1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản nuôi tại trại Nguyễn Thanh Lịch huyện Ba Vì thành phố Hà Nội (Khóa luận tốt nghiệp)

63 184 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản nuôi tại trại Nguyễn Thanh Lịch huyện Ba Vì thành phố Hà Nội.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản nuôi tại trại Nguyễn Thanh Lịch huyện Ba Vì thành phố Hà Nội.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản nuôi tại trại Nguyễn Thanh Lịch huyện Ba Vì thành phố Hà Nội.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản nuôi tại trại Nguyễn Thanh Lịch huyện Ba Vì thành phố Hà Nội.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản nuôi tại trại Nguyễn Thanh Lịch huyện Ba Vì thành phố Hà Nội.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản nuôi tại trại Nguyễn Thanh Lịch huyện Ba Vì thành phố Hà Nội.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản nuôi tại trại Nguyễn Thanh Lịch huyện Ba Vì thành phố Hà Nội.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản nuôi tại trại Nguyễn Thanh Lịch huyện Ba Vì thành phố Hà Nội.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản nuôi tại trại Nguyễn Thanh Lịch huyện Ba Vì thành phố Hà Nội.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản nuôi tại trại Nguyễn Thanh Lịch huyện Ba Vì thành phố Hà Nội.

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Thú y

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Từ Trung Kiên

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Qua một thời gian học tập rèn luyện tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại cơ sở em đã luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy, cô giáo và bạn bè Đến nay em đã hoàn thành chương trình học và thực tập tốt nghiệp

Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám Hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập tại trường

Đặc biệt em xin cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của thầy giáo PGS.TS.Từ Trung Kiên người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt thời gian

thực tập, giúp em hoàn thành bản khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn chú Nguyễn Thanh Lịch – chủ trang trại chăn nuôi lợn, xã Ba Trại, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội đã cho phép, tạo điều kiện và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tại trại

Qua đây, em cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, người thân

và bạn bè đã giúp đỡ và động viên em trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017

Sinh viên

Nguyễn Thành An

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Cơ cấu đàn lợn nái tại cơ sở qua 3 năm (2015 – 5/2017) 6

Bảng 2.2 Những biểu hiện khi lợn sắp đẻ 20

Bảng 4.1 Kết quả sản xuất của đàn lợn nái nuôi tại cơ sở 36

Bảng 4.2 Định mức ăn cho đàn lợn tại trại 32

Bảng 4.3 Thời gian chửa trung bình của đàn lợn nái tại cơ sở 37

Bảng 4.4 Số lƣợng lợn nái, lợn con trực tiếp chăm sóc nuôi dƣỡng 37

Bảng 4.5 Tỷ lệ lợn nái đẻ phải can thiệp tại cơ sở 38

Bảng 4.6 Số lợn con sơ sinh/ổ và tỷ lệ sống sau 24 h tại cơ sở 40

Bảng 4.7 Số lợn con cai sữa/ổ và tỷ lệ sống đến cai sữa của lợn con tại cơ sở 41

Bảng 4.8 Lịch vê ̣ sinh phòng bê ̣nh ta ̣i cơ sở 34

Bảng 4.9 Lịch phòng vaccine của trại 35

Bảng 4.10 Kết quả điều tri ̣ bê ̣nh trên đàn lợn nái sinh sản và lợn con tại tra ̣i 47

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 1

1.2.1 Mục đích 1

1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện của cơ sở 3

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của cơ sở 4

2.1.3 Cơ sở vật chất của trại 4

2.2 Tổng quan tài liệu 6

2.2.1 Một số đặc điểm về sinh lý, sinh dục của lợn nái 6

2.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái 12

2.2.3 Chỉ tiêu chất lượng của đàn con 14

2.2.4 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản giai đoạn chửa, đẻ, nuôi con 15

2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 22

2.3.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 22

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 24

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 26

3.1 Đối tượng 26

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 26

3.3 Nội dung tiến hành 26

Trang 6

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 26

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 26

3.4.2 Phương pháp theo dõi 26

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 27

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36

4.1 Tình hình chăn nuôi tại trại 36

4.2 Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản 36

4.2.1 Thực hiện quy trình chăm sóc lợn nái 30

4.2.2 Kết quả thực hiện công tác chăm sóc lợn con tại cơ sở Error! Bookmark not defined 4.2 Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại cơ sở 38

4.3 Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con 40

4.4 Kết quả thực hiện các biện pháp vệ sinh phòng bệnh cho lợn nái sinh sản tại cơ sở Error! Bookmark not defined 4.4.1 Thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh 33

4.4.2 Công tác tiêm vaccine phòng bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con 35

4.5 Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh 42

4.5.1 Hội chứng tiêu chảy lợn con 42

4.5.2 Bệnh phân trắng lợn con 43

4.5.3 Bệnh viêm phổi 43

4.5.4 Bệnh viêm tử cung 44

4.5.5 Bệnh viêm vú 45

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 48

5.1 Kết luận 48

5.2 Đề nghị 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50 PHỤ LỤC

Trang 8

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng trong ngành nông nghiệp của Việt Nam Lợn được xếp đứng ở vị trí hàng đầu trong số các vật nuôi, cung cấp phần lớn thực phẩm cho nhân dân và phân bón cho sản xuất nông nghiệp Ngày nay chăn nuôi lợn còn có tầm quan trọng đặc biệt nữa là tăng kim ngạch xuất khẩu, đây cũng là một trong những nguồn đem lại thu nhập ngoại tệ đáng kể cho nền kinh tế quốc dân

Tuy có rất nhiều thuận lợi nhưng ngành chăn nuôi lợn ở nước ta hiện nay vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn, nhất là trong tình hình đất nước ta gia nhập hiệp định TPP (Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương) thì càng yêu cầu ngành chăn nuôi trong nước phải có bước phát triển mạnh Ngoài việc cung cấp nhu cầu hằng ngày là thực phẩm, người chăn nuôi chúng

ta phải cạnh tranh với các nước trên thế giới nhất là khi ngành chăn nuôi của chúng ta còn lạc hậu chưa phát triển

