Đánh giá khả năng nhiễm cầu trùng ở gà Cáy Củm tại Chi nhánh NCPT động thực vật bản địa thuộc Tổng công ty khai khoáng miền núi và hiệu lực của hai loại thuốc RTD Coccistop và Avicoc.Đánh giá khả năng nhiễm cầu trùng ở gà Cáy Củm tại Chi nhánh NCPT động thực vật bản địa thuộc Tổng công ty khai khoáng miền núi và hiệu lực của hai loại thuốc RTD Coccistop và Avicoc.Đánh giá khả năng nhiễm cầu trùng ở gà Cáy Củm tại Chi nhánh NCPT động thực vật bản địa thuộc Tổng công ty khai khoáng miền núi và hiệu lực của hai loại thuốc RTD Coccistop và Avicoc.Đánh giá khả năng nhiễm cầu trùng ở gà Cáy Củm tại Chi nhánh NCPT động thực vật bản địa thuộc Tổng công ty khai khoáng miền núi và hiệu lực của hai loại thuốc RTD Coccistop và Avicoc.Đánh giá khả năng nhiễm cầu trùng ở gà Cáy Củm tại Chi nhánh NCPT động thực vật bản địa thuộc Tổng công ty khai khoáng miền núi và hiệu lực của hai loại thuốc RTD Coccistop và Avicoc.Đánh giá khả năng nhiễm cầu trùng ở gà Cáy Củm tại Chi nhánh NCPT động thực vật bản địa thuộc Tổng công ty khai khoáng miền núi và hiệu lực của hai loại thuốc RTD Coccistop và Avicoc.Đánh giá khả năng nhiễm cầu trùng ở gà Cáy Củm tại Chi nhánh NCPT động thực vật bản địa thuộc Tổng công ty khai khoáng miền núi và hiệu lực của hai loại thuốc RTD Coccistop và Avicoc.Đánh giá khả năng nhiễm cầu trùng ở gà Cáy Củm tại Chi nhánh NCPT động thực vật bản địa thuộc Tổng công ty khai khoáng miền núi và hiệu lực của hai loại thuốc RTD Coccistop và Avicoc.
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
THUỐC RTD-COCCISTOP VÀ AVICOC.”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2013 – 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
THUỐC RTD-COCCISTOP VÀ AVICOC.”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2013 – 2017 Giảng viên hướng dẫn: TS Bùi Thị Thơm
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau 4 năm học được ngồi trên ghế nhà trường và đặc biệt là trong thời gian thực tập nghiên cứu từ ngày 18/5/2017 đến ngày 18/11/2017 em đã hoàn thành đợt thực tập tốt nghiệp của mình Trong thời gian thực tập và nghiên cứu được sự giúp
đỡ của ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y, cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa và thầy Trần Văn Phùng chủ trại lợn tại chi nhánh nghiên cứu phát trển động thực vật bản địa thuộc tổng công ty khai khoáng miền núi thuộc xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình, chỉ bảo tận tình của cô giáo hưỡng dẫn TS.Bùi Thị Thơm trong suốt quá trình thực tập cùng với
sự nỗ lực của bản thân em đã hoàng thành tốt chương trình thực tập của mình
Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Ban giám hiệu nhà trường ĐHNL Thái Nguyên, ban chủ nhiệm khoa chăn nuôi thú y, cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa và thầy Trần Văn Phùng chủ trại lợn tại chi nhánh nghiên cứu phát trển động thực vật bản địa thuộc tổng công ty khai khoáng miền núi thuộc
xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và đặc biệt là cô giáo hưỡng dẫn TS.Bùi Thị Thơm đã tận tình chỉ bảo em trong suốt quá trình thực tập để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Một lần nữa em xin trân trọng gửi tới các thầy, cô giáo, bạn bè đồng nghiệp lời cảm ơn chân thành, lời chúc sức khỏe, thành đạt và hạnh phúc
Thái nguyên, ngày 18 tháng 11 năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Ngọc Hoàng
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp trước khi ra trường đóng một vai trò quan trọng trong quá trình học tập của mỗi sinh viên Giúp mỗi sinh viên củng cố hệ thống kiến thức
đã học đồng thời nâng cao trình độ chuyên môn, làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học, áp dụng kiến thức lý thuyết đã học vào thực tiễn
Quá trình thực tập tốt nghiệp cũng là một quá trình rèn luyện giúp sinh viên
ra trường trở thành một bác sĩ Thú y, kỹ sư Chăn nuôi có trình độ chuyên môn vững vàng, có năng lực làm việc tốt góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển nền nông nghiệp nước nhà Từ những yêu cầu thực tế trên của xã hội hàng năm trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đều có kế hoạch đưa sinh viên năm cuối đi thực tập tốt nghiệp tại các cơ sở sản xuất Giúp các sinh viên thực hành tiếp cận với công việc để nâng cao tay nghề có thêm tự tin khi làm việc
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân em và được sự đồng ý của bản chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y, trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên Được sự giúp đỡ của cô giáo hưỡng dẫn TS.Bùi Thị Thơm Em đã tiến hành thực hiện đề tài
"Đánh giá khả năng nhiễm cầu trùng ở gà Cáy Củm tại Chi nhánh NCPT động thực vật bản địa thuộc Tổng công ty khai khoáng miền núi và hiệu lực của hai loại thuốc
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Một số đặc điểm phân loại cầu trùng 7
Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 19
Bảng 4.1 Lịch dùng vắc xin cho đàn gà 31
Bảng 4.2.Ảnh hưởng của thuốc RTD-Coccistop và Avicoc 34
