Pleiku…………..39Bảng 4.4 Các loại thuốc hóa học được nông dân sử dụng trừ các loại sâu hại trên cây cải bắp tại TP.. Từ thực trạng đó, để giúp cho người nông dân trồng rau trên địa bàn tỉn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HCM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC VÀ PHÒNG TRỪ SÂU HẠI TRÊN CÂY CẢI BẮP TẠI THÀNH PHỐ PLEIKU
- GIA LAI VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC PHÒNG
TRỪ SÂU TƠ (Plutella xylostella L.) CỦA
MỘT SỐ LOẠI THUỐC TRỪ SÂU
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN THỊ KIM NHUNG Ngành: Nông học
Niên khóa: 2005-2009
Pleiku, tháng 08/2009
Trang 2ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC VÀ PHÒNG TRỪ SÂU HẠI TRÊN CÂY CẢI BẮP TẠI THÀNH PHỐ PLEIKU
- GIA LAI VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC PHÒNG
TRỪ SÂU TƠ (Plutella xylostella L.) CỦA
MỘT SỐ LOẠI THUỐC TRỪ SÂU
Tác giả
NGUYỄN THỊ KIM NHUNG
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu
cấp bằng Kỹ sư ngành Nông nghiệp
Giáo viên hướng dẫn:
Thầy NGUYỄN HỮU TRÚC
Tháng 08 năm 2009
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Con thành kínhkhắc ghi công ơn cha mẹ đã sinh thành, tần tảo dưỡng dục con
thành người và tạo mọi điều kiện để cho con có được ngày hôm nay
Em xin chân thành cảm ơn:
Thầy Nguyễn Hữu Trúc, người thầy đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt những
kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho em trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp Thầy
đã nhiệt tình theo dõi từng bước quá trình làm thí nghiệm để giúp em hòan thành tốt đề
tài này
Tôi xin trân trọng cảm ơn đến:
Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, Ban giám hiệu,
phòng Đào tạo phân hiệu Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh tại Gia Lai đã quan
tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường cũng như
thời gian thực hiện đề tài
Ban chủ nhiệm khoa Nông Học và cùng toàn thể quý Thầy, Cô khoa Cơ Bản,
khoa Nông học trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh và quý Thầy, Cô trường
Cao Đẳng Sư Phạm Gia Lai đã hết lòng giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý
báu cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Anh Trần Đức Công và các anh chị ở Chi cục BVTV tỉnh Gia Lai, các gia đình
anh Lê Đức Danh, cô Đinh Thị Thanh, anh Nguyễn Anh Tuấn cùng với bà con nông
dân của tổ dân phố 3 phường Thống Nhất, phường Yên Thế và xã An Phú đã nhiệt
tình tạo điều kiện trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Tất cả bạn bè, anh chị đã luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời
gian học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “Điều tra hiện trạng canh tác và phòng trừ sâu hại trên cây
cải bắp tại thành phố Pleiku Gia Lai và đánh giá hiệu lực phòng trừ sâu tơ (Plutella
xylostella L.) của một số loại thuốc trừ sâu” đã được tiến hành tại thành phố Pleiku,
thời gian từ ngày 16 tháng 2 đến ngày 31 tháng 5 năm 2009 Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên
Nội dung nghiên cứu bao gồm: điều tra hiện trạng canh tác cây cải bắp của nông dân thành phố Pleiku và xác định thành phần sâu hại cũng như diễn biến mật số của chúng Đồng thời thí nghiệm đánh giá hiệu lực phòng trừ sâu tơ trên cây cải bắp của một số thuốc trừ sâu tơ
Kết quả thu được cho thấy:
Cây cải bắp tại thành phố Pleiku hiện được trồng 4 giống chính là KK Cross, C35, C38 và A76 Loại diện tích từ 1000 – 2000 m2 là chủ yếu chiếm 65,7 % tổng số
hộ điều tra Khoảng cách 40 cm x 50 cm được trồng phổ biến nhất chiếm 48,6 % tổng
số hộ điều tra
Trên các cây rau họ thập tự có 9 loài sâu hại chính thuộc 3 bộ gồm: Bộ cánh
cứng (Coleoptera) có 1 loài là bọ nhảy sọc vỏ lạc (Phyllotreta striolata F.)