Đứng trước yêu cầu đó, ngành chăn nuôi nói chung cũng như ngành chăn nuôi lợn nói riêng phải có một bước phát triển mới để sánh kịp với các nước khác trên thế giới Đặc biệt hiện nay tình hình chăn nuôi lợn gặp rất nhiều khó khăn nhất là về chăm sóc và nuôi dưỡng trong những điều kiê ̣n khắt khe

Trước thực tế đó em thực hiện đề tài: “Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi

dưỡng lợn nái sinh sản nuôi tại trại Nguyễn Thanh Li ̣ch , huyện Ba Vì , thành phố Hà Nội”

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích

- Nắm được tình hình chăn nuôi tại trại Nguyễn Thanh Lịch Ba Vì Hà Nội

- Nắm được quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản

Trang 9

- Nắm đƣợc các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần ăn và cách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại Nguyễn Thanh Lịch Ba Vì Hà Nội

- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dƣỡng cho đàn lợn nái nuôi tại cơ sở

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện của cơ sở

* Vị trí địa lý

Trang tra ̣i chăn nuôi Nguyễn Thanh Li ̣ch nằm trên đi ̣a bàn xã Ba Tra ̣i , huyê ̣n Ba Vì, thành phố Hà Nội nằm dưới chân phía bắc núi Ba Vì Phía đông giáp xã Tản Lĩnh, phía bắc giáp xã Cẩm Lĩnh, phía tây giáp xã Thuần Mỹ

* Đặc điểm khí hậu

Trại lợn Nguyễn Thanh Lịch chịu sự ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu

miền Bắc, bị chi phối bởi các yếu tố vĩ độ Bắc, cơ chế gió mùa Sự phối hợp giữa cơ chế gió mùa và vĩ độ tạo nên khí hậu nhiệt đới ẩm, có sự khác biệt rõ rệt giữa mùa nóng và mùa lạnh nên có thể phân ra làm 4 mùa Mùa đông lạnh, hanh khô có kèm theo gió mùa, mưa ít Mùa hè nóng, mưa nhiều Giữa hai mùa đó lại có hai thời kỳ chuyển tiếp (tháng 4 và tháng 10), còn được gọi là mùa xuân và mùa thu Đó là một trong những yếu tố khách quan tác động đến quá trình sinh trưởng, phát triển của vật nuôi và phẩm chất của nông sản

Trang 11

từng đợt Trong khoảng tháng 9 đến tháng 11, có những ngày thu với tiết trời mát mẻ và sẽ đón từ hai đến ba đợt không khí lạnh yếu tràn về

Độ ẩm:

Độ ẩm không khí trung bình năm là 86,1% Vùng thấp thường khô hanh vào tháng 12 và tháng 1

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của cơ sở

Cơ cấu tổ chức của trại như sau:

- Chủ trại: 01 ngườ i

- Quản lý trại: 01 ngườ i

- Kỹ thuật trại: 02 ngườ i

- Tổ trưởng: 02 ngườ i

- Công nhân: 05 ngườ i

- Sinh viên thực tập:16 ngườ i

- Nấu ăn: 01 ngườ i

Với đội ngũ trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau gồm tổ chuồng nái đẻ,

tổ chuồng nái chửa, tổ chuồng cách ly (dãy chuồng dùng để nhốt và cách ly lợn nái hậu bị giống mới được chuyển từ tra ̣i khác về) Mỗi tổ thực hiện công việc chuyên biệt một cách nghiêm túc và đúng quy định của trang trại

2.1.3 Cơ sở vật chất của trại

- Trại lợn Nguyễn Thanh Lịch được xây dựng trên diện tích đất 2 ha, trong đó kết hợp trồng mô ̣t số loa ̣i cây cảnh và cây lấy gỗ xung quanh tra ̣i như cây si, cây keo

- Ưu điểm: Trại có vị trí thuận lợi cho việc vận chuyển các sản phẩm từ trại đi tiêu thụ, cũng như vận chuyển thức ăn vào trại , nằm sâu bên trong mô ̣t quả đồi cách xa nhà dân, xa các nơi sinh hoạt xã hội nên tránh được việc tiếp xúc với bên ngoài, giảm thiểu được dịch bệnh lây lan từ ngoài vào cũng như

từ trong trại ra bên ngoài

Trang 12

Trại được xây dựng theo hướng Đông Nam nên đón được nắng buổi sáng, tránh được nắng buổi chiều, trại nằm ở sườn đồi nên việc thoát nước rất

dễ dàng, mùa mưa khô ráo không bị ngập nước phân Giữa phần dành cho lợn

mẹ và phần dành cho lợn con được ngăn cách bởi khung sắt, tránh lợn mẹ đè chết lợn con

Sàn chuồng cách biệt với mặt đất, có nhiều lỗ để thoát phân, thoát nước tiểu nên giữ được chuồng luôn khô ráo, sạch sẽ, tiết kiệm được diện tích Giữa phần cho lợn mẹ và lợn con có khung sắt chỉ cho lợn con qua lại nên giảm tỷ lệ lợn con bị mẹ đè Nhược điểm là làm cho d iện tích chuồng hẹp Nền chuồng hở nên việc che chắn gió gặp khó khăn

- Phòng pha tinh có các dụng cụ hiện đại như: Kính hiển vi, máy nâng nhiê ̣t đô ̣, nồi hấp cách thủy, và các dụng cụ khác

- Trong khu chăn nuôi đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu đều được đổ bê tông và có hố sát trùng

Đối với chuồng trại luôn đảm bảo quy trình:

