1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ba bệnh truyền lây giữa động vật và người tại huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La (Khóa luận tốt nghiệp)

68 122 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 2,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ba bệnh truyền lây giữa động vật và người tại huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La.Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ba bệnh truyền lây giữa động vật và người tại huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La.Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ba bệnh truyền lây giữa động vật và người tại huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La.Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ba bệnh truyền lây giữa động vật và người tại huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La.Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ba bệnh truyền lây giữa động vật và người tại huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La.Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ba bệnh truyền lây giữa động vật và người tại huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La.Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ba bệnh truyền lây giữa động vật và người tại huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La.Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ba bệnh truyền lây giữa động vật và người tại huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La.Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ba bệnh truyền lây giữa động vật và người tại huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La.

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn quan trọng nhất đối với sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng nói chung và trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Từ đó sinh viên hệ thống hóa lại kiến thức đã học nhằm phục vụ cho chuyên môn sau này

Trong thời gian thực tập tốt nghiệp với sự nỗ lực phấn đấu của bản thân

và sự giúp đỡ của các thầy, các cô, các chú cán bộ ở trạm chăn nuôi và Thú y huyện Mai Sơn Em đã hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp của mình

Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, đặc biệt cô giáo GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan

đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn Trạm Chăn nuôi và Thú y huyện Mai Sơn

đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho em trong suốt thời gian thực tập

Đặc biệt, Em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã chia sẻ, giúp đỡ, động viên em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thanh tốt khóa luận tốt nghiệp của mình

Do thời gian có hạn, năng lực và kinh nghiệm của bản thân còn nhiều hạn chế nên đề tài này không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo để khóa luận tốt nghiệp được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, Ngày tháng năm 2017

Nguyễn Thị Hường

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Thực trạng tập quán chăn nuôi và sinh hoạt của người dân ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 36

3.1.2 Tình hình nhiễm bệnh ấu trùng Cysticercus cellulosae ở lợn tại

huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La 37

Bảng 3.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus cellulosae ở lợn 37

tại huyện Mai Sơn 37

Bảng 3.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus cellulosae theo

tuổi lợn 38

Bảng 3.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus cellulosae theo

giống lợn 40

Bảng 3.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus cellulosae ở lợn 42

theo phương thức chăn nuôi 42Bảng 3.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun bao ở lợn tại huyện Mai Sơn 43Bảng 3.7 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò tại huyện Mai Sơn 45

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 3

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

3.1 Ý nghĩa khoa học 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của ấu trùng Cysticercus cellulosae, giun bao ở lợn và sán lá gan ở trâu, bò 4

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae, bệnh giun bao ở lợn và bệnh sán lá gan trâu, bò 26

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 26

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 27

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 30

2.2 Vật liệu nghiên cứu 30

2.3 Nội dung nghiên cứu 31

2.3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh ấu trùng Cysticercus cellulosae ở lợn tại một số xã của huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 31

2.3.2 Nghiên cứu bệnh gạo ở lợn 31

2.3.3 Nghiên cứu bệnh giun xoắn trên lợn ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 31

2.3.4 Nghiên cứu bệnh sán lá gan trên trâu, bò ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 31

Trang 7

2.4 Phương pháp nghiên cứu 31

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh ấu trùng Cysticercus cellulosae, bệnh giun bao ở lợn và bệnh sán lá gan trâu, bò tại một số xã của huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 31

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu tỷ lệ nhiễm giun bao ở lợn tại một số xã của huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 34

2.4.3 Phương pháp nghiên cứu tỷ lệ nhiễm sán lá gan trâu, bò tại một số xã của huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 34

2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 35

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36

3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh ấu trùng Cysticercus cellulosae ở lợn tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 36

3.1.1 Điều tra về tập quán chăn nuôi và sinh hoạt của người dân ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 36

3.2 Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm giun bao ở lợn tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 43

3.3 Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 44

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 48

4.1 Kết luận 48

4.1.1 Về bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae gây ra ở lợn 48

4.1.2 Về bệnh giun bao ở lợn 48

4.1.3 Về bệnh sán lá gan ở trâu bò 49

4.2 Đề nghị 49

4.2.3 Về bệnh sán lá gan 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, tình trạng gia tăng các bệnh truyền lây giữa động vật và người đã gây ra những tác động lớn, làm thiệt hại nặng cho người chăn nuôi, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe con người

Đã có hơn 200 bệnh lây truyền từ động vật sang người được mô tả Nguy

cơ các bệnh lây truyền từ động vật sang người xảy ra khi có sự tiếp xúc của con người với động vật, qua sự phơi nhiễm trực tiếp hoặc gián tiếp với động vật, sản phẩm từ động vật và môi trường sống của chúng

Cả động vật nuôi và động vật hoang dã đều có thể là ổ chứa tác nhân gây bệnh của những bệnh này Những bệnh ký sinh trùng truyền lây từ động vật

sang người bao gồm từ bệnh ở thể nhẹ (như bệnh do giun H contortus) đến gây tử vong (như bệnh giun xoắn Trichinella spiralis, bệnh gạo lợn, bệnh sán

lá gan lớn…)

Bệnh gạo lợn do ấu trùng Cysticercus cellulosae của sán dây trưởng

thành Taenia solium gây ra là một bệnh truyền lây giữa người và động vật Sán dây Taenia solium là mối đe dọa không chỉ đối với lợn mà còn là mối đe dọa lớn đối với con người Tỷ lệ người nhiễm sán dây T solium ở các nước

trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển ở Châu Phi, Nam Mỹ và Châu Á khá cao (3 - 24%) (Barton Behriesh và cs, 2012) Ngoài bệnh do sán

dây trưởng thành T solium ký sinh ở ruột non, người còn bị bệnh do ấu trùng của nó (Cysticercus cellulosae) gây ra Trong vòng đời của sán dây T solium

cần hai ký chủ: người là ký chủ cuối cùng, lợn là ký chủ trung gian Tuy nhiên, sự nguy hiểm lại thể hiện ở việc con người có thể nhiễm trứng sán dây

và bị bệnh ấu trùng Cysticercus cellulosae ký sinh ở nhiều vị trí khác nhau trong cơ thể: cơ, mắt, tim, não… Nguy hiểm nhất là Neurocysticercosis -

Trang 9

một căn bệnh gây tỷ lệ tử vong cao ở người do ấu trùng sán dây T solium ký

sinh ở não gây ra Người bị bệnh thường đau đầu dữ dội, suy nhược thần kinh nhanh chóng, chóng mặt, buồn nôn và nôn mửa, thị lực giảm, trí nhớ giảm sút, co giật, rối loạn cảm giác, tê liệt, hôn mê và chết

Bệnh giun bao (giun xoắn) là một bệnh ký sinh trùng nguy hiểm

truyền lây từ động vật (chuột, lợn) sang người Ở nước ta, tháng 2/1967 có

27 người ăn thịt lợn tái, 21 người mắc bệnh, 3 người chết; tháng 6/1968 có

133 người ăn, 68 người mắc bệnh, 4 người chết; năm 1970 có 62 người ăn,

34 người mắc bệnh, 4 người chết; năm 2001 ở Điện Biên có 23 người mắc bệnh, 4 người chết; năm 2004 tại Tuần Giáo, Lai Châu có 20 người mắc; tháng 6/2008 tại bản Làng Chếu - Bắc Yên (Sơn La) có 23 người mắc, 2 người chết Mặc dù tỷ lệ nhiễm thấp nhưng bệnh rất nguy hiểm vì khi bệnh truyền lây từ chuột và lợn sang người thì gây tỷ lệ tử vong ở người rất cao Theo kết quả xét nghiệm của Trung tâm Chẩn đoán thú y Trung ương năm 2008, tại 12 bản của 3 xã thuộc huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La đã có 58/735 mẫu lợn dương tính với bệnh giun bao Hiện nay bệnh giun bao đang

có chiều hướng gia tăng và thực sự là mối nguy hiểm lớn cho con người và vật nuôi

