Kết quả thí nghiệm thu được: - Đường kính gốc ghép có ảnh hưởng tích cực đến sự sinh trưởng và phát triển của chồi ghép trong giai đoạn vườn ươm và ngoài lô trồng tái canh từ khi nẩy ch
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NÔNG HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI :
SO SÁNH TỶ LỆ MẮT GHÉP SỐNG GIỮA CÁC ĐƯỜNG KÍNH GỐC GHÉP KHÁC NHAU CỦA GIỐNG
PB 260 TẠI NÔNG TRƯỜNG 9 VÀ NÔNG TRƯỜNG 4,
CÔNG TY CAO SU PHÚ RIỀNG
Họ và tên sinh viên: NGUYỄN VIẾT CHƯỞNG
Niên khóa : 2005 – 2009
Tháng 8/2009
Trang 2SO SÁNH TỶ LỆ MẮT GHÉP SỐNG GIỮA CÁC ĐƯỜNG KÍNH GỐC GHÉP KHÁC NHAU CỦA GIỐNG PB 260 TẠI NÔNG TRƯỜNG 9 VÀ
NÔNG TRƯỜNG 4, CÔNG TY CAO SU PHÚ RIỀNG
Tác giả
NGUYỄN VIẾT CHƯỞNG
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư nông nghiệp ngành
Nông Học
Giáo viên hướng dẫn:
Th.S TRẦN VĂN LỢT
Trang 3LỜI CẢM TẠ Xin trân trọng biết ơn:
Qúy thầy cô trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt những năm học qua
Ban giám hiệu Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Bình Phước đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tại Trung tâm
ThS Trần Văn Lợt đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ dạy cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp này
Tôi xin cảm ơn:
Ban lãnh đạo Công ty cao su Phú Riềng đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Cán bộ đang công tác Tại Phòng Nông Nghiệp Công ty, và Ban lãnh đạo Nông Trường 9, Nông Trường 4, Công ty cao su Phú Riềng, đã giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi tốt nhất để tôi thực hiện hoàn thành đề tài tốt nghiệp
Nguyễn Viết Chưởng Lớp Nông học TC04NH - Bình Phước
Trang 4TÓM TẮT
Nguyễn Viết Chưởng, Đại học Nông Lâm TP.HCM, tháng 08 năm 2009
“So sánh tỷ lệ mắt ghép sống giữa các đường kính gốc ghép khác nhau
giống PB 260 tại Nông trường 9 và Nông trường 4, Công ty cao su Phú Riềng”
được thực hiện tại Nông trường 9 và lô trồng cao su tái canh Nông trường 4 - Công
ty cao su Phú Riềng
Thí nghiệm 1: Được thực hiện trên gốc ghép giống GT 1 và mắt ghép giống
PB 260 bố trí thí nghiệm theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên tại vườn ươm với 05 nghiệm thức và 03 lần lặp lại, 15 ô cơ sở, mỗi ô 40 bầu, thời gian thực hiện từ tháng
03 đến tháng 6/2009
Thí Nghiệm 2: Được thực hiện trên gốc ghép GT 1 và mắt ghép PB 260, bầu
01 tầng lá được bố trí thí nghiệm theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên ngoài vườn trồng tái canh năm thứ nhất, với 05 nghiệm thức và 03 lần lặp lại, 15 ô cơ sở, mỗi ô là 40 bầu, thời gian thực hiện từ tháng 06 đến tháng 8/2009
Kết quả thí nghiệm thu được:
- Đường kính gốc ghép có ảnh hưởng tích cực đến sự sinh trưởng và phát triển của chồi ghép trong giai đoạn vườn ươm và ngoài lô trồng tái canh từ khi nẩy chồi cho đến khi phát triển các tầng lá ổn định
- Gốc ghép đường kính từ 8 mm – 8,9 mm cho tỷ lệ sinh trưởng và phát triển của chồi ghép kém
- Gốc ghép đường kính từ 10 mm – 11,9 mm cho tỷ lệ sinh trưởng và phát triển của chồi ghép khá
- Gốc ghép có đường kính từ 12 mm – 12,9 mm cho tỷ lệ sinh trưởng và phát triển của chồi ghép tốt nhất
Do vậy gốc ghép có đường kính từ 10mm trở lên sẽ cho chồi ghép có tỷ lệ sinh trưởng và phát triển tốt nhất, quyết định đến khả năng sinh trưởng và phát triển của vườn cây sớm
Trang 5MỤC LỤC
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu đề tài 2
1.3 Phạm vi đề tài 3
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Một số khái niệm cơ bản về cây cao su 4
2.1.1 Họ tên và nguồn gốc 4
2.1.2 Quá trình phát triển cây cao su ở Việt Nam 4
2.1.3 Đặc điểm sinh học, sinh thái 7
2.2 Kinh nghịêm của sản xuất và một số kết quả nghiên cứu trước 10
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
3.1 Vật liệu thí nghiệm 12
3.1.1 Dòng vô tính cao su giống GT 1 12
3.1.2 Dòng vô tính PB 260 13
3.1.3 Dụng cụ thí nghiệm .14
3.2 Điều kiện tự nhiên tại khu vực nghiên cứu 17
3.2.1 Khí tượng thủy văn 17
3.2.2 Thổ nhưỡng 18
3.3 Các chỉ tiêu quan trắc 19
3.4 Bệnh héo đen đầu lá 20
3.4.1 Tình hình phân bố của bệnh 20
3.4.2 Tác nhân gây bệnh 20
3.4.3 Triệu chứng bệnh 20
3.4.4 Phương pháp điều tra 21
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 21
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 22
4.1 Tỷ lệ sống và nảy chồi 22
4.2 Các giai đoạn sinh trưởng của tầng lá thứ nhất 23
4.3 Sự phát triển của tầng lá thứ nhất 25
Trang 64.4 Sự sinh trưởng tầng lá thứ 2 27
4.5.Sự phát triển tầng lá thứ 3 30
4.6 Bệnh héo đen đầu lá 33
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 35
5.1 Kết luận 35
5.2 Đề nghị 35
Trang 7DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ANOVA Analysis of Variance
GT1 Gongdang Tapen 1 (Dòng vô tính)
RRIM Rubber Research Instiule of Malaysa
(Viện nghiên cứu cao su Việt Nam) IRCV Istitute de Recherches sur Caoutchoue au Vietnam
(Viện nghiên cứu cao su Việt Nam)
Trang 8DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Bố trí thí nghiệm trong vườn ươm 15
Bảng 3.2 Bố trí thí nghiệm ngoài vườn trồng mới 17
Bảng 3.3 Các yếu tố khí hậu địa điểm nghiên cứu năm 2009 18
Bảng 4.1 Tỷ lệ sống, tỷ lệ nảy chồi trong vườn ươm 22
Bảng 4.2 Kết quả theo dõi tình hình phát triển của gốc ghép sau 30 ngày cắt ngọn 24
Bảng 4.3 Đường kính trung bình của chối ghép ở tầng lá thứ nhất trong vườn ươm 26
Bảng 4.4 Chiều cao trung bình của chối ghép ở tầng lá thứ nhất trong vườn ươm 27
Bảng 4.5 Đường kính trung bình của chồi ghép ở giai đoạn phát triển tầng lá thứ 2 27
Bảng 4.6 Chiều cao trung bình của chồi ghép ở giai đoạn phát triển tầng lá thứ 2 28
Bảng 4.7 Tỷ lệ cây phát triển tầng lá thứ 2 giữa các nghiệm thức 29
Bảng 4.8 Tăng trưởng đường kính của chối ghép ở giai đoạn phát triển tầng lá thứ 3 30 Bảng 4.9 Chiều cao trung bình của chối ghép ở giai đoạn phát triển tầng lá thứ 3 31
Bảng 4.10 Tỷ lệ cây phát triển tầng lá thứ 3 giữa các nghiệm thức 32
Bảng 4.11 Tỷ lệ bệnh héo đen đầu lá trong thời gian nghiên cứu 33
Trang 9DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 3.1 Vườn cây giống GT 1 – 14 năm tuổi 13
Hình 3.2 Vườn cây giống PB 260 – 12 năm tuổi 14
Hình 3.3 Vườn ươm tại Nông trường 9 - Công ty cao su Phú Riềng 15
Hình 3.4 Thao tác đo đường kính gốc ghép trước khi tháp tại vườn ươm 16
Hình 3.5 Kiểm tra mắt ghép trước khi cắt ngọn 16
Hình 4.1 Vườn ươn giống PB 260 sau khi cắt ngọn 10 ngày 23
Hình 4.2 Các giai đoạn sinh trưởng của tầng lá thứ nhất 25
Hình 4.3.Thao tác đo đường kính, chiều cao chồi ghép ở tầng lá thứ nhất 26
Hình 4.4 Thao tác đo đường kính chối ghép ở tầng lá thứ hai 28
Hình 4.5 Thao tác đo chiều cao chối ghép ở tầng lá thứ hai 29
Hình 4.6 Thao tác đo đường kính chồi ghép ở tầng lá thứ ba 31
Hình 4.7 Thao tác đo chiều cao chồi ghép ở tầng lá thứ ba 32
Hình 4.8 Bệnh héo đen đầu lá 34
Trang 10Cây cao su Hevea brasiliensis có nguồn gốc từ Nam Mỹ, ngày nay được trồng
ở nhiều vùng sinh thái khác nhau trên thế giới Ơ Việt Nam cây cao su được một dược sĩ người Pháp Raoul du nhập vào trồng bằng hạt năm 1897, được xác định là cây trồng có hiệu quả kinh tế cao, ổn định và góp phần cải thiện điều kiện kinh tế –
xã hội và môi trường Vì thế, để tiếp tục phát triển ngành cao su phải có những biện pháp, những chính sách đầu tư hợp lý, có hiệu quả, không ngừng ứng dụng những biện pháp khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất, tăng sản lượng và chất lượng để có thể cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu của thị trường cao su thiên nhiên về số lượng lẫn chất lượng
Để giải quyết các mục tiêu tổng quát nêu trên, từ những năm đầu của thế kỷ
XX nhiều nhà khoa học đã tìm cách nhân giống vô tính cây cao su bằng cách ghép mắt trên cây cao su thực sinh, nhằm hạn chế về mặt sinh học của trồng bằng hạt thường có sản lượng thấp, vườn cây không đồng đều và vỏ dày khó cạo mủ Năm
1914 vườn thực nghiệm Buitenzorg ở Java (Indonesia) nhờ hợp tác với các nhà trồng cao su ở Java và Sumatra mà hoàn thiện được phương pháp ghép cây cao su của
Trang 11Helten, đã thu được kết quả rất khả quan về năng suất và sản lượng so với cây trồng bằng hạt Từ năm 1925, phương pháp ghép mắt được áp dụng trong việc trồng cao su
ở Việt Nam và phổ biến từ những năm 1960 đến nay
Cây cao su cũng như những cây trồng khác nếu ở giai đoạn vườn ươm được chăm sóc tốt, ghép đúng kỹ thuật và tuổi ghép thì sau này mới phát huy hết thế mạnh của giống, trong kỹ thuật sản xuất cây cao su, người ta đã chuyển phương pháp gieo hạt ghép tại lô sang nhân giống trong vườn ươm bằng Stump trần và hiện nay phổ biến trồng bằng Stump bầu
Độ lớn gốc ghép và kỹ thuật ghép là một trong những yếu tố quyết định đến
tỷ lệ cây sống nhằm tăng tỷ lệ sử dụng cây giống, khả năng sinh trưởng, phát triển và rút ngắn thời gian kiến thiết cơ bản, tạo vườn cây đồng đều nâng cao tỷ lệ định hình vườn cây đồng thời chủ động được vụ trồng mới và đạt hiệu quả kinh tế cao
Như vậy, việc phát triển cây cao su ngoài vấn đề đảm bảo quy trình kỹ thuật canh tác, giống, chăm sóc thì công tác lựa chọn các đường kính gốc ghép cho phù hợp để có thể rút ngắn thời gian kiết thiết cơ bản cũng được hết sức quan tâm
Xuất phát từ sự cần thiết trên, được sự đồng ý của khoa Nông Học, trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh và sự giúp đỡ của Công ty cao su Phú
Riềng tạo điều kiện cho tôi tiến hành thực hiện đề tài “So sánh tỷ lệ mắt ghép sống
giữa các đường kính gốc ghép khác nhau của giống PB 260 tại Nông trường 9 – Công Ty Cao Su Phú Riềng”
1.2 Mục tiêu đề tài
Đánh giá tỷ lệ sống, khả năng nảy chồi, sinh trưởng tầng lá thứ nhất của chồi ghép cao su ở cây giống dạng bầu có các kích thước đường kính gốc ghép khác nhau trong giai đoạn vườn ươm
Đánh giá khả năng sinh trưởng của chồi ghép cao su ở cây giống dạng bầu từ tầng lá thứ 2 và tầng lá thứ 3 với các kích thước đường kính gốc ghép khác nhau trong giai đoạn ngoài vườn trồng tái canh năm thứ nhất
Chọn đường kính gốc ghép tương ứng tiến hành ghép để đạt tỷ lệ sống, sinh trưởng và phát triển cao của chồi ghép đồng thời chủ động được thời vụ trồng cho thích hợp với các yếu tố tác động trong quá trình trồng mới để vườn cây sinh trưởng
và phát triển tốt
Trang 12Dựa trên kết quả thí nghiệm tìm hiểu mối quan hệ tương quan giữa độ lớn gốc ghép với chiều cao của chồi để lựa chọn đường kính gốc ghép thích hợp Qua đó đề xuất việc rút ngắn thời gian chăm sóc trong vườn ươm và cải thiện kích thước bầu nhằm hạ giá thành sản xuất cây giống
1.3 Phạm vi đề tài
Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2009 nên chúng tôi chỉ tập trung khảo sát các chỉ tiêu kỹ thuật chính: Đường kính gốc ghép, tầng lá, chiều cao, tỷ lệ bệnh của cây giống cao su PB 260 dạng bầu có tại vườn ươm Nông trường
9 và ngoài vườn trồng tái canh thuộc lô 12 Nông trường 4 thuộc Công ty cao su Phú Riềng, từ giai đoạn cây giống chuẩn bị ghép, ghép sống ổn định đến giai đoạn đưa ra trồng mới ở vườn kiết thiết cơ bản Các giai đoạn chăm sóc vườn cao su trồng mới được thực hiện theo quy trình sản xuất cây giống của Công ty cao su Phú Riềng và quy trình chăm sóc, bón phân vườn cao su trồng mới của Tập đoàn công nghiệp cao
su quốc gia Việt Nam
Trang 13Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Một số khái niệm cơ bản về cây cao su
2.1.1 Họ tên và nguồn gốc
Cây cao su (Hevea brasiliensis Muell Arg) là một loài thuộc chi Hevea, họ Euphorbiaceae Trong chi Hevea có chín loài Hevea khác: H benthamiana, H
camarganoa, H camporum, H guianensis, H nitida, H microphilla, H pauciflora,
H rigidifolia H spruceana Mặc dù tất cả các loài Hevea đều cho cao su, những chỉ
có loài Hevea prasiliensis là có ý nghĩa về kinh tế và được trồng rộng rãi nhất Tất cả
các loại Hevea là loài đặc hữu bản địa của Amazon, Nam Mỹ phân bố trong tự nhiên trên một vùng rộng lớn nằm giữa vĩ độ 6o và 15o Nam, giữa kinh độ 46o – 77o Đông, bao trùm các nước Bolivia, Brazil, Colombia, Peru, Venezuela, ngoài vùng bản địa trên người ta người ta không tìm thấy cao su trong tự nhiên ở các khác nước khác trên thế giới
2.1.2 Quá trình phát triển cây cao su ở Việt Nam
Cây cao su được ghi trong danh mục của vườn thực vật Sài Gòn năm 1878 do giám đốc Jean Louis Pierre thử trồng ở vườn Bách thảo Sài Gòn nhưng không sống được cây nào Đến năm 1897, một dược sĩ hải quân pháp mang 2.000 hạt giống cao
su vào Việt Nam từ vườn Buitenzorg ở Batavia (Java, Indonesia) trong 1.600 cây sống, 1.000 cây giao cho trạm thực nghiệm ông Yệm (Bến Cát – Bình Dương), 200 cây giao cho bác sĩ Yersin trồng thử ở suối Dầu (cách Nha Trang 20km), 100 cây trồng ở Thủ Đức và 100 cây được đưa thử nghiệm ở nhiều nơi Năm 1897 đã đánh dấu sự hiện diện của cây cao su ở Việt nam, nhận thấy cao su phát triển thuận lợi Yersin đã đặt mua thêm 6.000 hạt từ Ceylon (Srilanka) Năm 1914 ở Suối Dầu có khoảng 307ha, Công ty cao su đầu tiên được thành lập là Suzannad (Dầu Giây - Long Khánh – Đồng Nai) Đến năm 1920, đạt được diện tích 10.000ha nhờ vào sự khuyến khích của Chính phủ Pháp, một số cao su Tư bản Pháp đã được thành lập
Trang 14như: SIPH, SPTR, CEXO, SHT, CHPI, MICHELIN… một số đồn điền cao su tự nhiên Việt Nam cũng được thành lập, chủ yếu tập trung ở Đông Nam Bộ Cây cao su được trồng thử ở Tây Nguyên năm 1923 và phát triển mạnh trong giai đoạn 1960 –
1962 trên những vùng đất cao 400 – 600m, sau đó ngưng vì chiến tranh
Thời kỳ trước năm 1975, để có nguồn nguyên liệu cho nền công nghiệp miền Bắc, cây cao su đã được trồng trên Vĩ tuyến 17o Bắc (Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ
An, Thanh Hoá, Phú Thọ) trong những năm 1958 – 1963 bằng nguồn giống từ Trung Quốc diện tích đã lên đến khoảng 6.000ha
Đến năm 1975, Việt Nam còn khoảng 65.000ha Tập trung ở Đông Nam Bộ khoảng 58.000ha, ở Tây Nguyên khoảng 3.482ha và ở các tỉnh Duyên hải miền Trung và khu 4 cũ khoảng 3.636ha Sau năm 1975 cây cao su được tiếp tục phát triển chủ yếu ở Đông Nam Bộ trong các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa Từ năm 1977, Tây Nguyên lại bắt đầu chương trình trồng mới cây cao
su, thoạt đầu tiên ở các NT do Quân đội quản lý, sau năm 1985 ở các Công ty Quốc doanh Sau năm 1984, cây cao su được phát triển ở Quảng Trị, Quảng Bình trong các Công ty Quốc doanh, từ 1992 đến nay tư nhân đã tham gia trồng cây cao su ở miền Trung, chương trình trồng rừng 327 và kế hoạch của nhiều tỉnh miền Trung đã hoàn thành diện tích cao su toàn diện
Đến năm 2003, diện tích cao su thuộc Tổng cao ty cao su Việt Nam đạt 219.000ha, trong đó: 173.000ha đang được khai thác mủ Diện tích cao su này trải rộng từ Đông Nam Bộ đến Tây Nguyên và miền Trung, điều kiện sinh thái của các vùng này rất khác nhau, sinh trưởng và năng suất của cao su cũng thay đổi tuỳ theo điều kiện môi trường Năng suất cao su trên vườn cây của Tổng công ty cao su đã cao dần từ 0,7tấn/ha/năm vào những năm 1990 đến năm 2003 đạt năng suất bình quân là 1,52tấn/ha/năm, tại Tây Nguyên là 1,15 tấn/ha/năm, tại Đông Nam Bộ và Quảng Trị 1,56 tấn/ha/năm
Đến năm 2005, cao su cả nước đạt được diện tích khoảng 464.000ha với sản lượng khoảng 510.000tấn và năng suất đạt 1.480kg/ha/năm Như vậy, trong giai đoạn 1976 – 2005 ngành cao su thiên nhiên Việt Nam có sự gia tăng rất đáng kể cụ thể về diện tích đã gia tăng gấp 6 lần, sản lượng gia tăng giấp 12 lần và năng suất gia tăng gấp 2 lần
Trang 15Đến năm 2006 diện tích cao su ở Việt nam đạt 510.000 ha, sản lượng đạt 540.000 tấn/năm
Diện tích trồng cao su cả nước và tại các vùng trồng cao su chính của Việt Nam liên tục tăng trong những năm vừa qua Từ năm 2000 đến 2008, tốc độ tăng trưởng bình quân về diện tích cao su của cả nước đạt hơn 4%/năm Diện tích cao su
cả nước năm 2008 đạt 601,8 nghìn ha và năng suất bình quân của cả nước đạt 10,7 tạ/ha
Theo đề án phát triển của Bộ NN7PTNT, dự kiến năm 2009, diện tích cao su của cả nước đạt 640 nghìn ha; Năng suất đạt 1,7 tấn/ha; và sản lượng sẽ đạt 680 nghìn tấn Trong việc chuyển từ đất rừng nghèo kiệt sang trồng cao su tại các tỉnh Tây Nguyên đặc biệt chú ý thực hiện đúng quy định đã đề ra Đối với khu vực Tây Bắc, chỉ nên trồng cao su mang tính chất thí điểm, không ồ ạt mở rộng diện tích
Theo chiến lược phát triển của Chính phủ thì định hướng phát triển cây cao su
sẽ đạt 700.000ha vào năm 2010 và được phân chia ra các vùng trọng điểm như sau: Đông nam Bộ 300.000ha, Tây Nguyên 330.000ha, các tỉnh duyên hải miền Trung 28.000ha, Duyên hải Bắc miền Trung 42.000h Thành phần kinh tế tham gia trồng kế hoạch trồng cao su rất đa dạng dự kiến như sau: Quốc doanh 250.000 – 300.000ha,
tư nhân và tiểu điền 350.000ha, liên doanh 50.000ha – 100.000ha và với năng suất
có triển vọng đạt 2tấn/ha, chu kỳ kinh doanh rút ngắn còn 25 năm thì ngành cao su
có khả năng đạt 1 đến 1,2 triệu tấn mủ và 800.000 m3 gỗ hàng năm
Song song với việc phát triển diện tích, ngành cao su đã chú trọng nâng cấp các nhà máy cao su sẵn có bằng cách thay thế hoặc trang bị mới các dây chuyền sản xuất và đồng thời cho xây dựng thêm các nhà máy mới với công nghệ hiện đại và công suất cao nhằm đáp ứng sản lượng tăng nhanh của vườn cây, những thành tựu
kỹ thuật đạt được trong ngành cao su vừa qua là từ sự đóng góp của bộ giống cao sản cùng các biện pháp nông học tiến bộ được đúc kết từ những đề tài, công trình nghiên cứu và kinh nghiệm của sản xuất, nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho ngành cao su Việt Nam trong thời hội nhập, cần đưa năng suất lên từ 1,4 – 2 tấn/ha/năm, đồng thời rút ngắn chu kỳ kinh tế nhưng vẫn đảm bảo kế hoạch sản lượng nâng cao hiệu quả
vốn đầu tư và nhanh chóng ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật
Trang 162.1.3 Đặc điểm sinh học, sinh thái
a Đặc điểm sinh học:
Cây cao su: Là cây thân gỗ to, sinh trưởng nhanh, trong rừng có thể cao hơn
40m và vòng thân có thể đạt đến 5m và có thể sống hàng trăm năm Trong các đồn điền cây ít khi cao hơn 25m do việc cạo mủ làm giảm sinh trưởng và thông thường cây được thanh lý để tái canh sau chu kỳ 20 – 25năm
Rễ: Cao su cũng như các cây gỗ khác, có 2 loại rễ là, rễ trụ và rễ bàng (rễ hấp
thu) Rễ trụ dài từ 3 – 5m, rễ bàng nhiều, mập mang rất nhiều rễ tơ, thường tán lá rộng đến đâu thì rễ bàng lan rộng đến đó Rễ trụ chủ yếu đâm sâu xuống đất để hút nước và làm cho cây bám chặt vào đất, rễ bàng hút các chất khoáng và nước ở lớp đất trên Lúc cây trưởng thành, trọng lượng toàn bộ hệ thống rễ cao su chiếm 15% tổng sinh khối của cây
Thân: Gỗ to, hình trụ, gốc hơi phình ra, mọc thẳng đứng, ít khi cong và
nghiêng, thường là tròn, bắt đầu phân cành ở độ cao 2m đến 2,5m Sau khi cạo mủ được vài năm, chiều cao và đường kính thân tăng rất nhanh, từ năm 16 – 20 tuổi trở
đi thì sự tăng trưởng đó chậm lại, sau khi đó cây ngừng tăng trưởng hẳn và trở về già Mùa khô cây tăng trưởng chậm về chiều cao và đường vanh, về mùa mưa cây tăng trưởng nhanh lá xanh mượt, da vỏ tươi mát Cây non trung bình mỗi tháng mọc được 1 tầng lá mới
Vỏ: Gồm 3 lớp chính la, lớp da bần, lớp vỏ cứng và lớp vỏ mềm (lớp da lụa)
Lớp da bần tập hợp các tế bào chết bảo vệ các lớp bên trong Lớp vỏ cứng là lớp da cát có chứa một số mạch mủ Lớp vỏ mềm có chứa nhiều mạch mủ, nơi cung cấp Latex Mạch mủ xếp nghiêng từ phải quá trái tính từ dưới lên làm thành một góc từ 3 – 5O so với đường thẳng
Lá: Lá cao su là lá kép gồm 3 lá chét với phiến là nguyên mọc cách Khi
trưởng thành lá có màu xanh đậm ở mặt trên lá và màu nhạt hơn ở mặt dưới nhạt Lá gắn với cuốn lá thành một góc gần 180O, cuống lá dài khoảng 15cm, mảnh khảnh Các lá chét có hình bầu dục, hơi dài hoặc hơi tròn Phần cuối phiến lá chét nơi có gắn vào cuống lá bằng một cọng lá có tuyến mật trong dài đoạn lá non vừa ổn định Màu sắc lá thay đổi tùy theo giống Lá cao su tập trung thành từng tầng để hình thành một tầng lá Để hình thành một tầng lá, trong điều kiện khí hậu Việt Nam vào
Trang 17mùa mưa cần đến 25 – 30 ngày, vào mùa nắng cần đến 40 – 50 ngày hay nhiều hơn nữa để có một tầng lá Các nghiên cứu ở Mã Lai cho thấy hiện tượng quang hợp lá cao su chỉ bắt đầu khi lá phát triển được một tuần, cường độ quang hợp tăng dần đến mức tối đa đạt được mức ổn định khi lá được 50 – 60 ngày tuổi Cây cao su có hiện tượng rụng lá qua đông, lá rụng toàn bộ sau đó nảy lộc phát triển bộ lá mới Cây thay
lá sớm hay muộn tùy thuộc vào đặc điểm giống và điều kiện môi trường Trong điều kiện Việt Nam cây rụng lá qua đông từ cuối tháng 12 đến tháng 2 năm sau Ơ Tây Nguyên và miền Trung cây cao su thay lá sớm hơn
Hoa: Cây cao su từ 5 - 6 tuổi trở lên bắt đầu nở hoa và thường mỗi năm trổ
hoa một lần vào lúc cây ra lá non tương đối ổn định vậy là vào khoảng tháng 2 – 3 dương lịch trong điều kiện khí hậu Việt nam Hoa cao su là hoa đơn tính đồng chu, hình chuông nhỏ, màu vàng nhạt Trên mỗi hoa phát các hoa đực và hoa cái không chín cùng một lúc mà hoa đực thường chín trước một ngày sau thì tàn, hoa cái chín muộn hơn và tàn sau 3 – 5 ngày, do đó trường hợp tự thụ phấn trên một phát hoa hầu như không xảy ra Hoa thụ phấn chủ yếu nhờ vào côn trùng như ong, bướm, ruồi, kiến… mang phấn hoa từ hoa đực của chùm hoa khác đến hoa cái, tỷ lệ đậu trái trong tự nhiên là rất thấp, thường dưới 3%
Quả và hạt: Quả cao su hình tròn hơi dẹp, đường kính 3 – 5cm, quả nang
gồm 3 ngăn, mỗi ngăn chứa 1 hạt Sau khi quả được hình thành và phát triển được 12 tuần thì hạt đạt được kích thước lớn nhất, 19 – 20 tuần thì quả chín Quả cao su vỡ nhiều vào lúc thời tiết khô hạn
Hạt cao su hình tròn, dài hoặc hình bầu dục, có kích thước thay đổi từ 2 – 3,5cm, lớp vỏ ngoài hạt láng, màu nâu đậm hay nhạt hoặc màu vàng đậm trên có các vân màu đậm hơn Kích thước, hình dáng, màu sắc thay đổi nhiều giữa các giống cây
là một trong những đặc điểm để nhận dạng giống cao su Bên trong hạt có nhân giống phôi nhũ và cây mầm
b Đặc điểm sinh học
Nhiệt độ: Cây cao su cần nhiệt độ cao và đều với nhiệt độ thích hợp nhất từ
25 – 30O, trên 40O cây khô héo, dưới 10O cây có thể chịu đựng được trong một thời gian ngắn nếu kéo dài cây sẽ bị nguy hại như là: cây bị héo, rụng lá, chồi ngọn ngưng tăng trưởng, thân cây cao su kiến thiết cơ bản bị nứt nẻ, xì mủ… nhiệt độ thấp
Trang 185OC kéo dài sẽ dẫn đến chết cây, ở nhiệt độ 25OC năng suất cây đạt mức tối hảo, nhiệt độ mát dịu vào buổi sáng sớm ( 1 – 5 giờ sáng) giúp cây sản xuất mủ cao nhất Các vùng trồng cao su trên thế giới hiện nay phần lớn ở vùng khí hậu nhiệt đới có nhiệt độ bình quân năm 28OC ± 2OC và biên độ nhiệt trong ngày là 7 – 8O C
Lượng mưa: Mưa là một yếu tố quan trọng đối với sự sinh trưởng và sản
lượng của cây cao su Cây cao su có thể trồng ở các vùng đất có lượng mưa từ 1.500
- 2000mm nước/năm Tuy vậy, đối với các vùng có lượng mưa thấp dưới 1.500mm nước/năm thì lượng mưa cần phải phân bố đều trong năm thì cây phát triển tốt nhất Đối với cây cao su trưởng thành thì có sức chịu hạn tốt, đặc biệt khi cây còn non nếu
bị khô hạn sẽ có tác dụng rất lớn Ơ miền Nam Việt Nam với 2 mùa mưa nắng rõ rệt, vào mùa khô cây cao su có sản lượng thấp, cũng như sinh trưởng kém vào mùa mưa, chế độ mưa ở miền Nam đặc biệt là miền Đông Nam Bộ rất thích hợp cho cây cao su
Gió: Cây cao su phát triển tốt nhất trong điều kiện gió nhẹ 1 – 2m/giây, khảo
nghiệm ở Mã lai cho thấy khi gió có tốc độ từ 8 – 13,8m/giây làm lá cao su non bị xoắn lại, lá bị rách, làm chậm tăng trưởng của cây, khi tốc độ gió lớn hơn 17,2m/giây cây bắt đầu gãy thân và cành, nếu lớn hơn 25m/giây cây bị gãy thân và lật gốc Mức
độ thiệt hại phụ thuộc vào dòng vô tính và kỹ thuật canh tác
Giờ chiếu sáng, sương mù: Ảnh hưởng trực tiếp đến cường độ quang hợp
của cây và như thế ảnh hưởng đến mức tăng trưởng của sản xuất mủ cao su Anh sáng đầy đủ giúp cây ít bị bệnh, tăng trưởng nhanh và sản lượng cao, giờ chiếu sáng được ghi nhận tốt nhất cho cây cao su bình quân là 1.800 – 2.800giờ/năm và tối hảo
là khoảng 1.600 – 1.700giờ/năm
Sương mù nhiều gây một tiểu khí hậu ẩm ướt tạo cơ hội cho các loại nấm bệnh phát triển và tấn công cây cao su, như trường hợp bệnh phấn trắng do nấm
Oidium gây nên ở mức độ nặng tại các vùng trồng cao su Tây Nguyên Việt Nam, do
ảnh hưởng của sương mù buổi sáng xuất hiện thường xuyên
Độ cao: Cây cao su thích hợp với các vùng đất có độ cao tương đối thấp dưới
200m Càng lên cao càng bất lợi do độ cao của đất có tương quan với nhiệt độ thấp
và gió mạnh
Địa hình: Đất bằng phẳng hoặc dưới 3% là tốt nhất, đất có độ dốc từ 8 – 16%
phải trồng theo đường đồng mức kèm theo các biện pháp chống sói mòn
Trang 19Lý hoá tính: Cây cao su ưa đất hơi chua pH khoảng 4,5 – 5,5 Cây cao su
cũng như các loại cây trồng khác cần được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng N,
P, K, Ca, Mg và cả vi lượng Yêu cầu hoá tính đất cho việc trồng cao su không khắc khe vì có thể được sửa đổi như bổ sung phân bón, nhưng lý tính đòi hỏi phải tầng đất thật dày, không úng, địa hình ít dốc là tốt nhất Tuy nhiên, nhờ những thành công trong công tác tuyển chọn giống và các biện pháp nông học ngày nay đã có thể phát triển cây cao su ngoài vùng truyền thống với cao trình vĩ độ lớn hơn
2.2 Kinh nghịêm của sản xuất và một số kết quả nghiên cứu trước
Cây cao su được di nhập vào Việt Nam đầu tiên năm 1897 Giai đoạn đầu tiên cây cao su được trồng tại lô bằng hạt đó là cây cao su thực sinh, vườn cây không đồng đều, năng suất thấp và vỏ dày khó cạo
Năm 1930 – 1950 áp dụng phương pháp trồng Stump trần, thường là Stump
18 tháng tuổi
Từ năm 1950 một số Công ty của Pháp đã áp dụng phương pháp trồng hạt ghép tại lô với vốn đầu tư ban đầu thấp Biện pháp thông thường là ghép mắt nâu, gốc ghép 16 – 20 tháng tuổi
Từ những năm 1960, Viện RRIM nghiên cứu ghép mắt xanh và ghép non, tuổi gốc ghép 8 tháng xuống còn 3 tháng tuổi, phần trăm cây ghép sống từ 70 – 90%
Năm 1965 Công ty SIPH thí nghiệm ghép non với đường kính gốc ghép 0,6mm
Năm 1970 – 1975 Viện IRCV thử nghiệm phương pháp trồng bầu, phương pháp ghép mắt xanh và phổ biến ra sản xuất Chương trình nghiên cứu của Viện IRCV năm 1975 đề cập đến biện pháp ghép non, ghép xanh cây còn 4 –10 tháng tuổi, trong bầu tại nương
Trong Hội nghị trồng mới 1977, Viện nghiên cứu cao su được giao ghép cây non 4 – 6 tháng tuổi để hoàn chỉnh phương pháp trồng bầu vụ muộn
Tại hội nghị sáng kiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất tại Đồng Nai năm 1978 Viện nghiên cứu cao su đã trình bày kỹ thuật ghép cây con đường kính gốc ghép 6mm trong bầu 4 tháng
Trang 20Năm 1979 – 1981 kỹ sư Phạm Thị Dung trình bày về kỹ thuật ghép non trong bầu và tại lô với đường kính gốc ghép khác nhau đến một vài chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật về ghép
Năm 1997, Phạm Thị Dung và cộng sự đã nghiên cứu (Biện pháp kỹ thuật sản xuất cây con và phương pháp trồng mới) đối với cây cao su và đưa ra kết luận:
Trong điều kiện vườn ươm có chủ động nước tưới nên áp dụng kỹ thuật ghép non, ghép xanh khi đường kính gốc ghép đạt 4,9 – 10mm, khi đưa ra trồng mới đường kính đạt 14mm
Kích thước bầu có thể giảm từ loại bầu 25 x 50cm xuống còn 20 – 40cm đối với cây non dưới 15tháng tuổi có 1 hay 2 tầng lá
Trang 21Chương 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu thí nghiệm
- Hai giống thí nghiệm: GT 1 làm gốc ghép, PB 260 làm mắt ghép
3.1.1 Dòng vô tính cao su giống GT 1
Phổ hệ: nguyên sơ, xuất xứ: Indonesia, tuyển chọn từ cây thực sinh đầu dòng
tại Godang Tapen (1921)
Khuyến cáo Bảng I ở nhiều nước trồng cao su Ở Việt Nam, chiếm gần 38% diện tích trồng mới từ 1976 - 2000, hiện nay là giống phổ biến ở Tây Nguyên và miền Trung
Sinh trưởng KTCB: Trung bình, ổn định Ở vùng thuận lợi Đông Nam Bộ và
Tây Nguyên cao dưới 600 m, cũng như ở miền Trung, giống GT 1 sinh trưởng kém hơn nhiều giống khác Nhưng trong điều kiện bất thuận của vùng Tây Nguyên độ cao 600-700 m, giống GT1 sinh trưởng tương đương với các giống phổ biến
- Tăng trưởng trong khi cạo: Trung bình
Sản lượng : Ở Việt Nam, năng suất giống GT 1 kém hơn nhiều dòng vô tính
khác ở vùng thuận lợi, nhưng tương đương với giống phổ biến khác trong điều kiện bất thuận Năng suất khởi đầu chậm, 10 năm đầu khai thác với chế độ cạo không kích thích, đạt khoảng 1,4 T/ha/năm Tại Côte d’Ivoire đạt năng suất khá (trên 2T/ha/năm có kích thích); tại Malaysia cao điểm có thể đạt 2,3T/ha/năm nhưng năng suất bình quân chỉ ở mức trung bình so các giống khác
- Các đặc tính quan trọng khác
Thân thẳng, vỏ nguyên sinh hơi mỏng, cứng, tán hẹp, hạt làm gốc ghép tốt
Kháng gió khá, nhiễm nhẹ đến trung bình các loại bệnh lá
Có thể áp dụng chế độ cạo trung bình, đáp ứng kích thích bền Đặc tính mủ thích hợp cho việc sơ chế hầu hết các chủng loại cao su
Trang 22ĐÁNH GIÁ CHUNG
Sinh trưởng và sản lượng trung bình, ổn định trong các điều kiện khác nhau Ở Việt Nam nên hạn chế trồng GT 1
ở vùng thuận lợi do năng suất, sinh trưởng kém hơn nhiều giống hiện có; Thích hợp ở vùng bất thuận tại Tây nguyên và Miền Trung
Hình 3.1 Vườn cây giống GT 1 – 14 năm tuổi
3.1.2 Dòng vô tính PB 260
Phổ hệ: PB 5/51 x PB 49 xuất xứ: Trạm Prang Besar, Malaysia (1956)
Khuyến cáo: Bảng I ở nhiều nước trồng cao su Việt Nam: Trồng đại trà ở hầu hết
các vùng trồng cao su những năm gần đây
Sinh trưởng KTCB: Trung bình đến khá ở Đông Nam Bộ, khoẻ ở Tây Nguyên
Tăng trưởng trong khi cạo: Khá
Năng suất: Sản lượng cao tại Đông Nam Á và châu Phi, năng suất đạt trên 2
tấn/ha/năm từ năm cạo thứ 3 trở đi Năng suất tương đương PB 235 (Malaysia) hoặc cao hơn (Indonesia) Tại Việt Nam: miền Đông Nam Bộ, các năm đầu PB 260 có sản lượng thấp hơn PB 235 nhưng có xu hướng tăng cao vào các năm sau Tại Tây Nguyên, sản lượng cao ngay các năm đầu, vượt nhiều giống khác
Trang 23ĐÁNH GIÁ CHUNG
Sinh trưởng khá và sản lượng mủ cao trên nhiều môi trường Ít nhiễm bệnh lá phấn trắng, thích hợp cho vùng cao Nhược điểm là mẫn cảm bệnh loét sọc mặt cạo, không nên
• Lô 12 thuộc Nông trường 4 - Cty cao Phú Riềng.(Từ tháng 6/09 – 8/09)
a/ Thí nghiệm 1: So sánh tỷ lệ mắt ghép sống giữa các đường kính, gốc ghép
khác nhau của giống PB 260 về sự sinh trưởng, phát triển của chồi ghép trong vườn ươm
Địa điểm: Vườn ươm giống Nông trường 9 – Công ty cao su Phú Riềng
• Quy mô vườn nhân: 15.000m2
• Quy mô vườn ươm: 38.000m2
• Thời gian hạt giống làm gốc ghép: Tháng 08/2008
• Giống làm gốc ghép: Hạt giống GT 1
• Giống ghép: Dòng vô tính PB 260
• Kích thước bầu cây giống: 20 x 40cm, trọng lượng: 07kg/ bầu
• Ngày ghép: 10/03/2009
Trang 24• Cắt ngọn ngày: 28/04/2009
• Kiểu bố trí: Hoàn toàn ngẫu nhiên, 5 nghiệm thức, 3 lần lặp lại, 15 ô cơ
sở, mỗi ô cơ sở 40 bầu
Hình 3.3 Vườn ươm tại Nông trường 9 - Công ty cao su Phú Riềng
Bảng 3.1 Bố trí thí nghiệm trong vườn ươm
* Ghi chú:
• Mỗi ô cơ sở = 40 bầu
• Kiểu bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên
• Gồm: 05 NT x 03 lần lặp lại
Trang 25Hình 3.4 Thao tác đo đường kính gốc ghép trước khi tháp tại vườn ươm
Hình 3.5 Kiểm tra mắt ghép trước khi cắt ngọn
Trang 26b/ Thí nghiệm 2
So sánh về sự sinh trưởng, phát triển của bầu tầng lá giữa các đường kính gốc ghép khác nhau của giống PB 260 ngoài vườn trồng mới năm thứ nhất
* Địa điểm: Lô 12 Nông trường 4 – Công ty cao su Phú Riềng
* Quy mô: 1,08ha (trong vườn trồng mới là 20ha)
* Thời gian theo dõi thí nghiệm: Từ tháng 06 đến 8/2009
Bảng 3.2 Bố trí thí nghiệm ngoài vườn trồng mới
* Ghi chú:
• Mỗi ô cơ sở = 40 bầu
• Kiểu bố trí: Khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên
• Gồm: 5NT x 3 lần lặp lại
3.2 Điều kiện tự nhiên tại khu vực nghiên cứu
3.2.1 Khí tượng thủy văn: (từ tháng 2 đến tháng 6/2009)
Qua số liệu yếu tố khí hậu 05 tháng đầu năm 2009 được thu thập từ Trạm khí tượng thuỷ văn tại Thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước kết quả cho thấy như sau:
* Nhiệt độ: giao động từ 26,4 – 28,2oC, thấp nhất là tháng 2 và cao nhất vào tháng 3, nhiệt độ trung bình 27,3oC Như vậy với nhiệt độ này là hoàn toàn thích hợp đến sinh trưởng và phát triển của cây cao su và được đánh giá ở mức giới hạn Lo
* Lượng mưa: 1.552,5mm trong đó có 01 tháng có lượng mưa dưới 100mm
(tháng 3) và có 01 tháng có lượng mưa trên 400mm (tháng 2) Chỉ tiêu lượng mưa được đánh giá là không bị giới hạn, rất thích hợp cho cây cao su phát triển (L0)
Trang 27* Bốc thoát hơi nước mùa khô: 2.998,4mm lượng bốc hơi cao điểm tập
trung vào tháng 2 và tháng 3 Căn cứ vào quy trình đánh giá khí hậu vào vùng trồng
cao su thì chỉ tiêu này bị giới hạn ở mức nhẹ L1
* Tốc độ gió: 1,15m/s trong các tháng mùa mưa (từ tháng 5 – 6) tốc độ gió
cao nhất có thể lên đến 15m/s, tuy nhiên tần suất xuất hiện gió với vận tốc này rất
thấp và rơi vào giới hạn nhẹ (L1)
* Sương mù: 35 ngày sương mù xuất hiện và tập trung chủ yếu ở các tháng 2,
3, 4, 5 Sự xuất hiện sương mù có liên quan đến khả năng dễ lây nhiễm một số bệnh
trên cây cao su, nhất là các bệnh trên lá Mặt khác, các tháng có sương mù lại trùng
với thời gian ra lá mới của cây nên khả năng lây nhiễm bệnh trên cây rất lớn Theo
quy trình đánh giá khí hậu vùng trồng cao su thì chỉ tiêu này được đánh giá bị giới
hạn ở mức trung bình L2
Đánh giá chung: Nhìn chung các yếu tố khí hậu vùng khảo sát tương đối thích
hợp cho việc trồng cũng như sự sinh trưởng phát triển của cây cao su Với chỉ tiêu số
ngày xuất hiện sương mù mặc dù giới hạn ở L2 khi đánh giá, tuy nhiên tham khảo số
liệu khí hậu được thu nhập ở những năm kế trước cho thấy chỉ tiêu này giơi hạn tối
đa chỉ ở mức L1 như vậy, yếu tố khí hậu vùng khảo sát là hoàn toàn thích hợp cho sự
sinh trưởng phát triển của cây cao su
Bảng 3.3 Các yếu tố khí hậu địa điểm nghiên cứu năm 2009
* Tính chất lý hoá khu đất thí nghiệm
Theo kết quả khảo sát thực địa của viện nghiên cứu cao su Việt Nam năm
2008 cho thấy: Địa điểm nghiên cứu có địa hình tương đối bằng tiêu thoát nước tốt