+ Hạn chế người ngoài vào khu chăn nuôi

+ Thực hiê ̣n sát trùng các du ̣ng cu ̣ chăn nuôi đưa từ ngoài vào

+ Cổng khu chuồng ,trại có hố sát trùng

+ Rửa sạch và phun thuốc sát trùng

+ Lợn mới nhập về phải nuôi ở khu chuồng cách ly

Trang 13

Cơ cấu đàn lợn nái ta ̣i cơ sở qua 3 năm được thể hiê ̣n qua bảng 2.1:

Bảng 2.1 Cơ cấu đàn lợn nái tại cơ sở qua 3 năm (2015 – 5/2017)

Loại lợn

Số lượng lợn của các năm (con) Tỷ lệ tổng đàn

năm 5/2017 (%)

Đối với đực khai th ác cũng có xu hướng giảm nhẹ qua các năm từ 21 con năm 2015 giảm xuống 19 con năm 2016 rồi tiếp tu ̣c giảm xuống 18 con năm 2017 Số lượng đực hâ ̣u bi ̣ trong 2 năm 2015 và 2016 không có sự thay đổi với số lượng là 4 con nhưng đến n ăm 2017 số lượng đực hâ ̣u bi ̣ đã tăng lên 10 con

2.2 Tổng quan tài liệu

2.2.1 Một số đặc điểm về sinh lý, sinh dục của lợn nái

* Sự thành thục về tính

Gia súc phát triển đến một giai đoạn nhất định thì sẽ có biểu hiện về tính dục Con đực có khả năng sinh ra tinh trùng, con cái có khả năng sinh ra

Trang 14

tế bào trứng Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2005) [13] cho biết, thành thục

về tính là tuổi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Lúc này tất cả các bộ phận sinh dục như: Buồng trứng, tử cung, âm đạo đã phát triển hoàn thiện và có thể bắt đầu bước vào hoạt động sinh sản Đồng thời với sự phát triển hoàn thiện bên trong thì ở bên ngoài các bộ phận sinh dục phụ cũng xuất hiện và gia súc có phản xạ về tính hay xuất hiện hiện tượng động dục Tuy nhiên, thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tính biệt và các điều kiện ngoại cảnh cũng như chăm sóc nuôi dưỡng

- Giống: Các giống lợn khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau Hầu hết các giống lợn nội thì thành thục sớm hơn các giống lợn ngoại, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn những giống có tầm vóc lớn Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [6], thì tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng, khi khối lượng đạt từ 20 - 25 kg

Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nội thuần, ở lợn lai F1 (có sẵn máu nội) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng cơ thể đạt 50 – 55 kg Lợn ngoại động dục muộn hơn từ 6 - 8 tháng khi đạt 65 - 80

kg Tùy theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà lợn có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4

- 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi), các giống lợn ngoại Yorkshire, Landrace muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi

- Điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng: Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn nái Lợn được nuôi dưỡng với khẩu phần thức ăn đầy đủ, phù hợp nhu cầu dinh dưỡng thành thục sinh dục sớm hơn so với lợn được nuôi dưỡng với khẩu phần thức ăn có giá trị dinh dưỡng thấp Lợn nái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình là 188,5 ngày (6 tháng tuổi) và nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi)

Trang 15

- Điều kiện ngoại cảnh: Khí hậu và nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính của gia súc Những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường thành thục về tính sớm hơn những giống lợn nuôi ở vùng

có khí hậu ôn đới và hàn đới

Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng tới sự thành thục của lợn nái hậu bị Nếu ta để một con đực đã thành thục về tính gần ô chuồng của những con nái hậu bị thì sẽ thúc đẩy nhanh sự thành thục về tính của chúng Theo McIntosh (1996) [20], nếu cho lợn nái hậu bị tiếp xúc với đực 2 lần/ngày, với thời gian 15 - 20 phút thì 83% lợn nái (ngoài 90 kg) động dục lúc 165 ngày tuổi

Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Theo Dwane và cs (2000) [7], mùa hè lợn nái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa Thu – Đông, điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng khối lượng thấp trong các tháng nóng bức Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân)

và 17 ngày (mùa thu) Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối còn làm chậm tuổi thành thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 12 giờ mỗi ngày

Tuy nhiên, một vấn đề cần lưu ý là tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc Vì vậy, để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường của lợn mẹ và đảm bảo những phẩm chất giống của thế hệ sau nên cho gia súc phối giống khi đã đạt một khối lượng nhất định tuỳ theo giống Ngược lại, cũng không nên cho gia súc phối giống quá muộn vì ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của một đời nái đồng thời ảnh hưởng tới thế hệ sau của chúng Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [6], cho rằng: Không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín

Trang 16

một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục lần đầu rồi mới cho phối giống

* Sự thành thục về thể vóc

Sự thành thục về thể vóc thường diễn ra chậm hơn sự thành thục về tính Sau một thời kỳ sinh trưởng và phát triển, đến một thời điểm nhất định con vật đạt tới độ trưởng thành về thể vóc Theo Nguyễn Đức Hùng và cs (2003) [8], tuổi thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc ổn định Đối với lợn nái nội thường phối giống lần đầu lúc 6 - 7 tháng tuổi khi khối lượng đạt 40 – 50 kg, đối với lợn nái ngoại lúc 8 – 9 tháng tuổi khi khối lượng đạt 115 – 120 kg thì mới nên cho phối giống

* Tuổi động dục lần đầu (TĐDLĐ)

Là khoảng thời gian từ khi sơ sinh đến khi lợn hậu bị có biểu hiện động dục đầu tiên Tuổi động dục lần đầu khác nhau tùy theo giống và chế độ chăm sóc TĐDLĐ được tính theo công thức:

TĐDLĐ = ngày động dục lần đầu - ngày sinh của lợn nái

Theo Phùng Thị Vân và cs (2001) [16] cho biết, chỉ tiêu này ở lợn Landrace là 219,4 ± 4,09 ngày

* Tuổi phối giống lần đầu (TPGLĐ)