Bệnh sán lá gan lớn là một trong các bệnh ký sinh trùng truyền lây từ

súc vật nhai lại sang người Nhiều ý kiến cho rằng, bệnh sán lá gan lớn khó kiểm soát triệt để vì mầm bệnh luôn tồn tại trong môi trường, trong đàn gia súc nhai lại nuôi và đàn súc vật hoang dã mắc bệnh hoặc mang căn bệnh Với những đặc điểm rất đặc trưng của vùng, tỉnh Sơn La có nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội Đặc biệt, sự che phủ của diện tích rừng núi rộng lớn, có chung đường biên giới với Lào, trình độ dân trí thấp, tập quán sinh hoạt và sản xuất lạc hậu, … là các điều kiện thuận lợi dẫn đến nguy cơ bùng phát các bệnh truyền lây từ động vật sang người rất cao Đồng

Trang 10

thời, cho đến nay vẫn chưa có những nghiên cứu để có các giải pháp kiểm soát bệnh truyền lây từ động vật sang người ở khu vực Tây Bắc Việt Nam Cho đến nay, ở nước ta vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về biện pháp phòng chống bệnh gạo lợn, bệnh giun bao ở lợn, vì vậy cũng chưa kiểm soát được bệnh, là mối nguy hiểm thường trực cho con người

Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết trên, chúng tôi tiến hành đề tài

"Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ba bệnh truyền lây giữa động vật và người tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La”

2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus cellulosae, và tỷ lệ nhiễm

giun bao ở lợn, tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn ở trâu, bò tại một số xã của huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ

bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae, bệnh giun bao ở lợn và bệnh sán lá

gan trâu, bò tại số xã của huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, có một số đóng góp

mới cho khoa học

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi

lợn áp dụng biện pháp phòng trị bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae,

bệnh giun bao ở lợn và bệnh sán lá gan trâu, bò, nhằm hạn chế tỷ lệ gia súc mắc bệnh, đồng thời giảm nguy cơ nhiễm bệnh sang người, đảm bảo sức khỏe cộng đồng

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của ấu trùng Cysticercus cellulosae, giun bao ở lợn và sán lá gan ở trâu, bò

1.1.1.1 Đặc điểm sinh học của sán dây Taenia solium ký sinh ở người và ấu trùng Cysticercus cellulosae ký sinh ở lợn

Vị trí của sán dây Taenia solium trong hệ thống phân loại động vật học

Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [24]; (Nguyễn Thị Lê và cs (1996)

[17]); cho biết, sán dây Taenia solium có vị trí trong hệ thống phân loại như sau:

Lớp sán dây Cestoda Rudolphi, 1808

Phân lớp CestodaCarus, 1863

Bộ Cyclophyllidae Beneden in Braun, 1900 Phân bộ Taeniata Skjabin

et Schulz, 1973

Họ Taeniidae Ludwig, 1886

Giống Taenia Liunaeus, 1758

Loài Taenia solium

Đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán dây Taenia solium và ấu trùng Cysticercus cellulosae ký sinh ở lợn

- Đặc điểm, hình thái, cấu tạo của sán dây Taenia solium

+ Đặc điểm, hình thái của sán dây Taenia solium

Theo Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [4]; Chu Thị Thơm và cs

(2006) [19] sán trưởng thành Taenia solium dài 2 - 7 m Đốt sán hình cầu, có

4 giác bám, có đỉnh đầu và hai hàng móc đỉnh gồm 22 - 23 móc

Theo Phan Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2001) [12] sán dây Taenia solium

dài 2 – 8 m × 7 - 10 mm Đầu 0,6 - 1 mm đường kính, giác 0,4 - 0,5 mm

Trang 12

Mõm mang 2 vòng ít nhất 26 - 32 móc, hàng đầu móc dài 0,16 - 0,18 mm, hàng thứ hai móc dài 0,11 - 0,14 mm Cổ dài và mảnh

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2015) [8] sán trưởng thành Taenia solium

kích thước lớn dài 2 - 7 m, sán có 700 - 1000 đốt, đầu sán hình tròn, đỉnh đầu

có mỏm hút, có hai hàng móc 22 - 32 móc, đầu cổ ngắn và hẹp, chứa 4 giác bám hình tròn

Theo Lê Bách Quang và cs (2008) [19], sán dây lợn dài từ 2 - 3 m (có thể dài 8 mét), thường có 300 - 900 đốt Đầu nhỏ hơi tròn, đường kính khoảng 1mm, có bộ phận nhô lên ở giữa với hai hàng móc, có khoảng 22 - 23 móc, thường thấy 26 - 28 móc Có 4 giác tròn ở bốn góc.Đốt cổ mảnh, dài 5 - 10

mm Đốt thân ngang có bề ngang dài hơn bề dọc, đốt trưởng thành hình vuông, đốt già bề ngang nhỏ hơn bề dọc

+ Cấu tạo của sán dây Taenia solium

Theo Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [4]; Chu Thị Thơm và cs (2006) [21] Sán có 700 - 1000 đốt Đốt cổ ngắn, hẹp Đốt chưa thành thục, có chiều dài lớn hơn chiều rộng Đốt già, hình chữ nhật, tử cung phân 7 - 12 nhánh Trứng hình tròn hoặc bầu dục, đường kính 31 - 43 µm

Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2001) [12] sán dây Taenia solium không có túi chứa tinh, cũng không có cơ bóp âm hộ Túi dương vật dài 0,5 - 0,7 mm, đường kính 0,12 - 0,50 mm Tử cung có 7 - 10 nhánh ngang chính Trứng 0,042 mm đường kính

Theo Phan Anh Tuấn (2013) [22]; Lê Thị Xuân (2013) [25]; Nguyễn Văn Đề (2013) [2]; Lê Bách Quang và cs (2008) [19]; cổ của sán mảnh khảnh nối tiếp với đầu, là nơi sản sinh ra đốt sán bằng cách nảy chồi Thân gồm các

9 đốt sán, đốt sán non ở gần cổ, đốt sán càng xa cổ thì càng to và già, ở gần cổ đốt sán chiều ngang rộng hơn chiều dài, chỉ có cơ quan sinh dục đực Đốt trưởng thành có chiều ngang bằng chiều dài chứa cơ quan sinh dục đực và cái

Trang 13

Các đốt già cơ quan sinh dục đực tiêu biến chỉ còn thấy tử cung phân nhánh Các đốt sán già của sán dải heo có 7 - 12 nhánh, chứa 30.000 đến 50.000 trứng Mỗi đốt sán có lỗ sinh dục xen kẽ hai bên hông khá đều, chiều dài đốt sán gấp rưỡi chiều ngang (1 - 2 cm x 0,5 - 0,7 cm), các đốt sán thường rụng thành từng khúc, mỗi khúc 5 đến 6 đốt liền nhau theo phân ra ngoài

+ Sức đề kháng của sán dây Taenia solium

Đối với trứng sán dây nằm trong đốt sán nên khó phá vỡ, chỉ khi nào đốt sán thối rữa mới giải phóng trứng, cũng như trứng giun đũa, trứng sán dây

ra môi trường nhiệt độ ánh sáng trên 70oC mới có khả năng diệt trứng

- Đặc điểm hình thái, cấu tạo của ấu trùng Cysticercus cellulosae

+ Đặc điểm hình thái của ấu trùng Cysticercus cellulosae

Theo Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [4], ấu trùng là bọc màu trắng, đường kính 8 – 10 mm, có hình hạt gạo bên trong chứa dịch thể trong suốt và một đầu sán lộn ngược ra phía ngoài, vỏ ngoài bọc là lớp mô liên kết Đầu sán trong bọc có cấu tạo như đầu sán trưởng thành

