Áp dụng quy trình kỹ thuật trong phòng và trị một số bệnh sản khoa trên đàn lợn nái ngoại sinh sản nuôi tại trại sản xuất của Trung tâm phát triển chăn nuôi tỉnh Điện Biên.Áp dụng quy trình kỹ thuật trong phòng và trị một số bệnh sản khoa trên đàn lợn nái ngoại sinh sản nuôi tại trại sản xuất của Trung tâm phát triển chăn nuôi tỉnh Điện Biên.Áp dụng quy trình kỹ thuật trong phòng và trị một số bệnh sản khoa trên đàn lợn nái ngoại sinh sản nuôi tại trại sản xuất của Trung tâm phát triển chăn nuôi tỉnh Điện Biên.Áp dụng quy trình kỹ thuật trong phòng và trị một số bệnh sản khoa trên đàn lợn nái ngoại sinh sản nuôi tại trại sản xuất của Trung tâm phát triển chăn nuôi tỉnh Điện Biên.Áp dụng quy trình kỹ thuật trong phòng và trị một số bệnh sản khoa trên đàn lợn nái ngoại sinh sản nuôi tại trại sản xuất của Trung tâm phát triển chăn nuôi tỉnh Điện Biên.Áp dụng quy trình kỹ thuật trong phòng và trị một số bệnh sản khoa trên đàn lợn nái ngoại sinh sản nuôi tại trại sản xuất của Trung tâm phát triển chăn nuôi tỉnh Điện Biên.Áp dụng quy trình kỹ thuật trong phòng và trị một số bệnh sản khoa trên đàn lợn nái ngoại sinh sản nuôi tại trại sản xuất của Trung tâm phát triển chăn nuôi tỉnh Điện Biên.Áp dụng quy trình kỹ thuật trong phòng và trị một số bệnh sản khoa trên đàn lợn nái ngoại sinh sản nuôi tại trại sản xuất của Trung tâm phát triển chăn nuôi tỉnh Điện Biên.
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRIỂN CHĂN NUÔI TỈNH ĐIỆN BIÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học: 2013 – 2017
Thái Nguyên, 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRIỂN CHĂN NUÔI TỈNH ĐIỆN BIÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Thái Nguyên, 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lý thuyết, kiến thức trên sách vở chưa đủ để sinh viên khi tốt nghiệp ra trường có thể đi làm trong các công ty, nhà máy hay các trang trại, mà những kiến thức đó cần được vận dụng vào chính thực tiễn trong đời sống, sản xuất của xã hội Xuất phát từ lý do đó mà BGH nhà trường, cùng các thầy cô trong khoa CNTY đã tạo điều kiện cho sinh viên khoa CNTY nói chung và bản thân em nói riêng được tham gia học tập và rèn luyện kĩ năng tay nghề tại cơ sở thực tập
Để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này trước hết em xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã truyền đạt cho
em những kiến thức quý báu và bổ ích trong suốt những năm học vừa qua
Em xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo Th.S Nguyễn Mạnh Cường
đã luôn động viên, giúp đỡ và hướng dẫn chỉ bảo em tận tình trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học này
Em xin chân thành cảm ơn tới các cô ( chú), anh (chị ) ở trung tâm phát triển chăn nuôi tỉnh Điện Biên đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập, giúp em hoàn thành tốt công việc trong thời gian thực tập tại cơ sở
Để góp phần cho việc thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đạt kết quả tốt, tôi cũng đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ và động viên của gia đình và bạn bè Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Trong quá trình thực tập vì chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế, chỉ dựa vào kiến thức đã học cùng với thời gian hạn hẹp nên báo cáo không tránh khỏi sai sót
Kính mong được sự góp ý nhận xét của quý thầy cô để giúp cho kiến thức của tôi ngày càng hoàn thiện và có nhiều kinh nghiệm bổ ích cho công việc sau này
Em xin chân thành cảm ơn
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Thị Hạnh
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Lịch sát trùng trại lợn nái 37
Bảng 3.2: Lịch phòng bệnh của trại lợn nái 39
Bảng 4.1 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 47
Bảng 4.2 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại trong thời gian thực tập 48
Bảng 4.3: Kết quả điều trị cho đàn lợn tại trại 49
Bảng 4.4 Kết quả thực hiện phẫu thuật trên đàn lợn 51
Bảng 4.5 Kết quả thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn nái 52
Bảng 4.6 Tình hình chăn nuôi của trại năm 2016 và năm 2017 53
Bảng 4.7: Tình hình mắc bệnh sản khoa của đàn lợn nái nuôi tại trại 53
Bảng 4.8:Tình hình mắc bệnh sản khoa trên đàn lợn nái theo các tháng 54
Bảng 4.9: Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung, viêm vú, bại liệt sau đẻ tại cơ sở thực tập 55
Trang 5DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Cs : Cộng sự
HTNC : Huyết thanh ngựa chửa
MMA : Mastitis Metritis Agalactia - Hội chứng viêm vú,viêm tử
cung và mất sữa Nxb : Nhà xuất bản
PRRS : Porcine reproductive and respiratory syndrome - Hội
chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1.Điều kiện cơ sở thực tập 3
2.1.1 Vị trí địa lý 3
2.1.2 Cơ sở vật chất của trại 3
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại 4
2.1.4 Thuận lợi và khó khăn 5
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 5
2.2.1 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 5
2.2.2 Đại cương về cơ quan sinh dục gia súc cái 9
2.2.3 Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái 11
2.2.4 Một số bệnh sản khoa thường gặp ở lợn 13
2.2.5 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và nái nuôi con 23
2.2.6.Một số hiểu biết về thuốc phòng và trị bệnh sử dụng trong chuyên đề 27 2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 29
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 29
Trang 72.3.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 32
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THEO DÕI 34
3.1 Đối tượng và phạm vi theo dõi 34
3.2 Địa điểm và thời gian thực hiện 34
3.3 Nội dung thực hiện và các chỉ tiêu theo dõi 34
3.3.1 Nội dung thực hiện 34
3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi 34
3.4 Phương pháp thực hiện 34
3.4.1 Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại 34
3.4.2 Phương pháp xử lý số liệu 35
3.4.3 Phương pháp xác định tình hình mắc bệnh cho đàn lợn nái nuôi tại trại 35