Tuổi phối giống lần đầu của lợn nái hậu bị là một vấn đề cần được quan tâm Phải phối giống cho lợn nái hậu bị đúng thời điểm lợn đã thành thục về tính, có tầm vóc và sức khoẻ đạt yêu cầu, sẽ nâng cao được khả năng sinh sản của lợn nái và nâng cao được phẩm chất của đời sau Nếu phối giống quá sớm

sẽ ảnh hưởng đến tầm vóc và sức khoẻ của lợn mẹ Nhưng thực tế đã chứng minh rằng, nếu phối giống quá muộn sẽ lãng phí về kinh tế, ảnh hưởng đến sinh sản, phát dục của lợn cũng như hoạt động về tính của nó

Trang 17

* Chu kỳ động dục (ngày)

Động dục là một quá trình sinh lý, được bắt đầu khi cơ thể đã thành thục về tính, cứ sau một thời gian nhất định trong cơ thể nhất là cơ quan sinh dục của con cái có một số sự thay đổi như: Âm hộ, âm đạo, tử cung xung huyết, các tuyến sinh dục tăng cường hoạt động, trứng phát triển thành thục chín và rụng, niêm dịch trong đường sinh dục được phân tiết, con cái có phản

xạ về tính,… sự thay đổi đó xảy ra trong một thời gian lặp đi lặp lại có tính chu kỳ gọi là chu kỳ tính (chu kỳ động dục)

Sinh sản của gia súc là một tiêu chuẩn để xác định giá trị của con vật Khả năng sinh sản biểu hiện qua nhiều chỉ tiêu: Đẻ nhiều con, nhiều lứa, tỷ lệ nuôi sống sau đẻ, sau khi cai sữa, tỷ lệ còi cọc, tỷ lệ dị hình, khuyết tật Khả năng sinh sản cũng liên quan đến các chỉ tiêu sớm thành thục, thời gian mang thai, số lần thụ tinh đạt kết quả Sau khi gia súc được sinh ra đến một giai đoạn nào đó cơ thể có những biến đổi chuẩn bị cho việc sinh sản , thời kỳ này gọi là thành thục về tính Trong điều kiện bình thường, sự thành thục về tính xuất hiện lúc 6 - 7 tháng tuổi đối với lợn ngoại Tuổi thành thục về tính chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, thời gian chiếu sáng, chế độ dinh dưỡng, giống, tuổi gia súc

- Chu kỳ tính dục: Ở lợn, việc giao phối bị hạn chế trong khoảng thời gian chịu đực, trùng hợp với thời gian rụng trứng, vì vậy việc nghiên cứu chu

kỳ tính dục sẽ giúp cho chúng ta xác định được thời điểm phối giống thích hợp, nâng cao được năng suất sinh sản của con cái Trung bình ở lợn chu kỳ động đực: 19 – 20 ngày, thời gian chịu đực: 48 – 72 giờ, thời điểm rụng trứng: 35 – 45 giờ kể từ khi bắt đầu chịu đực Cho phối giống quá sớm hay quá muộn, đều ảnh hưởng xấu đến tỷ lệ thụ thai và số con sinh ra/ổ

- Cơ chế động dục: Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [12], cơ chế động dục của lợn nái: Khi lợn nái đến tuổi thành thục về tính dục, các kích

Trang 18

thích bên ngoài như ánh sáng, nhiệt độ, thức ăn, pheromone của con đực và các kích thích nội tiết đi theo dây thần kinh li tâm, đến vỏ đại não qua vùng dưới đồi (Hypothalamus) tiết ra kích tố FRF (Folliculin Releasing Factors), có tác dụng kích thích tuyến yên tiết ra FSH (Follicle-Stimulating Hormone), làm cho bao noãn phát dục nhanh chóng Trong quá trình bao noãn phát dục và thành thục, thượng bì bao noãn tiết ra oestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn, làm cho lợn nái có biểu hiện động dục ra bên ngoài Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2005) [13]: Chu kỳ động dục của gia súc được chia làm 4 giai đoạn:

+ Giai đoạn trước chịu đực: Bao noãn phát triển, các tế bào vách ống dẫn trứng tăng sinh Hệ thống mạch quản trong dạ con phát triển Các tuyến trong dạ con bắt đầu tiết dưới tác dụng của oestrogen Thay đổi của đường sinh dục: Tử cung, âm đạo, âm hộ bắt đầu xung huyết

+ Giai đoạn chịu đực: Bao noãn phát triển mạnh nổi lên bề mặt buồng trứng Bao noãn tiết nhiều oestrogen và đạt cực đại Các thay đổi ở đường sinh dục cái càng sâu sắc hơn, để chuẩn bị đón trứng Biểu hiện của con vật: Hưng phấn về tính dục, đứng yên cho con khác nhảy, kêu rống, bồn chồn, thích nhảy lên lưng con khác, ít ăn hoặc bỏ ăn, tìm đực Âm hộ ướt, đỏ, tiết dịch nhày, càng tới thời điểm rụng trứng thì âm hộ đỏ tím, dịch tiết keo lại, mắt đờ đẫn Cuối giai đoạn này thì trứng rụng

+ Giai đoạn sau chịu đực: Thể vàng bắt đầu phát triển và tiết ra progesteron có tác dụng ức chế sự co bóp của đường sinh dục Niêm mạc tử cung vẫn còn phát triển, các tuyến dịch nhờn giảm bài tiết, mô màng nhầy tử cung bong ra cùng với lớp tế bào biểu mô âm đạo hóa sừng thải ra ngoài Biểu hiện hành vi về sinh dục: Con vật không muốn gần con đực, không muốn cho con khác nhảy lên và dần trở lại trạng thái bình thường

+ Giai đoạn yên tĩnh: Thể vàng teo dần đi, con vật trở lại trạng thái bình thường, biểu hiện hành vi sinh dục không có Đây là giai đoạn nghỉ ngơi,

Trang 19

yên tĩnh để phục hồi lại cấu tạo, chức năng cũng như năng lượng để chuẩn bị cho chu kỳ động dục tiếp theo