Tuy nhiên, cũng có những ấu trùng có kích thước lớn hơn, nhưng loại này hiếm gặp Hình dạng ấu trùng cũng khác nhau tùy thuộc vị trí: ở cơ có hình bầu dục giống như hạt gạo, ở mô dưới da có hình hạt đậu, ở não có hình cầu

+ Cấu tạo của ấu trùng Cysticercus cellulosae

Theo Nguyễn Văn Đề (2013) [2]; Phan Anh Tuấn (2013) [22] sán dải

heo Taenia solium trưởng thành có thân dẹp, màu trắng đục, dài từ 2 - 4 m, có

khoảng 800 - 1000 đốt Cấu tạo cơ thể gồm có đầu, cổ và thân đốt sán Đầu nhỏ, hình cầu, kích thước khoảng 1mm, có 4 giác bám Trên đầu có chùy và chân chùy có hai vòng móc, mỗi vòng từ 25 - 35 móc

Theo Chu Thị Thơm và cs (2006) [21] ấu trùng Cysticercus cellulosae

màu trắng đục, bên trong có 1 đầu sán, có 4 giác bám và 2 hàng móc như đầu sán dây trưởng thành

Trang 14

Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2001) [12] sán dây Taenia solium không có túi chứa tinh, cũng không có cơ bóp âm hộ Túi dương vật dài 0,5 - 0,7 mm, đường kính 0,12 - 0,50 mm Tử cung có 7 - 10 nhánh ngang chính Trứng 0,042 mm đường kính

Theo Phan Anh Tuấn (2013) [22]; Lê Thị Xuân (2013) [25]; Nguyễn Văn Đề (2013) [2]; Lê Bách Quang và cs (2008) [19]; cổ của sán mảnh khảnh nối tiếp với đầu, là nơi sản sinh ra đốt sán bằng cách nảy chồi Thân gồm các

9 đốt sán, đốt sán non ở gần cổ, đốt sán càng xa cổ thì càng to và già, ở gần cổ đốt sán chiều ngang rộng hơn chiều dài, chỉ có cơ quan sinh dục đực Đốt trưởng thành có chiều ngang bằng chiều dài chứa cơ quan sinh dục đực và cái Các đốt già cơ quan sinh dục đực tiêu biến chỉ còn thấy tử cung phân nhánh Các đốt sán già của sán dải heo có 7 - 12 nhánh chứa 30.000 đến 50.000 trứng Mỗi đốt sán có lỗ sinh dục xen kẽ hai bên hông khá đều, chiều dài đốt sán gấp rưỡi chiều ngang (1 - 2 cm x 0,5 - 0,7 cm), các đốt sán thường rụng thành từng khúc, mỗi khúc 5 đến 6 đốt liền nhau theo phân ra ngoài

+ Sức đề kháng của sán dây Tenia solium

Đối với trứng sán dây nằm trong đốt sán nên khó phá vỡ, chỉ khi nào đốt sán thối rữa mới giải phóng trứng, cũng như trứng giun đũa, trứng sán dây

ra môi trường nhiệt độ ánh sáng trên 70oC mới có khả năng diệt trứng

- Đặc điểm hình thái, cấu tạo của ấu trùng Cysticercus cellulosae + Đặc điểm hình thái của ấu trùng Cysticercus cellulosae

Theo Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [4], ấu trùng là bọc màu trắng, đường kính 8 – 10 mm, có hình hạt gạo bên trong chứa dịch thể trong suốt và một đầu sán lộn ngược ra phía ngoài, vỏ ngoài bọc là lớp mô liên kết Đầu sán trong bọc có cấu tạo như đầu sán trưởng thành

Tuy nhiên, cũng có những ấu trùng có kích thước lớn hơn, nhưng loại này hiếm gặp Hình dạng ấu trùng cũng khác nhau tùy thuộc vị trí: ở cơ có

Trang 15

hình bầu dục giống như hạt gạo, ở mô dưới da có hình hạt đậu, ở não có hình cầu

+ Cấu tạo của ấu trùng Cysticercus cellulosae

Theo Chu Thị Thơm và cs (2006) [21] ấu trùng Cysticercus cellulosae

màu trắng đục, bên trong có 1 đầu sán, có 4 giác bám và 2 hàng móc như đầu sán dây trưởng thành

Theo Lê Bách Quang và cs (2008) [19] ấu trùng có màu trắng đục, kích thước 17 - 20 × 7 - 10 mm Nang chứa nước và có một đầu sán cùng với đốt

cổ lộn vào bên trong, đầu có 4 giác và 2 vòng móc

+ Sức đề kháng của ấu trùng Cysticercus cellulosae

Ấu trùng sán dây lợn bị giết chết ở dưới -20oC, nhưng ở 0oC đến -20oC

ấu trùng sống được gần 2 tháng, ở nhiệt độ phòng thí nghiệm ấu trùng sống

được 26 ngày Ấu trùng Cysticercus cellulosae có thể sống nhiều năm ở ký

chủ trung gian, người ăn phải ấu trùng cùng với thịt lợn, vào trong cơ thể phát triển thành sán trưởng thành, thời gian hoàn thành vòng đời khoảng 3 tháng

Theo Zirintunda G., Ekou J (2015) [33], ấu trùng sán dây lợn có thể sống hơn 70 ngày ở nhiệt độ từ 1 - 4oC, nhưng lại bị diệt trong 5 ngày ở nhiệt

độ từ -5oC đến -8oC (thịt ướp lạnh có thể diệt được gạo)

1.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun bao lợn

Giun tròn Trichinella spiralis có thân hình rất nhỏ Cơ thể giun chia

thành 2 phần Phần trước nhỏ, phần sau to hơn một chút Phần trước là thực quản, gồm các tế bào xếp hình chuỗi hạt, chiếm tới ⅓ chiều dài cơ thể

- Giun đực trưởng thành dài 1,4 - 1,6 mm, rộng 0,06 mm Không có gai giao hợp, chỉ có hai gai chồi ở cuối thân Lỗ bài tiết ở giữa 2 gai chồi

- Giun cái dài 3 - 4 mm, rộng 0,06 mm Âm hộ ở khoảng 1/5 phía trước thân Hậu môn ở tận cùng đuôi

Trang 16

Giun cái đẻ ra ấu trùng Mỗi giun cái có thể đẻ từ 1000 - 1500, có khi

6000 - 10.000 ấu trùng

Ấu trùng mới đẻ có kích thước 0,08 - 0,12 x 0,005 - 0,006 mm, ấu trùng cuộn hình xoáy ốc trong tổ chức cơ, bọc bởi màng bao tạo thành kén

Vì vậy giun xoắn còn có tên gọi là giun bao

- Kén của ấu trùng giun bao màu trắng, gồm hai lớp, hình bầu dục nếu

ở lợn, loài gặm nhấm, chó; hình tròn ở cáo, gấu, mèo… Vì vậy kén của giun bao trong tổ chức cơ có nguồn gốc từ vật chủ, chứ không phải nguồn gốc từ

ký sinh trùng

1.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán lá gan

F gigantica là loài sán lá phổ biến ở nước ta Loài sán này có chiều dài

từ 25 - 75 mm, rộng từ 3 - 12 mm, hình lá, u lồi hình nón của đầu là phần tiếp theo của thân, vì vậy sán không có ‘‘vai’’ Hai rìa bên thân sán song song với nhau, có hai giác bám: giác bụng và giác miệng Giác miệng ở đầu sán thông với hầu, thực quản, ruột gồm hai manh tràng phân thành nhiều nhánh nhỏ