3.4.4 Phương pháp áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại 35
3.4.5.Công ta ́c chẩn đoán và điều tri ̣ bê ̣nh 41
3.4.6.Các công tác khác 45
PHẦN 4 KẾT QUẢ THEO DÕI VÀ THỰC HIỆN 47
4.1 Kết quả thực hiện quy trình phòng, trị bệnh cho đàn lợn tại trại 47
4.1.1 Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại 47
4.1.2 Kết quả phòng, trị bệnh cho đàn lợn tại trại bằng thuốc và vaccine 48
4.2 Kết quả thực hiện biện pháp phẫu thuật trên đàn lợn tại trại 51
4.3 Kết quả thực hiện quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc đàn lợn nái 51
4.4 Kết quả theo dõi tình hình mắc bệnh sản khoa trên đàn lợn nái tại trại 52
4.4.1 Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại 52
4.4.2 Tình hình mắc bệnh sản khoa trên lợn nái tại cơ sở thực tập 53
4.4.3 Tình hình mắc bệnh sản khoa trên lợn nái theo tháng tại cơ sở trong thời gian thực tập 54
4.4.4 Kết quả điều trị bệnh sản khoa của lợn nái tại cơ sở thực tập 55
Trang 8Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57
5.1 Kết luận 57
5.2 Đề nghị 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
I Tài liệu tiếng Việt 61
II Tài liệu tiếng Anh 63
PHỤ LỤC
Trang 9Tuy nhiên một trong những trở ngại lớn nhất của chăn nuôi lợn nái sinh sản,
là dịch bệnh còn xảy ra phổ biến gây nhiều thiệt hại cho đàn lợn nái nuôi trong các trang trại, cũng như nuôi nhỏ lẻ tại các hộ gia đình Đối với lợn nái, nhất là lợn ngoại được chăn nuôi theo phương thức công nghiệp tỷ lệ mắc bệnh sinh sản ngày càng nhiều hơn, do khả năng thích nghi của đàn lợn nái với điều kiện ngoại cảnh nước ta còn kém Mặt khác trong quá trình sinh đẻ, lợn nái dễ bị nhiễm các vi khuẩn
như Streptococcus, E.coli… xâm nhập và gây nhiễm trùng Đặc biệt là bệnh viêm tử
cung đây là loại bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của lợn mẹ Bệnh tuy không xảy ra ồ ạt nhưng gây thiệt hại nghiêm trọng cho lợn nái: gây chết thai, lưu thai, sẩy thai… nghiêm trọng hơn, bệnh vẫn âm thầm làm hạn chế khả năng sinh sản của đàn lợn nái ở các lứa tiếp theo, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của toàn ngành chăn nuôi lợn Với mục đích góp phần nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái ngoại tại trại sản xuất và chuyển giao khoa học kỹ thuật của
Trang 10Trung tâm phát triển chăn nuôi tỉnh Điện Biên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
chuyên đề: “Áp dụng quy trình kỹ thuật trong phòng và trị một số bệnh sản khoa
trên đàn lợn nái ngoại sinh sản nuôi tại trại sản xuất của Trung tâm phát triển chăn nuôi tỉnh Điện Biên”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục tiêu
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại cơ sở
-Xác định được quy trình phòng, trị bệnh sản khoa trên đàn lợn nái tại trại
- Xác định được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái nuôi tại trại
1.2.2 Yêu cầu
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại cơ sở
- Nắm vững quy trình phòng, trị bệnh sản khoa trên đàn lợn nái nuôi tại cơ sở
- Nắm vững quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc đàn lợn nái tại cơ sở
- Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở
- Chăm chỉ, học hỏi để nâng cao kỹ thuật, tay nghề của cá nhân
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1.Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1 Vị trí địa lý
Trại sản xuất và chuyển giao khoa học kỹ thuật là trang trại của Trung tâm phát triển chăn nuôi tỉnh Điện Biên, trang trại được thành lập từ năm 2002 với tổng diện tích khoảng 10 ha, trong đó khoảng 3000 m2 là khu chăn nuôi lợn, 2400 m2 là khu chăn nuôi bò, 1000 m2
là khu hành chính, ao hồ còn lại là đất trồng nông nghiệp: cỏ voi, lúa, ngô, mía Trang trại nằm trải dài theo đường 12m của xã Thanh Yên, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, cách biệt với khu vực dân cư
Xã Thanh yên là một xã thuộc vùng lòng chảo của tỉnh Điện Biên, với diện tích đất tự nhiên là 19,89 km2,phía Bắc giáp hai huyện Mường Chà và Mường Ảng; phía Nam và Tây giáp Lào, phía Đông giáp huyện Điện Biên Đông và tỉnh Sơn La
Huyện Điện Biên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh,
ít mưa; mùa hạ nóng, mưa nhiều, ít chịu ảnh hưởng của bão, chịu ảnh hưởng của gió Lào khô và nóng Nhiệt độ trung bình khoảng 22,60C Lượng mưa trung bình khoảng 1.500 mm, độ ẩm trung bình 84 - 85%; số giờ nắng 1.900 - 2.000 giờ/năm
2.1.2 Cơ sở vật chất của trại
* Về cơ sở vật chất trong chuồng trại đã được trung tâm chú trọng và đầu tư
- Có hệ thống quạt gió, dàn mát, điện sáng, vòi uống nước tự động cho lợn
- Có hệ thống đèn điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông
- Ngoài ra trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện cho
cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi những khi mất điện
Trang 12
*Về cơ sở hạ tầng:
+ Trại xây dựng gồm 3 khu tách biệt : khu hành chính và nhà ở của công nhân,nằm hai bên sâu vào trong là khu trại lợn và khu trại bò, bao quanh là cây nông nghiệp
+ Khu hành chính gói gọn trong một căn nhà sàn rộng với các phòng ban: phòng phó giám đốc, phòng kế toán và phòng giành cho nhân viên kỹ thuật, bên dưới là phòng tắm và phòng vệ sinh
+ Khu nhà ở cho công nhân rộng rãi, thoáng mát, có nhà vệ sinh và phòng tắm riêng
+ Trại có một nhà kho là nơi chứa thức ăn cho gia súc và tủ thuốc nơi cất giữ
và bảo quản các loại thuốc, vắc xin, dụng cụ kỹ thuật để phục vụ công tác chăm sóc, điều trị cho đàn lợn của trại
Các chuồng nuôi đều được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng và hệ thống vòi uống nước tự động ở mỗi ô chuồng Mùa hè có hệ thống làm mát bằng quạt thông gió và dàn mát Mùa đông có hệ thống làm ấm bằng đèn hồng ngoại
Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được lọc qua bể lọc vào tét nước lớn ở đầu dãy chuồng Nước tắm, nước xả gầm, nước phục vụ cho công tác khác được bơm trực tiếp từ dưới giếng lên