* Thời gian mang thai (ngày)

Là thời gian lợn nái từ khi thụ tinh (phối giống đạt) đến khi đẻ, thời gian chửa của lợn dao động từ 112 – 116 ngày

* Tuổi đẻ lứa đầu (TĐLĐ)

Là tuổi lợn nái sinh con lứa đầu tiên TĐLĐ được xác định là khoảng thời gian từ ngày sinh lợn nái đến ngày lợn nái sinh con lứa đầu tiên

TĐLĐ = ngày lợn nái đẻ lứa đầu - ngày sinh của lợn nái

2.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái

* Số còn đẻ ra/lứa

Tính cả số con đẻ ra còn sống, số con chết, và cả số thai chết được đẻ

ra Chỉ tiêu này đánh giá được tính sai con và khả năng nuôi thai của lợn nái, đồng thời đánh giá được kỹ thuật nuôi dưỡng chăm sóc lợn nái của người chăn nuôi

* Số con sơ sinh còn sống đến 24h/lứa

Là chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng Nó phụ thuộc vào khả năng đẻ nhiều hay ít con của giống, trình độ phối giống của người nuôi dưỡng chăm sóc và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái chửa Trong 24h sau khi sinh những con không đạt khối lượng sơ sinh trung bình của giống, dị dạng, thì sẽ bị loại thải

Lợn con mới sinh có thể chia thành 3 dạng dưới đây:

- Loại thai non: Là loại thai phát triển không hoàn toàn, chết trong thời gian có chửa và trước khi sinh ra

- Loại thai gỗ: Là loại thai chết trong tử cung lợn mẹ lúc 25 - 90 ngày tuổi Dịch thai và tất cả các dịch trong tế bào tổ chức bào thai được cơ thể mẹ

Trang 20

hấp thụ qua niêm mạc tử cung, các tổ chức khác của thai rắn lại, thể tích co nhỏ thành cục màu nâu đen, cứng

- Loại đẻ ra còn sống: Trong vòng 24h sau khi sinh, những lợn con không đạt khối lƣợng sơ sinh trung bình của giống, không phát dục hoàn toàn,

dị dạng, thì sẽ bị loại thải Ngoài ra, một số lợn con mới sinh chƣa nhanh nhẹn bị lợn mẹ đè chết

Số con chết lúc sơ sinh, số thai non, số thai gỗ là nguyên nhân làm giảm số lƣợng lợn con sơ sinh sống đến 24h/lứa

* Bình quân số lợn con đẻ ra còn sống/lứa

Là tỷ lệ giữa tổng số lợn con đẻ ra còn sống trong 24h kể từ khi lợn nái

đẻ xong của tất cả các lứa đẻ trên tổng số lứa đẻ

Số con đẻ ra để lại nuôi: Là số lợn con đẻ ra còn sống để lại nuôi, đối với lợn ngoại khối lƣợng lợn con lớn hơn 0,8 kg với lợn nội khối lƣợng lớn hơn 0,3 kg

* Số con cai sữa/nái/năm

Đây là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật rất quan trọng, quyết định năng suất trong chăn nuôi lợn nái, nó phụ thuộc vào kỹ thuật chăn nuôi lợn con bú sữa, khả năng tiết sữa khả năng nuôi con của lợn mẹ và khả năng hạn chế các yếu

tố gây bệnh cho lợn con

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [12]: Hiệu quả chăn nuôi lợn nái sinh sản đƣợc đánh giá bằng số lợn con cai sữa/nái/năm Các nhà nghiên cứu tập trung vào vấn đề lợn con chết từ sơ sinh đến cai sữa đã thống kê khoảng 3 – 5% số lợn con chết khi sơ sinh, bao gồm: Lợn chết do lợn mẹ đẻ khó và lợn con chết trong giai đoạn chửa kỳ cuối Các nguyên nhân chủ yếu lợn con chết trong giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa là bị lợn mẹ đè và không bú đƣợc chiếm 50%, nhiễm khuẩn 11,1%, dinh dƣỡng kém 8%, di truyền 4,5%, các nguyên nhân khác 26,4% Do đó, cùng với việc cải tạo điều kiện nuôi dƣỡng chăm

Trang 21

sóc, tích cực kiểm tra thành tích sinh sản của lợn nái thì khả năng truyền giống của lợn đực rất cần thiết, có ý nghĩa trong công tác giống và thực tiễn sản xuất

Theo Trần Đình Miên và cs (1977) [11]: Sức sinh sản của lợn là một tiêu chuẩn để đánh giá chất lƣợng phẩm giống Khả năng sinh sản đƣợc biểu hiện qua nhiều chỉ tiêu khác nhau nhƣ: Đẻ nhiều con, nhiều lứa, tỷ lệ sống khi

đẻ và đến cai sữa, tỷ lệ còi cọc, dị hình, khuyết tật Khả năng sinh sản cũng liên quan đến sự thành thục sớm hay muộn, thời gian mang thai, số lần thụ thai của lợn: “Sinh sản của gia súc là một hình thái của sức sản xuất và cũng

là một biểu hiện đặc trƣng của tính di truyền ở mỗi phẩm giống của gia súc”

2.2.3 Chỉ tiêu chất lượng của đàn con

* Khối lượng sơ sinh toàn ổ

Khối lƣợng sơ sinh toàn ổ đƣợc cân sau khi lợn con đƣợc đẻ ra, cắt rốn, lau khô và cho bú sữa đầu

Khối lƣợng toàn ổ sơ sinh là chỉ tiêu nói lên khả năng nuôi dƣỡng thai của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi, chăm sóc quản lý và phòng bệnh cho lợn nái chửa của trại

Khối lƣợng sơ sinh càng cao càng tốt vì lợn sẽ tăng khối lƣợng nhanh ở các giai đoạn phát triển sau