Bộ cánh vẩy (Lepidoptera) có 7 loài là: sâu tơ (Plutella xylostella), sâu xám (Agrotis sp), sâu khoang (Spodoptera sp.), sâu đàn cải bắp (Crociodolomia binotalis), sâu đo xanh hại cải (Chrysodeixis eriosoma), sâu xanh bướm trắng (Pieris brassicae), sâu đục nõn cải (Hellula undalis Fabricius) Trong đó, loài sâu tơ xuất hiện thường
xuyên nhất ở các vườn điều tra và gây hại ở mật số khá cao
Bộ cánh đều (Homoptera) có một loài là rệp cải bắp (Brevicorynine brassicae)
Trong đó, gây hại nghiêm trọng đến năng suất và phẩm chất cây là các loài sâu thuộc bộ cánh vẩy (Lepidoptera)
Biện pháp hóa học được sử dụng phổ biến chiếm 100 % tổng số hộ điều tra, các loại thuốc hóa học được sử dụng với liều lượng cao hơn từ 1,5 – 2 lần so với liều lượng khuyến cáo
Các loại thuốc thí nghiệm có hiệu lực khác nhau trong phòng trừ sâu tơ và sự kéo dài hiệu lực theo thời gian cũng khác nhau Nhìn chung, hiệu lực trừ sâu tơ của
Trang 5các loại thuốc tăng dần theo thời gian từ 1 NSP đến 7 NSP và cao nhất ở 7 NSP Trong đó, ở 7 NSP, hiệu lực cao nhất là thuốc Pegasus 500 SC (1 l/ha) (đối chứng) có hiệu lực là 86,4 % và thuốc Biocin 16 WP (1,2 kg/ha) có hiệu lực là 82,4 % Sau đó, hiệu lực trừ sâu tơ của các loại thuốc giảm dần ở 14 NSP và tiếp tục giảm ở 21 NSP
Có thể nói, ở 21 NSP tất cả các loại thuốc đều không còn hiệu lực, trong đó, thuốc Success 25 SC (1,5 l/ha) hiệu lực chỉ còn 6,8 %, thuốc Pegasus 500 SC (1 l/ha) (đối chứng) hiệu lực chỉ còn 11,8 %
Trang 6MỤC LỤC
Nội dung Trang
Trang tựa ……….i
Lời cảm ơn……… ii
Tóm tắt……… iii
Mục lục………v
Danh sách các chữ viết tắt……….vii
Danh sách các bảng……… viii
Danh sách các hình và biểu đồ……… ix
Chương 1 GIỚI THIỆU……… 1
1.1 Đặt vấn đề……… 1
1.2 Mục đích và yêu cầu……… 2
1.2.1 Mục đích……… 2
1.2.2 Yêu cầu……….3
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU………4
2.1 Cây bắp cải………4
2.1.1 Nguồn gốc, phân bố………4
2.1.2 Giá trị dinh dưỡng……… 4
2.2 Sâu tơ……….5
2.2.1 Tên gọi………5
2.2.2 Đặc điểm hình thái……….5
2.2.3 Đặc điểm sinh sống và phát sinh gây hại……… 6
2.2.4 Thiên địch……… 7
2.2.5 Tình hình nghiên cứu ngoài nước………10
2.2.6 Tình hình nghiên cứu trong nước……….14
2.2.7 Các biện pháp quản lý và phòng trừ……….16
2.2.8 Các loại thuốc thí nghiệm………18
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……….21
3.1 Thời gian và địa điểm………21
3.2 Điều kiện tự nhiên và khí hậu thời tiết………21
3.3 Vật liệu nghiên cứu……….23
3.4 Phương pháp nghiên cứu……….23
3.4.1 Điều tra hiện trạng canh tác cây cải bắp tại TP Pleiku………23
3.4.2 Điều tra thành phần, diễn biến và các biện pháp phòng trừ sâu hại trên cây cải bắp của nông dân tại thành phố Pleiku……… 24
3.4.2.1 Điều tra thành phần và diễn biến các loài sâu hại trên cây cải bắp của nông dân tại thành phố Pleiku……… 24
3.4.2.2 Điều tra các biện pháp phòng trừ sâu hại trên cây cải bắp của nông dân tại thành phố Pleiku………24
3.4.3 Khảo nghiệm hiệu lực phòng trừ sâu tơ hại trên cây cải bắp của một số thuốc trừ sâu tơ tại TP Pleiku……… 25
3.5 Phân tích thống kê và xử lý số liệu……… 26