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu tổ chức của trại sản xuất lợn bao gồm:
01 kỹ thuật chính làm tại trại
01 công nhân
01 sinh viên thực tập
Trang 132.1.4 Thuận lợi và khó khăn
2.1.4.1 Thuận lợi
Trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi đảm bảo không gây ồn cho dân cư ở xung quanh, hạn chế bị ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi được đem bán cho các hộ dân nuôi cá, trồng trọt, còn lại được tận dụng vào việc trồng trọt và sản xuất khí biogas tại trại Ngoài ra, trại chạy dài theo đường 12m là con đường lớn liên thông với các tuyến đường giao thông trong tỉnh nên thuận tiện cho việc vận chuyển gia súc
Trại luôn được các kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững vàng của Trung tâm vào kiểm tra, thăm hỏi thường xuyên Các công nhân tại trại luôn làm việc với tinh thần tự giác, ý thức, chăm chỉ
Ngoài ra, trại có con giống tốt, thức ăn và thuốc có chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trại
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề
2.2.1 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi
- Phòng bệnh bằng vệ sinh va ̀ chăm sóc nuôi dưỡng tốt:
Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2004) [24], bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nhiều nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không
Trang 14truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn
Theo Lê Văn Tạo và cs (1993) [32], vi khuẩn E.coli gây bệnh ở lợn là vi
khuẩn tồn tại tron g môi trường , đường tiêu hoá của vật chủ Khi môi trường quá ô nhiễm do vê ̣sinh chuồng trại kém , nước uống thức ăn bi ̣nhiễm vi khuẩn , điều kiện
ngoại cảnh thay đổi , lợn giảm sức đề kháng dễ bi ̣cảm nhiễm E coli, bệnh sẽ nổ ra
vì vậy mà khâu vê ̣sinh , chăm sóc có một ý nghĩa to lớn trong phòng bệnh Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều rất cần thiết , chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh , có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phải được vê ̣sinh tiêu độc trước khi vào đẻ Nhiệt độ trong chuồng phải đảm bảo 27 - 300
C đối với lợn sơ sinh và 28 - 300
C với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo , không thấm ướt Việc giữ gìn ch uồng trại sạch sẽ kín, ấm áp vào mùa đông và đầu xuân , nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng, mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [25], từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ, ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như Crezin 5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ
- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi:
Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, để khô sau đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và để trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần phải vệ sinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng và phun theo hướng dẫn khi chống
Trang 15dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô
và dọn, rửa Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học, chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phun sát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi
Phòng bệnh bằng vắc xin là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, (2012) [10] vắc xin là một chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, AND…) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc xin thế hệ mới - vắc xin công nghệ gen) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng
Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch
+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng
+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền
Trang 16+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa
+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa
Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, (2012) [10] các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:
+ Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu, phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh
+ Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)
+ Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị,vì nếu một loại thuốc chưa có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn
+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh
có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng, do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh.Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:
Trang 17- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn
- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng
- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh
- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị
và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc
- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…
2.2.2 Đại cương về cơ quan sinh dục gia súc cái
Cơ quan sinh dục của lợn nái bao gồm:
- Bộ phận sinh dục ngoài gồm:
+ Âm môn: Hay còn gọi là âm hộ (vuhvae) nằm dưới hậu môn Phía ngoài
âm môn có hai môi (labia pudenda) Hai môi được nối với nhau bằng hai mép (rima
vulae) Trên hai môi của mỗi âm môn có sắc tố màu đen và có nhiều tuyến tiết (như
tuyến tiết chất nhờn trắng và tuyến mồ hôi)
+ Âm vật (clitoris): Âm vật nằm ở phía dưới hai mép của âm môn, giống như
dương vật của con đực được thu nhỏ lại Về cấu tạo, âm vật cũng có các thể hồng như con đực
+ Tiền đình (vestibulum): Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo
Trong tiền đình có dấu vết màng trinh, phía trong là âm đạo, phía ngoài có lỗ niệu đạo Màng trinh có các sợi cơ đàn hồi giữa và do hai lá niêm mạc gập thành một nếp Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật, chúng
có chức năng tiết dịch nhầy, (Nguyễn Mạnh Hà và cs, 2003) [9]
- Bộ phận sinh dục bên trong:
+ Âm đạo: Âm đạo có chức năng chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối, đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ là ống thải các chất