* Khối lượng cai sữa toàn ổ

Khối lƣợng cai sữa toàn ổ phụ thuộc vào khối lƣợng lợn con khi cai sữa, thời gian bắt đầu cai sữa và kỹ thuật chế biến thức ăn cho lợn con Khối lƣợng cai sữa có liên quan chặt chẽ đến khối lƣợng sơ sinh và làm nền tảng cho khối lƣợng xuất chuồng

Trang 22

2.2.4 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản giai đoạn chửa, đẻ, nuôi con

* Chế độ dinh dưỡng

Yếu tố quan trọng đối với lợn nái mang thai và nuôi con là phải cung cấp đầy đủ số lượng và chất lượng dinh dưỡng cần thiết để có hiệu quả sinh sản cao Chế độ dinh dưỡng bao gồm: Dinh dưỡng năng lượng, dinh dưỡng protein, ảnh hưởng của khoáng chất, nguyên tố đa vi lượng và ảnh hưởng của vitamin

- Nhu cầu năng lượng

Năng lượng không thể thiếu được cho cơ thể mẹ duy trì nuôi thai, tiết sữa, nuôi con Nhu cầu năng lượng khác nhau tùy thuộc từ ng giai đoạn Cần phải đủ nhu cầu về năng lượng cho lợn nái, tránh cung cấp thừa gây lãng phí thức ăn, giảm giá thành sản phẩm Nếu thiếu sẽ ảnh hưởng đến sinh lý bình thường của con vật Năng lượng được cung cấp dưới hai dạng: Gluxit chiếm

70 - 80%, lipit 10 - 13% tổng số năng lượng cung cấp

- Ảnh hưởng của khoáng chất

Trong cơ thể lợn khoáng chất chứa 3% trong đó có tới 75% là canxi và photpho, xấp xỉ 25% là natri và kali, cũng có một lượng nhỏ magie, sắt, kẽm, đồng, các nguyên tố khác ở dạng dấu vết Ví dụ canxi làm ngăn trở việc hấp thu kẽm gây hiện tượng rối loạn ở da, gây sừng hóa

- Ảnh hưởng của vitamin

Vitamin cần cho sự chuyển hóa bình thường của mô bào, cho sức khỏe, sinh trưởng và duy trì Một số vitamin lợn có thể tự tổng hợp để đáp ứng nhu cầu như vitamin B12 và một số loại vitamin lợn hay thiếu cần phải bổ sung (A, D, E) Nếu bổ sung không đúng, thừa hoặc thiếu đều không tốt

+ Thiếu vitamin A: Lợn con chậm lớn, da khô, mắt kém, lợn nái mang thai dễ xảy thai, đẻ non

+ Thiếu vitamin D: Thai kém phát triển, dễ bị liệt chân trước và sau khi đẻ

Trang 23

+ Thiếu vitamin E: Lợn có hiện tượng chết phôi, chết thai, lợn không động dục hoặc chậm động dục

Đặc biệt lợn nái mang thai nếu thiếu vitamin sẽ ảnh hưởng tới khả năng sinh sản Do vậy dinh dưỡng đầy đủ, khẩu phần ăn hợp lý, đáp ứng được nhu cầu sinh trưởng, phát dục trước và sau khi đẻ, nuôi con, là một trong những biện pháp hữu hiệu để nâng cao năng suất sinh sản, hiệu quả chăn nuôi

- Nhu cầu về protein

Protein là thành phần quan trọng trong khẩu phần thức ăn cung cấp cho lợn, là thành phần không thể thay thế được cần thiết trước tiên cho mọi hoạt động trao đổi chất trong cơ thể và tham gia cấu tạo nên các mô trong cơ thể

Do protein tham gia vào cấu tạo hoạt động trao đổi chất nên hàng ngày luôn

có một lượng nhất định protein mất đi Trong quá trình đồng hóa và dị hóa của cơ thể thì hàng ngày luôn có các tế bào sinh trưởng và phát triển, phân chia và các tế bào già cỗi được loại thải ra ngoài Do đó protein được cung cấp để bù đắp lại phần mất đi và một phần khác xây dựng lên các tế bào mới, tạo sản phẩm chăn nuôi Tuy nhiên, việc cung cấp protein phải đảm bảo đủ về

số lượng và cân đối về các thành phần axit amin không thay thế: Lyzine, methionine, histidin, cystein, tryptophan, hay chính xác hơn nhu cầu về protein của lợn chính là nhu cầu về axit amin Ngoài ra thức ăn phải có giá trị sinh học cao, dễ tiêu hóa, dễ hấp thu Để đáp ứng tốt các nhu cầu trên cần cho lợn ăn bằng nhiều loại thức ăn

* Chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái chửa

- Dinh dưỡng lợn nái có chửa

Nguyên tắc nuôi lợn nái có chửa: Cho ăn đúng khẩu phần, đảm bảo chất dinh dưỡng, đặc biệt chú ý cho ăn đủ vitamin và khoáng chất Thiếu khoáng, xương lợn con phát triển kém, lợn nái chửa có nguy cơ bại liệt Thiếu vitamin, lợn con phát triển chậm, sức sống kém Không cho ăn quá nhiều tinh bột để chống béo, khó đẻ

Trang 24

+ Nhu cầu dinh dưỡng của lợn chửa: Đạm thô 13%, NLTĐ 2900 kcal/kg thức ăn

+ Mức ăn cho lợn nái có chửa (kg thức ăn đã phối trộn/con/ngày)

Giai đoạn chửa kì I: Cho ăn thức ăn 566SF

Với nái hậu bị: 1,5 - 2 kg/con/ngày, cho ăn ngày 1 lần

Với nái dạ: 2 - 2,5 kg/con/ngày, cho ăn ngày 1 lần

Giai đoạn chửa kì II: Từ 84 - 100 ngày cho ăn thức ăn 567SF, từ 100 -

114 ngày cho ăn thức ăn 567SF

Với nái hậu bị: 2- 2,5 kg/con/ngày, cho ăn ngày 1 lần

Với nái dạ: 2,5 - 4 kg/con/ngày, cho ăn ngày 1 lần

+ Mức ăn cho nái chửa còn tùy thuộc vào thể trạng của nái: Nái quá gầy phải cho ăn thêm thức ăn tinh, nái quá béo phải giảm thức ăn tinh