Bảng 4.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng của gà qua kiểm tra phân 35
Bảng 4.4.Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở gà thí nghiệm theo lứa tuổi 36 Bảng 4.5.Tỷ lệ và cường độ nhiễm Cầu trùng ở gà thí nghiệm theo lứa tuổi 36
Bảng 4.6 Tiêu thụ thức ăn của gà thí nghiệm 39
Bảng 4.7.Triệu chứng của gà bị Cầu trùng 40
Bảng 4.8 Bệnh tích gà bị Cầu trùng 40
Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh Cầu trùng 41
Bảng 4.10 Chi phí thuốc dành cho phòng trị bệnh 41
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN 1.MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC TIÊU VÀ MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2.1.Mục tiêu của đề tài 1
1.2.2.Mục đích của đề tài 2
1.3.Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 2
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2
PHẦN 2.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 3
2.1.1.Đại cương về gia cầm 3
2.1.2 Hiểu biết về bệnh cầu trùng 4
2.2.TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC 13
2.2.1.Tình hình nghiên cứu trong nước 13
2.2.2.Tình hình nghiên cứu trên thế giới 15
2.2.4.Thành phần hóa học và cơ chế tác dụng của hai loại thuốc RTD-Coccistop và Avicoc 17
PHẦN 3.ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 19
3.2.ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN TIẾN HÀNH 19
3.3.NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 19
3.4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.4.1.Phương pháp bố trí thí nghiệm 19
3.4.2 Phương pháp theo dõi 20
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 21
PHẦN 4.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
I CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 22
4.1 Điều tra tình hình cơ bản xã Tức Tranh 22
4.1.1.Điều kiện tự nhiên 22
4.1.2 Điều kiện về kinh tế xã hội 23
Trang 74.1.3 Tình hình sản xuất 24
4.1.4 Quá trình thành lập và phát triển của Chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa thuộc tổng công ty khai khoáng miền núi 25
4.1.5 Nhận định chung 27
4.2 Công tác phục vụ sản xuất 28
4.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất 28
4.2.2 Phương hướng tiến hành 28
4.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 28
4.3.1 Công tác chăn nuôi 29
4.3.2.Công tác chọn giống 30
4.3.3 Công tác thú y 30
4.3.4.Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh 31
4.3.5.Các công tác khác 32
4.4 Kết luận, đề nghị và bài học kinh nghiệm 32
4.4.1.Kết luận 32
4.4.2.Đề nghị 33
4.4.3 Bài học kinh nghiệm 33
II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
4.1 Ảnh hưởng thuốc RTD - Cocistop và Avicoc đến tỷ lệ nuôi sống của gà Cáy Củm 34
4.2 Ảnh hưởng thuốc RTD - Cocistop và Avicoc đến tỷ lệ và cường độ nhiễm Cầu trùng của gà thí nghiệm từ 1-20 tuần tuổi 35
4.2.1.Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở gà qua kiểm tra phân 35
4.2.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Cầu trùng ở gà thí nghiệm theo tuổi 36
4.3 Khả năng tiêu thụ thức ăn của gà thí nghiệm 39
4.4 Triệu trứng và bệnh tích gà bị bệnh cầu trùng 40
4.5 Hiệu lực điều trị của thuốc 41
4.6 Chi phí thuốc dành cho phòng, trị bệnh cầu trùng của gà thí nghiệm 41
PHẦN 5.KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43
5.1.KẾT LUẬN 43
5.2.ĐỀ NGHỊ 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 8Trong đó giống gà cáy củm cũng thuộc vào giống gà cần được chú trọng bảo tồn nhân giống, gà được nuôi ở vùng núi cao đang bị thu hẹp về số lượng nên rất được nhà nước cũng như người chăn nuôi quan tâm Tuy nhiên cùng với sự phát triển nhanh chóng của chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm thì dịch bệnh luôn luôn xảy ra và diễn biến phức tập Trong đó bệnh Cầu trùng là một tác nhân gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi gia cầm, làm giảm khả năng sinh trưởng, giảm chất lượng thịt và trứng gia cầm Từ thực tế đó em tiến hành nghiên cứu đề tài tốt
nghiệp “Đánh giá khả năng nhiễm cầu trùng ở gà Cáy Củm tại Chi nhánh NCPT động thực vật bản địa thuộc Tổng công ty khai khoáng miền núi và hiệu lực của hai loại thuốc RTD - Coccistop và Avicoc”
1.2 MỤC TIÊU VÀ MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1.Mục tiêu của đề tài
+ Xác định tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm Cầu trùng ở gà Cáy củm nuôi tại chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa thuộc tông công ty khai khoáng miền núi
Trang 9+ Xác định hiệu lực hai loại thuốc được dùng RTD - Coccistop và Avicoc trong phòng và trị bệnh
1.3.Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học
+ Xác định được một số đặc điểm dịch tế bệnh cầu trùng ở gà Cáy củm
+ Xây dựng biện pháp phòng trị bệnh cầu trùng ở gà có hiệu quả cao
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học khuyến cáo cho người chăn nuôi gà áp dụng các biện pháp phọng trị bệnh cầu trùng cho gà để hạn chế được thiệt hại do bệnh cầu trùng gây ra và nâng cao năng suất trong chăn nuôi
Trang 10PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1.Đại cương về gia cầm
Gia cầm là tên gọi chỉ chung cho các loài động vật có hai chân, có lông vũ, thuộc nhóm động vật có cánh được con người nuôi giữ, nhân giống nhằm mục đích sản xuất trứng, lấy thịt hay lông vũ Gia cầm có nguồn gốc từ loài chim hoang dã đã được con người thuần hóa cách đây hàng nghìn năm Gia cầm có đặc điềm là có bộ xương nhẹ, thân phủ lông vũ, chi trước phát triển thành cánh để bay, và đẻ trứng sau khi trứng được ấp nở thành gia cầm non Gia cầm sinh trưởng nhanh, là vì quá trình trao đổi chất lớn và có nhiệt độ cơ thể cao ( gà 40 – 41oC, vịt 41-42oC, …)
Gia cầm có đầy đủ các cơ quan bộ phân như: hệ tiêu hóa, hệ tuần hoàn, hệ
hô hấp, hệ bài tiết, cơ quan sinh dục Nhưng hệ hô hấp, hệ tiêu hóa, cơ quan sinh dục, có cấu tạo giải phẫu sinh lý khác nhiều điểm so với gia súc Cụ thể là:
+ Hệ hô hấp gia cầm được cấu tạo gồm: Xoang mũi, khí quản, phế quản phổi và 9 túi khí chính nhờ đó mà cơ thể gia cầm nhẹ có thể bay được, bơi được, hơn nữa dịch hoàn của gia cầm nằm trong mà quá trình sinh sản vẫn diễn ra bình thường
+ Hệ tiêu hóa gia cầm gồm: khoang miệng, hầu, thực quản, diều, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, ruột già, manh tràng, lỗ huyệt, tuyến tụy, gan và mật Trong đó thì khoang miệng gia cầm không có má, không có môi, không có răng và chỉ có mỏ để lấy thức ăn Thức ăn vào miệng được thấm nước bọt, được đưa xuống diều thông qua thực quản ( tại đây thức ăn được diều thấm ướt, làm mềm một phần hydrat cacbon được phân hủy dưới tác dụng của men amylase tạo ra quá trình vi sinh vật diều Sau đó chuyển qua dạ dày tuyến ( do dạ dày tuyến có HCL, men pepsin tham gia phân giải protein thành pepton) thức ăn được nghiền nhỏ thấm đều dịch vị ở dạ dày cơ HCL và men pepsin protein tiếp tục được phân hủy, hydrat cacbon cũng được phân giải nhờ tác dụng của vi sinh vật trong thức ăn Thức ăn từ
Trang 11dạ dày cơ được chuyển xuống ruột non dưới tác dụng của dịch ruột, dịch vị và dịch mật các chất dinh dưỡng cơ bản trong thức ăn được chuyển hóa tạo thành những chất dễ hấp thu
Quá trình phân giải các chất trên ở manh tràng tiếp tục nhờ men của đường ruột và vi sinh vật nhưng rất ít Do thức ăn qua đường tiêu hóa tiêu hóa rất nhanh nên khi gà nuốt phải thức ăn nước uống có chứa noãn hoàng Cầu trùng sẽ xuống ruột non, manh tràng trực tràng nên bệnh Cầu trùng xảy ra nhanh vòng đời của cầu trùng ngắn ( 5 – 7 ngày )
2.1.2 Hiểu biết về bệnh cầu trùng
* Đặc điểm về bệnh cầu trùng ở gà
- Mỗi loại Cầu trùng thường chỉ gây tác hại cho gà ở một lứa tuổi nhất định như:
+ E.Tenella chủ yếu gây bệnh cho gà con dưới 45 ngày tuổi
+ E.brunetti chủ yếu ở gà lớn
- Gà bị nhiễm Cầu trùng ở lứa tuổi khác nhau thì mức độ nhiễm khác nhau (gà con bị nhiễm Cầu trùng thường thì sẽ chết nhiều hơn gà lớn và gà lớn chủ yếu chỉ là vật mang trùng) Gà bị nhiễm Cầu trùng chủ yếu qua đường tiêu hóa
* Đặc điểm của mầm bệnh ở gà
- Cầu trùng thuộc ngành protozoa, lớp Spotozoa, bộ coccidian, họ Eimeridae Họ này thuộc nhiều giống nhưng có hai giống có quan hệ y học và thú y là: Eimridiae và Isospora
- Khi Cầu trùng mới theo phân ra ngoài là một kén hay một noãn nang,
Oocyst là những tế bào tử hình bầu dục, hình trứng, hình cầu có ba lớp vỏ Lớp vỏ
ngoài cùng rất mỏng, bên trong có chứa nguyên sinh chất lổn nhổn thành hạt, giữa
nguyên sinh chất có chứa một nhân tương đối to Cầu trùng thuộc giống Eimeria thì
nhân và nguyên sinh chất sẽ hình thành bốn bào tử con và cũng xâm nhập vào niêm
mạc ruột Giống Isospora ít gặp hơn và thường gặp ở chó và mèo
* Vòng đời Cầu trùng ở gà
Vòng đời hay chu kỳ sinh học của cầu trùng gồm ba giai đoạn: sinh sản vô
tính (Schizogony) và sinh sản hữu tính (Gametogony) được thực hiện trong tế bào
Trang 12biểu mô ruột (Endogenic), giai đoạn sinh sản bào tử (Sporogony) diễn ra ở bên ngoài cơ thể gà (Exogenic)
Noãn nang cầu trùng được gà nuốt vào đường tiêu hóa qua thức ăn, nước uống
Dưới tác dụng của men tiêu hoá trong dạ dày và ruột non, đặc biệt là men Trypsin,vỏ của noãn nang bị vỡ, giải phóng ra các bào tử con (Sporocyst) Sporozoit có hình thoi, dài
10 - 15µ, có một hạt nhân chui vào đỉnh các nhung mao ruột non, qua biểu mô, vào tuyến ruột
- Sinh sản vô tính (Schyzogonie) Sau khi xâm nhập vào tế bào biểu
mô, Sporozoit sinh trưởng rất nhanh và trưởng thành với tên gọi Trophozoit.Chỉ sau vài giờ, nhân của Trophozoit phân chia và trở thành Schizont thế hệ I (thể phân liệt) Schizont thế hệ I trưởng thành cũng rất nhanh, hình thành và chứa 8 - 120 nghìn Merozoit thế hệ I (kích thước 5 x 15µ) làm cho tế bào bị ký sinh trương to và
vỡ Merozoit thoát ra khỏi Schizont, một số xâm nhập trở lại tế bào biểu mô để tiếp
tục sinh sản vô tính và phá hủy tế bào biểu mô, một số sinh sản hữu tính
Các Schizont thế hệ II tiếp tục phát triển, giải phóng ra Merozoit lại lại xâm nhập
phá hủy tế bào biểu mô lành Quá trình sinh sản vô tính lặp đi lặp lại để để sinh ra
các Schizont thế hệ III, IV các tế bào biểu mổ bị phá hủy ngày càng nhiều