Trang 18dịch từ tử cung Âm đạo có cấu tạo như một ống cơ có thành dày, phía trước âm đạo
là cổ tử cung, phía sau là tiền đình, có màng trinh che lỗ âm đạo, âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp: lớp liên kết ở ngoài, lớp cơ trơn ở giữa và lớp niêm mạc ở trong Trên bề mặt niêm mạc có nhiều thượng bì gấp nếp dọc Âm đạo của lợn dài 10 - 12 cm
+ Tử cung (dạ con): Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và niệu đạo trong xoang chậu, hai sừng tử cung nằm ở trước xoang chậu, tử cung được giữ tại chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung và được giữ bởi các dây chằng Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép Gồm hai sừng thông với 1 thân và cổ tử cung
Sừng tử cung: Dài 50 - 100 cm, hình ruột non thông với ống dẫn trứng Thân tử cung: Dài 3 - 5 cm
Cổ tử cung: Dài 10 - 18 cm, có thành dày hình trụ, có các thớ cơ xếp theo kiểu cài răng lược thông với âm đạo
Vách tử cung gồm 3 lớp từ ngoài vào trong: Lớp tương mạc, lớp cơ trơn và lớp nội mạc
+ Buồng trứng: Buồng trứng nằm trong xoang chậu, gồm một cặp, thực hiện
cả hai chức năng: ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết (sản sinh hormon sinh dục cái) Buồng trứng được hình thành trong giai đoạn phôi thai, hình dáng và kích thước của buồng trứng biến đổi theo giai đoạn của chu kỳ sinh dục và chịu ảnh hưởng của tuổi, đặc điểm cá thể, chế độ dinh dưỡng…
Buồng trứng được bao bọc từ phía ngoài bởi một lớp màng liên kết sợi Phía trong buồng trứng được chia thành hai miền là miền vỏ và miền tủy Miền vỏ đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng
+ Ống dẫn trứng: Ống dẫn trứng gồm có phễu phần rộng và phần eo Phễu
mở ra để tiếp nhận noãn và có những sợi lông nhung để gia tăng diện tích tiếp xúc với buồng trứng khi xuất noãn Phễu tiếp nối với phần rộng Phần rộng chiếm 1/2 chiều dài của ống dẫn trứng, đường kính tương đối lớn và mặt trong có nhiều nếp gấp với tế bào biểu mô có lông nhỏ Phần eo tiếp nối với sừng tử cung, nó có thành dầy hơn phần rộng và ít gấp nếp hơn Vai trò cơ bản của ống dẫn trứng là vận
Trang 19chuyển noãn và tinh trùng đến nơi thụ tinh của ống dẫn trứng (1/3 phía trên của ống dẫn trứng) tiết ra các chất để nuôi dưỡng noãn duy trì sự sống và gia tăng khả năng thụ tinh của tinh trùng, tiết các chất nuôi dưỡng phôi trong mấy ngày trước khi phôi
đi vào tử cung, nơi tiếp giáp giữa phần eo và tử cung có vai trò điều khiển sự di chuyển của tinh trùng đến phần rộng của ống dẫn trứng hoặc di chuyển của phôi vào tử cung
2.2.3 Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái
Sinh lý sinh dục của gia súc nói chung và loài lợn nói riêng đặc trưng cho loài, có tính ổn định với từng giống của vật nuôi Nó được duy trì qua các thế hệ và luôn củng cố và hoàn thiện qua quá trình chọn lọc để đánh giá đặc điểm sinh lý sinh dục của của lợn nái người ta thường tập trung nghiên cứu theo dõi các chỉ tiêu sau đây: tuổi động dục lần đầu, chu kỳ động dục, thời gian động dục, tuổi phối giống lần đầu, tuổi đẻ lứa đầu, thời gian động dục trở lại
- Tuổi động dục lần đầu: Là tuổi khi lợn nái hậu bị lần đầu tiên động dục
Các giống lợn có tuổi động dục lần đầu khác nhau
Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [6], tuổi động dục lần đầu ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng, khi khối lượng đạt từ 20 - 25 kg; ở lợn nái là F1 lúc 6 tháng tuổi, đạt 50 - 55 kg Lợn ngoại động dục muộn hơn (6 - 7 tháng) khi đạt 65- 80 kg
Tuổi động dục lần đầu phụ thuộc vào mùa vụ Lợn cái hậu bị sinh vào mùa thu
sẽ động dục sớm hơn so với sinh vào mùa xuân (Nguyễn Tuấn Anh và cs, 1998) [1] Theo Lê Xuân Thọ và cs (1979) [31], đối với lợn nái hậu bị và lợn nái sau cai sữa chậm động dục, tiêm HTNC có thể gây động dục
- Tuổi phối giống lần đầu: Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [6] cho rằng,
không nên phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái lâu bền cần bỏ qua
1- 2 chu kỳ động dục rồi mới cho phối giống
Trang 20Lợn nội thường phối giống lần đầu lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi khối lượng đạt 40
- 50 kg, lợn lai lúc 8 tháng tuổi với khối lượng không dưới 65 - 70 kg, nái ngoại vào lúc 9 tháng tuổi
Nếu phối giống quá sớm sẽ ảnh hưởng đến tầm vóc và sức khỏe của lợn mẹ Nhưng nếu phối giống quá muộn sẽ lãng phí về kinh tế, ảnh hưởng đến sinh sản của lợn
-Tuổi đẻ lứa đầu: Lê Hồng Mận (2004) [19] cho biết, Lợn Ỉ, Móng Cái đẻ
lứa đầu vào 11 - 12 tháng tuổi, lợn nái lai, ngoại vào 12 tháng tuổi
- Chu kỳ động dục của lợn nái và động dục trở lại sau khi đẻ: Theo Nguyễn
Thiện và Nguyễn Tấn Anh, (1993) [30], chu kỳ tính của lợn nái thường diễn ra trong phạm vi 19 - 21 ngày Thời gian động dục thường kéo dài khoảng 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại), và được chia làm ba giai đoạn: giai đoạn trước khi chịu đực (bắt đầu), giai đoạn chịu đực (phối giống), giai đoạn sau chịu đực (kết thúc)
Theo Lê Hồng Mận (2004) [17], thường sau khi cai sữa lợn con 3 - 5 ngày, lợn mẹ động dục trở lại
- Đặc điểm động dục của lợn nái: Ở lợn nái, thời gian động dục chia làm 3
giai đoạn: trước chịu đực, chịu đực và sau chịu đực
Trước chịu đực: Lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, không cho con khác nhảy lên lưng Sự rụng trứng xảy ra sau 35 - 40 giờ ở lợn ngoại và lợn lại, 25 - 30 giờ ở lợn nội
Chịu đực: Lợn kém ăn, mê ì, đứng yên khi ấn tay lên lưng mông, âm hộ giảm sưng, dịch nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên khi có đực đến gần và cho đực nhảy Giai đoạn này kéo dài 2 ngày ở lợn ngoại, 28 - 30 giờ ở lợn nội Nếu được phối giống lợn sẽ thụ thai
Sau chịu đực: Lợn nái trở lại bình thường, âm hộ giảm sưng, đuôi cụp, không cho con đực đến gần và nhảy lên lưng
- Thời điểm phối giống thích hợp: Đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho
phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục Đối với lợn nái nội, sớm hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 Nguyễn