+ Vào mùa đông những ngày nhiệt độ dưới 15oC, lợn nái cần cho ăn thêm 0,2 - 0,3 kg/con/ngày để bù phần năng lượng mất đi do chống rét

+ Không được cho lợn nái chửa ăn thức ăn ẩm mốc, khô dầu bông, lá

đu đủ do dễ gây sảy thai

+ Cho lợn uống nước tự do

- Chăm sóc lợn nái chửa

+ Cho lợn yên tĩnh tuần đầu tiên sau khi phối giống

+ Kiểm tra theo dõi lợn có chửa vào ngày thứ 21 và ngày thứ 42 sau khi phối xem có động dục trở lại không

+ Tắm: 1 lần/ngày vào những ngày nắng nóng

+ Vệ sinh xoa bóp bầu vú trước dự kiến đẻ 10 - 15 ngày để kích thích sữa ra nhiều khi lợn sinh con Nếu vú bị xây xước hoặc nứt nẻ cần bôi vazolin

và kháng sinh chống nhiễm trùng

+ Vệ sinh chuồng trại hàng ngày, giữ cho lợn sạch sẽ, ấm áp mùa đông, thoáng mát mùa hè Phun thuốc tiêu độc khử trùng 1 lần 1 tuần

Trang 25

+ Không nên tiêm phòng, tẩy giun sán, tắm ghẻ vào tháng chửa đầu và trước đẻ 15 ngày vì do tác động cơ hoành rất dễ sảy thai và đẻ non

+ Cần ghi chép ngày phối giống để tính toán ngày đẻ và có kế hoạch trực lợn đẻ

* Chăm sóc lợn nái đẻ

Mục đích chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lợn đẻ an toàn, lợn con có tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt, đủ khả năng tiết sữa nuôi con, nâng cao chất lượng đàn con

- Quy trình dinh dưỡng

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [12]: Thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức

ăn, đẻ trước 2 – 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quiết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh (0,5 kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ

có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ cho uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái

Trang 26

- 15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng nái đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn

bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Trước khi đẻ

1 tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm

hộ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái, chúng ta chuyển nhẹ nhàng từ chuồng chửa sang chuồng nái đẻ để lợn quen dần với chuồng mới

Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con Ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ô

úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô

úm cho lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức

ăn của lợn con Vào ngày dự kiến đẻ của lợn nái, cần chuẩn bị xong ô úm cho lợn con Kích thước ô úm: 1,2 x 1,5 m Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống từ 3 - 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh

Trang 27

Bảng 2.2 Những biểu hiện khi lợn sắp đẻ

0 – 10 ngày Vú căng lên và cứng, âm hộ trương mọng

2 ngày Bầu vú cương cứng hơn và tiết ra chất lỏng trong

12 – 14 giờ Nái bồn chồn, tuyến vú bắt đầu tiết sữa

6 giờ Sữa tiết ra nhiều hơn qua 2 lỗ tia sữa

2 – 4 giờ Các vú đều có sữa non vọt thành tia dài

30 phút – 2 giờ Tăng nhịp thở, đi lại không yên

15 – 30 phút Âm hộ tiết ra dịch nhờn màu hồng có lẫn phân su

15 giây – 5 phút Nái nằm nghiêng 1 bên, hơi thở đứt quãng, ép bụng,

ép đùi, quẩy đuôi rặn đẻ

Từ những ghi chép về các biểu hiện của lợn nái sắp đẻ, đã giúp ích cho

em rất nhiều trong việc củng cố kỹ năng quan sát, theo dõi, cũng như tạo cho

em những kinh nghiệm làm việc sau này trong quá trình chăn nuôi lợn nái Việc xác định được thời điểm lợn nái đẻ cũng sẽ giúp cho người chăn nuôi chủ động được công tác chuẩn bị đỡ đẻ cho lợn con và lợn mẹ được chu đáo

và cẩn thận, đem lại hiệu quả cao, nâng cao được tỷ lệ nuôi sống của lợn con sau khi sinh

* Chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái nuôi con

Mục đích của chăn nuôi lợn nái nuôi con là áp dụng các biện pháp khoa học để tăng sản lượng sữa mẹ, đảm bảo cho lợn mẹ có sức khỏe tốt Lợn con sinh trưởng phát triển nhanh, đạt số con sau cai sữa và khối lượng cai sữa cao Lợn nái chóng được phối giống trở lại sau khi tách con

- Quy trình nuôi dưỡng

Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ, cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo

Trang 28

tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn bổ sung đạm động vâ ̣t, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin

Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng qui định như NLTĐ 3100 kcal/kg, protein 15%, canxi từ 0,9 – 1,0%, phốt pho 0,7%

Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ chất dinh dưỡng cho lợn mẹ

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [12] trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:

Đối với lợn nái ngoại

+ Ngày cắn ổ đẻ: Cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do

+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn

từ 1 - 2 - 3 kg tương ứng

+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: Cho ăn 4 kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày

+ Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức

Lượng thức ăn/nái/ngày = 2 kg + (số con x 0,35 kg/con)

+ Số bữa ăn trên ngày: 2 (sáng và chiều)

+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ngày

+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 – 2 kg rau xanh/ngày sau bữa ăn thức ăn tinh (nếu có rau xanh)

Trang 29

+ Một ngày trước cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm 20 – 30% + Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước

Ngoài ra yêu cầu đối với chuồng trại của lợn nái nuôi con là phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không ẩm ướt, vì vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô

úm lợn con và máng tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp

là 18 – 20oC, độ ẩm 70 – 75%

2.3 Tình hình nghiên cứu trong va ̀ ngoài nước

2.3.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Từ năm 1994 nước ta có chủ trương “nạc hoá đàn lợn” ở các tỉnh phía

