho tuyến vú rất phong phú, mao mạch bao quanh bao tuyến dày đặc
Núm vú: một bầu vú có một núm cấu tạo bởi da - tổ chức liên kết - cơ - ống dẫn sữa Ống dẫn sữa gồm 2 - 3 ống thông nối từ xoang sữa (bể sữa) ra đầu núm vú Ở đầu núm vú, sợi cơ trơn xếp thành vòng tạo thành cơ vòng đầu
vú giữ cho đầu vú ở trạng thái khép kín khi không thải sữa
2.2.1.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục lợn nái
* Thành thục về tính và thành thục về thể vóc:
Theo Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006) [25]:
Thành thục về tính: gia súc phát triển đến một giai đoạn nhất định, thì có biểu hiện về tính dục Con đực có khả năng sinh ra tinh trùng, con cái có khả năng sinh ra tế bảo trứng Khi đấy gọi là gia súc đã thành thục về tính
Thời gian thành thục về tính của lợn là 6 - 7 tháng
Trang 18Thành thục về thể vóc: sự thành thục về thể vóc thường diễn ra chậm hơn sự thành thục về tính Sau một thời kỳ sinh trưởng và phát triển, đến một thời điểm nhất định con vật đạt tới mức độ trưởng thành về thể vóc Có nghĩa
là cơ thể tương đối hoàn chỉnh về sự phát triển của các cơ quan bộ phận như não đã phát triển hoàn thiện hơn, xương đã cốt hóa hoàn toàn, tầm vóc ổn định,… Nói một cách khác, khi gia súc đã thành thục về tính thì sự sinh trưởng, phát triển của cơ thể vẫn còn tiếp tục đến độ trưởng thành Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi, không nên sử dụng gia sức vào mục đích sinh sản quá sớm vì:
Đối với gia súc cái nếu phối giống sớm khi cơ thể chưa trưởng thành
về tầm vóc sẽ ảnh hưởng xấu như: trong thời gian chửa có sự phân tán dinh dưỡng, ưu tiên cho phát triển bào thai Nhu cầu dinh dưỡng cho sự sinh trưởng và phát triển cho bào thai cũng bị ảnh hưởng Kết quả: mẹ yếu, con nhỏ và yếu, tuổi sử dụng con mẹ bị giảm xuống Hơn nữa, do xoang chậu chưa phát triển hoàn toàn, nhỏ, hẹp làm cho con vật khó đẻ
Thời gian thành thục về thể vóc của lợn là 7 - 9 tháng
* Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của trứng
Sự hình thành và phát triển của trứng: tế bào trứng hay trứng hình thành trong buồng trứng, nó được phát triển từ các tế bào sinh dục chưa thành thục
gọi là noãn nguyên bào (Ovogonie) Ở giai đoạn sớm của đời sống cá thể, các
noãn nguyên bào trải qua nhiều lần phân bào nguyên nhiễm, đến noãn bào sơ cấp Tất cả các tế bào sinh dục chưa chín đó chứa số lượng lưỡng bội NST Các noãn nguyên bào được bao bọc bởi lớp tế bào biểu mô Đến khi thành thục về tính, dưới ảnh hưởng điều hòa của trung khu sinh dục ở vùng dưới đồi
(Hypothalamus) thông qua các yếu tố giải phóng kích dục tố RF, kích thích tuyến yến tiết các hocrmone hướng sinh dục FSH, LH để điều khiển quá trình
phát triển nang trứng và rụng trứng
Trang 19Quá trình phân chia thành thục của trứng được chia hai giai đoạn:
Từ noãn bào cấp I (noãn bào sơ cấp) phân chia giảm nhiễm cho ra noãn bào cấp II (noãn bào thứ cấp) và một cầu cực thứ nhất (quá trình xảy ra ngay trước khi rụng trứng)
Phân chia lần hai, từ noãn bào cấp II phân chia cho ra tế bào trứng và một cầu cực thứ hai, tế bào trứng chín chứa đơn bội NST Các thể cực nhỏ tiêu biến Noãn bào cấp II truyền toàn bộ noãn hoàn cho tế bào trứng
Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của trứng: Theo Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn [25], thì các nhân tố ảnh hưởng đến sực hình thành và phát triển của trứng là:
Hormone: khi thành thục về tính, các nang trứng tuần tự bước vào giai đoạn phát triển để hình thành trứng chín theo chu kỳ Dưới tác động của FSH thông qua tương tác hormone-gen quá trình sinh tổng hợp protein được xúc tiến mạnh mẽ, nang trứng không ngừng gia tăng về kích thước Lớp tế bào hạt sinh sản estrogene là hormone sinh dục cái Dịch nang trứng được tạo ra do kích thích tổng hợp của hormone estrogene và tương tác của FSH vào lớp tế bào hạt Áp lực của dịch nang trứng là điều kiện để phá vỡ vỏ nang trứng khi rụng trứng
Thức ăn (mức dinh dưỡng) là yếu tố ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của buồng trứng và các bộ phận của đường sinh dục cái nói chung
Cơ thể có sự ưu tiên hơn về dinh dưỡng cho sự phát triển tế bào sinh dục nhiều hơn tế bào cơ, xương, mỡ nhưng sự ưu tiên đó nằm trong các mối tương quan chung về dinh dưỡng có trong cơ thể
Giống: các giống khác nhau, chất lượng của quá trình phát triển nang trứng cũng khác nhau do gen quy định
Ngoài ra, còn các yếu tố khác như: khí hậu, điều kiện chăm sóc,… cũng ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của trứng
Trang 20* Chu kỳ động dục
Khi gia súc cái thành thục về tính, cứ sau mỗi khoảng thời gian nhất định, cơ quan sinh dục của nó có những biến đổi đặc biệt, kèm Theo đó là rụng trứng và động dục Hiện tượng này lặp đi lặp lại một cách có chu kỳ, gọi
là chu kỳ động dục hay chu kỳ tính
Chu kỳ tính của lợn là 21 ± 4 ngày Trứng rụng vào lúc 36 - 42 giờ sau khi xuất hiện động dục Thời điểm phối giống thích hợp nhất là 24 - 36 giờ sau khi xuất hiện động dục Số trứng rụng từ 16 - 17 tế bào
* Cơ chế động dục và biểu hiện động dục ở lợn nái:
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [22], cơ chế động dục của lợn nái: khi lợn nái đến tuổi thành thục về tính dục, các kích thích bên ngoài như ánh sáng, nhiều độ, thức ăn, feromon của con đực và các kích thích nội tiết đi theo dây thần kinh li tâm, đến vỏ đại não qua vùng đồi dưới
(Hypothalamus) tiết ra kích tố FRF (Folliculin Releasing Factors), có tác
dụng kích thích tuyến yên tiết ra FSH, làm cho bao noãn phát dục nhanh chóng Trong quá trình bao noãn phát dục và thành thục, thì thượng bì bao noãn tiết ra estrogen chứa đầy trong xoang bao noãn, làm cho lợn nái có biểu hiện động dục ra bên ngoài
Theo Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [25]: Chu kỳ động dục của gia súc được chia làm 4 giai đoạn:
Giai đoạn trước động dục: bao noãn phát triển, các tế bào vách ống dẫn trứng tăng sinh Hệ thống mạch quản trong dạ con phát triển Các tuyến trong
dạ con bắt đầu tiết dưới tác dụng của hormone estrogen Thay đổi của đường sinh dục: tử cung, âm đạo, âm hộ bắt đầu xung huyết
Giai đoạn động dục: bao noãn phát triển mạnh nổi lên bề mặt buồng trứng Bao noãn tiết nhiều estrogen và cực đại Các thay đổi ở đường sinh dục cái càng sâu sắc hơn để chuẩn bị đón trứng Biểu hiện của con vật: hưng phấn
Trang 21về tính dục, đứng yên cho con khác nhảy, kêu rống, bồn chồn, thích nhảy lên lưng con khác, ít ăn hoặc bỏ ăn, tìm đực Âm hộ ướt, đỏ, tiết dịch nhày Càng tới thời điểm rụng trứng thì âm hộ đỏ tím, dịch tiết keo lại, mắt đờ đẫn Cuối giai đoạn này thì trứng rụng
Giai đoạn sau động dục: thể vàng bắt đầu phát triển và tiết ra progesteron có tác dụng ức chế sự co bóp của đường sinh dục Niêm mạc tử cung vẫn còn phát triển Các tuyến dịch nhờn giảm bớt bài tiết, mô màng nhầy tử cung bong ra cùng với lớp tế bào biểu mô âm đạo hóa sừng thải ra ngoài Biểu hiện hành vi về sinh dục: con vật không muốn gần con đực, không muốn cho con khác nhảy lên Con vật dần trở lại trạng thái bình thường
Giai đoạn yên tĩnh: thể vàng teo dần đi con vật trở lại trạng thái bình thường Biểu hiện hành vi sinh dục không có Đây là giai đoạn nghỉ ngơi, yên tĩnh để phục hồi lại cấu tạo, chức năng cũng như năng lượng để chuẩn bị cho chu kỳ động dục tiếp theo
2.2.1.3 Một số hiểu biết về quá trình viêm
*Khái niệm về viêm
Theo Huỳnh Văn Kháng (2003) [9], viêm là phản ứng của toàn thân chống lại mọi vật kích thích có hại đối với cơ thể, nó thể hiện tại cục bộ các
mô bào Bản chất của viêm là một quá trình bệnh lý lấy phòng vệ làm chủ yếu nhằm duy trì sự cân bằng trong cơ thể
Triệu chứng của viêm xuất hiện nặng hay nhẹ, tiên lượng tốt hay xấu đều có liên quan chặt chẽ đối với tính chất của vật kích thích, cường độ và thời gian kích thích dài hay ngắn, cũng như khả năng phản ứng của cơ thể đối với mọi vật kích thích, đặc biệt là trạng thái thần kinh của con vật
*Hậu quả của phản ứng tuần hoàn và phản ứng tế bào trong viêm
Phản ứng tuần hoàn và phản ứng tế bào trong viêm đã gây nên các rối loạn chủ yếu sau:
Trang 22Rối loạn chuyển hóa:
Tại ổ viêm quá trình oxy hóa tăng mạnh, nhu cầu oxy tăng, nhưng vì có rối loạn tuần hoàn nên khả năng cung cấp oxy không đủ, gây rối loạn chuyển hóa gluxit, lipit và protit gây ra hiện tượng tăng độ axit, xeton, lipit, albumoza, polipeptit và các loại axit amin tại ổ viêm
Tổn thương mô bào
Các tế bào bị tổn thương tại ổ viêm giải phóng các enzyme càng làm trầm trọng thêm quá trình hủy hoại mô bào và phân hủy các chất tại vùng viêm, chúng tạo ra các chất trung gian có hoạt tính sinh lý cao và hạ thấp độ
pH của ổ viêm
Như vậy, ngoài tính chất bảo vệ thì tổn thương mô bào còn tạo ra nhiều chất có hại tham gia vào thành phần của dịch rỉ viêm, chính các chất này đã góp phần hình thành và phát triển vòng xoắn bệnh lý trong ổ viêm
Dịch rỉ viêm:
Dịch rỉ viêm là sản phẩm được tiết ra tại ổ viêm bao gồm các thành phần hữu hình và các chất hòa tan như nước, muối, albumin, globulin,
fibrinogen, bạch cầu, hồng cầu, tiểu cầu có tác dụng tạo vành đai ngăn cản
viêm lan Đặc biệt là các chất có hoạt tính sinh lý như histamin, serotonin, axetinchorin có tác dụng làm giãn mạch và tăng tính thấm thành mạch gây đau
Tăng sinh mô bào
Là hiện tượng tăng lên về số lượng các tế bào trong ổ viêm, các tế bào này có thể từ trong máu hoặc các tế bào tại chỗ sản sinh, phát triển ra
Trong quá trình viêm, giai đoạn đầu chủ yếu tăng sinh bạch cầu đa nhân trung tính Sự tăng sinh và phát triển của các loại tế bào phụ thuộc vào mức độ tổn thương của ổ viêm cũng như tình trạng của cơ thể (Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp,1997) [7]
Các tế bào viêm
Trang 23Các tế bào tăng sinh trong ổ viêm được gọi chung là các tế bào viêm bao gồm: bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu ái toan, bạch cầu ái kiềm, bạch cầu đơn nhân lớn Chúng có chức năng thực bào, ẩm bào hay tạo ra những kích thích tại các ổ viêm và giữ vai trò quan trọng giúp cơ thể chống lại sự xâm nhập của tác nhân lạ từ môi trường
2.2.1.3 Một số vi khuẩn gây viêm đường sinh dục ở lợn nái
Theo kết quả nghiên cứu của Zaneta, Laureckiene (2006) [32]: nhân tố
gây bệnh viêm đường sinh dục thường là các vi khuẩn sau: Streptococcus sp.,
Staphylococcus sp., E coli và Enterobacter
Dưới đây là thông tin về một số loại vi khuẩn gây bệnh viêm đường sinh dục:
Streptococcus: là liên cầu khuẩn thuộc họ Micrococcaceae, hình cầu
hoặc hình bầu dục, đường kính có khi đến 1µ, đôi khi có vỏ, bắt màu gram dương, không di động Liên cầu có ở khắp nơi trên cơ thể người và động vật, bình thường chúng cư trú trên da, niêm mạc đường tiêu hóa, hô hấp, khi sức
đề kháng của cơ thể giảm sút hoặc tổ chức bị tổn thương, vi khuẩn sẽ xâm nhập và gây bệnh
Staphylococcus: là những vi khuẩn hình cầu, tụ lại từng đám giống
hình chùm nho, đường kính 0,7-1µ, không di động, không sinh nha bào,
không có lông, bắt màu gram dương, staphylococcus thuộc họ Micrococeae gồm ba loại: Staphylococcus aureus, staphylococcus epidermidis và
staphylococcus sarprophyticus Tụ cầu thường ký sinh trên da, niêm mạc của
người và gia súc, khi sức đề kháng của cơ thể giảm sút hoặc tổ chức bị thương
ở da và niêm mạc hoặc những rối loạn về chức năng thì các nhiễm trùng do tụ cầu dễ dàng xuất hiện Vi khuẩn gây những ổ mủ ở ngoài da và niêm mạc Một số trường hợp vi khuẩn vào máu gây nhiễm trùng huyết, huyết nhiễm
mủ Trong ba loài của giống staphylococcus thì staphylococcus aureus là loài
Trang 24gây bệnh hay gặp nhất, nó gây các nhiễm trùng ở các loài gia súc, nhất là các
cơ sở chăn nuôi tập trung có mật độ gia súc lớn
Eschelichina coli (E.coli): là trực khuẩn ruột già thuộc trực khuẩn
đường ruột Enterobacteriaceae, bắt màu gram âm, hình gậy ngắn kích thước 2-3 x 0,6µ Phần lớn E.coli di động do có lông ở quanh thân, vi khuẩn không sinh nha bào, có thể có giáp mô E.coli có sẵn trong ruột của động vật nhưng
chỉ có tác động gây bệnh khi sức đề kháng của con gia súc giảm sút (do chăm
sóc, do cảm lạnh hoặc cảm nóng) E.coli thường gây bệnh cho gia súc mới đẻ
từ 2 - 3 ngày hay 4 - 8 ngày
Klebsiella: giống Klebsiella cũng thuộc họ trực khuẩn đường ruột Enterobacteiaceae gồm những trực khuẩn không có lông, không hình thành
nha bào, thường sinh giáp mô và sản sinh dịch bắt màu gram âm Giống
Klebsiella có 2 type điển hình là: K.pneumoniea và K.aerogenes Trong tự
nhiên Klebsiella thường sống rải rác khắp nơi (đất, nước) hoặc ký sinh ở
đường hô hấp trên, vi khuẩn có thể gây viêm phổi ở người hoặc viêm phổi truyền nhiễm có bại huyết cho ngựa, bê, lợn, … (Nguyễn Văn Thanh, 2002) [24]
2.2.2 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Những năm gần đây nền chăn nuôi lợn ở nước ta phát triển mạnh mẽ,
số lượng đầu lợn tăng lên không ngừng, song song với nó tình hình dịch bệnh cũng tăng theo, đặc biệt là các bệnh sinh sản Do đó công tác Thú y ngày càng được chú trọng và phát triển nhằm khống chế dịch bệnh, nâng cao năng suất chăn nuôi Có rất nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu nguyên nhân gây bệnh từ
đó đưa ra các phương pháp phòng và trị bệnh cho đàn lợn có hiệu quả
Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [2] cho biết: Bệnh viêm tử cung xảy ra ở những thời gian khác nhau nhưng bệnh xảy ra nhiều nhất vào thời gian sau
đẻ 1 - 10 ngày
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [11], dụng cụ thụ tinh nhân tạo quá
Trang 25cứng sẽ gây xây sát và tạo ra các ổ viêm trong âm đạo, tử cung Tinh dịch bị nhiễm khuẩn,lợn đực giống bị viêm niệu quản và dương vật nên khi nhảy trực tiếp hoặc khai thác tinh nhân tạo sẽ truyền lây mầm bệnh cho lợn nái Rối loạn sinh sản do nhiều nguyên nhân gây ra Ngoài các nguyên nhân cơ học, hóa học, sinh học thông thường như vận động, hormone, dinh dưỡng, ký sinh trùng phải kể đến các nguyên nhân do vi rút và vi khuẩn
Theo Trịnh Đình Thâu và cs (2010) [27], Lợn nái ngoại nuôi theo mô hình trang trại ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam có tỷ lệ mắc hội chứng MMA dao động từ 47,39% đến 53,33% Trong đó lợn nái mắc thể điển hình là 6,45% Các tác giả cũng đã nghiên cứu ảnh hưởng của hội chứng MMA đến năng suất sinh sản của lợn nái và thử nghiệm các phác đồ điều trị hội chứng MMA
Theo Nguyễn Quang Linh (2005) [13], bệnh viêm vú thường xảy ra sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 7 - 10 ngày, có trường hợp đến một tháng
Viêm tử cung là một trong nhiều tổn thương đường sinh dục trên lợn nái sau khi sinh Khi có dịch tiết và dịch lẫn mủ chính là biểu hiện của viêm
tử cung (Trương Lăng, 2000) [12]
Viêm tử cung là một trong nhiều tổn thương đường sinh dục ở lợn nái sau khi sinh Khi có dịch tiết và dịch lẫn mủ mùi tanh thối, con vật sốt, bỏ ăn hay ăn ít, có phản xạ đau chính là biểu hiện của bệnh viêm tử cung Có nhiều nguyên nhân gây viêm tử cung như: dinh dưỡng, tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe chăm sóc, quản lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi Nhưng nguyên nhân chính luôn hiện diện trong tất cả các trường hợp là do vi sinh vật, các nguyên nhân khác sẽ làm giảm sức đề kháng của cơ thể hoặc tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập và phát triển gây bệnh Lợn nái sau khi sinh bị viêm
tử cung chiếm tỷ lệ 42,40% Viêm tử cung trên nhóm thuần chiếm 25,48%, trên nhóm lai là 50,84% Viêm tử cung xảy ra cao nhất ở lứa 1 và lứa 2 Tỷ lệ
Trang 26chậm động dục ở nhóm lợn bị viêm tử cung cao hơn nhiều so với nhóm lợn không bị viêm tử cung
Theo Nguyễn Thị Tho và cs (1995) [28], cho biết: phần lớn những trường hợp lợn đẻ khó đều dẫn tới viêm tử cung
Nguyễn Như Pho (2002) [20], đã dùng kháng sinh streptomycin phối hợp với penicillin, chloramphenicol tiêm một lần ngay trước khi đẻ, hoặc tetracycline cho ăn liên tục 3 ngày trước khi đẻ hoặc đặt viên kháng sinh vào
tử cung trong 3 ngày sau khi đẻ đã cho biết kết quả tốt trong việc phòng ngừa hội chứng MMA
Theo Trần Minh Châu (1996) [3], điều trị bệnh bằng oxytocin và kháng sinh ampicillin 25 mg/ 1kgTT/ ngày hoặc tetracylin - 50 mg/ kgTT/ ngày cho kết quả điều trị tốt
Theo Đoàn Thị Kim Dung và cs (2001) [6], thụt rửa tử cung bằng rivanol 0,1% mỗi ngày rửa một lần, mỗi lần 50 - 100 ml Sau đó dùng loại thuốc sau:
Tiêm bắp kanamycin liều 10 mg/ kgTT/ ngày, ngày 2 lần
Tiêm bắp gentamycin 4 UI/ kgTT/ ngày
Kanamycin bôi ngày 1 - 2 lần, kết hợp với uống 1 - 2 g/50 kgTT Uống liên tục trong 3 - 5 ngày Đồng thời kết hợp với thuốc bổ trợ vitamin C, B cafein cho kết quả tốt
Theo Lê Tuấn Hùng, Phạm Chí Thành (1997) [8], dùng lugol 5% kháng điều trị cho trâu bò đạt hiệu quả cao
Theo Chu Thi ̣ Thơm và cs (2005) [29], chữa bê ̣nh viêm vú , sưng vú, tắc tia sữa bằng: Bồ công anh 50g rửa sa ̣ch, giã nát cho thêm ít muối, ít nước, chắt lấy nước cho uống, phần bã đắp phần vú bi ̣ sưng
Theo Lê Văn Năm (1997) [17], thụt rửa tử cung bằng dung dịch nước muối 1 - 2 % hay Streptocid 1 %, thuốc tím KMnO4 0,05% (các loại thuốc hòa tan trong nước ấm 45 - 500
C) sau khi thụt rửa có thể dùng một số cách sau
Trang 27Tiêm bắp canxifort liều 10 ml/ ngày/ 2 lần/ ngày
Bơm vào tử cung 1 triệu UI penicillin hòa tan với 50 ml nước cất, ngày một lần cho kết quả tốt
Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (1994) [18], cho biết: Benzin penicillin: 1.000.000 UI
Gentamycin: 200.000 UI
Điều trị viêm tử cung ở lợn, bò đạt hiệu quả cao
Dùng viên nén chlotetracylin: 1 viên đặt vào tử cung
Điều trị nhiễm trùng đường sinh dục sau đẻ, viêm tử cung, lộn tử cung, sót nhau
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [10], dùng phác đồ điều trị:
Tiêm bắp streptomycin: Dùng 15 - 20 mg/ kgTT Dùng liên tục từ 3 - 5 ngày (bệnh cấp tính), dùng 6 - 8 ngày (bệnh mãn tính)
Penicillin dùng 20.000 UI/ kgTT, dùng kết hợp với streptomycin trong thời gian điều trị
Theo Trương Lăng (2000) [12], dùng phác đồ điều trị sau:
Theo Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004) [14], dùng oxytocin
20 - 40 UI/ con/ ngày Để dạ con co bóp, tống thải các chất ứ bẩn, dịch viêm
ra ngoài Thụt rửa âm đạo băng Han - Iodine 5%: 75ml pha với 4 lít nước sôi
để nguội, dùng kháng sinh tiêm liên tục trong 3 - 5 ngày
Gennorfcoli: 1 - 5 ml/ 10 kgTT
Gentamycin 4%: 1 ml/ 6 kgTT
Trang 28Theo Nguyễn Văn Thanh (2000) [24], dùng PGF2 với liều 25mg tiêm dưới da 1 lần sau đó thụt dung dịch lugol 200ml vào tử cung lợn
Theo Đoàn Thi ̣ Kim Dung và cs ( 2002) [6], đã dùng thuốc nam để điều trị bệnh viêm tử cung và cho hiệu quả tốt : Nướ c sắc vỏ xoan , lá bạch đàn đồng nữ 500g, nước sa ̣ch 3000ml Các nguyên liệu này cho vào ấm đun trong
30 phút, chắt lấy nướ c để ng uô ̣i rồi dùng nước đó thu ̣t rửa tử cung , âm đa ̣o bi ̣ viêm ngày 1 lần, rửa liên tu ̣c 7 – 10 ngày
2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Theo Kemper, N and Gerjets (2009) [35], tại 6 đàn nái hạt nhân ở Đức (2008 - 2010), 99,1% các mẫu sữa phân lập được vi khuẩn chủ yếu thuộc họ
Enterobacteriaceae, Staphylococcaceae, Streptococcaceae và Enterococcaceae
Trong đó E coli chiếm nhiều hơn cả và những loài này cũng được tìm thấy trong sữa lợn khỏe, còn Staphylococcus spp, Lactococcus lactis được tìm
thấy trong sữa lợn mắc hội chứng MMA
Theo Maes và cs (2010) [36], thuật ngữ Metritis, Mastitis, Agalactia (MMA) được dùng rất thường xuyên trong các bài báo khoa học trước đây, ngày nay được xem như một loại PDS (hội chứng rối loạn tiết sữa sau đẻ lợn nái),MMA có tỷ lệ lưu hành 6,9% trong tổng số 16.450 lợn nái đẻ trong hơn
01 năm tại 31 đàn ở Illinois; trong 27.656 lợn nái đẻ của một nghiên cứu được
Trang 29tiến hành tại bang Missouri có tới 13% nái bị mắc hội chứng MMA; tỷ lệ mắc hội chứng MMA theo đàn ở Thụy Điển biến động từ 5,5% ở đàn quy mô nhỏ
và tới 10,3% ở đàn quy mô lớn Ông cũng cho biết, một nghiên cứu mới đây ở
110 đàn lợn tại Bỉ cho thấy 34% số đàn có liên quan đến hội chứng MMA Theo Kemper and Gerjets (2009) [35], để chẩn đoán sớm hội chứng MMA, người ta thường dựa vào một số triệu chứng lâm sàng: thân nhiệt lợn nái sau
đẻ 12 - 48 giờ (nếu > 39,40C thì điều trị dự phòng), sự thay đổi hình dạng tuyến vú, giảm tiết sữa (hoặc mất sữa hoàn toàn), giảm tính thèm ăn (ăn ít hoặc bỏ ăn hoàn toàn), lượng tế bào soma trong sữa >107/ml, pH sữa > 6,7; tăng hàm lượng các interleukin trong máu (tăng lượng IL-1P, IL-6, IL-8 và TNFa (2) Các yếu tố ảnh hưởng đến hội chứng MMA: thời gian mang thai dài (> 116 ngày), thời gian đẻ dài (> 3 giờ), can thiệp bằng dụng cụ sản khoa khi đẻ, nhiều con (> 11con/ổ) nhiễm trùng đường sinh dục, táo bón, sự tăng đàn, chuyển đàn, trong đàn có nhiều nái m ới, ảnh hưởng của mùa vụ, thiếu protein thô trong khẩu phần ăn, thay đổi thức ăn đột ngột, lợn nái thiếu vận động
Theo Kemper and Preibler (2009) [35], trong nghiên cứu về lợn nái mắc MMA, có 16,6% bị sốt < 39,5oC, 28,8% sốt > 40oC, lợn kém ăn, sản lượng sữa giảm hoặc rối loạn tiết sữa
Theo Heber và cs(2010) [34], lợn được coi là mắc hội chứng MMA khi
có một hoặc bao gồm các biểu hiện sau: viêm tử cung, dịch tiết âm đạo có pH
> 8, lười vận động, thân nhiệt > 39,4o
C, viêm vú Thức ăn cho lợn nái chờ đẻ không vượt quá 18% protein; chất xơ > 4,5%; cung cấp nướ c uống đầy đủ
Tránh gây stress cho nái sau đẻ: không chuyển nái sang chuồng đẻ trong thời tiết nóng, những ngày nắng nóng tốt nhất di chuyển trước 07 giờ sáng; thời gian nuôi thích nghi tại chuồng đẻ thích hợp nhất là 05
Trang 30ngày; giữ cho lợn nái yên tĩnh
Vê ̣ sinh chuồng đẻ bằng các thuốc sát trùng , để trống chuồng ít nhất 01 tuần, sau khi vê ̣ sinh mới chuyển lợn vào
Dùng thuốc điều trị ký sinh trùng; thuốc điều trị E coli: tiêm
enrofloxacin; thuốc điều trị Streptoccocus spp: tiêm amoxyclin 01 ngày trước đẻ
Bổ sung các vitamin A, D, E, K và khoáng chất để tăng khả năng miễn dịch cho lợn
2.3 Một số bệnh sinh sản thường gặp ở lợn nái
2.3.1 Bệnh viêm tử cung
Lợn là loài sinh sản đa thai, khả năng sinh sản ngày càng cao nên bộ phận sinh dục hoạt động nhiều tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập nhất là trong điều kiện dinh dưỡng không phù hợp, điều kiện chăm sóc vệ sinh kém thì bệnh dễ sảy ra
Viêm tử cung thường xuất hiện trên nái sau khi sinh từ 2 - 3 ngày Trong quá trình đẻ dịch và các chất trong tử cung chảy ra, cổ tử cung mở, niêm mạc tử cung sây sát, vi khuẩn xâm nhập gây viêm tử cung (Đặng Thanh Tùng, 1999) [30]
* Nguyên nhân
Cơ quan sinh dục lợn nái phát triển không bình thường gây khó đẻ hoặc lợn nái khó đẻ do thai quá to, thai ra ngược, thai phát triển không bình thường Phối giống quá sớm lợn nái tơ, nái già mang nhiều thai Khi đẻ tử cung co bóp yếu, do lứa đẻ trước đã bị viêm tử cung làm cho niêm mạc tử cung biến đổi nên nhau thai không ra gây sát nhau, thối giữa tạo điều kiện cho
sự phát triển của vi khuẩn
Theo Nguyễn Hữu Phước (1982) [23], lợn nái sinh ra đều mang vi khuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh, chỉ khi cổ tử cung mở chất tiết chảy ra tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn
Trang 31Bệnh kế phát từ các bệnh khác như bệnh viêm âm đạo, tiền đình, bàng quang hoặc các bệnh truyền nhiễm: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao thường gây ra các bệnh viêm tử cung
Theo Đặng Thanh Tùng (1999) [30], mầm bệnh có mặt trong một tuyến qua niêm mạc đi vào máu, xâm nhập vào tử cung, nguyên nhân chính là sự kém nhu động của ruột nhất là táo bón Vi khuẩn xâm nhập từ ngoài vào do vi khuẩn hiện diện trong phân và nước tiểu
Kết quả của Nguyễn Hữu Phước (1982) [23], tỷ lệ các loại vi khuẩn
gây viêm tử cung ở lợn như sau: E coli chiếm27%; Proteus valgaris chiếm16%; Klebsielle chiếm10,2%; Steptococus chiếm34,5%; Staphylococus
chiếm11,2%; Còn lại các loài vi khuẩn khác chiếm 2 - 7%
Các kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học như: Bilken (1996) [1],
cho biết: Viêm tử cung thường xảy ra trong lúc sinh do nhiễm khuẩn E coli dung huyết, Staphylococus spp và Staphylococus aureus, đó là nguyên nhân
chính gây bệnh (Nguyễn Như Pho, 2002) [20]
* Triệu chứng:
Triệu chứng viêm tử cung thể hiện qua 3 thể viêm:
Viêm nội mạc: lợn có biểu hiện sốt nhẹ, dịch viêm có mầu trắng hoặc xám
và có mùi tanh Con vật có phản ứng đau nhẹ, phản ứng co bóp tử cung giảm nhẹ
Viêm cơ: lợn có biểu hiện sốt cao, dịch viêm có mầu hồng hoặc nâu đỏ và
có mùi tanh thối Con vật có phản ứng đau rõ rệt, phản ứng co bóp tử cung yếu ớt Theo Nguyễn Hữu Ninh và cs (2000) [19], viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nô ̣i ma ̣c tử cung, niêm ma ̣c tử cung bi ̣ thấm di ̣ch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhâ ̣p và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm ma ̣c bi ̣ phân giải, thối rữa gây tổn thương cho ma ̣ch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ và mô ̣t ít lớp tương ma ̣c của tử cung bị hoại tử
Trang 32Viêm tương mạc: lợn có biểu hiện sốt rất cao, dịch viêm có mầu nâu rỉ sắt và có mùi thối khắm Con vật rất đau kèm theo triệu chứng viêm phúc mạc, phản ứng co bóp tử cung mất hẳn
* Hậu quả:
Bệnh gây tổn thương cơ quan sinh dục Quá trình viêm tạo độc tố có hại cho tinh trùng như: Spermiclysin (độc tố tiêu diệt vi trùng) Hoặc niêm mạc tử cung bị tổn thương sẽ cản trở sự di chuyển của tinh trùng Nếu có thụ thai được cũng dễ bị chết con, khi bệnh nặng dẫn đến sẩy thai , tiêu thai, vô sinh (Lê Văn Năm, 1997) [17]
Viêm xảy ra trong thời gian có chửa thì do biến đổi trong cấu trúc niêm mạc như: Teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hóa niêm mạc dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ thai Qua chỗ tổn thương, vi khuẩn cũng như các độc
tố do chúng tiết ra làm bào thai phát triển không bình thường Nếu không phát hiện và điều trị triệt để sẽ làm tổn thất kinh tế cho người chăn nuôi
2.3.2 Bệnh viêm vú
* Nguyên nhân: Nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú là các hệ vi khuẩn gây bệnh như: trực khuẩn đường ruột, liên cầu khuẩn dung huyết và các loại trực khuẩn gây thối khác Chúng xâm nhập vào tuyến vú qua vết thương, vết xây sát trên bầu vú hoặc qua lỗ núm vú
Nguyên nhân gây viêm một hay nhiều vú ở lợn do nhiều loại vi khuẩn hoặc có thể do kế phát từ bệnh khác, xảy ra lác đác ở từng cá thể hoặc cả đàn Bệnh thường xuất hiện tập trung từ khi lợn đẻ đến 12 giờ sau đó, vi khuẩn xâm nhập vào một hay nhiều bầu vú thông qua núm vú do trầy xước (do răng của lợn con hay nền chuồng cứng) Nhóm vi khuẩn gây viêm vú gồm:
Coliform, Klebsiella, Staphylococcus, Streptococcus, Miscellaneous.Trong đó
vi khuẩn Staphylococcus và Streptococcus chỉ gây viêm từng tuyến vú,
Klebsiella spp gây viêm vú cấp tính và nhóm vi khuẩn E coli với nhiều type
khác nhau đã được phân lập ở hầu hết các trường hợp viêm vú, độc tố của E
Trang 33coli sinh ra là nguyên nhân gây viêm vú, mất sữa
Theo Phạm Tiến Dân (1998) [4], nghiên cứu xác định vi khuẩn gây
viêm vú ở lợn nái sinh sản gồm: E coli chiếm 18,2%; Staphylococcus chiếm19%; Streptococcus chiếm27,18%; Klebsiella chiếm14,7%
Theo Christensen và cs (2007) [33], khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho thấy, vi khuẩn chính gây viêm vú là
Staphylococcus spp và Arcanobacterium pyogenes
Theo Nguyễn Hữu Ninh và cs (1994) [18], vi khuẩn gây bệnh viêm vú thường là: liên cầu trùng: 86%; tụ cầu trùng: 5,4%; trực trùng sinh mủ: 2,7%;
E coli: 1,2%; các loại vi khuẩn khác: 3,7% Loại gây bệnh phổ biến nhất là
liên cầu trùng Agalactiac
Corynebacterium chiếm: 12,2%
Pseudomonas alruginosa chiếm: 9,5%
Các loại vi khuẩn khác chiếm: 3 - 5%
Do kế phát từ một số bệnh: sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau khi đẻ, viêm bàng quang, viêm thận Khi lợn nái bị bệnh này vi khuẩn theo máu về tuyến vú, cư trú tại đây và gây bệnh
Lợn nái tốt sữa, lợn con bú sữa không hết hoặc lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng vú còn lại căng sữa, lợn con bú làm sây sát bầu vú hoặc lợn con
bị bệnh không bú, sữa xuống nhiều, bầu vú căng dễ dẫn đến viêm vú (Trương Lăng, 2000) [12]
Do quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng kém, chất độn chuồng và ổ đẻ bẩn Sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu vú Thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn tới viêm vú
* Triệu chứng:
Viêm vú chia thành các thể như sau:
Trang 34Viêm vú thể thanh dịch: Tuyến vú bị xung huyết, dịch viêm tiết ra nhiều Nước viêm thải ra thấm vào các nang sữa làm quá trình lưu thông mạch máu và mạch lâm ba bị trở ngại Lá vú sưng to, có khi cả bầu vú sưng Lúc đầu sữa biến đổi không rõ về sau sữa loãng, chất lượng sữa giảm, sờ tay vào con vật cảm giác đau
Viêm vú thể cata: Trong nang sữa chứa rất nhiều dịch rỉ viêm, tế bào biểu bì phình to ra, bị thoái hóa và bong ra Cơ thể bình thường không có triệu chứng toàn thân, lúc đầu sữa loãng, có nhiều gạch vón, lượng sữa giảm vắt sữa có những cục nhỏ màu xanh hay vàng nhạt, sờ bầu vú thấy nóng
Viêm vú thể Fibrin: Lúc đầu lá vú chứa nhiều nước vàng Fibrinogen và tế bào chết Fibrinogen dưới tác dụng của men do tế bào bị tổn thương tiết ra sẽ biến thành Fibrin Khi vắt sữa có một ít dịch màu vàng chứa Fibrin và cục Casein bị đóng vón Nhiệt độ cơ thể 40 - 410
C, vú viêm cứng, sưng to, sờ thấy đau
Viêm vú thể cata có mủ: Trong nang sữa và ống dẫn có hồng cầu, bạch cầu, mủ và tế bào hoại tử Sữa mất hẳn, thể tích vú tăng, màu đỏ Sờ con vật thấy đau, vắt sữa thấy loãng, sữa đóng vón, có mủ, máu Con vật có triệu chứng toàn thân: Sốt cao, kém ăn, hô hấp và tuần hoàn tăng
Viêm vú thể áp xe: Trong tuyến vú xuất hiện một hay nhiều bọc áp xe to hay nhỏ nằm sát dưới da hay ở sâu bên trong Sau đó bọc mủ phát triển to nổi rõ
ở dưới da Vật ngừng tiết sữa và trong sữa vắt ra có đầy mủ và máu, casein
Viêm vú thể plegemol: Là loại viêm tích mủ dưới da và tổ chức liên kết của lá vú Thường do kế phát từ viêm cata và viêm có mủ Lượng sữa ít có nhiều gạch nhỏ, sờ bầu vú thấy nóng, con vật sốt, tim mạch rối loạn
Viêm vú thể có màu: Là loại viêm cấp tính Thường kế phát từ viêm thanh dịch, cata hoặc do viêm phúc mạc Tuyến vú bị chấn thương, các tế bào tuyến sữa bị thấm dịch và hồng cầu Da vú có đám đỏ, vắt sữa con vật thấy đau Sữa loãng màu hồng hay đỏ, con vật sốt cao 40 - 410
C, bỏ ăn
* Hậu quả:
Trang 35Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới cơ thể lợn mẹ, đồng thời ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của lợn con theo mẹ
Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [2], cho biết: Mất sữa sau khi đẻ là
do kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm, cơ thể thường sốt cao liên tục từ 2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm, ảnh hưởng tới quá trình trao đổi chất, nhất là sự hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng hồi phục chức năng tiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo
Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa có nhiều chất độc Sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con
bú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh và trọng lượng cai sữa thấp
Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khó chữa, lợn nái sẽ bị chết
Viêm vú kéo dài dẫn đến teo bầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnh hưởng tới khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa sau
Nếu phát hiện và điều trị kịp thời sẽ giảm thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi
2.3.3 Bệnh bại liệt sau khi đẻ
Bại liệt sau khi đẻ là bệnh mà con vật mất khả năng vận động sau thời gian sổ thai
* Nguyên nhân:
Bệnh xuất hiện chủ yếu do thai quá to, tư thế và chiều hướng của thai không bình thường, do quá trình thủ thuật kéo thai quá mạnh hay không đúng thao tác Từ đó gây tổn thương thần kinh tọa, ảnh hưởng tới đám rối thần kinh hông khum gây ra bại liệt
Trang 36Ngoài ra bệnh xảy ra còn do thức ăn thiếu Ca, P, lợn ít vận động dưới nắng hoặc thiểu năng tuyến giáp dẫn đến xương thiếu Ca, P, lại tiết sữa phải lấy Ca, P từ xương nên càng thiếu khoáng, xương bị mềm nên bị bại liệt (Lê Hồng Mận, 2007) [15]
Bại liệt sau khi sinh sảy ra trên nái đẻ được 2 - 3 ngày đến trên 1 tháng hoặc sau khi xảy thai Ngoài các nguyên nhân trước khi sinh còn do nguyên nhân dùng tay can thiệp khi đẻ khó làm tổn thương dây thần kinh hông lớn của lợn
*Triệu chứng:
Ban đầu lợn nái không có triệu chứng toàn thân, không thấy vết thương cục bộ, lợn mẹ đi lại khó khăn, hay nằm Sau 1 - 2 ngày, lợn mẹ bị liệt hai chân sau không đi lại được do thần kinh hông bị tổn thương, hoặc sau đẻ 15 - ngày lợn bị bại liệt do thiếu Ca, P không đi được, làm ảnh hưởng đến khả năng vận động và cho con bú Nếu bệnh kéo dài lợn mẹ không đứng lên được rất có thể bị loét ra do tiếp xúc với nền chuồng, nếu kéo dài 3 - 4 tuần con vật gầy dần rồi chết
*Hậu quả:
Bệnh gây ảnh hưởng rất lớn đến nái nuôi con, làm cho lợn nái đi lại khó khăn hoặc mất khả năng vận động, bệnh kéo dài rất nguy hiểm, lợn nái có thể loét từng mảnh da do chỗ tiếp xúc với nền chuồng quá lâu gây hậu quả xấu, con vật có thể bị chết 3 - 4 tuần do lợn mẹ đau đớn gầy còm rồi chết
2.3.4 Bệnh đẻ khó
Lợn đẻ mà thời gian sổ thai kéo dài nhưng thai vẫn không được đẩy ra ngoài Bệnh biểu hiện dưới nhiều hình thức, diễn biến khác nhau Nó không những gây bệnh cho cơ quan sinh dục mà còn dẫn đến hiện tượng vô sinh, thậm