Trang 21Hữu Ninh và cs (2002) [21] cho biết, thời điểm phối giống ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối muộn đều cho kết quả kém, nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu
- Mang thai: Thời gian mang thai của lợn trung bình là 114 ngày Thời gian
chửa của lợn nái được chia làm hai thời kỳ:
Chửa kỳ I: Là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu tiên
Chửa kỳ II: Là thời gian lợn chửa từ ngày chửa thứ 85 đến khi đẻ
- Năng suất sinh sản của lợn: Một lợn nái một năm trung bình có thể đẻ từ
1,8 - 2,2 lứa/ năm Tuy nhiên, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái thông qua các chỉ tiêu: số con sơ sinh, số con cai sữa, khối lượng lợn con sơ sinh và cai sữa, tỷ lệ nuôi sống, số lứa đẻ/năm
2.2.4 Một số bệnh sản khoa thường gặp ở lợn
Bệnh viêm tử cung
* Nguyên nhân bệnh viêm tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [8], viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái
Theo các tác g iả Nguyễn Xuân Bình (2000) [2], Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [14], Nguyễn Hữu Phước (1986) [23], bê ̣nh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:
- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được
vô trùng khi phối giống có thể gây viêm
- Lợn nái phối giống trực tiếp, bị viêm tử cung có thể do lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ
- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử
Trang 22cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát
- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung
- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm, Phó thương hàn, bệnh lao… gây viêm
- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻ không sạch sẽ, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm
Theo Đoàn Kim Dung và Lê Thi ̣ Tài (2002) [7], nguyên nhân gây viêm tử cung là do vi khuẩn tu ̣ cầu vàng (Staphylococcus aureus), Liên cầu dung huyết
(streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E.coli…
Lê Văn Năm và cs (1999) [20] cho rằng, có nhiều nguyên nhân gây bệnh từ ngoại cảnh như: do thức ăn nghèo dinh dưỡng, do can thiê ̣p đỡ đẻ bằng du ̣ng cu ̣ sản khoa sai kỹ thuâ ̣t , dẫn đến Muxin của ch ất nhày các cơ quan sinh dục bị phá hủy hoă ̣c kết tủa, kết hợp với viê ̣c chăm sóc nuôi dưỡng bất hợp lý và thiếu vâ ̣n đô ̣ng , đã làm chậm quá trình thu teo sinh lý của dạ con (trong điều kiê ̣n cai sữa bình thường
dạ con trở về khối lươ ̣ng kích thước ban đầu khoảng 3 tuần sau đẻ ) Đây là điều kiê ̣n tốt để vi khuẩn xâm nhâ ̣p vào tử cung gây bệnh Biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thờ i gian đô ̣ng đực (vì lúc đó tử c ung mở), và do thụ tinh nhân tạo sai kỹ thuật
* Hậu quả của bê ̣nh viêm tử cung
Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ, và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [8], Trần Thị Dân (2004) [4], khi lợn nái
bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:
- Dễ dẫn tới sảy thai: Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi
mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ
vậy phôi có thể bám chặt vào tử cung
Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết
nhiều Prostaglandin F 2α (PGF 2α ), PGF 2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng
Trang 23cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng Thể vàng bị phá
huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng Progesterone trong máu sẽ
giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai
- Bào thai phát triển kém hoặc thai chết lưu: Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển Khi lớp nội
mạc bị viêm cấp tính, lượng Progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch
của niêm mạc tử cung giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu
- Lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có mặt của vi
khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết kích thích tố tạo
sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc
- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại
Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF 2α giảm, do đó thể vàng vẫn tồn
tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra
LH, do đó ức chế sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không
thể động dục trở lại được và không thải trứng được
- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh
đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng
* Các thể viêm tử cung
Theo Đă ̣ng Đình Tín (1986) [26], Trần Tiến Dũng và cs (2002) [8], bê ̣nh viêm tử cung được chia làm 3 thể: viêm nô ̣i ma ̣c tử cung , viêm cơ tử cung và viêm tương mạc tử cung
Trang 24- Viêm nội mạc tử cung
Khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong những trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây xát, tổn thương, vi khuẩn xâm nhập và phát triển gây viêm nội mạc tử cung Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm, Phó thương hàn, bệnh Lao,… thường gây ra viêm nội mạc tử cung Căn cứ vào tính chất, trạng thái của quá trình bệnh lý, viêm nội mạc tử cung có thể chia ra làm hai loại: viêm nội mạc tử cung thể cata cấp có mủ và viêm nội mạc tử cung có màng giả
+ Viêm nội mạc tử cung cata cấp tính có mủ
Bệnh này xuất hiện trên tất cả các loài gia súc, gặp nhiều ở trâu, bò, lợn Sau khi sinh đẻ, niêm mạc cổ tử cung và âm đạo bị tổn thương, xây xát, nhiễm khuẩn, nhất là khi gia súc bị sát nhau, đẻ khó phải can thiệp
Khi bị bệnh, gia súc có biểu hiện một số triệu chứng chủ yếu: thân nhiệt hơi cao, ăn uống giảm, lượng sữa giảm Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, đôi khi cong lưng rặn tỏ vẻ không yên tĩnh Từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, những mảnh tổ chức chết,…
Khi con vật nằm, dịch viêm thải ra ngoài càng nhiều hơn Xung quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm, khi khô lại hình thành từng đám vẩy, màu trắng xám Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch viêm thải ra nhiều Cổ
tử cung hơi mở và có mủ chảy qua cổ tử cung Niêm mạc âm đạo bình thường (Nguyễn Tuấn Anh và Nguyễn Duy Hoan, 1998) [1]
+ Viêm nội mạc tử cung màng giả
Thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử Những vết thường đã ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử.Trường hợp này, con vật xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ: Thân nhiệt tăng cao, ăn uống và lượng sữa giảm, có khi hoàn toàn mất sữa Con vật biểu hiện trạng thái đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch; dịch viêm, máu, mủ, những mảnh tổ chức hoại tử và niêm dịch… (Nguyễn Tuấn Anh và Nguyễn Duy Hoan, 1998) [1]
Trang 25- Viêm cơ tử cung
Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đằng Phong (2000) [21], viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ
và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử Nếu bệnh nặng, can thiệp chậm có thể dẫn tới nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ Có khi
do lớp cơ và lớp tương mạc của tử cung bị phân giải mà tử cung bị thủng hoặc tử cung bị hoại tử từng đám to
Lợn nái bị bệnh này thường biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt tăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm hoặc mất hẳn Mép âm đạo tím thẫm, niêm mạc âm đạo khô, nóng màu đỏ thẫm Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu,
mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh, thối Con vật thường kế phát viêm vú, có khi viêm phúc mạc Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lần sau Có trường hợp điều trị khỏi nhưng gia súc vô sinh
- Viêm tương mạc tử cung
Viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ thể viêm cơ tử cung Bệnh này thường ở thể cấp tính, cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng
Lúc đầu, lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển màu đỏ sẫm, mất tính trơn bóng Sau đó, các tế bào bị phân hủy và bong ra, dịch thẩm xuất rỉ ra làm cho lớp tương mạc bị xù xì Trường hợp viêm nặng, nhất là thể viêm có mủ, lớp tương mạc ở một số vùng có thể dính với các tổ chức xung quanh, gây nên tình trạng viêm thể Parametritis và dẫn đến viêm phúc mạc, thân nhiệt tăng cao, mạch nhanh Con vật ủ rũ, uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn Con vật luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ
âm hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có mùi thối khắm Kiểm tra qua trực tràng thấy thành tử cung dày, cứng, hai sừng tử cung mất cân đối,
Trang 26kích thích con vật biểu hiện trạng thái đau đớn càng rõ và càng rặn mạnh hơn Thể viêm này thường dẫn đến kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ
* Chẩn đoán lâm sàng bê ̣nh viêm tử cung
Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động đực, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định, từ vài ml cho tới 200 ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu máu cá Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính, viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kì cho sữa Hiện tượng chảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung
Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có những mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợn nái còn có thể là
do viêm bàng quang có mủ gây ra
Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ chảy ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đực thì có thể bị nhầm lẫn
Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối Ngoài việc kiểm tra mủ nên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặt khác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho chính xác
Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm từ đó đưa ra phác
đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất
Bệnh viêm vú
* Nguyên nhân gây bệnh viêm vú
Trang 27Trần Minh Châu (1996) [3] cho biết, khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng
cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột
xâm nhập gây viêm vú Một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần thức ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập và gây viêm
Phạm Tiến Dân (1998) [5], nghiên cứu xác định vi khuẩn gây viêm vú ở lợn
nái sinh sản gồm: E.coli chiếm 18,2%, Staphylococcus chiếm 19%, Streptococcus chiếm 27,18%, Klebsiella chiếm 14,7%
+ Do kế phát từ một số bệnh: sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau đẻ, viêm bàng quang… khi lợn nái bị những bệnh này vi khuẩn theo máu về tuyến vú cư trú tại đây và gây bệnh
+ Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết hoặc lợn nái cho con bú một hàng
vú, hàng vú còn lại căng sữa Lợn con bú làm xây xát bầu vú hoặc lợn con bị bệnh không bú, sữa xuống nhiều bầu vú căng dễ dẫn đến viêm (Trương Lăng, 2000) [13]
+ Do quá trình chăm sóc nuôi dưỡng kém, chất độn chuồng và ổ đẻ bẩn, sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu vú, thời tiết quá ẩm kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn đến viêm
* Triệu chứng
Bình thường bệnh viêm vú xảy ra ngay sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 5 - 7 ngày có khi đến một tháng Theo Ngô Nhật Thắng (2006) [29], viêm vú thường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng, ấn vào lợn nái có phản ứng đau Lợn nái giảm
ăn, trường hợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42oC kéo dài trong suốt thời gian viêm, sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú Lợn con thiếu sữa kêu la chạy vòng quanh lợn mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy tọp, tỷ lệ chết cao 30 - 100% (Lê Hồng Mận, 2002) [19] Vắt sữa ở những vú bị
Trang 28viêm thấy sữa loãng, trong sữa có những cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện những mảnh cazein màu vàng, xanh lợn cợn, đôi khi có máu
* Hậu quả của bệnh viêm vú
Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa, từ đó sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ
Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [15], bệnh viêm tử cung
và viêm vú là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợn nái nuôi con Nguyễn Xuân Bình (2000) [2] cũng khẳng định: Mất sữa sau khi đẻ là do kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm cơ thể thường sốt cao liên tục
2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồi chức năng tiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo
Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa có nhiều chất độc, sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con bú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh và trọng lượng cai sữa thấp Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khó chữa, lợn nái có thể chết
Viêm vú kéo dài dẫn đến teo đầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa đẻ sau
Hiện tƣợng đẻ khó
Lợn đẻ mà thời gian sổ thai kéo dài nhưng thai vẫn không được đẩy ra ngoài Bệnh biểu hiện dưới nhiều hình thức, diễn biến khác nhau, không những gây tổn thương cho cơ quan sinh dục mà còn dẫn đến hiện tượng vô sinh, thậm chí cả lợn
mẹ và lợn con có thể chết
* Nguyên nhân
- Đẻ khó do nguyên nhân cơ thể mẹ: Khi chăm sóc, nuôi dưỡng không tốt, thức ăn không đầy đủ, chất dinh dưỡng thiếu so với nhu cầu của lợn mang thai dẫn đến cơ thể mẹ suy nhược, sức khỏe kém Trong quá trình đẻ, sức rặn đẻ của lợn yếu,
Trang 29thậm trí không rặn đẻ, cổ tử cung co bóp yếu nên không đẩy thai ra ngoài
Lợn ăn quá nhiều tinh bột, protein dẫn đến béo cũng gây ra đẻ khó Lợn quá gầy cũng dẫn đến đẻ khó
Do cấu tạo tổ chức các phần mềm như: Cổ tử cung, âm đạo giãn nở không bình thường có chỗ giãn quá mạnh, chỗ lại không giãn nên việc đẩy con ra ngoài gặp khó khăn
Khung xoang chậu bị biến dạng, khớp bán động háng phát triển không bình thường, vôi hóa cột sống hay xoang chậu hẹp Trong quá trình đẻ độ giãn nở kém, thai bị mắc trước cửa xoang chậu không ra đươc Khi quá trình rặn đẻ kéo dài, sức
co bóp lớn ép lợn con bị chết
Ở thời gian có thai kỳ cuối, thai quá to, lợn nái vận động mạnh, chèn ép tử cung làm tử cung bị xoắn vặn lại, tư thế tử cung thay đổi, đường sinh dục trở nên không bình thường cũng gây đẻ khó
Do rối loạn hormone tuyến sinh dục cái: Kích tố nhau thai Relaxin lúc đẻ tiết
ra ít nên không làm mất lớp canxi ở bán động háng, không giãn dây chằng xương
chậu (không sụt mông) hoặc Prostagladin tiết ít không đủ gây co bóp tử cung nên
không tống thai ra ngoài được
Đẻ khó do nguyên nhân bào thai: Chiều hướng, tư thế của thai lúc đẻ không bình thường Theo Nguyễn Huy Hoàng (1996) [12], các trường hợp lợn con nằm không đúng tư thế: Bốn chân lợn con hướng về xương sống lợn mẹ, lợn con nằm đưa vai ra trước, lợn con đầu ngước ra sau lưng, lợn con đầu quẹo sang một bên, lợn con đưa đầu và bốn chân ra một lượt, lợn con mõm ra trước, hai chân trước co xuống bụng, lợn con đầu cúp xuống ngực
Chế độ dinh dưỡng không phù hợp hoặc do quá ít thai, làm thai quá to không phù hợp với kích thước của xương chậu và đường sinh dục của lợn mẹ Thai bị dị hình hay quái thai
Đẻ khó do nguyên nhân bào thai thường chiếm 3/4, những nguyên nhân và loại hình đẻ khó có thể xảy ra đơn độc hoặc kết hợp lại với nhau như bào thai quá to
Trang 30mà xương chậu lại quá nhỏ, thai to cộng với tư thế thai không bình thường… khi rặn đẻ thai bị kẹt không ra được
* Triệu chứng
Lợn nái đến ngày đẻ, nước ối vỡ ra, trong nước ối có lẫn phân su nhưng không thấy thai ra Lợn nái có biểu hiện rặn nhiều lần, rặn mạnh, thậm chí lợn nái còn rặn căng bụng, cong lưng, chân đạp vào thành chuồng để rặn nhưng thai vẫn không ra Do thời gian rặn đẻ mạnh và kéo dài, mà thai vẫn không ra làm cho lợn nái mệt mỏi Nếu để lâu có thể dẫn đến hiện tượng thai bị ngạt mà chết Khi đưa tay vào đường sinh dục thấy khung xoang chậu hẹp, thai to hoặc ở tư thế không bình thường nằm kẹt ở trước cửa xoang chậu
Khi dùng biện pháp can thiệp không đúng cách, gây xây xát niêm mạc tử cung, hoặc dụng cụ thủ thuật không đảm bảo vệ sinh làm lợn bị nhiễm một số bệnh: viêm tử cung, viêm vú, sảy thai truyền nhiễm… khi đó, niêm mạc sẽ có những vết sẹo gây cản trở cho quá trình thụ thai, thai làm tổ… dẫn đến xảy thai, tiêu thai, đẻ non ở những lần sinh sản tiếp theo, thậm trí là vô sinh
* Cách can thiệp
Xác định nguyên nhân đẻ khó để đề ra biện pháp can thiệp thích hợp
- Do khô đường sinh dục: Dùng vaseline, nước xà phòng ấm đặc bôi trơn âm đạo
- Do hẹp âm môn: Giải phẫu mở rộng âm môn lôi thai ra
- Do rặn đẻ yếu: Tiêm B1, C, cafein trợ sức, đồng thời tiêm oxytoxin kích thích co bóp
Trang 31- Do vị trí, tư thế thai không thuận: Dùng tay đẩy thai vào trong, xoay thai đúng tư thế từ từ lôi thai ra theo nhịp rặn của lợn nái
Bệnh bại liệt sau đẻ
* Nguyên nhân:
Bệnh thường xuất hiện do thai quá to, tư thế chiều hướng của thai không bình thường hoặc do quá trình thủ thuật kéo dài làm cho lợn nái bị tổn thương thần kinh tọa làm ảnh hưởng tới đám rối hông khum
Một phần do điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc kém dẫn đến lợn mẹ gầy yếu gây bại liệt
*Triệu chứng:
Ban đầu lợn nái không có triệu chứng toàn thân, không thấy vết thương cục
bộ nhưng đi lại khó khăn hay nằm bẹp một chỗ Nếu bệnh kéo dài thì lợn mẹ không đứng dậy được rất có thể bị loét da do tiếp xúc với nền chuồng, nếu kéo dài 3 - 4 tuần lợn gầy dần rồi chết
*Hậu quả:
Làm cho lợn nái đi lại khó khăn hoặc mất đi khả năng vận động, nếu bệnh kéo dài có thể loét từng mảng da do tiếp xúc lâu với nền chuồng Bệnh có khả năng gây chết lợn
2.2.5.1 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái đẻ
Mục đích chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lợn đẻ an toàn, lợn con có
tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt, đủ khả năng tiết sữa nuôi con Chính vì vậy quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng có vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe lợn mẹ và lợn con
- Quy trình nuôi dưỡng:
Trang 32Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [25] thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao,dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn
có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để
có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, đẻ trước 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức
ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú
mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn
ít thức ăn tinh (0,5kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc
ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột
mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái
- Quy trình chăm sóc:
Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Theo Trần Văn Phùng và cs, 2004 [25] cần phải theo dõi thường xuyên sức khỏe lợn mẹ, quan sát bầu vú, thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện các trường hợp bất thường
để có biện pháp xử lý kịp thời Trước khi lợn đẻ 10 - 15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy
đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Trước khi đẻ 1 tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch
Trang 33sẽ cho lợn nái,chúng ta chuyển nhẹ nhàng từ chuồng chửa sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới
Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó
là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [25] ô
úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ô úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con Vào ngày dự kiến đẻ của lợn nái, cần chuẩn bị xong ô úm cho lợn con Kích thước ô úm: 1,2m x 1,5m Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống từ 3 - 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh
2.2.5.2 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc nái nuôi con
- Quá trình nuôi dƣỡng:
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [25] thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ, cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn bổ sung đạm động, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn quy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal, Protein 15%, Ca từ 0,9 - 1,0%, Phospho 0,7%
Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trưc tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì vậy
ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [25], trong quá trình nuôi con lợn nái ngoại được cho
ăn như sau:
Trang 34+ Ngày cắn ổ đẻ: Cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do
+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ 1 -
+ Số bữa ăn trên ngày : 2 (sáng và chiều)
+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ngày
+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2 kg rau xanh/ ngày sau bữa ăn tinh (nếu có rau xanh)
+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30% + Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước
Ngoài ra yêu cầu đối với chuồng trại của lợn nái nuôi con là phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không ẩm ướt, vì vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [25], chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 - 200C, độ ẩm 70 - 75%
Trang 352.2.6.Một số hiểu biết về thuốc phòng và trị bệnh sử dụng trong chuyên đề
Tá dược, dung môi đặc biệt vừa đủ 100 ml
Thuốc do công ty cổ phần thuốc thú y Hanvet sản xuất Thuốc có thời gian đào thải lâu, do đó 2 mũi tiêm cách nhau 48 tiếng
Công dụng: đặc trị viêm vú, viêm tử cung, mất sữa
Dùng cho trâu bò, lợn, chó, mèo trong các bệnh sau:
+ Bệnh đường hô hấp: viêm phổi, viêm phổi dính sườn, hen suyễn
+ Bệnh đường tiêu hóa: tiêu chảy, bỏ ăn không rõ nguyên nhân, bệnh thương hàn + Bệnh đường sinh dục - tiết niệu: viêm vú mất sữa, viêm tử cung (hội chứng MMA)
Và các loại vi khuẩn nhạy cảm với Amoxicillin và Gentamycin
Cách dùng:
Tiêm bắp 3 - 5 ngày
Trâu, bò: 1 ml/ 12 - 15 kg TT cơ thể, 2 ngày/lần
Lợn, bê, nghé: 1 ml/ 10 - 12 kg TT cơ thể, 2 ngày/lần
Cơ chế tác dụng của Amoxicillin:
Amoxicillin là kháng sinh thuộc nhóm - lactam nên có cơ chế tác dụng giống với các kháng sinh trong nhóm
Amoxicillin có tác dụng diệt khuẩn bằng cách ngăn ngừa sự tổng hợp vách tế bào vi khuẩn, phá vỡ tình trạng nguyên vẹn của vách tế bào, nó gắn vào enzym ái penicillin tham gia vào giai đoạn cuối cùng trong tổng hợp vách tế bào vi khuẩn, làm cho sự tạo vách tế bào vi khuẩn không đầy đủ, không ổn định về tính thẩm thấu, tế bào vi khuẩn thường bị chết do sự tự phân hủy
Cơ chế tác dụng của Gentamycin:
Trang 36Gentamicin là một kháng sinh thuộc nhóm aminoglycoside, thường được dùng phối hợp với các kháng sinh khác (beta – lactam) để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn nặng toàn thân
Gentamicin có tác dụng diệt khuẩn bằng cách gắn vào tiểu đơn vị 30S làm cho trình tự sắp xếp các acid amin của vi khuẩn không đúng, tạo ra các protein không có hoạt tính làm vi khuẩn bị tiêu diệt
* Các thuốc khác:
- Anagin: Quy cách đóng lọ 20 ml Thuốc do công ty Thuốc Thú y Thủy Sản Minh Dũng sản xuất
Thành phần: Anagin: 250mg
Công dụng: Anagin có tác dụng giảm sốt, giảm đau, an thần, kháng viêm,
cảm cúm, cảm nắng, tăng sức kháng bệnh Đặc biệt khi phối với các kháng sinh làm tăng hiệu quả điều trị
- Oxytocin: Quy cách ống 2 ml Thuốc do công ty trách nhiệm hữu hạn dược Hanvet sản xuất
Thành phần: Oxytocin: 20UI; tá dược vừa đủ 2ml
Công dụng: Tăng co bóp tử cung khi đẻ, chống sót nhau, kích thích tiết sữa
Cách dùng và liều dùng: Tiêm bắp thịt, tiêm dưới da hoặc tiêm chậm vào tĩnh mạch
Sinh sản: Trâu cái, bò cái: 3 -5 ml/con, heo nái: 2 - 4 ml/con, cừu cái, dê cái:
1 -2 ml/con, chó cái, mèo cái: 0,5 - 1 ml/con
Kích thích tiết sữa: Trâu cái, bò cái: 3ml/con; lợn nái: 2 ml/con; cừu cái, dê cái: 1 ml/con; chó cái, mèo cái: 1 ml/con
Cơ chế tác dụng của oxytocin:
Oxytocin tác dụng gây co bóp cơ trơn tử cung có tác dụng đẩy thai ra ngoài trong quá trình đẻ
Một tác dụng khác không kém phần quan trọng của oxytocin là kích thích bài tiết sữa