Bắc, từ đó bắt đầu phát triển chăn nuôi lợn ngoại rộng khắp cả nước Hai giống lợn L và Y có khả năng sinh sản tốt, vì vậy được nghiên cứu chọn lọc theo định hướng năng suất sinh sản cao tạo ra con lai Landrace × Yorshire (LY) và Yorshire × Landrace (YL) Hiện nay việc lai tạo giống đã sử dụng nhiều ở các trang trại chăn nuôi lợn

Nghiên cứu của Đinh Văn Chỉnh và cs (1995) [5] cho biết năng suất sinh sản của lợn nái L và Y nuôi tại Trung tâm Giống gia súc Hà Tây, khối lượng phối giống lần đầu của hai giống này là 99,3 kg và 102 kg, tuổi phối giống lứa đầu của hai giống này là 254,1 ngày và 282,0 ngày, tuổi đẻ lứa đầu

Trang 30

367,0 ngày và 396,3 ngày Số con đẻ ra còn sống là 8,2 và 8,3 con/ổ; khối lượng sơ sinh/ổ là 9,12 kg và 10,89 kg

Kết quả nghiên cứu về năng suất sinh sản thể hiện ở thông báo Đặng

Vũ Bình (1995) [1]: Ở lợn Y tuổi đẻ lứa đầu 418 ngày tuổi; số con đẻ ra còn sống 9,77 con/ổ; số con lúc 21 ngày tuổi là 8,61 con/ổ Số con 35 ngày tuổi là 8,15 con/ổ và khối lượng lúc 35 ngày tuổi là 8,09 con Ở lợn L các chỉ tiêu tương ứng là 9,86 con/ổ, 8,68 con/ổ; 8,22 con/ổ và 8,2 kg

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng và cs (2005) [14] tại Xí nghiệp Giống vật nuôi Mỹ Văn - Hưng Yên thuộc Công ty giống lợn miền Bắc cho biết một số đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái lai (LY) tuổi động dục lần đầu là 226,68 ngày, khối lượng động dục lần đầu là 109,31 kg, tuổi phối giống lần đầu 247,79 ngày, khối lượng phối giống lần đầu 123,76 kg, tuổi đẻ lứa đầu 362,10 ngày, khoảng cách lứa đẻ 171,07 ngày

Cũng theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng và cs (2005) [14] thì năng suất sinh sản của lợn nái lai (LY) phối giống với lợn đực Pietrain và Duroc có số con đẻ ra/ổ lần lượt là 10,6 con và 10,34 con, số con đẻ ra còn sống/ổ tương ứng là 10,34 con và 10,02 con, số con để nuôi/ổ tương ứng là 10,05 con và 9,63 con, số con 21 ngày tuổi/ổ 9,70 con và 9,23 con, khối lượng sơ sinh/ổ tương ứng là 15,46 kg và 14,91 kg, khối lượng cai sữa/ổ tương ứng là 69,94 kg và 67,65 kg

Tại Trung tâm Nghiên cứu lợn Thụy Phương - Viện chăn nuôi Quốc gia, Phùng Thị Vân và cs (2001) [16] nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng và khả năng sinh sản của lợn nái lai (YL) và (LY) cho biết tuổi phối giống lần đầu là 259,00 ngày và 243,80 ngày; tuổi đẻ lứa đầu 376,20 ngày và 363,00 ngày; số con đẻ ra/ổ lần lượt là 9,44 con và 10,42 con; khối lượng lúc 21 ngày tuổi tuổi/ổ 50,70 và 49,85 kg

Trang 31

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Trong vài thập niên trở lại đây nhiều nghiên cứu trên thế giới đã áp dụng thành công các thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào lĩnh vực chăn nuôi lợn và đã đưa năng suất sinh sản của đàn lợn nái lên rất cao Giống lợn L và

Y, (LY), (YL) được nuôi phổ biến trên thế giới Đó là nguyên liệu để sản xuất con lai và là nguồn cung cấp giống lợn thương phẩm cho tiêu dùng

Theo Jan Gordon (1997) [19], lai giống trong chăn nuôi lợn đã có từ 50 năm trước, việc sử dụng lai 2, 3 hay 4 giống để sản xuất lợn thịt thương phẩm

đã trở nên phổ biến

So sánh các công thức lai hai, ba, bốn giống, Ostrowski và cs (1997) [21] cho thấy con lai có 25% và 50% máu Pietrain có tỷ lệ nạc cao và chất lượng tốt Các nghiên cứu của Gerasimov và cs (1997) [18] cho biết lai hai,

ba, giống đều có tác dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh sản như: Số con đẻ ra/ lứa, tỷ lệ nuôi sống, khối lượng 60 ngày/con Lai hai giống làm tăng số con đẻ ra/lứa so với giống thuần, tăng khối lượng sơ sinh và khối lượng khi cai sữa

Vì vậy việc sử dụng lai hai, ba giống là phổ biến để nâng cao khả năng sinh sản và năng suất thịt thương phẩm (Dzhunelbaev và cs 1998 [17])

Theo nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy lợn lai có mức tăng khối lượng tốt và tỷ lệ nạc cao hơn so với lợn thuần Gerasimov và cs (1997) [18] cho công thức lai giống (Duroc x Large Black), công thức lai ba giống (Duroc

x (Poltava Meat x Russian Large White) có khả năng tăng khối lượng cao và tiêu tốn thức ăn thấp so với các giống khác

Theo tài liệu tập huấn của tập đoàn CP (Charoen Pokphand) năng suất sinh sản của lợn nái lai (LY) và (LY) tại Thái Lan như sau:

+ Thời gian từ cai sữa đến phối giống 6,02 ngày

+ Tỷ lệ đẻ 81,6%

+ Số lứa đẻ/ nái/ năm là 2,23 lứa

Ngày đăng: 18/09/2018, 08:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm