ĐẶT VẤN ĐỀ Theo báo cáo hàng năm của Tổ chức Y tế thế giới, vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người (Human Immunodeficiency Virus - HIV) là nguyên nhân hàng đầu trong các bệnh nhiễm trùng gây tử vong ở người lớn, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Nhiễm HIV/AIDS đã cướp đi sinh mạng của hàng triệu người, làm ảnh hưởng trầm trọng nền kinh tế quốc gia [1],[2],[3]. Đại dịch HIV/AIDS đã gây ra những tác động tiêu cực đến kinh tế, chính trị và xã hội ở nhiều vùng và nhiều quốc gia trên thế giới [4],[5]. Tại Việt Nam, kể từ ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào cuối năm 1990, đại dịch HIV/AIDS đang ngày càng lan rộng. Theo báo cáo của Cục Phòng chống HIV/AIDS – Bộ Y tế, trong 9 tháng đầu năm 2017, cả nước xét nghiệm phát hiện mới là 6.883 trường hợp nhiễm HIV, số bệnh nhân chuyển sang giai đoạn AIDS là 3.484 và số bệnh nhân tử vong 1.260 trường hợp. Ước tính đến hết năm 2017 sẽ phát hiện mới khoảng 9.800 người nhiễm và 1.800 trường hợp tử vong [6]. Thuốc kháng vi rút (ARV) ra đời đã mang lại niềm hy vọng cho các bệnh nhân HIV/AIDS. Người nhiễm HIV/AIDS được sử dụng thuốc ARV không chỉ cải thiện chất lượng cuộc sống và kéo dài tuổi thọ của bản thân mà còn giảm thiểu nguy cơ lây lan HIV ra cộng đồng, đặc biệt là nguy cơ lây truyền qua con đường tình dục và lây truyền từ mẹ sang con [7]. Do điều trị bằng thuốc ARV là điều trị suốt đời nên trong quá trình sử dụng thuốc ARV, các vấn đề cần quan tâm như việc tuân thủ điều trị, đánh giá các tác dụng không mong muốn của thuốc và phát hiện sớm thất bại điều trị để chuyển đổi phác đồ là rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân. Tình trạng kháng thuốc ARV đã và đang được nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm. Khi gặp phải kháng thuốc đồng nghĩa với bệnh nhân sẽ thất bại điều trị và phải chuyển sang các phác đồ bậc cao hơn. Chẩn đoán muộn thất bại điều trị ARV phác đồ bậc 1 dẫn đến việc trì hoãn chuyển sang điều trị phác đồ ARV bậc 2 sẽ gây nên tích lũy những đột biến kháng thuốc ảnh hưởng đến điều trị, tăng tỷ lệ lan truyền các chủng HIV kháng thuốc trong cộng đồng [7]. Ở nước ta đã có một số nghiên cứu về thất bại điều trị ARV, đánh giá tình trạng kháng thuốc ARV của HIV trên các đối tượng bệnh nhân khác nhau, ở các địa điểm và thời gian khác nhau. Tại Hà Nội, Bệnh viện Đa khoa Đống Đa là một trong những cơ sở đầu tiên của Hà Nội triển khai việc tiếp nhận và điều trị bệnh nhân HIV trên địa bàn. Hàng năm, Bệnh viện khám và cấp thuốc ARV điều trị cho hàng ngàn bệnh nhân nhiễm HIV, trong đó có những bệnh nhân đã xuất hiện thất bại điều trị và phải chuyển sang phác đồ bậc 2. Việc đánh giá tình trạng kháng thuốc trên các bệnh nhân thất bại phác đồ ARV bậc 1 trên qui mô lớn, theo dõi trong thời gian dài, đồng thời đánh giá hiệu quả điều trị của phác đồ ARV bậc 2 trên những bệnh nhân thất bại phác đồ bậc 1 là rất có giá trị cho các thầy thuốc lâm sàng cũng như nhà quản lý để đưa ra các phác đồ thay thế phù hợp. Vì vậy chúng tôi tiến hành “Nghiên cứu kháng thuốc ở bệnh nhân HIV/AIDS thất bại với phác đồ Zidovudine + Lamivudine + Nevirapine, Stavudine + Lamivudine + Nevirapine và hiệu quả điều trị của phác đồ ARV bậc 2” với mục tiêu: 1. Xác định tỷ lệ kháng và đột biến gen kháng thuốc ở bệnh nhân HIV/AIDS điều trị bằng phác đồ Zidovudine + Lamivudine + Nevirapine, Stavudine + Lamivudine + Nevirapine bị thất bại điều trị. 2. Đánh giá hiệu quả điều trị của phác đồ bậc 2 ở bệnh nhân HIV/AIDS kháng thuốc ARV với các phác đồ trên.
Trang 1PHẠM BÁ HIỀN
NGHIÊN CỨU KHÁNG THUỐC
Ở BỆNH NHÂN HIV/AIDS THẤT BẠI VỚI PHÁC ĐỒ ZIDOVUDINE + LAMIVUDINE + NEVIRAPINE, STAVUDINE + LAMIVUDINE + NEVIRAPINE
VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA PHÁC ĐỒ ARV BẬC 2
Chuyên ngành: Bệnh truyền nhiễm và các bệnh nhiệt đới
Mã số: 9 72 01 09
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Trang 3Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS TS Trần Viết Tiến
2 PGS TS Đỗ Tuấn Anh
Phản biện 1: GS TS Tạ Thành Văn
Phản biện 2: TS Lê Mạnh Hùng
Phản biện 3: GS.TS Nguyễn Văn Kính
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trườngvào hồi: giờ ngày tháng năm 2018
Có thể tìm hiểu luận án tại:
1 Thư viện Quốc Gia
2 Thư viện Học viện Quân y
Trang 4NGHIÊN CỨU KHÁNG THUỐC
Ở BỆNH NHÂN HIV/AIDS THẤT BẠI VỚI PHÁC ĐỒ ZIDOVUDINE + LAMIVUDINE + NEVIRAPINE, STAVUDINE + LAMIVUDINE + NEVIRAPINE
VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA PHÁC ĐỒ ARV BẬC 2
Chuyên ngành: Bệnh truyền nhiễm và các bệnh nhiệt đới
Mã số: 9 72 01 09
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Hà Nội – 2018
Trang 5Người hướng dẫn khoa học:
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo báo cáo hàng năm của Tổ chức Y tế thế giới, vi rút gâysuy giảm miễn dịch ở người (Human Immunodeficiency Virus -HIV) là nguyên nhân hàng đầu trong các bệnh nhiễm trùng gây tửvong ở người lớn, đặc biệt ở các nước đang phát triển NhiễmHIV/AIDS đã cướp đi sinh mạng của hàng triệu người, làm ảnhhưởng trầm trọng nền kinh tế quốc gia [1],[2],[3]
Tình trạng kháng thuốc ARV đã và đang được nhiều nghiêncứu trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm Việc đánh giá tình trạngkháng thuốc trên các bệnh nhân thất bại phác đồ ARV bậc 1 trên qui
mô lớn, theo dõi trong thời gian dài, đồng thời đánh giá hiệu quả điềutrị của phác đồ ARV bậc 2 trên những bệnh nhân thất bại phác đồ bậc
1 là rất có giá trị cho các thầy thuốc lâm sàng cũng như nhà quản lý
để đưa ra các phác đồ thay thế phù hợp
Vì vậy chúng tôi tiến hành “Nghiên cứu kháng thuốc ở bệnh nhân HIV/AIDS thất bại với phác đồ Zidovudine + Lamivudine + Nevirapine, Stavudine + Lamivudine + Nevirapine và hiệu quả điều trị của phác đồ ARV bậc 2” với mục tiêu:
1 Xác định tỷ lệ kháng và đột biến gen kháng thuốc ở bệnh nhân HIV/AIDS điều trị bằng phác đồ Zidovudine + Lamivudine + Nevirapine, Stavudine + Lamivudine + Nevirapine bị thất bại điều trị.
2 Đánh giá hiệu quả điều trị của phác đồ bậc 2 ở bệnh nhân HIV/AIDS kháng thuốc ARV với các phác đồ trên.
Trang 7Những đóng góp mới của luận án:
1 Luận án xác định được tỷ lệ xuất hiện các đột biến gen khángthuốc, tỷ lệ kháng các thuốc ARV ở bệnh nhân HIV/AIDS thấtbại điều trị với 1 trong 2 phác đồ Zidovudine + Lamivudine +Nevirapine, Stavudine + Lamivudine + nevirapine tại Bệnh việnĐống Đa, Hà Nội
2 Luận án đã đánh giá được hiệu quả điều trị của phác đồ ARV bậc
2 trên những bệnh nhân HIV/AIDS được xác định kháng với cácthuốc ARV bậc 1 sau khi được điều trị với 1 trong 2 phác đồ khởiđầu nêu trên
Đây là cơ sở khoa học cho các thầy thuốc lâm sàng cũng như đưa
ra các khuyến cáo thích hợp, thực tế hơn về lựa chọn phác đồ điều trịphù hợp cho những bệnh nhân HIV/AIDS bị thất bại điều trị với phác
đồ ARV bậc 1 tại Việt Nam
Bố cục luận án
Luận án gồm 144trang (không kể phụ lục), 4 chương gồm:Đặt vấn đề (2 trang), Chương 1 Tổng quan tài liệu (31 trang),Chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (23 trang),Chương 3 Kết quả nghiên cứu (43 trang), Chương 4 Bàn luận(38 trang), Kết luận (2 trang), Khuyến nghị (1 trang); 40 bảng, 15biểu đồ, 2 sơ đồ, 10 hình; 139 tài liệu tham khảo, trong đó 31 tàiliệu tiếng Việt và 108 tài liệu tiếng Anh
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình nhiễm HIV tại Việt Nam và trên thế giới
Theo báo cáo Cục phòng chống HIV/AIDS Việt Nam, trong 9
tháng đầu năm 2017, cả nước xét nghiệm phát hiện mới là 6.883trường hợp nhiễm HIV, số bệnh nhân chuyển sang giai đoạn HIV là
Trang 83.484 và số bệnh nhân tử vong 1.260 trường hợp Ước tính đến hếtnăm 2017 sẽ phát hiện mới khoảng 9.800 người nhiễm và 1.800
trường hợp nhiễm HIV tử vong [8].
Theo báo cáo cập nhật tình hình đại dịch AIDS toàn cầu doUNAIDS và WHO công bố tính đến tháng 6 năm 2017, 20,9 triệungười đã được điều trị ARV; 36,7 triệu người trên toàn cầu hiệnđang sống chung với HIV
1.3 Thuốc ARV và một số tác dụng không mong muốn
Hiện nay trên thế giới có 6 nhóm thuốc ARV được phân chiatheo tác động của chúng lên những bước khác nhau trong chu trìnhnhân bản của HIV trong tế bào vật chủ [16]: nhóm NRTI, nhómNNRTI, nhóm PI, nhóm Nhóm thuốc ức chế tích hợp (IIs), nhómthuốc ức chế hòa màng (FIs), nhóm thuốc ức chế đồng thụ thể(CRAs)
1.4 Thất bại điều trị và HIV kháng thuốc
1.4.1 Thất bại điều trị
Trang 9Thất bại điều trị xuất hiện khi HIV không còn nhạy cảm vớithuốc ARV do nồng độ thuốc không đủ ức chế vi rút tiếp tục nhânbản và sản sinh các đột biến kháng thuốc
Trang 10Bảng 1.4 Tiêu chuẩn đánh giá thất bại điều trị ARV Thất bại về
Các dạng đột biến thường do có sự thay đổi một basơ nitơ, sựchèn thêm hay mất đi basơ nitơ nào đó hoặc có khi là sự tái tổ hợp ởmột số vị trí trên gen đích [54] Các đột biến kháng thuốc được chiathành nhiều loại: Đột biến chính, Đột biến kết hợp, Đột biến gây tínhkháng chéo
Các phương pháp xác định kháng thuốc: xét nghiệm kiểu gen,xét nghiệm kiểu hình, xét nghiệm kháng thuốc kiểu hình ảo, xétnghiệm sử dụng đồng thụ thể của vi rút
Trang 11CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân thất bại với 1 trong 2 phác đồ bậc 1: d4T + 3TC + NVPhoặc AZT + 3TC + NVP được lựa chọn từ 393 bệnh nhân HIV/AIDSđược quản lý, khám, điều trị tại Phòng khám ngoại trú HIV/AIDS - Bệnhviện Đa khoa Đống Đa, Hà Nội
393 bệnh nhân HIV/AIDS được quản lý, khám, điều trị tại Phòng khám ngoại trú HIV/AIDS - Bệnh viện Đa khoa Đống Đa, Hà Nội
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
2.1.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân vào điều trị phác đồ ARV
bậc 1 trong nghiên cứu
- Tuổi ≥ 18
- Được chẩn đoán nhiễm HIV bằng 3 lần xét nghiệm dươngtính với ba loại sinh phẩm với nguyên lý và kháng nguyên khác nhautheo “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS” của Bộ Y tế năm
2005 [14]
- Bệnh nhân có chỉ định điều trị ARV theo “Hướng dẫn chẩnđoán và điều trị HIV/AIDS” của được cập nhật theo các năm của Bộ
Y tế cho phù hợp với thực tế điều trị lâm sàng [12],[14],[15]
- Được quản lý và điều trị ARV liên tục, khởi đầu sử dụng
phác đồ Stavudine + Lamivudine + Nevirapine hoặc phác đồZidovudine + Lamivudine + Nevirapine tại Bệnh viện ĐK Đống Đa
2.1.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân thất bại điều trị phác đồ ARV bậc 1
- Các bệnh nhân thất bại điều trị từ 393 bệnh nhân sử dụng 1trong 2 phác đồ khởi đầu d4T + 3TC + NVP và AZT + 3TC + NVP
- Bệnh nhân chỉ được dùng một phác đồ từ lúc khởi đầu đếnkhi được chẩn đoán thất bại điều trị và chuyển phác đồ bậc 2
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân hiện đang tham gia một nghiên cứu khác.
- Không tuân thủ điều trị
- Mắc các bệnh mạn tính khác kèm theo
Trang 122.2 Thời gian theo dõi các đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 06/2006 đến tháng 12/2016
2.3 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả tiến cứu có phân tích
2.3.1 Quy trình nghiên cứu
* Tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu
393 bệnh nhân điều trị hai phác đồ: d4T + 3TC + NVP và phác
đồ AZT + 3TC+ NVP được khám lâm sàng và làm xét nghiệm định
kỳ, đếm số lượng tế bào CD4
* Tại thời điểm thất bại điều trị về lâm sàng và miễn dịch
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tại thời điểm thất bại điều trị
về lâm sàng và miễn dịch (47 bệnh nhân), sẽ được tiến hành đo tảilượng vi rút, xác định mang đột biến gen kháng thuốc Các bệnh nhânthất bại điều trị phác đồ ARV bậc 1 có mang gen đột biến khángthuốc và kháng với ARV bậc 1 sẽ được chuyển phác đồ ARV bậc 2theo đúng quy định (43 bệnh nhân) Các bệnh nhân khác không manggen đột biến kháng thuốc, sẽ được củng cố, duy trì và theo dõi tiếpvới phác đồ ARV bậc 1 (4 bệnh nhân)
Theo dõi đánh giá hiệu quả phác đồ điều trị ARV bậc 2 tạiBệnh viện Đa khoa Đống Đa (43 bệnh nhân) trên các chỉ tiêu về lâmsàng, cân nặng, số lượng CD4, tải lượng vi rút, các chỉ số huyết học,sinh hóa tại các thời điểm bắt đầu điều trị, 6 tháng, 12 tháng, 18tháng, 24 tháng, 30 tháng, 36 tháng, 42 tháng và 48 tháng Các bệnhnhân tử vong sẽ được đánh giá tại đúng thời điểm nhập viện khi tửvong Ngoài ra bệnh nhân sẽ được đánh giá tại các thời điểm xuấthiện các tác dụng không mong muốn, các nhiễm trùng cơ hội hoặccác bất thường, các can thiệp khác nếu có
2.3.2 Các chỉ tiêu nghiên cứubiến số nghiên cứu
- Một số đặc điểm chung của các bệnh nhân nghiên cứu
- Tại thời điểm chẩn đoán thất bại điều trị (căn cứ vào thất bại
về lâm sàng, miễn dịch và vi rút): tiến hành giải trình tự gen phát
Trang 13hiện đột biến kháng thuốc, đánh giá kết quả các mức độ kháng vớicác thuốc điều trị ARV
- Đánh giá kết quả điều trị của phác đồ ARV bậc 2
2.3.3 Một số tiêu chuẩn đánh giá áp dụng trong nghiên cứu
- Tiêu chẩn chẩn đoán thất bại điều trị phác đồ ARV bậc 1: Ápdụng theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế Việt Nam năm 2009 [12]và khuyếncáo của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2010 [77], có bổ sung theoHướng dẫn chẩn đoán điều trị HIV/AIDS của Bộ Y tế Việt Nam chophù hợp với thực tế lâm sàng
- Phiên giải kết quả giải trình tự gen phát hiện đột biến kháng thuốc và kết quả kháng thuốc ARV: Đánh giá đề kháng một thuốc
ARV bằng cách cộng điểm đề kháng của tất cả các đột biến liên quanđến đề kháng thuốc đó Điểm đề kháng với một thuốc ARV của mỗiđột biến được xác định qua chương trình MARVEL (Mutation ARVEvidence Listing), dựa trên các cơ sở dữ liệu về liên quan của độtbiến với kháng thuốc
2.4 Một số kỹ thuật xét nghiệm trong nghiên cứu
- Xét nghiệm đo tải lượng HIV: Sử dụng hệ thống COBAS®AmpliPre/COBAS® TaqMan® HIV Test của hãng Roche Diagnostic(Pháp) Hệ thống này có thể phát hiện vi rút ở nồng độ thấp, vớingưỡng phát hiện là ≥ 50 bản sao/ml
- Xét nghiệm giải trình tự gen phát hiện đột biến kháng thuốc+ Tiến hành tại Phòng xét nghiệm Chẩn đoán phân tử - Viện
Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
+ Nghiên cứu tập trung xác định các đột biến kháng thuốcARV, giải trình tự trên vùng gen Pol (~1800bp) bao gồm toàn bộ gen
Prot (protease)và tối thiểu 250 codon đầu của gen RT (reverse
Trang 14transcriptase), sử dụng bộ sinh phẩm Trugene® HIV-1 GenotypingKit, hệ thống giải trình tự OpenGene® DNA
+ Bệnh phẩm: Huyết tương được tách từ mẫu máu toàn phần
sử dụng chống đông EDTA (mẫu có giá trị tải lượng vi rút > 1000bản sao/ml)
- Kỹ thuật sử dụng: Giải trình tự gen và phân tích đột biếnkháng thuốc Trugene
- Trang thiết bị và phần mềm: Hệ thống máy giải trình tự vàphần mềm phân tích kết quả Trugene
2.5 Xử lý số liệu
- Xử lý thống kê bằng chương trình SPSS 20.0 để phân tíchcác số liệu
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu, tình trạng kháng thuốc của bệnh nhân thất bại với phác đồ ARV bậc 1
Tổng số 393 bệnh nhân được thu nhận vào nghiên cứu điều trịHIV/AIDS tại Bệnh viện Đa Khoa đống đa, 215 bệnh nhân điều trịphác đồ d3T + 3TC + NVP, 178 bệnh nhân điều trị phác đồ AZT +3TC + NVP
3.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
- Nam giới chiếm đa số với tỷ lệ 62,1% Tỷ lệ nam/ nữ:1,64/1
- Tuổi trung bình trong nghiên cứu 32,74 ± 7,49 tuổi.Bệnhnhân trong độ tuổi 30 – 39 chiếm tỷ lệ đa số 51,1 %,
- Số bệnh nhân phải đổi phác đồ khởi đầu là 299 bệnh nhânchiếm 76,1% tổng số bệnh nhân nghiên cứu
3.1.2 Đặc điểm của đối tượng thất bại điều trị phác đồ ARV bậc 1
và tình trạng kháng thuốc ARV
Trang 153.1.2.1 Đặc điểm của đối tượng thất bại điều trị phác đồ ARV bậc 1
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 47 bệnh nhân được chẩn đoánthất bại về miễn dịch và lâm sàng, vi rút (chiếm 47/393 đối tượngnghiên cứu; 11,96%) đã được tiến hành xét nghiệm tìm các đột biếngen kháng thuốc, kết quả:
- Bệnh nhân nam chiếm 63,8%
- Thời gian điều trị trung bình các phác đồ ARV bậc 1 từ lúcbắt đầu đến khi thất bại điều trị là 46,81± 26,09 tháng
3.1.2.3 Tình trạng kháng thuốc của bệnh nhân thất bại điều trị với phác đồ ARV bậc 1
- Trong 47 bệnh nhân chẩn đoán thất bại điều trị với phác đồARV bậc 1, phát hiện có 90,7% số bệnh nhân có đột biến gen khángthuốc; 9,3% không có đột biến gen
- Tại thời điểm xác định đột biến gen kháng thuốc, tỷ lệ manggen đột biến kháng với nhóm NNRTI 97,7%, kháng với NRTI95,3%, kháng với nhóm PI chiếm 11,6%
- Trong các trường hợp có mang gen đột biến kháng thuốc,nhóm kháng NNRTI và NRTI chiếm tỷ lệ chủ yếu 81,4%, kháng cả
39.5
2.3 4.7 7 2.3 2.3 7 2.3
34.9
2.3 2.3 7
Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ các vị trí đột biến gen của HIV
kháng thuốc ARV nhóm NNRTI
Trang 16- Ghi nhận có 20 vị trí đột biến gen kháng thuốc ARV nhómNNRTI Đột biến G190A thường gặp nhất với 22/43 BN chiếm51,2%, tiếp theo đột biến K103N có 17/43 chiếm 39,5%, Y18 1Ccó15/43 BN chiếm 34,9%; đột biến K101E và K101H chiếm 23,3%
và 14,0%
- Phân tích các vị trí đột biến gen kháng thuốc theo từng phác đồ: + Phác đồ d4T + 3TC + NVP, các đột biến thường gặp G109A53,6%; Y184C 39,3%, K103N 35,7%; K101E 17,9%, K101H 14,3%.+ Phác đồ AZT + 3TC + NVP, các đột biến thường gặpG190A 46,7%; K103N 46,7%, K101E 33,3%; Y180C 26,7%; A98G20%, K101H 13,3%
+ Sự khác biệt các đột biến gen kháng thuốc giữa 2 phác đồ chỉghi nhận tại vị trí đột biến A98G (p < 0,05)
27.9
4.72.34.74.74.72.34.74.72.39.34.7
16.3 11.6
2.32.34.74.7
25.6
4.7
11.69.32.3 37.2
Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ các vị trí đột biến gen của HIV
kháng thuốc ARV nhóm NRTI
- Ghi nhận có 32 vị trí đột biến gen đề kháng thuốc ARV vớinhóm NRTI Đột biến M184V thường gặp nhất với 38/43 BN chiếm88,4%, tiếp theo đột biến V75M và K70R chiếm 37,2%
- Đột biến TAM, đột biến K70R chiếm tỷ lệ cao nhất 37,2%,
Trang 17tiếp đến là các đột biến D67N, T215F, T69N chiếm tỷ lệ lần lượt là27,9%, 27,9% và 25,6% Các đột biến K219E , K219Q, K219E/Qchiếm tỷ lệ 9,3%, 16,3% và 4,7%.
- Phân tích các vị trí đột biến gen kháng thuốc theo từng phác đồ: + Phác đồ d4T + 3TC + NVP, các đột biến thường gặp M184V85,7%; K70R 35,7%; T69N 32,1%; V75M 32,1%; T215F 25% vàD67N 21,4%
+ Phác đồ AZT + 3TC + NVP, các đột biến thường gặpM184V 93,3%; V75M 46,7 %; D67N 40%, K70R 40%, T215F33,3%; V108I 26,7%
- Phân tích các đột biến TAM hay gặp theo từng phác đồ:+ Phác đồ d4T + 3TC + NVP, các đột biến TAM thường gặpK70R 35,7%; T215F 25,0% và D67N 21,4% Phác đồ AZT + 3TC +NVP, các đột biến TAM thường gặp K70R 40,0%, D67N 40,0%,T215F 33,3%; K219Q 20,0%
+ Sự khác biệt các đột biến gen kháng thuốc giữa 2 phác đồ chỉghi nhận tại vị trí đột biến V108I (p < 0,05)
*Các vị trí đột biến gen của HIV kháng thuốc ARV nhóm PI
- Ghi nhận có 5 vị trí đột biến gen kháng với thuốc ARV nhóm
PI Đột biến M36I và K20R hay gặp hơn, mỗi vị trí có 4 trường hợp(chiếm 9,3%), các vị trí đột biến L33F, L10I và A71V chỉ ghi nhận 1trường hợp (chiếm 2,3%)
- Phân tích các vị trí đột biến gen kháng thuốc theo từng phác đồ: + Phác đồ d4T + 3TC + NVP, các đột biến thường gặp M36I7,1%; K20R 3,6%; L33F 3,6%
+ Phác đồ AZT + 3TC + NVP, các đột biến thường gặp K20R20%; M36I 13,3%; %; A71V 6,7%; L10I 6,7%
Trang 184.7
Kháng Khả năng Không kháng
Biểu đồ 3.10 Mức độ kháng với thuốc ARV nhóm NNRTI
- Mức độ kháng các thuốc thuộc nhóm NNRTI ở bệnh nhân được xácđịnh đột biến gen kháng thuốc, NVP có tỷ lệ kháng cao là 95,3%, chỉ có 4,7
% không kháng Tương tự, EFV có tới 55,8% có kháng, tỷ lệ nhạy cảm chỉchiếm 7% Etravirine có tỷ lệ nhạy cảm cao nhất 53,5%
* So sánh mức độ kháng thuốc ARV nhóm NNRTI theo từng phác đồ
- Phác đồ d4T + 3TC + NVP, tỷ lệ kháng với các thuốc NVP làcao nhất chiếm 92,9%, tiếp đến là EFV 60,7%, ETR là 7,1% Tỷ lệnhạy cảm cao nhất là ETR 53,6%
- Tương tự, phác đồ AZT + 3TC + NVP, tỷ lệ kháng với cácthuốc NVP là cao nhất, chiếm 100%, tiếp đến là EFV 46,7% Tỷ lệnhạy cảm cao nhất là ETR 53,3%
- Sự khác biệt về tỷ lệ có kháng với các thuốc EFV, ETR vàNVP của hai phác đồ đều không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05