- Sinh sản hữu tính (Gametogonie) Ở giai đoạn sinh sản, các Schizont thế hệ
II, III, IV… tạo ra thể Gamet có hình dạng giống Schizont Từ Gamet hình thành các Gametocyte đực và Gametocyte cái Gametocyte đực phát triển, qua nhiều lần phân chia, tạo thành giao tử đực (hay tiểu phối tử) MacrogametlMicrogametocyte hình thoi,
có 2 lông roi, kích thước nhỏ, có khả năng di chuyển Gametocyte cái phát triển thành giao tử cái (đại phối tử) MacrogametlMacrogametocyte có kích thước lớn, một nhân,
dự trữ nhiều chất dinh dưỡng, không di động Nhờ 2 lông roi, giao tử đực di chuyển đến gặp và chui vào giao tử cái Trong giao tử cái diễn ra quá trình đồng hoá nhân và nguyên sinh chất để tạo thành hợp tử Hợp tử phân tiết một màng bao bọc bên ngoài và
được gọi là noãn nang (Oocys) Thời gian sinh sản vô tính kéo dài 3 - 22 ngày tuỳ loài
cầu trùng, các Oocyst theo phân gà ra ngoài cơ thể ngoại cảnh
Trang 13- Sinh sản bào tử (Sporogonie) Ở ngoài môi trường, gặp điều kiện thuận
lợi, sau vài giờ, trong nguyên sinh chất của noãn nang đã xuất hiện khoảng sáng và
phân chia Sau 13 - 48 giờ, nguyên sinh chất hình thành 4 túi bào tử (Sporocyst)
Nguyên sinh chất của các túi bào tử lại phân chia tạo thành 2 bào tử con
(Sporozoit) Như vậy, trong Oocyst có chứa 8 bào tử con, khi gà ăn vào trở thành Oocyst có sức gây bệnh cho gà
* Sức đề kháng của mầm bệnh
Định nghĩa: Sức đề kháng của mầm bệnh là khả năng chống lại các tác nhân của môi trường như ẩm độ, nhiệt độ, ánh sáng, môi trường nhân tạo, các dung dịch hóa chất tác động đến sự sinh trưởng và phát triển bình thường của chúng
- Cầu trùng có sức đề kháng cao với các chất sát trùng thông thường và điều kiện ngoại cảnh Người ta thường sử dụng nhiệt độ cao để tiêu diệt cầu trùng
+ Đối với nhiệt độ
Theo Lê văn Năm (2003)[13] nhiệt độ thích hợp cho quá trình pháttriển bào
tử nang ở ngoài cơ thể là 150oC–350oC, lạnh là -150oC và nóng trên 400oC bào tử nang sẽ chết
Còn Ellis C C (1986) cho rằng: Khi điều kiện thấp ocyst đã sinhbào tử tồn
tại được 14 ngày ở 120oC-200oC những Oocyst chưa sinh bào tử chỉchịu đựng được
không quá 56 giờ
+ Đối với các hóa chất
Cầu trùng có chất đề kháng với chất sát trùng nhưng cũng có nhiều công trình nghiên cứu để làm giảm noãn nang bằng hợp chất có thể xâm nhập được vào
tế bào Cầu trùng.Horton Smith (1996) cho biết dung dịch Greolin 5% sẽ giết chết noãn nang non và thành thục sau 20- 30 ngày
+ Đối với oxy
Muốn phát triển được cần có oxy để nang trứng phát triển Trong môi trường thối nát thiếu khí nang trứng không phát triển được, phân bào ngừng lại
* Tác nhân gây bệnh cầu trùng
Trang 14Mỗi loại ký sinh ở một khu vực nhất định trong đường ruột của gà; có hình thái, kích thước khác nhau
Bảng 2.1 Một số đặc điểm phân loại cầu trùng
TT Loài
Tác giả, năm mô
tả
Hình dạng
Kích thước
(µ)
Lỗ noãn
(có, không)
Màu sắc
Thời gian sản sinh bào tử
(giờ)
Vị trí
ký sinh
(14,2 - 20,0)
x (9,5 - 24,8) không
xanh nhạt 18 - 48
manh tràng
(21,4-42,5)
x (16,5-29,8) không
hơi vàng,
vỏ hơi
xù xì
30 - 48
giữa ruột non
(16,0-20,3)
x (12,7-16,3) có
không màu 13 - 17
đầu ruột non
mầu 18 - 21
tá tràng
(13-20)
x (13,1-18,3) không
không màu 24 - 36
ruột non, manh tràng
(16,6-27,7)
x (14,8-19,4) không
không màu 24 - 36
đầu ruột non
Trang 15Eimeria tenella thường ký sinh ở manh tràng, Oocyst màu xanh nhạt
Đây là loài gây bệnh mạnh nhất ở gà con, thời gian sinh bào tử giao độngtương đối lớn (18h-48h)
Eimeria maxima chủ yếu ký sinh ở đoạn giữa ruột non, Oocyst có màuhơi vàng, vỏ Oocyst hơi sần sùi là đặc điểm dễ nhận thấy khi phân loại
Emeria acervulina có hình dạng Oocyst gần giống Emeria maxima nhưng
kích thước nhỏ hơn Một đặc điểm có ý nghĩa quan trọng về phân loạitừ thơi gian sinh bào tử 13h-17h ở nhiệt độ 280o
C-300oC (ngắn nhất so với thờigian sinh bào tử
của các loài Cầu trùng khác)
Eimeria mitis có đặc điểm dễ phân biệt là Oocyst dạng tròn, thời gian sinhsản
bào tử biến động tương đối lớn 24h-48h thường kí sinh ở đầu ruột non
Eimeria necatrix là loài có độc lực cao xong mức độ phổ biến và khả năng gây bệnh thấp hơn loài E.Tenella, vị trí gây bệnh ở ruột non và cả manh tràng, nhưng Oocyst E.necatrix có thời gian sinh sản bào tử ít biến động và không bao giờ đến 48h như E.Tenella
E.paraecox có Oocyst hình bầu dục, nguyên sinh chất dạng tròn có nhân ở
giữa, hạt cực không rõ là đặc điểm khác biệt so với các loài Cầu trùng khác cùng có
vị trí ký sinh ở ruột non
E.Mivatia loài Cầu trùng này thường gây bệnh ở bề mặt niêm mạc ruột Oocyst có kích thước chiều ngang nhỏ nhất trong số ba loài cầu trùng gà có hạt cực
E.hagani là loài có độc lực yếu, thường ký sinh ở phần đầu ruột non, Oosystcó thời gian sinh sản bào tử ổn định nhất so với Oosyst các loài Cầu trùng ký
sinh nhỏ phần đầu ruột non (48h)
* Đường lây nhiễm Cầu trùng ở gà
Bệnh Cầu trùng gà lây qua đường tiêu hóa Những gà bị bệnh cầu trùng hoặc
đã khỏi bênh nhưng vẫn còn mang trùng ( bài thải trứng cầu trùng theo phân ra ngoài
cơ thể ra nền chuồng gây lây lan bệnh trong trại ) Trứng trên nền chuông nhiễm vào thức ăn, nước uống Gà nhặt thức ăn có trứng Cầu trùng, trứng sẽ đi vào ruột già và gây
Trang 16bệnh Eimeria tenella và Eimeria necatrix xâm nhập vào các tế bào ruột, phá vỡ mạch máu gây xuất huyết nặng làm cho gà đi phân sáp hoặc phân có máu
* Thời gian nhiễm và phát bệnh cầu trùng
Định nghĩa: Thời gian nhiễm bệnh là thời gian lúc gia cầm ăn phải bào tử nang đến khi noãn nang được thải trở lại môi trường bên ngoài cơ thể và trở thành bào tử
Thời gian nhiễm bệnh chia làm hai thời kỳ:
- Thời kỳ tiền phát là thời gian: từ lúc gà ăn, uống dính phải bào tử nang đến lúc chúng vào cơ thể và ký sinh tại một vùng nào đó Nghĩa là ta thấy xuất hiện nang trứng trong phân
- Thời kỳ phát bệnh: là khoảng thời gian mà ta thấy nang trứng xuất hiện trong phân đến lúc con vật xuất hiện triệu chứng lâm sàng, bệnh tích điển hình của bệnh
* Đặc điểm dịch tễ bệnh Cầu trùng ở gà
Bệnh Cầu trùng là bệnh xảy ra phổ biến ở gia cầm cũng như gia súc Gây thiệt hại đến kinh tế vì bệnh sinh sản nhanh dễ lây bệnh, bệnh có sức đề kháng cao nên khó bị tác động bởi môi trường cũng như một số tác nhân hóa học Để hiểu rõ
về yếu tố dịch tễ học ta đề cập tới các yếu tố:
+ Chăm sóc, nuôi dưỡng, vệ sinh phòng bệnh
Nếu ta chăm sóc, nuôi dưỡng, vệ sinh phòng bệnh tốt cùng với phòng bệnh tốt đúng thuốc gà sẽ có khả năng chống chọi với mầm bệnh Nhưng ngược lai nếu chăm sóc, nuôi dưỡng, vệ sinh phòng bệnh kém gà dễ mắc bệnh bệnh sẽ xảy ra nhanh và mạnh mẽ
Trang 17* Tính chuyên biệt của Cầu trùng
Theo Lê Văn Năm (2003)[13] cho rằng tính chuyên biệt của Cầu trùng
giống Emeria thể hiện rất nghiêm ngặt chúng chỉ có thể nhiễm và gây bệnh cho ký chủ Ví dụ: E.Tenella chỉ ký sinh và gây bệnh trong niêm mạc manh tràng của gà trong khi đó E.acervulina lại chỉ ký sinh trong niêm mạc tá tràng Như vậy tính
chuyên biệt của Cầu trùng là đặc điểm quan trọng có ý nghĩa lớn trong việc phân loại cũng như đề ra phương pháp phòng bệnh và trị bệnh có hiệu quả
* Sự đáp ứng miễn dịch của gà với bệnh Cầu trùng
Gà từ 20 ngày tuổi tới 2 tháng tuổi bị bệnh nặng nhất Sau khi khỏi bệnh gà
sẽ có miễn dịch với loài Cầu trùng chúng đã nhiễm phải Song vấn đề miễn dịch trong bệnh Cầu trùng cho tới nay vẫn chưa được công nhận đầy đủ Vì vậy, vấn đề này cần được nghiên cứu rộng rãi hơn Miễn dịch đối với bệnh cầu trùng là miễn dịch có trùng và do sự tự tái nhiễm thường xuyên đã đảm bảo cho sự ổn định mầm bệnh trong cơ thể gà có miễn dịch
* Đặc điểm bệnh lý, lâm sàng, phòng và trị bệnh Cầu trùng ở gà
Trang 18Màng niêm mạc đường tiêu hóa xanh tím, phủ chất nhầy màu vàng xám Diều và dạ dày tuyến trống rỗng, màng niêm mạc phủ niêm dịch Trong dạ dày cơ
có một ít thức ăn, tá tràng viêm chứa đầy chất niêm dịch hơi vàng
Vách ruột dày lên rõ, màng niêm mạc trương lên, lớp nhung mao nằm bẹp, một số nơi thấy rõ những điểm xuất huyết
Chú ý: Cầu trùng ruột non khó phát hiện và khó chữa hơn, thiệt hại hơn Cầu trùng manh tràng và dễ chẩn đoán nhầm sang bệnh do vi khuẩn như: E.coli, bạch lỵ,
tụ huyết trùng,…Vậy nên khi gà bị tiêu chảy người dân chỉ dùng kháng sinh trị bệnh tiêu chảy, tiêu chảy bệnh có giảm nhưng không khỏi dẫn đến gà bị khô chân,
ỉa phân sáp, gà gầy lông xù, sã cánh,…
Triệu chứng lâm sàng: Như mô tả ở trên phấn triệu chứng
Mổ khám bệnh tích: gà đã chết ta tiến hành mổ khám, tùy vào chủng căn nguyên, vị trí ký sinh của chúng mà khi mổ khám ta thấy rõ những biến đỏi ở thành ruột, những vùng đường ruột khác nhau, niêm mạc ruột,…như mô tả ở phần bệnh tích
Xét nghiệm phân, đệm lót: Phương pháp này nhằm mục đích khẳng định bệnh và phân loại Cầu trùng gà đã bị nhiễm Ta có thể dùng các phương pháp xét nghiệm sau: Xét nghiệm phân trực tiếp, xét nghiệm bằng phương pháp Fulleborn, xét nghiệm bằng phương pháp Darling, xét nghiệm bằng phương pháp Cherbovick Phương pháp phổ biến nhất là phương pháp Fullerborn và Darling
- Phòng và trị bệnh cầu trùng:
Theo Lê Văn Năm (2003) [13]: Nguyên tắc điều trị bệnh Cầu trùng phải đảm bảo: Thời gian điều trị bệnh Cầu trùng phải kéo dài ít nhất 3-4 ngày cho dù
Trang 19thực tế khi mới dùng thuốc đặc hiệu 1-2 ngày đã thấy nhiều đàn gia súc-gia cầm khỏi bệnh về mặt lâm sàng
Liều dùng thuốc phải đủ để tiêu diệt căn nguyên theo chỉ dẫn sử dụng của mỗi loại thuốc riêng biệt mà các nhà sản xuất đã khuyến cáo
Do chu trình phát triển sinh học của Cầu trùng cần 3-5 ngày, sau khi điều trị khỏi bệnh 3-5 ngày, phải duy trì liều phòng liên tục 3 ngày để kìm hãm sự phát triển của chúng sau đó nghỉ 3-5 ngày và lặp lại cho đến khi gia súc - gia cầm đạt đến độ tuổi miễn dịch tự nhiên, đối với gia cầm duy trì liều phòng đến 90 ngày tuổi
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại thuốc trị bệnh Cầu trùng ở gia cầm như:
- RTD – Coccistop: Đây là chế phẩm của công ty cổ phần phát triển công nghệ nông thôn RTD Thuốc có tác dụng đặc trị cầu trùng, tiêu chảy ra máu tươi và các bệnh nhiễm khuẩn trên gia cầm, phân xanh, phân trắng, E.coli, phó thương hàn, viêm ruột hoại tử,…Liều trị bệnh 1g/2 lít nước hoặc 1g/10-15 kg TT trên ngày Liều phòng bằng ½ liều trị liên tục 3-5 ngày
- Avicoc: Chế phẩm của hãng Avitec (Pháp), chế phẩm hỗn hợp của Sulfadimeratine và Diaveridine Liều trị bệnh 1g/1 lít nước, dùng liên tục 3-5 ngày Liều phòng bằng ½ liều trị
- Marzurilcoc: chế phẩm của công ty cổ phần thuốc thú y Marphavet, chế phẩm hỗn hợp của toltrazuril và tá dược đăc biệt Liều trị 1ml/1 lít nước uống theo 3 ngày dùng rồi nghỉ 3 ngày rồi tiếp 2 ngày tránh hiện tượng khô chân diệt hết 1 vòng đời cầu trùng Liều phòng 1ml/1 lít nước cho uống liên tục trong 2 ngày định kỳ sau
đó nghỉ 8- 10 ngày
- Baycoc: Chế phẩm dạng dung dịch 2,5% Toltrazuril của hãng Bauer
Thuốc có tác dụng với tất cả loại Cầu trùng, đặc biệt là E.tenella, E.maxima, E.acervulina Liều trị 7mg/kg thể trọng/ngày, liệu trình 2-3 ngày
Cơ chế thuốc trị bệnh: Ức chế quá trình trao đổi chất và quá trình sinh học, khử hoạt hóa các men, các vitamin và các yếu tố sinh trưởng cần thiết cho quá trình phát triển bình thường của các loại đơn bào
Trang 20* Biện pháp ngăn ngừa, quản lý bệnh Cầu trùng ở gà
Để có thể xảy ra được bệnh cần có 3 yếu tố là vật chủ, môi trường và mầm bệnh Thiếu 1 trong 3 yếu tố bệnh sẽ không xảy ra Vì vậy để ngăn ngừa bệnh Cầu trùng ta cần triệt một trong 3 yếu tố
Ta nên thực hiện theo các nguyên tắc sau:
+ Trước khi đưa gà vào nuôi phải vệ sinh chuồng trại bằng cách quét dọn và
cọ rửa Sau đó tiến hành tiêu độc, khử trùng bằng các hóa chất: Formon 1,5%, NaOH 2% Sau đó 2 ngày quét vôi đặc Các dụng cụ liên quan sau khi rửa sạch được ngâm trong Crezin 5% 2 giờ - 5 giờ và phơi thật khô
+ Chất độn chuồng phải được phơi khô, phun formon 1,5% mới đưa gà vào chuồng
+ Dứt khoát không nuôi chung gia cầm với nhiều lứa tuổi khác nhau trong cùng 1 khu vực
+ Mỗi đàn gia cầm chỉ do một người trực tiếp chăm sóc, không tự ý đi lại trong khu vực chăn nuôi, tuyệt đối không sử dụng các dụng cụ khi chưa được sát trùng
+ Chất đệm lót sau mỗi lứa phải được thu gom, ủ kỹ đúng nơi qui định, phải thường xuyên diệt vật môi giới truyền bệnh: côn trùng, chuột, động vật hoang dã…
+ Để tăng cường khả năng kháng bệnh cho gà bằng cách chăm sóc, nuôi dưỡng tốt đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật chăn nuôi và quy trình phòng bệnh thú ý đối với mỗi bệnh
2.2.TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC
2.2.1.Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan và cộng sự (1999)[7], bệnh cầu trùng thường gây bệnh nặng ở gà con, gà lớn thường mang căn bệnh và là nguồn mang trùng truyềnbệnh làm ô nhiễm môi trường Vì vậy, phòng bệnh cho gà con không bị nhiễm cầu trùng là rất quan trọng
Theo GS.TS.Từ Quang Hiển (1996)[2], hiện tượng cầu trùng gắn liền với
vệ sinh chuồng trại, chăm sóc nuôi dưỡng, chăn nuôi trên nền thì bệnh phát triển hơn chăn nuôi trên lồng tầng
Theo Nguyễn Quang Tuyên và Trần Thanh Vân (2001)[20] cho biết: Bệnh cầu trùng là bệnh gây ra bởi kí sinh trùng giống Eimeria thuộc ngành động vật đơn
Trang 21bào và rất phổ biến ở gà Bệnh gây tác hại chủ yếu ở gà con đến 42 ngày tuổi, đặc biệt gà nuôi tập trung, tỷ lệ chết cao, những con khỏi bệnh thường còi cọc chậm lớn, khó hồi phục sức khỏe Thời gian nung bệnh kéo dài 5 – 7 ngày tùy thuộc vào điều kiện chăm sóc và sức đề kháng của gà
Theo Lê Văn Năm (2003)[13]: Ở châu Âu và châu Mỹ bệnh thường mang tính thời vụ rõ rệt thường xảy ra vào tháng 5 – 8 nhưng ở Việt Nam bệnh xảy ra quanh năm mang tính dịch cao, tỷ lệ mắc bệnh lớn đặc biệt vào những tháng mưa ẩm
Hoàng Ngọc Thạch (1999)[15] cho biết, qua mổ khám 241 gà bệnh, gà chết ở các lứa tuổi khác nhau với gà nuôi thí nghiệm qua gây nhiễm thu được kết quả như sau:
- Bệnh tích ở manh tràng: Chiếm tỷ lệ cao nhất 69,29 % nhiều nhất ở gà con 3 tuần tuổi(100%) kéo dài đến 8 tuần tuổi (54,45 %) ở gà lớn không thấy
- Bệnh tích ở ruột non: 70/241 chiếm tỷ lệ 29,05 % Ở gà 1 – 3 tuần tuổi hầu như không thấy bệnh lý ở ruột non và tỷ lệ nhiễm tăng dần theo lứa tuổi Ở 4 tuần tuổi là 25,45 %
Ở gà 8 tuần tuổi tỷ lệ nhiễm là 45,45 %
Theo Lê Văn Năm (2003)[13], nguyên tắc phòng bệnh cầu trùng bằng thuốc phải dùng từ 7 - 60 ngày tuổi đối với gà thịt, sau đó cứ 1 tháng tiếp tục dùng thuốc 3 ngày kể cả thời gian đẻ Việc dùng thuốc phải đúng theo các chỉ dẫn mới đạt kết quả Khi bệnh nổ ra ta phải tăng gấp đôi liều điều trị Sau khi bệnh đã khỏi phải tiếp tục duy trì liều phòng đúng như chỉ dẫn của từng loại thuốc
Theo Lê Thị Tuyết Minh(1994)[10], đã nghiên cứu về tình hình nhiễm Eimeria và bệnh cầu trùng gà công nghiệp ở một số trại gà Hà Nội đã xác định có 4 loài cầu trùng Eimeria trên đàn gà thịt là:Eimeria tenella, Eimeria maxima, Eimeria mitis và Eimeria necatrix
Hồ Thị Thuận (1985)[19], cho biết gà nuôi công nghiệp ở một số nơi ở phía nam nhiễm 5 loại cầu trùng E bruetti, E tenella, E maxima, E necatrix, E mitis
Tác giả Hoàng Thạch và cộng sự (1999)[15] xác định rằng có 6 loại cầu trùng ký sinh ở gà nuôi tại thành phố Hồ Chí Minh và một số vùng phụ cận: E bruetti, E acervulina, E tenella, E maxima, E necatrix, E mitis
Theo Nguyễn Hữu Vũ và Nguyễn Đức Lưu (2000)[23] cho biết bệnh lây truyền chủ yếu qua phân và bệnh phân tán noãn nang ra môi trường bên ngoài và gà
Trang 22cảm nhiễm ăn phải Noãn nang của cầu trùng rất bền vững ở môi trường bên ngoài, các chất sát trùng thông thường rất ít có tác dụng hoặc tác dụng rất hạn chế
Dương Công Thuận (1995)[18] đối với gà nội nuôi chăn thả tự do, bệnh cầu trùng ít gây tác hại hơn Nguyên nhân gà được chăn thả ở bãi rộng, có ánh nắng trực tiếp nên nang trứng cầu trùng bị tiêu diệt một phần Mặt khác gà được phân tán, vận động nhiều, sức đề kháng được tăng lên Hơn nữa, gà từ nhỏ đã được tiếp xúc với một số lượng ít cầu trùng nên đã có sức miễn dịch nhất định Tuy vậy, khi bị nhiễm liều cao gà vẫn có thể mắc Đối với gà giống công nghiệp nuôi nhốt lồng hoặc chuồng, bệnh có khả năng xảy ra nặng hơn Bản thân giống gà kém sức đề kháng với bệnh, lại nuôi nhốt nên bệnh dễ có điều kiện lây Gà đã bị bệnh dù có chữa khỏi cũng ảnh hưởng nhiều đến sức lớn, do đó tốt nhất phải phòng bệnh là chính
Dương Công Thuận (1995)[18] nhận xét: Bệnh cầu trùng có tính lây lan mạnh, đặc biệt là gà dưới hai tháng tuổi, cho nên còn được coi như là bệnh truyền nhiễm của gà con từ 10 - 49 ngày tuổi
Nguyễn Hữu Vũ và Phạm Sỹ Lăng (1997) [22] cho biết tỷ lệ chết do E.tenella gây bệnh ở gà đến 12 tuần tuổi là 50 % Gà nuôi trên nền xi măng lót trấu
tỷ lệ nhiễm cầu trùng như sau: Ở 21 ngày tuổi tỷ lệ nhiễm 14,55 %; Ở 28 ngày tuổi nhiễm cầu trùng với tỷ lệ 59,15 % Gà nuôi trên lồng sắt: Sau 42 ngày tuổi cho xuống nền xi măng là 1 tuần sau ở 49 ngày tuổi nhiễm cầu trùng với tỷ lệ 30 %
Theo Lê Văn Năm và Nguyễn Thị Hương (1996)[12] cho biết cách sử dụng thuốc đạt hiệu quả, quy trình phòng - trị khi sử dụng thuốc như sau: Giai đoạn 1 - 4 tuần tuổi nên dùng những thuốc có khả năng tiêu diệt cầu trùng khi chúng đang nằm trong giai đoạn phát triển thể phân lập Đó là các loại thuốc cocci - stop - ESB3; monenzin, cocci - stop - 2000; coccibio; biasul; coccitrim Giai đoạn từ 28 - 60 ngày tuổi là giai đoạn gà có nhiều thay đổi về sinh lý và cũng là giai đoạn cầu trùng
dễ xẩy ra nhất ta nên dùng các loại thuốc như: sulfatyl, anticoccid, A.S.F20, coyden
25, furaporol, coxymac, Giai đoạn sau 60 ngày tuổi có thể dùng , furazolidon, sulfatyl,
2.2.2.Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Theo Kolapxki và Paskin (1980) [25] bệnh cầu trùng gà là một bệnh ở gà con từ 10 đến 18 ngày tuổi Đôi khi bệnh cũng có ở gà 4 - 6 tháng tuổi 28 Trong
Trang 23điều kiện các cơ sở chăn nuôi gia cầm, gà 3 - 4 tuần tuổi nhạy cảm và nhiễm bệnh cầu trùng nặng nhất với tỷ lệ chết cao Trứng phát triển ở thể giao tử (gametocyte) của cầu trùng E tenella được sử dụng làm vắc xin phòng chống bệnh ở cầu trùng
gà Gà 5 ngày tuổi được chia ra làm 4 lô và cho uống vắc xin:
- Lô I: Vắc xin 1 (giao tử)
- Lô II: Vắc xin 2 (giao tử vô hoạt)
- Lô III: Vắc xin 3 (giao tử vô hoạt siêu âm)
- Lô IV: (Lô đối chứng): Cho uống 1 lít nước sinh lý
Vào ngày thứ 15 thì gà được miễn dịch cho thử thách với 60.000 – 70.000 oocyst đã sinh bào tử của nhiều loại cầu trùng Eimeria Trong tổng số 126 gà thí nghiệm có 94 gà được mổ khám và 32 gà bị chết trong quá trình thử nghiệm Vào ngày thứ 21 sau khi tiêm vắc xin gà được mổ khám và ghi lại Bệnh ở lô II là thấp nhất, có 17 gà thấy bệnh tích ở phần ruột và manh tràng Sự sai khác thông thường
có ý nghĩa về mặt bệnh tích giữa lô I, II và IV Còn bệnh tích ở lô III có sự sai khác
có ý nghĩa so với các bệnh tích ở lô I, II và IV
Archie Hunter (2000) [24] cho biết: Để phòng chống bệnh cầu trùng cho gà tốt, nhất là gà con không tiếp xúc với số lượng noãn nang lớn trong môi trường Điều này có thể thực hiện được nhờ vệ sinh tốt, ngăn ngừa sự tích tụ phân trong chuồng, giữ cho môi trường luôn luôn khô
Lee (1989)[29] đang nghiên cứu những loại vắc xin cầu trùng mới với các loài Eimeria tại chỗ có hiệu quả hơn
2.2.3.Một vài nét về gà thí nghiệm
Gà Cáy Củm hay còn gọi là gà cúp (gà không có phao câu) Theo báo Tiền phong (2014): Gà Cáy Củm đã được nuôi từ lâu đời tại xã Đức Xuân và Ngũ Lão (huyện Hòa An) và xã Lưu Ngọc (huyện Trà Lĩnh, Cao Bằng) và rải rác tại một số
xã thuộc huyện Hoàng Su Phì (Hà Giang), từng được dùng cúng lễ cầu may mắn và
là vật linh thiêng trong nhà người HMông
Hiện nay, giống gà này giảm số lượng và chỉ được nuôi xen kẽ rất ít ở các
hộ người HMông, vì theo quan niệm của người địa phương, những ngày giỗ, tết phải ăn và biếu bố mẹ gà trống thiến to béo
Trang 24Gà Cáy Củm không đạt yếu tố thẩm mỹ Đặc điểm ngoại hình và tập tính + Ngoại hình - Lông - Màu sắc của lông đa dạng giống gà Ri: Màu lông nâu, xám, hoa mơ, vàng có sọc đen, ánh xanh cánh sả, đen v.v… Lông mượt và nhiều Lúc mới nở và còn nhỏ con trống và con mái có màu lông giống nhau Khi trưởng thành:
+ Con trống: Màu lông con trống rực rỡ, đẹp mắt Màu sắc lông đa dạng: nâu đỏ, xám, nâu, đen, ánh vàng
+ Con mái: Màu nâu, xám, vàng nâu, đen Lông mềm sáng có màu nâu, xám, lông trắng sọc đen
- Đặc biệt là lông đuôi cúp xuống (vì không có phao câu)
- Mào: Mào đơn, mào dâu, màu đỏ
- Tầm vóc: Tầm vóc thanh gọn, thân tương đối ngắn, chân cao vừa phải, mào bé, xương nhỏ, lông xếp xít vào thân
- Màu mắt: Đen, nâu
- Màu dái tai: Chủ yếu là đỏ, rất ít có màu trắng
- Màu sắc chân: Chủ yếu có màu vàng, có một số màu đen, nâu
- Phao câu: Không có
* Đặc điểm về tập tính sống theo đàn, tính tình hiền lành, linh hoạt, nhanh nhẹ
- Khả năng sản xuất khối lượng gà trưởng thành: Con trống: 2,0 – 2,5 kg Con mái: 1,3 – 2,0 kg Tuổi thành dục: Trống: 150 ngày; Mái: 130 ngày Tuổi đẻ lứa đầu: 150 ngày, sản lượng trứng: 13 – 16 quả/lứa, 90 – 100 quả/năm
2.2.4.Thành phần hóa học và cơ chế tác dụng của hai loại thuốc RTD-Coccistop
và Avicoc
Thuốc RTD-Coccistop: thành phần gồm có Sulfadimeratine, trimethoprim
và tá dược vừa đủ Sulfadimeratine vừa là kháng sinh phổ rộng vừa là chất chống Cầu trùng hữu hiệu Tác động kháng Cầu trùng của Sulfadimeratine được tăng lên nhiều lần khi kết hợp với trimethoprim.Vì vậy với liều nhỏ Sulfadineratine, thuốc gia tăng độ an toàn mà vẫn đạt được hiệu quả tối ưu trong việc phòng trị tất cả các loại Cầu trùng đường ruột trên gia súc, gia cầm Ngoài ra, sự kết hợp Sulfadimeratine-trimethoprim cũng giúp làm giảm nguy cơ kháng thuốc Do đó Avicoc thực sự là thuốc trị bệnh Cầu trùng cho hiệu quả tối ưu với độ an toàn cao
Trang 25Thuốc Avicoc: Đây là chế phẩm của hãng Avitec (Pháp), thành phần gồm
có Sulfadimeratine, Divaeridine và tá dược vừa đủ Sulfadimeratine vừa là kháng sinh phổ rộng vừa là chất chống Cầu trùng hữu hiệu Tác động kháng Cầu trùng của Sulfadimeratine được tăng lên nhiều lần khi kết hợp với Divaeridine Vì vậy với liều nhỏ Sulfadineratine, thuốc gia tăng độ an toàn mà vẫn đạt được hiệu quả tối ưu trong việc phòng trị tất cả các loại Cầu trùng đường ruột trên gia súc, gia cầm Ngoài ra, sự kết hợp Sulfadimeratine-Divaerdine cũng giúp làm giảm nguy cơ kháng thuốc Do đó Avicoc thực sự là thuốc trị bệnh Cầu trùng cho hiệu quả tối ưu với độ an toàn cao và nguy cơ kháng thuốc thấp
Trang 26PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Thí nghiệm được tiến hành trên gà Cáy củm nuôi bán chăn thả từ 1 – 20 tuần tuổi
- Hai loại thuốc phòng và trị bệnh cầu trùng là RTD-Coccistop và Avicoc
3.2.ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN TIẾN HÀNH
- Địa điểm: Chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa thuộc tổng
công ty khai khoáng miền núi ở xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
- Thời gian thực hiện đề tài: từ ngày 18 tháng 5 năm 2017 đến ngày 18 tháng
11 năm 2017
3.3.NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Đánh giá khả năng nhiễm Cầu trùng ở gà Cáy củm tại chi nhánh nghiên cứu
và phát triển động thực vật bản địa thuộc tổng công ty khai khoáng miền núi
- Hiệu lực của hai loại thuốc RTD-Coccistop và Avicoc
3.4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.4.1.Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành theo phương pháp phân lô so sánh theo sơ đồ sau:
Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm S
TT Diễn giải ĐVT Lô thí nghiệm 1 Lô thí nghiệm 2
Trang 273.4.2 Phương pháp theo dõi
* Các chỉ tiêu theo dõi
- Tỷ lệ mắc bệnh cho gà cáy củm ở hai lô thí nghiệm
- Tỷ lệ khỏi ở hai lô tỷ lệ chết
- Tỷ lệ tái phát
- Hiệu lực sử dụng vacxin phòng bệnh cho gà
- Hiệu lực của phác đồ điều trị
* Phương pháp tiến hành
+ Theo dõi tình trạng sức khỏe của dàn
+ Quan sát triệu chứng lâm sàng để phát hiện bệnh Cầu trùng
+ Lấy mẫu phân
- Phương pháp lấy mẫu phân: phân gà mới thải (vào buổi sáng sớm) ở 1 – 20 tuần tuổi Phân để vào từng túi nilon nhỏ(3g – 5g) trong đó có ghi đầy đủ số thứ tự của từng mẫu, của lô gà, giống, tuổi, ngày lấy mẫu
- Phương pháp kiểm tra mẫu phân: sử dụng phương pháp Fulleborn
Mục đích: tìm noãn nang Cầu trùng
Nguyên lý: Lợi dụng tỷ trọng của nước muối bão hòa (d = 1,18 – 1,20) lớn hơn tỷ trọng của noãn nang cầu trùng (d = 1,01 – 1,02) làm cho noãn nang cầu trùng nổi lên trên bề mặt của dung dịch Sử dụng phương pháp này độ chính xác tương đối cao
Phương pháp pha nước mỗi báo hòa: 1 lít nước sôi cho 380g muối
Lấy mẫu phân cần kiểm tra cho vào một cốc thủy tinh có dung tích 100-150ml Sau đó đổ nước muối bão hòa vào (khoảng 40-50ml), vừa đổ vừa dùng đũa thủy tinh nghiền nát phân trong dung dịch Khuấy cho phân tan kỹ, sau đó lọc qua lưới thép để lọc bỏ cặn thô Lấy dung dịch đó cho vào các lọ Penicillin, đổ đến khi gần đầy miệng
lọ, tránh làm tràn ra ngoài, rồi đặt phiến kính sạch lên lọ sao cho tiếp xúc với mặt dung dịch, để khoảng 30 phút lấy phiến kính ra soi dưới kính hiển vi quang học độ phóng đại
100 lần (vật kính 10, thị kính 10) để tìm noãn nang Cầu trùng
- Phương pháp đánh giá cường độ nhiễm Cầu trùng ở gà
Tiến hành đếm noãn nang trên một vi trường, nếu trên vi trường thấy:
Không có noãn nang: âm tính ( - )
Trang 281-3 noãn nang: nhiễm nhẹ ( + )
4-6 noãn nang: nhiễm trung bình ( ++ )
7-8 noãn nang: nhiễm nặng ( +++ )
Trên 9 noãn nang: nhiễm rất nặng ( ++++ )
Số gà khỏi bệnh sau điều trị
x 100
Số gà đƣợc điều trị