Giác bụng tròn, lớn hơn giác miệng và ở gần giác miệng

Trứng sán F gigantica màu vàng nâu, hình bầu dục, phình rộng ở giữa,

thon dần về hai đầu, đầu hơi nhỏ có nắp trứng, trứng dài 0,13 - 0,18 mm, rộng 0,06 - 0,1 mm

Loài F hepatica có đầu lồi và nhô ra phía trước làm cho sán có ‘‘vai’’

Sán dài 18 - 51 mm, rộng 4 - 13 mm, phần đầu hình nón dài 3 - 4 mm, chứa

cả hai giác bám, giác bụng lớn hơn giác miệng Hai rìa bên thân sán không song song với nhau mà phình ra ở chỗ vai rồi thon lại ở cuối thân Cấu tạo

bên trong của F hepatica giống F gigantica Trứng sán có hình thái, màu sắc tương tự trứng của loài F gigantica, dài 0,13 - 0,15 mm, rộng 0,07 - 0,09 mm

Cũng như nhiều loài sán lá khác, sán lá gan lưỡng tính, có thể thụ tinh chéo hoặc tự thụ tinh Sán có giác miệng và giác bụng, giác bụng không nối

Trang 17

với cơ quan tiêu hoá Sán không có hệ hô hấp, tuần hoàn và cơ quan thị giác (ở giai đoạn mao ấu có dấu vết sắc tố mắt) Hệ sinh dục rất phát triển với cả

bộ phận sinh dục đực và cái trong cùng một sán Tử cung sán chứa đầy trứng

Hệ bài tiết gồm 1 - 2 ống bài tiết chạy dọc cơ thể Từ ống bài tiết có nhiều nhánh nhỏ chạy ra hai bên và tận cùng là tế bào ngọn lửa Các ống này tập trung dịch bài tiết vào túi dự trữ ở cuối thân và đổ ra ngoài qua lỗ bài tiết

Hệ thần kinh kém phát triển, gồm hai hạch não nằm ở hai bên, nối với nhau bằng vòng dây thần kinh Từ đó có ba đôi dây thần kinh đi về phía trước

và phía sau thân, những dây này nối với nhau bằng nhiều dây nhỏ Cơ quan cảm giác bị tiêu giảm

Hệ sinh dục của sán phát triển mạnh, có bộ phận sinh dục đực và cái trên cùng một cơ thể Bộ phận sinh dục đực gồm hai tinh hoàn phân nhánh mạnh, xếp trên dưới nhau ở phần sau cơ thể Mỗi tinh hoàn thông với ống dẫn tinh riêng rồi đổ vào túi sinh dục Phần cuối của túi sinh dục được kitin hóa, gọi là cirrus, có chức năng như dương vật Buồng trứng phân nhánh ở phía trước tinh hoàn Tử cung sán chứa đầy trứng, uốn khúc thành hình hoa ở giữa ống dẫn noãn hoàng và giác bụng Tuyến noãn hoàng xếp dọc 2 bên thân và phân nhánh

1.1.2.1 Đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae, bệnh giun bao ở lợn và bệnh sán lá gan trâu, bò

Đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae

- Phân bố Lợn ở miền núi mắc bệnh gạo cao hơn ở đồng bằng,vì ở miền núi thường nuôi lợn thả rông, một số vùng có tập quán ăn thịt sống hoặc thịt tái, không có hố xí hai ngăn hoặc hố xí tự hoại

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2015) [8]; lợn ở miền núi mắc bệnh gạo cao hơn ở đồng bằng, vì ở miền núi thường nuôi lợn thả rông, một số vùng có tập quán ăn thịt sống và tái, không có hố xí hai ngăn hoặc hố xí tự hoại

Trang 18

Phan Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2001) [11] cho biết: Theo kinh nghiệm khám thịt lợn, bệnh gạo lợn khá phổ biến, nhất là ở vùng núi và trung du thường thả rông và lợn ăn phải phân người

Theo Lê Bách Quang và cs (2008) [19]; sự phân bố sán dây lợn không đồng đều Thường thấy ở những nơi nuôi lợn thả rông, lợn thả rông ăn phân người và những nơi có phong tục ăn thịt lợn sống, chưa nấu chín

- Đường lây truyền

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2015) [8]; người có thể bị nhiễm bệnh gạo

do nuốt phải trứng sán lẫn vào trong thức ăn, nước uống hoặc do người có sán dây trưởng thành ký sinh, khi người nôn mửa, đốt sán già đã rụng theo nhu động ngược mà lên dạ dày nhưng không nôn ra ngoài Ở dạ dày, thai 6 móc

nở ra, theo máu đến các cơ, não, mắt mà thành gạo

Theo Lê Thị Xuân (2013) [25]; Đường truyền bệnh thông qua thức ăn, nước uống Trên thế giới có khoảng 2,5 triệu người mắc bệnh sán dây, bệnh gặp khắp nơi trên thế giới Tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào thói quen ăn nhất là

ở những nơi có tập tục ăn thịt lợn sống, chưa nấu chín Việc quản lý phân thải chưa tốt như sử dụng các loại hố xí không hợp vệ sinh, nuôi lợn thả rông Ngoài ra, chưa có chế độ quy định về kiểm tra an toàn thực phẩm chặt chẽ cũng làm bệnh có thể lưu hành

Bệnh sán dây và ấu trùng sán dây lợn phân bố rải rác nhiều nước trên thế giới, với khoảng 100 triệu người nhiễm bệnh Riêng bệnh ấu trùng sán dây lợn và tổn thương neurocysticercosis lưu hành tại châu Mỹ La Tinh, Châu Á, Châu Phi và đặc biệt ở Mỹ thì bệnh bắt đầu tăng mạnh vào những năm 1980

Một số quốc gia ở Châu Âu có số ca mắc cao là Tây Ban Nha, Mexico Trong đó, Mexico tỷ lệ dương tính trên xét nghiệm huyết thanh học là 3,6% người trưởng thành và qua giải phẩu tử thi có tỷ lệ nhiễm là 1,9%

Trang 19

Theo Lê Bách Quang và cs (2008) [19] bệnh thường lây qua đường tiêu hoá do ăn phải thịt lợn có ấu trùng chưa nấu chín hoặc còn sống Ở nước ta tập quán ăn nem chua, một số vùng miền núi có tập quán ăn thịt sống

Đặc điểm dịch tễ bệnh giun bao ở lợn

- Phân bố :

Bệnh giun bao thấy ở khắp nơi trên thế giới, với những mức độ khác nhau Bệnh giun bao có thể chia thành ổ dịch thiên nhiên (chủ yếu là những động vật hoang dại có giun bao) và ổ dịch gần người (chủ yếu là những động vật chăn nuôi) Bệnh giun bao ở người liên quan chủ yếu tới ổ dịch giun bao ở các động vật chăn nuôi, hiếm khi liên quan tới ổ dịch giun bao ở các động vật hoang dại

Ở Mỹ, 0,093% số lợn bị nhiễm giun bao, có nơi như Boston tỷ lệ nhiễm ở lợn tới 5%, ở Chicago tới 8 - 27% Ở Châu Mỹ bệnh thường xảy ra đối với người ở Nam Mỹ và Trung Mỹ Ở Châu Phi, bệnh giun bao lợn thấy ở Angeri, Ai Cập và Đông Phi

Ở Châu Á, bệnh có ở Trung Quốc, Ấn Độ, Philippin, Lào, Việt Nam

Ở Châu Úc, bệnh có ở Úc, quần đảo Ha - oai Theo thông báo của tổ chức Y tế thế giới, tháng 3 năm 2001, dịch giun bao đã sảy ra tại Italia, làm hàng nghìn người mắc bệnh, 50% số lợn điều tra trong đợt dịch này bị nhiễm giun bao

- Con đường truyền bệnh :

+ Qua thức ăn : Do ăn thịt động vật có ấu trùng (ấu trùng có thể sống trong thịt gia súc chết 2 - 4 h )

+ Động vật nhiễm do ăn phân của động vật

+ Do ăn phải côn trùng mang mầm bệnh

+ Người mắc bệnh do ăn thịt động vật mắc giun bao chưa nấu chín : Thịt tái, nem chua, nem lạp, giăm bông, thịt hun khói

Trang 20

- Vòng tuần hoàn căn bệnh :

+ Theo Zenker (1986), vòng tuần hoàn của bệnh là: Chuột → Lợn → Người

+ Theo theo Kozal (1962): có 49 loài mắc bệnh

- Tình hình mắc giun bao:

+ Trên thế giới xảy ra ở bắc cực và Châu Phi Ước tính có khoảng 11 triệu người mắc và tỷ lệ chết 0,2% Có 43/198 nước thấy vật nuôi (lợn) nhiễm

có 66/198 nước thấy thú rừng nhiễm Gần đây bệnh đã có ở các nước Châu

Âu : Serbia, Croatia, Rumani, Bungari, Ireland Tại châu Á: 22/45 nước có bệnh như Thái Lan, Lào, Trung Quốc, Nhật Bản

Đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan trâu bò

- Bệnh sán lá gan là bệnh chung của hầu hết các loài thú đặc biệt là loài nhai lại, kể cả người Trâu, bò bị nhiễm bệnh nặng hơn và ở tất cả các lứa tuổi Bê, nghé non bị bội nhiễm sẽ phát bệnh ở thể cấp tỉnh Trong điều kiện sinh thái ở nước ta, đàn trâu bò thường bị nhiễm sán lá gan quanh năm Bởi vì thời tiết ấm áp và ẩm ướt trên mặt đất làm cho ốc ký chủ phát triển mạnh từ

đó lảm môi giới truyền bào ấu cho trâu, bò suốt 12 tháng trong năm Nhìn chung tất cả các trâu bò nhập nội đều mắc bệnh sán lá gan, kể cả bò sữa Trâu,

bò nhiễm sán khi gặp điều kiện không thuận lợi vào vụ đông và đầu vụ xuân (làm việc nặng, thời tiết lạnh, thiếu thức ăn xanh) sẽ phát bệnh hàng loạt rồi chết, đôi khi tưởng là một bệnh truyền nhiễm

Vùng lầy lội, ẩm thấp bệnh sán lá gan phát ra nhiều

Tuổi súc vật càng cao thì tỷ lệ và cường độ nhiễm càng tăng

Những năm mưa nhiều, súc vật nhiễm sán lá gan nhiều hơn những năm khô hạn Vụ hè - thu tỷ lệ nhiễm tăng so với vụ đông - xuân

1.2.1.2 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh

Trang 21

Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae

- Đặc điểm bệnh lý

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2001) [10]: Khi lợn mắc bệnh gạo có triệu chứng không điển hình, khi mổ khám mới thấy những tổn thương bệnh lý Nếu gạo ở não thì con vật bị co giật, sùi bọt mép giống như cơn động kinh ở người Mổ khám lợn bị bệnh thường thấy ấu trùng ký sinh ở tổ chức cơ vân, chèn ép các mao mạch gây trở ngại tuần hoàn, chèn ép thần kinh gây bại liệt

Ấu trùng cũng gây ra các ổ viêm xơ hóa ở các tổ chức nội quan của vật chủ

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2012) [14]; Ấu trùng phát triển, chèn ép làm cho các mô bị teo, hoại tử và thoái hóa, mô bào và các cơ bị tổn thương, bên trong có bạch cầu ái toan, bạch cầu trung tính và các tổ chức xơ

- Đặc điểm lâm sàng

Lợn bệnh có triệu chứng không rõ rệt và thay đổi theo chỗ ký sinh của gạo: nếu ở lưỡi có thể thấy liệt lưỡi và hàm dưới; nếu ở cơ chân thì thấy con vật đi lại khó khăn; nếu ở não thấy triệu chứng thần kinh (con vật co giật hoặc quay vòng tròn); Nếu nhiễm nhiều ở toàn thân thì có triệu chứng viêm ruột và viêm gan, sau đó viêm hệ cơ tuần hoàn Lúc này con vật lờ đờ, thở dốc, không

ăn, ỉa chảy, gầy rạc, bại liệt và có thể chết Thường thấy ấu trùng ký sinh ở các cơ lưỡi, cơ tim, cơ thịt và ở gốc lưỡi

Trang 22

nhiên khi ấu trùng gây bệnh heo gạo cho người thì các triệu chứng thể hiện tùy thuộc vào cơ quan chúng gây bệnh như:

Gạo lợn ở não: Nếu ấu trùng sán định cư tại não thì chúng có thể gây ra tăng áp lực nội sọ gây nhức đầu, động kinh cục bộ, suy giảm trí tuệ, yếu, liệt chi thậm chí có thể rối loạn tâm thần Tất cả các triệu chứng trên ở mức độ nào còn tùy thuộc vào số lượng và vị trí định cư của ấu trùng sán trong não người

Gạo lợn ở mắt: Ấu trùng có thể định cư tại hốc mắt, mí mắt, kết mạc mắt hoặc trong mắt chúng có thể gây ra những rối loạn thị giác và tùy vào vị trí của ấu trùng định cư ở mắt

Gạo lợn ở trong tế bào cơ: Ít có biểu hiện lâm sàng trừ khi với số lượng nhiều chúng có thể gây đau cơ và sau thời gian dài chúng sẽ bị vôi hóa ngay trong cơ, nơi chúng định cư

Gạo lợn ở dưới da: Gây đau nhức khó chịu, đôi khi gây ngứa

Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [7]; cho biết: nếu ấu trùng ở não người thì chèn ép não, cản trở tuần hoàn máu, gây tụ máu, nếu ở mắt thì mờ mắt, chảy nước mắt, có khi bị mù Triệu chứng thường thấy là: đau đầu dữ dội, bại liệt,

co giật, nôn mửa, rối loạn thị giác, suy nhược toàn thân Nếu ấu trùng ở cơ thì bệnh nhân bị mỏi và đau cơ, nếu gạo ở dưới da gây đau nhức rất khó chịu

Theo Bùi Huy Quý (2006) [20]: Bệnh ấu trùng sán dây (gạo) ở người

có triệu chứng rõ rệt, kéo dài từ vài tuần đến vài năm sau khi bị nhiễm sán

Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh giun bao lợn

- Ở giai đoạn ấu trùng đã phát triển thành giun trưởng thành thì ít gây tác hại cho vật chủ

- Ở giai đoạn ấu trùng sẽ gây bệnh cho vật chủ do độc tố của chúng tiết ra

- Ở gia súc có các triệu chứng nôn mửa, gầy sút nhanh, ngứa ngáy, hay

cọ sát, đi lại khó khăn

- Ở người gây đau bụng , nôn mửa , ỉa chảy

Trang 23

+ Phù: Mắt, đầu, 2 tay, 2 chân, toàn thân

+ Đau cơ từng đợt : Khó nhai, đi lại khó khăn

+ Sốt cao kì đầu sau sốt âm ỉ từng đợt

+ Tăng bạch cầu ái toan, tim đập nhanh

Qua theo dõi 63 bệnh nhân tại bệnh viện:

Đau cơ : 95,5 % Sốt : 93,6 %

Phù : 84,1 % Ỉa chảy : 79,6 %

Tăng bạch cầu : 79,6 % Đau bụng : 50,7 %

Mỏi cơ: 20,6 %, nhức đầu; 15,8%; nổi ban 14,4%

Bệnh tích : Cơ bị viêm; mầu thẫm, rắn, trương to, trong có ấu trùng , có khi có bọc (có ấu trùng)

Hoặc ấu trùng chết tạo thành ổ mủ, ổ Canxi hóa

Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh sán lá gan trâu, bò

- Sán non trong quá trình di chuyển thường gây hiện tượng tắc ống dẫn mật, tổn thương niêm mạc ruột non dẫn đến nhiễm khuẩn đường tiêu hóa và ống dẫn mật

- Sán trưởng thành sống trong ống dẫn mật và túi mật di chuyển gây tổn thương cơ giới và gây viêm túi mật, viêm gan nhiễm khuẩn.Sán trưởng thành cướp chất dinh dưỡng và ăn hồng cầu từ gan, mật để sống và phát triển làm cho trâu bò gầy còm và thiếu máu trầm trọng Sán trưởng thành trong quá trình ký sinh còn tiết ra độc tố tác động đến bộ máy tiêu hóa, gây rối loạn tiêu hóa, rồi viêm ruột cấp tính và mãn tính làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe trâu

bò và dẫn đến tử vong do kiệt sức

1.2.1.3 Chẩn đoán bệnh

Chẩn đoán bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae

Chẩn đoán bệnh gạo lợn không thể căn cứ vào triệu chứng lâm sàng vì triệu chứng lâm sang thường biểu hiện không rõ rệt, ngay cả khi con vật

Trang 24

nhiễm bệnh ở giai đoạn nặng Vì vậy, để chẩn đoán được bệnh gạo lợn, cần

mổ khám con vật tìm ấu trùng sán ký sinh trong các tổ chức cơ, hoặc chẩn đoán bằng phương pháp huyết thanh học

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9], Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [10], Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [7]; cho biết: khi con vật còn sống,

có thể tìm gạo ở lưỡi, mắt Nếu không thấy gạo ở những nơi đó thì khó chẩn đoán Có thể chẩn đoán bằng phương pháp miễn dịch học: lấy các đốt sán dây

T solium để chế kháng nguyên, tiêm nội bì 0,2 ml Sau khi tiêm 15 - 20 phút,

nếu nơi tiêm sưng và đỏ thì dương tính Tuy nhiên, phương pháp này có độ chính xác thấp vì có thể gây ra phản ứng dương tính chéo với một số ấu trùng

sán dây khác như Cys tenuicollis… Có thể ứng dụng kỹ thuật ELISA phát

hiện lợn bị gạo Đối với con vật chết: Mổ khám, tìm gạo ở cơ đùi, cơ lưỡi và

cơ tim

Theo Bùi Quý Huy (2006) [7]; phát hiện dễ dàng “gạo” ở lợn khi rạch lưỡi dao vào các thớ cơ, đặc biệt là cơ tim Ở người, cũng có thể tìm thấy gạo qua chụp X quang hoặc chụp cắt lớp Chẩn đoán có độ tin cậy khá cao khi làm các xét nghiệm huyết thanh đặc hiệu

Chẩn đoán bệnh giun bao ở lợn

Trichocephalus suis

+ Chẩn đoán bằng các phương pháp ELISA, miễn dịch huỳnh quang

Trang 25

+ Phương pháp kiểm tra phân tìm giun trưởng thành hoặc ấu trùng ít có giá trị vì chúng có thể bị phân hủy trước khi ra ngoài

+ Phương pháp sinh thiết cơ để kiểm tra ấu trùng phụ thuộc vào số lượng ấu trùng có trong kí chủ

Chẩn đoán bệnh sán lá gan trâu bò

- Chẩn đoán lâm sàng:

+ Chẩn đoán lâm sàng bệnh sán lá gan luôn luôn khó khăn do các dấu hiệu không điển hình Một loạt triệu chứng có thể quan sát được theo trình tự thời gian như: hiện tượng thiếu máu đi cùng với tính vô cảm, ăn kém ngon miệng, gầy, da hơi vàng; xuất hiện ỉa chảy và cuối cùng, trong những trường

Trang 26

hợp trầm trọng, phát triển phù thũng và gia súc suy mòn dần Sờ vào sườn bên phải gây ra cảm giác đau rõ ràng

- Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm:

+ Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm tiến hành chủ yếu bằng kiểm tra phân, nhưng gần đây người ta đã đưa vào các xét nghiệm huyết thanh học

+ Kiểm tra phân: nhằm phát hiện những trứng đặc trưng của sán lá gan trong phân với việc sử dụng kỹ thuật làm giầu bằng lắng cặn hoặc phù nổi để tập trung một số lượng lớn nhất tế bào trứng từ một lượng phân nhỏ nhất có thể

Tuy vậy, việc kiểm tra phân chỉ có ích trong trường hợp bệnh sán lá gan mãn tính Một bất lợi khác cũng cần phải đề cập đến, đó là việc sản sinh

ra trứng ngắt quãng, không liên tục, tuỳ thuộc vào việc thải dịch từ túi mật và sinh học của ký sinh trùng Do đó, người ta khuyên là nên lặp lại kiểm tra để chẩn đoán bệnh theo cách này và lấy mẫu đại diện một số gia súc trong cùng một đàn

- Kiểm tra huyết thanh học: gần đây những kỹ thuật huyết thanh học đã được phát triển và áp dụng để chẩn đoán, nghiên cứu dịch tễ bệnh sán lá gan Chủ yếu là xét nghiệm ELISA để phát hiện các kháng thể lưu hành Những lợi ích lớn nhất của xét nghiệm ELISA là khả năng phát hiện được việc nhiễm bệnh trong thời kỳ trước khi sán trưởng thành, trước khi trứng được bài tiết ra,

và khả năng kiểm tra một số lượng mẫu lớn Những vấn đề tồn tại của xét nghiệm này là giá thành, thiết bị cần thiết, việc thiếu độ mẫn cảm và đặc thù

và sự tồn lưu kháng thể sau khi điều trị

- Chẩn đoán qua việc mổ khám:

Sự có mặt của các sán lá gan trong ống mật, việc can-xi hoá các ống dẫn và các tổn thương do các sán lá non di chuyển gây ra là những tổn thương đặc trưng của bệnh sán lá gan

1.2.1.4 Phòng và điều trị bệnh

Trang 27

Phòng và điều trị bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae ở lợn

* Phòng bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae

Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2001) [11]; Để phòng được bệnh gạo lợn yêu cầu: Một mặt giữ không cho lợn nhiễm ấu trùng, mặt khác bảo vệ người chống lây nhiễm sán Đối với lợn, không nên nuôi trả rông Người không nên ỉa đồng, cần có hố xí Người có sán phải chữa ngay, sán bị tống ra

ngoài phải đốt ngay Không cho người ăn thịt lợn sống hay chưa chín kỹ C cellulosae có thể sống hơn 70 ngày trong thịt ở nhiệt độ từ 1 - 4oC Nhưng ướp lạnh ở - 15oC ở - 18oC trong 5 ngày, thì nó chết và không có hại nữa, đó

là cách khử trùng tốt nhất

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [4]; Áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp sau: Xây dựng củng cố và thực hiện nghiêm túc quy định kiểm nghiệm thịt Để bảo vệ sức khoẻ cho người, phòng cho người không nhiễm sán lợn, cần kiểm nghiệm thịt nghiêm túc lúc trong nhà máy chế biến thịt, lò mổ tinh, luyện Nếu thấy gạo thì tùy mức độ mà xử lý: Trên 40 cm2thịt có trên 3 hạt gạo (ấu trùng) thì phải huỷ ngay, chế biến làm thức ăn cho gia cầm hoặc đem chôn Nếu 40 cm2 chỉ có 3 hạt gạo thì xử lý bằng một trong

ba biện pháp sau:

+ Luộc chín, ở nhiệt độ 60 - 70oC, toàn bộ ấu trùng sẽ chết, cần chú ý nếu thịt cắt quá to thì toàn bộ nhiệt bên trong không đủ để diệt ấu trùng Thịt phải cắt thành miếng khoảng 2 kg, dày 6 cm, đun sôi 2 giờ

+ Ướp muối: Cho thịt vào nước muối đặc ướp 3 tuần thì gạo sẽ chết + Ướp lạnh từ 10oC - 15oC khoảng 15 ngày Ướp lạnh là một biện pháp tốt vì giữ nguyên phẩm chất thịt nhưng phải có nhà máy ướp lạnh, mặt khác

có thể gạo chưa chết hoàn toàn, vì vậy phải thử lại sức sống của gạo trước khi dùng làm thực phẩm Bóc một số gạo ở thịt ướp lạnh cho vào đĩa lồng chứa 80% dịch mật bò pha với nước sinh lý, để tủ ấm 39oC - 40oC khoảng 15 phút,

Trang 28

nếu ấu trùng không chuyển động thì gạo đã chết Ngoài biện pháp kiểm tra thịt ở lò mổ, cán bộ thú y cần kiểm tra thịt bán tự do ở ngoài chợ hoặc các gia đình tự mổ lợn

Đẩy mạnh phong trào vệ sinh phòng bệnh cho người và gia súc gồm:

+ Xây dựng hố xí hai ngăn, ngăn ngừa lợn ăn phải phân người

+ Phải có chuồng lợn, không thả rông

+ Nâng cao ý thức vệ sinh của nhân dân làm cho mọi người hiểu những kiến thức cơ bản và tác hại của bệnh, qua đó tự giác không ăn thịt sống, thịt tái Sau khi đại tiện rửa tay sạch sẽ

+ Đối với bệnh do sán dây trưởng thành: người không ăn thịt lợn, gan lợn chưa nấu chín như nem, thính, nem chua, thịt tái, gan tái, kết hợp với các ngành chức năng kiểm tra chặt chẽ các lò mổ lợn, loại bỏ các con vật mang ấu trùng sán, quản lý phân tốt: luôn sử dụng hố xí hợp vệ sinh, không để lợn thả rông ăn phân người, tốt nhất không nuôi lợn thả rông

+ Đối với bệnh ấu trùng sán dây lợn (Cysticercus cellulosae ): Không

ăn rau sống, không uống nước lã, quản lý phân tốt, nhất là phân của những người nhiễm ấu trùng sán dây, phát hiện và điều trị sớm những người mắc bệnh sán dây và xử lý những con sán được tẩy ra, đặc biệt sán dây lợn để ngăn ngừa mắc bệnh ấu trùng sán dây theo cơ chế tự nhiễm Ấu trùng gạo lợn chết ở -2oC, nhưng nếu ở 0oC đến -2o Ấu trùng sống được gần 2 tháng và ở nhiệt độ phòng thí nghiệm cũng sống được 26 ngày Nếu muốn dùng thịt lợn sống, phải để thịt ở -10oC trong 4 ngày mới đảm bảo Ấu trùng bị giết chết ở

45 - 50oC Để đảm bảo an toàn ½ kg thịt phải đun sôi 1 giờ Ấu trùng sán dây sống 22 ngày khi ngâm trong nước muối bão hòa

* Trị bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae

Trang 29

+ Điều trị sớm: Cần thiết chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời ngay khi phát hiện có đốt sán ra theo phân để tránh những biến chứng do sán dây (bệnh

Praziquantel: Liều 30mg/kg TT/ngày × 15 ngày, chia thành 2 - 3 đợt (mỗi đợt cách nhau 10 - 20 ngày)

Praziquantel: Liều 15 - 20 mg/kg TT ngày đầu, những ngày sau dùng albendazole 15mg/kg TT/ngày × 30 ngày, chia thành 2 - 3 đợt (mỗi đợt cách nhau 20 ngày)

Tuy nhiên, nếu đã chẩn đoán chính sác lợn bị bệnh gạo thì nên loại thải

và sử lý đúng theo quy định kiểm tra vệ sinh thú y

Theo Nguyễn Văn Đề (2013) [2]; Bộ Y tế (2004) [1]: Phác đồ điều trị

bệnh ấu trùng Cysticercus cellulosae chúng ta có thể dùng 1 trong 2 phác đồ

Trang 30

lợn phải điều trị bệnh sán dây lợn trưởng thành ở ruột (nếu có) để loại trừ khả năng tiếp tục chuyển thành bệnh ấu trùng

- Thuốc điều trị:

+ Praziquantel (Distocid): 10 - 15 mg/kg cân nặng/ngày × 7 ngày/đợt, nghỉ 3 ngày sau uống tiếp 3 đợt như vậy Tuy nhiên cũng có tác giả dùng liều cao hơn 20 - 30 mg/ngày

+ Albendazole 20 mg/kg/24 giờ chia 2 lần trong ngày Điều trị 20 ngày

- Có thể phối hợp các thuốc trên với corticoid, dùng trước khi điều trị 5 ngày và tiếp tục duy trì trong suốt quá trình điều trị Chỉ định điều trị ngoại khoa bệnh ấu trùng sán dây lợn: Có thể phẫu thuật lấy ấu trùng sán dây lợn ở mắt, ở tổ chức dưới da, cơ, có nguy cơ chèn ép thần kinh… Đây là vấn đề khó khăn và phức tạp

- Đối với người Theo Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [4], có nhiều loại thuốc nhưng hiện nay thường dùng loại thuốc nam sau:

Trang 31

Với trẻ em, khi điều trị bằng thuốc Niclosamide, cần cho liều theo cân nặng cơ thể và được chỉ định bởi bác sĩ:

+ Với những trẻ từ 11 - 34 kg: Liều 1 g, liều duy nhất, điều trị có thể lặp lại trong vòng 7 ngày nếu cần thiết

+ Với trẻ > 34 kg: Liều cho 1,5 g, liều duy nhất, điều trị có thể lặp lại trong vòng 7 ngày nếu cần thiết

Theo Lê Bách Quang và cs (2008) [19]: Cách điều trị bệnh sán dây lợn trên người:

- Hạt bí, hạt cau

+ Hạt bí đỏ (Semina cucurbitae decortica): Bóc vỏ giã nhỏ, liều: 100 200 g + Hạt cau: Dùng hạt cau sống độ 50 - 100 g (tuỳ theo độ tuổi và thể trọng) Trẻ em < 10 tuổi dùng 30 g hoặc ít hơn Đổ vào 500 ml nước lã, đun cạn còn 150 - 200 ml Nên nhỏ thêm getanin 2,5% hoặc dùng 5 lòng trắng trứng thay cho getanin để đỡ chát, đỡ kích thích dạ dày

Cách uống: Uống hạt bí trước, 2 giờ sau uống nước sắc hạt cau, ½ giờ sau uống thuốc tẩy 60 ml MgSO4 50%

Chú ý:

Khi áp dụng phương pháp này cần tôn trọng đúng thứ tự của thời gian, thuốc sử dụng như vậy mới đảm bảo kết quả tốt Phương pháp này đạt hiệu quả từ 90 - 100%, ra cả đầu sán

- Quinacrin (atebrin): Người lớn uống từ 0,9 g - 1,2 g chia liều nhỏ Một ngày trước khi uống cần dùng thuốc nhuận tràng để giảm bớt chất nhầy bám ở thân sán, để thuốc dễ ngấm vào thân sán hơn Hiện này ít dùng vì thuốc độc

- Niclosamide (yomesan): Một liều 4 - 6 viên 0,5 g Buổi sáng nhai từng viên một, nhai thật kĩ uống với một ít nước, hiệu quả cao Cần tích cực phát hiện và điều trị bệnh sán dây lợn trưởng thành là biện pháp tích cực nhất

để phòng nhiễm bệnh ấu trùng sán lợn

- Praziquantel (distocid): 75 mg/kg cân nặng/lần/liều duy nhất

Phòng và điều trị bệnh giun bao ở lợn

* Điều trị bệnh giun bao ở lợn

Trang 32

Ở lợn, việc điều trị bệnh giun bao chưa được đề cập đến

Ở người, có thể điều trị bằng các thuốc sau:

- Praziquantel (tên khác : Biltricid, Distocid) : tùy từng mức độ nặng,

nhẹ, tùy thể trạng bệnh nhân, có thể điều trị với liều 10mg /kg/TT/ ngày, trong

2 ngày; hoặc liều 75 mg/kg/TT/ngày chia làm 3 lần Khi điều trị bằng Praziquantel nên kết hợp với Corticoid để làm giảm các phản ứng dị ứng Bệnh nhân phải được theo dõi tại bệnh viện trong thời gian điều trị

- Mintezol (Thiabendazol) liều 25 mg/kg/TT/ngày, trong 24 ngày, chia

2 lần/ngày Khi uống Mintezol có thể ăn mất ngon, chậm tiêu hóa, chóng mặt, buồn nôn, đau vùng thượng vị Không dùng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú

* Phòng bệnh giun bao ở lợn

Áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp:

- Tăng cường tuyên truyền, giáo dục trong nhân dân về nguyên nhân gây bệnh và tác hại của bệnh; bỏ tập quán ăn thịt sống, thịt tái, nem chua, tiết canh

- Kiểm tra việc tiêu thụ thịt lợn và thịt thú vật chặt chẽ Không cho bán thịt bị nhiễm giun bao ra thị trường Việc kiểm tra giun bao ở các lò mổ, các

cơ sở giết mổ phải được coi là biện pháp có tính chất pháp lệnh

- Chăn nuôi lợn hợp vệ sinh, không thả rông lợn, thức ăn cho lợn sạch

sẽ, không để phân chuột lẫn vào thức ăn và phát tán trên nền chuồng lợn

- Tích cực diệt chuột

- Xử lý thịt súc vật nhiễm giun bao bằng cách cắt thành miếng nhỏ, đun sôi trong 2 giờ, dùng làm thức ăn cho gia súc Người không ăn thịt súc vật bị bệnh giun bao

Phòng và điều trị bệnh sán lá gan trâu bò

* Điều trị bệnh sán lá gan ở trâu bò

Trang 33

- Hiện nay thường dùng một số thuốc thông thường nhưng cũng có hiệu quả cao đó là:

+ Dùng Dertyl B với liều 6 - 8 mg/kg thể trọng Thực tế dùng viên Dertyl B của Công ty cổ phần dược và vật tư thú y Hanvet thì dùng 1 viên (viên nén tròn có màu hồng) tẩy cho 50 kg thể trọng Cho trâu bò uống vào buổi sáng là tốt nhất, uống xong có thể cho trâu bò đi chăn thả bình thường

+ Dùng thuốc Benvet 600 của Công ty TNHH Thú y xanh Việt Nam, viên nén bầu dục có màu trắng, 1 viên dùng cho 60 kg thể trọng Cho uống vào buổi sáng sớm trước khi cho trâu bò đi chăn thả Hai loại thuốc trên còn dùng để phòng định kỳ hàng năm cho trâu bò, thuốc sử dụng an toàn có hiệu quả phòng trị bệnh cao

* Phòng bệnh sán lá gan ở trâu bò

- Để phòng bệnh sán lá gan cần thực hiện 4 quy trình như sau:

+ Định kỳ tẩy sán bằng một trong hai loại thuốc trên với 1 - 2 lần/ năm + Ủ phân để diệt mầm bệnh và trứng sán

+ Diệt ký chủ trung gian là các loài ốc nước ngọt bằng biện pháp có thể phun Sunphat đồng (CuSO4) nồng độ 3 - 4 % lên bãi cỏ, cây thủy sinh

+ Nâng cao sức đề kháng cho trâu, bò bằng chăm sóc nuôi dưỡng tốt, cho trâu bò ăn uống đầy đủ

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về bệnh do ấu trùng

Cysticercus cellulosae, bệnh giun bao ở lợn và bệnh sán lá gan trâu, bò 1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Tình hình nghiên cứu trong nước về bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae

- Bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae gây ra ở lợn phân bố ở nhiều

nơi liên quan đến tập quán ăn uống thịt lợn chưa nấu chín

+Ở trung du và miền núi tỷ lệ nhiễm sán dây 2 - 6%

Trang 34

+ Trên vùng đồng bằng, tỷ lệ nhiễm sán dây từ 0,5 - 2%;

- Hiện nay, Theo báo cáo từ các nhà khoa học đã phát hiện các tỉnh, thành có ca bệnh sán dây lợn, tập trung tại các tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Sơn La, Yên Bái, Bắc Cạn, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Quang

Tình hình nghiên cứu trong nước về bệnh giun bao ở lợn

Ở Việt Nam, trước năm 1967 chưa phát hiện được ổ dịch giun bao Năm 1968 phát hiện được ổ dịch giun bao ở một số xã miền núi vùng Tây Bắc

Năm 1970 có ổ dịch giun bao ở Mù Căng Chải (Yên Bái): 20 mắc bệnh

→ 4 người chết

Năm 2002 có ổ dịch giun bao ở Tuần Giáo (Điện Biên): 22 người mắc

→ 2 người chết, năm 2004 có 20 người mắc bệnh

Tháng 6 năm 2008 có ổ dịch giun bao ở xã Làng Chếu huyện Bắc Yên (Sơn La) với 23 người mắc bệnh → 2 người chết do ăn tiết canh và thịt sống ủ chua từ 1 con lợn bị bệnh

Tình hình nghiên cứu trong nước về bệnh sán lá gan ở trâu, bò

Ở Việt Nam, bệnh có ở khắp các tỉnh, thành trong cả nước

Lương Tố Thu, Bùi Khánh Linh (1996) [23]; đã theo dõi tình hình nhiễm sán lá gan ở một số địa phương vùng đồng bằng sông Hồng, miền núi

và trung du Bắc Bộ cho thấy, tỷ lệ nhiễm sán lá gan chung ở trâu, bò là 44,53% Tác giả nhận xét tỷ lệ bò nhiễm sán lá gan là 54,21% nặng hơn trâu

là 33,92%

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Theo Lê Thị Xuân (2013) [25]; Phan Anh Tuấn (2013) [22]: Trên thế giới có khoảng 2,5 triệu người mắc bệnh sán dải heo, bệnh gặp khắp nơi trên thế giới Tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào thói quen ăn nhất là ở những nơi có

Ngày đăng: 18/09/2018, 09:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w