Trang 7Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN……… 27
4.1 Hiện trạng canh tác cây cải bắp ở Thành phố Pleiku……… 27
4.2 Thành phần, diễn biến và các biện pháp phòng trừ sâu hại trên cây cải bắp của nông dân tại thành phố Pleiku……… 29
4.2.1 Thành phần và mức độ phổ biến của các loài sâu hại trên cây cải bắp…………29
4.2.2 Diễn biến mật số sâu của một số sâu hại chính trên cây cải bắp ở TP.Pleiku… 36
4.2.2.1 Diễn biến mật số sâu tơ trên cây cải bắp ở TP Pleiku……… 36
4.2.2.2 Diễn biến mật số sâu xanh bướm trắng trên cây cải bắp ở TP Pleiku……… 37
4.2.3 Biện pháp phòng trừ các loại sâu hại trên cây rau họ thập tự tại TP.Pleiku…….38
4.3 Kết quả đánh giá hiệu lực phòng trừ sâu tơ trên cây cải bắp……… 41
4.3.1 Mật số sâu tơ ở các nghiệm thức thí nghiệm………41
4.3.2 Hiệu lực của các loại thuốc tính theo công thức Henderson – Tilton………… 42
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ……… 49
5.1 Kết luận……… 49
5.2 Đề nghị………49
Tài liệu tham khảo……….50
Phụ lục ……… 52
Trang 8DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 BVTV: Bảo vệ thực vật
2 Bt: Bacillus thuringiensis
3 ĐC: Đối chứng
4 FAO: Food and Agricultre Organization
5 IPM: Integrated Pest Management
11 NSP: Ngày sau phun
12 NTP: Ngày trước phun
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Quá trình sử dụng thuốc trừ sâu hóa học để phòng trừ sâu tơ P xylostella ở
Malalaysia ……….13 Bảng 3.1 Các nghiệm thức thí nghiệm……… 25 Bảng 4.1 Hiện trạng canh tác cây cải bắp ở 3 vùng rau phường Thống Nhất, phường Yên Thế và xã An Phú tại thành phố Pleiku năm 2009………28 Bảng 4.2: Thành phần và mức độ phổ biến của các loài sâu hại trên cây cải bắp thời gian từ tháng 2 đến tháng 5 tại TP.Pleiku……….30 Bảng 4.3 Các biện pháp phòng trừ sâu hại trên cây cải bắp tại TP Pleiku………… 39Bảng 4.4 Các loại thuốc hóa học được nông dân sử dụng trừ các loại sâu hại trên cây cải bắp tại TP Pleiku………40 Bảng 4.5: Mật số sâu tơ trên cây cải bắp trước và sau phun thuốc tại vườn rau thí nghiệm ở vùng rau Thống Nhất – TP Pleiku……… 42Bảng 4.6: Hiệu lực trừ sâu tơ trên cây cải bắp của các loại thuốc trừ sâu tại tại vườn rau thí nghiệm ở vùng rau Thống Nhất – TP Pleiku……… 46
Trang 10DANH SÁCH CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 2.1 Vòng đời của sâu tơ Plutella xylostella L………6
Hình 2.2 Vườn cải bắp ở giai đoạn bắt đầu cuốn bắp ……… 12
Biểu đồ 3.1 : Nhiệt độ, độ ẩm trung bình tại khu vực Tp Pleiku từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2009……… 22
Biểu đồ 3.2 : Lượng mưa trong các tháng tại khu vực Tp Pleiku từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2009……… 22
Hình 4.1 Thành trùng bọ nhảy sọc vỏ lạc đang gây hại………31
Hình 4.2 Sâu non sâu đàn bắp cải (Crociodolomia binotalis)……… 31
Hình 4.3 Nhộng của sâu xanh bướm trắng (Pieris brassicae) ……… 32
Hình 4.4 Sâu non của sâu xanh bướm trắng (Pieris brassicae)……… 32
Hình 4.5 Sâu non của sâu khoang Spodoptera litura……….33
Hình 4.6 Rệp cải Brevicorynine brassicae……….33
Hình 4.7 Sâu non của sâu xám (Agrotis sp.)……….34
Hình 4.8 Sâu non của sâu đục nõn cải Hellula undalis Fabricius ……….34
Hình 4.9 Sâu non của sâu tơ (Plutella xylostella)……….35
Hình 4.10 Sâu non của sâu đo xanh (Chrysodeixis eriosoma)……… 35
Biểu đồ 4.1 Diễn biến mật số sâu tơ trên các diện tích……….37
Biểu đồ 4.2 Diễn biến mật số sâu xanh bướm trắng trên các diện tích……….38
Hình 4.11 Toàn cảnh khu thí nghiệm………41
Hình 4.12 Sâu đo xanh (Chrysodeixis eriosoma) chết sau xử lý thuốc ………47
Hình 4.13 Sâu tơ (Plutella xylostella) chết sau xử lý thuốc……… 47
Hình 4.14 Sâu đàn bắp cải (Crociodolomia binotalis) chết sau xử lý thuốc………….48
Hình 4.15 Sâu xám chết (Agrotis sp.) sau xử lý 48
Trang 11Chương 1
GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Rau xanh cung cấp nhiều loại sinh tố, acid amin, nhiều nguyên tố đa lượng và
vi lượng, là thực phẩm tươi sống không thể thiếu trong mỗi bữa ăn của con người Đặc biệt khi lương thực và các thức ăn giàu đạm đã được đảm bảo thì yêu cầu về số lượng
và chất lượng rau lại càng gia tăng như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng đảm bảo sức khỏe, sắc đẹp và kéo dài tuổi thọ của con người
Đại bộ phận các giống rau đều thuộc về thực vật bậc cao, ngành hạt kín, có 5 họ thuộc cây 1 lá mầm, 20 họ thuộc cây 2 lá mầm Trong nhóm 2 lá mầm phải kể đến là
họ thập tự, rau họ thập tự (Crucifereae) ở nước ta rất phong phú bao gồm cải bắp, su hào, cải xanh, cải ngọt, cải thảo, cải thìa, cải sen… Với điều kiện khí hậu nhiệt đới như
ở nước ta cây cối quanh năm xanh tốt do đó thành phần sâu hại rất phong phú Trong
đó, một số loài thường xuyên phá hại như: Sâu xám (Agrotis ypsilon H.), sâu khoang (Spodoptera litura F.), sâu đo xanh (Plusia eriosoma D.)… và đặc biệt là sâu tơ (Plutella xylostella L.)
Các loại rau thường là những cây thực phẩm ngắn ngày luôn luôn được đầu tư
về thâm canh và sản phẩm của chúng được sử dụng trực tiếp làm thức ăn tươi cho người và gia súc Vì vậy, cần phải có sự lựa chọn và xác định rõ ràng giới hạn của biện pháp sử dụng khi thực hiện các biện pháp phòng trừ sâu hại rau nhằm góp phần làm tăng giá trị của rau, giữ an toàn cho người, gia súc và môi trường
Gia Lai là một tỉnh phía Bắc của khu vực Tây Nguyên có điều kiện khí hậu và đất đai thuận lợi cho nhiều loại rau sinh trưởng và phát triển Đến nay, diện tích sản xuất rau xanh toàn tỉnh lên đến 6 240 ha, đạt sản lượng khoảng 748 800 tấn/năm đáp ứng được nhu cầu về số lượng, chủng loại cho tiêu dùng trong tỉnh và tiêu thụ ở nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước
Trang 12Thực tế hiện nay nông dân sản xuất rau trong địa bàn tỉnh đang gặp không ít những khó khăn như sâu, bệnh phát sinh gây hại ngày một nhiều như : Sâu xám
(Agrotis ypsilon H.), Sâu tơ (Plutella xylostella L.), Sâu khoang (Spodoptera litura F.), Sâu đo xanh (Plusia eriosoma D.)… và một số bệnh như : Bệnh Mốc sương hại trên
cây họ cà, phân trắng gây hại trên cây họ bầu bí…
Trong số những sâu hại kể trên thì sâu tơ (Plutella xylostella L.) là loài sâu chủ
yếu sống trên cây họ thập tự, là đối tượng sâu hại quan trọng trên cây cải bắp, là loài sâu khó diệt trừ vì có khả năng hình thành tính kháng thuốc nhanh trên đồng ruộng Chúng gây hại chủ yếu ở pha sâu non, bằng cách gặm hết lớp thịt lá ở trên lá chỉ để lại lớp màng mỏng, làm giảm diện tích lá, lá không quang hợp được Trên một số vườn rau khi mật độ sâu tơ cao chúng gây hại mạnh làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây rau Có những năm người trồng rau cải bắp, su hào không có sản phẩm thu hoạch vì sâu tơ phá hại, dù họ đã dùng rất nhiều thuốc bảo
vệ thực vật để phun phòng trừ sâu tơ nhưng do sâu kháng thuốc nên không đem lại hiệu quả mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng rau
Từ thực trạng đó, để giúp cho người nông dân trồng rau trên địa bàn tỉnh hiểu
rõ hơn về quá trình phát sinh gây hại của các đối tượng gây hại chính trên các cây rau
họ thập tự và có những biện pháp phòng trừ hữu hiệu để ngăn chặn những thiệt hại do sâu tơ gây ra trên cây bắp cải, giúp cho nông dân yên tâm sản xuất, tạo ra nguồn sản phẩm đảm bảo an toàn phục vụ cho người tiêu dùng góp phân tăng thu nhập cho người nông dân sản xuất rau, đề tài “Điều tra hiện trạng canh tác và phòng trừ sâu hại trên cây cải bắp tại thành phố Pleiku – Gia Lai và đánh giá hiệu lực phòng trừ sâu tơ
(Plutella xylostella L.) của một số loại thuốc trừ sâu” đã được thực hiện, nhằm góp
phần làm cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các biện pháp quản lý sâu hại cây cải bắp
1.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Điều tra hiện trạng canh tác và phòng trừ sâu hại trên cây cải bắp tại thành phố
Pleiku và đánh giá hiệu lực phòng trừ sâu tơ của một số loại thuốc
Trang 131.2.2 Yêu cầu
• Điều tra hiện trạng canh tác cây cải bắp tại thành phố Pleiku
• Điều tra thành phần, diễn biến và các biện pháp phòng trừ sâu hại trên cây cải bắp của nông dân tại thành phố Pleiku
• Xác định hiệu lực phòng trừ sâu tơ trên cây cải bắp của một số thuốc
Trang 14Đến thế kỷ 19 cải bắp mới được trồng ở Nga, phía Bắc Địa Trung Hải ( Pháp, Ý) và ở Anh Đặc điểm của vùng này là mát, mưa nhiều về mùa đông Cải bắp hoang dại vẫn còn được thấy ở Anh, Đan Mạch và Pháp Chúng thuộc thân thảo và luôn luôn
là cây 2 năm (Theo Phạm Hữu Nguyên, 2008 Bài giảng môn học cây rau)
Trong khi những biến chủng cải bắp trồng đầu tiên được sử dụng cho mục đích
y học thì cải bắp đã trở thành một trong những cây rau quan trọng nhất ở châu Âu vào thế kỷ thứ 16 Kể từ đó, cải bắp đã được biết rộng rãi trên khắp thế giới Tuy nhiên, do
là cây chịu lạnh nên ở những vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, cải bắp chỉ trồng được ở những vùng cao nguyên có khí hậu mát mẻ, hay ở những vùng đồng bằng có một thời điểm nhiệt độ thấp tháng 11, 12 hàng năm hoặc sử dụng những giống cải bắp chịu nhiệt để trồng (Theo Phạm Hữu Nguyên, 2008 Bài giảng môn học cây rau)
Ở nước ta, cải bắp được du nhập và được trồng từ thời Pháp thuộc và ngày càng được mở rộng diện tích do nhập nhiều giống đã được nhiệt đới hóa (chịu nóng) Ở các tỉnh thuộc vùng đồng bằng miền Nam nước ta như TP HCM, Bà Rịa – Vũng Tàu,…có thể trồng các giống cải bắp chịu nhiệt trong khoảng thời gian từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau (Theo Phạm Hữu Nguyên, 2008 Bài giảng môn học cây rau)
2.1.2 Giá trị dinh dưỡng
Cải bắp là cây giàu dinh dưỡng mặc dù có phần kém hơn so với nhiều loại rau
ăn lá có màu xanh Lá cải bắp có hàm lượng chất béo, carbonhydrate và năng lượng
Trang 15thấp Tuy nhiên, chúng lại rất giàu protein với sự có mặt của tất cả các amino acid cần thiết, đặc biệt là các amino acid có chứa lưu huỳnh (Theo Phạm Hữu Nguyên, 2008 Bài giảng môn học cây rau)
Cải bắp còn là nguồn dinh dưỡng rất giàu các chất khoáng như Ca, Fe, Mg, Na,
K, P và các vitamin (Theo Phạm Hữu Nguyên, 2008 Bài giảng môn học cây rau)
Tất cả các loại cải đều có chứa glycoside là chất cho vị đắng Đây là chất kháng sinh nhưng cũng là chất gây ra bệnh bướu cổ Thành phần glucosinolate chứa trong các giống cải bắp trắng trồng biến động rất lớn từ 299 tới 1288 ppm Tuy nhiên, có 1 vài giống có thành phần glucosinolate rất thấp (100 mg/100g) Đó là kết quả của sự chọn lọc lâu đời để giảm vị đắng Chất gây bướu cổ có thể mất khi nấu (Theo Phạm Hữu Nguyên, 2008 Bài giảng môn học cây rau)
Trứng sâu tơ có dạng hình elip, dài khoảng 0,5 mm, có màu xanh khi mới đẻ và màu vàng nhạt khi sắp nở (Theo Trần Thị Thiên An, 2008 Côn trùng chuyên khoa)
Sâu non sâu tơ tuổi nhỏ có màu trắng mốc đầu màu đen, tuổi lớn có màu xanh
lá cây non Sâu non đẫy sức dài 8 – 10 mm, trên các đốt bụng đều có lông nhỏ, ở mảnh lưng trước có nhiều chấm đen nhỏ xếp thành hình chữ U (Theo Trần Thị Thiên An,
2008 Côn trùng chuyên khoa)
Nhộng sâu tơ có kén giả bằng tơ mỏng, có dạng hình thoi màu xanh nhạt hoặc vàng nhạt, dài 5 – 6 mm (Theo Trần Thị Thiên An, 2008 Côn trùng chuyên khoa)
Trang 162.2.3 Đặc điểm sinh sống và phát sinh gây hại
Sâu tơ là loài sâu có khả năng diapause ở tất cả các pha phát triển của cơ thể Ngài sâu tơ hoạt động nhiều và rất nhanh nhẹn từ chập tối đến nửa đêm, ban ngày ngài thường ẩn nấp ở mặt dưới của lá cây Khi khua động thì ngài thường bay ra một khoảng ngắn Ở mật độ cao, ngài sâu tơ hoạt động cả ban ngày và có sự di chuyển để phân tán lây lan (Theo Trần Thị Thiên An, 2008 Côn trùng chuyên khoa)
Hình 2.1 Vòng đời của sâu tơ Plutella xylostella L
a) Trứng (Theo Alfredo và M Anthony Shelton, 1976) b) Sâu non; c) Nhộng; d) Thành trùng
Phần lớn ngài cái sau vũ hóa thì giao phối và đẻ trứng trong cùng ngày Ngài cái thường đẻ trứng rải rác từng quả hoặc từng cụm 3 – 5 quả ở mặt dưới lá cây Trứng thường được đẻ ở phần lõm của lá non hoặc lá bánh tẻ Một ngài cái trung bình đẻ được khoảng 300 trứng (Theo Trần Thị Thiên An, 2008 Côn trùng chuyên khoa)
Tùy theo tuổi, sâu non của sâu tơ có tập tính sinh sống gây hại khác nhau Ở tuổi 1 và 2 sâu non ăn nhu mô lá chừa lại phần biểu bì trên Tuổi 3, 4, 5 sâu cắn đục thủng lá Sâu non hoạt động nhanh khi bị khua động thì nhả tơ di chuyển lẩn trốn rất nhanh (Theo Trần Thị Thiên An, 2008 Côn trùng chuyên khoa)
Trang 17Khi đẫy sức sâu non nhả tơ kết kén ngay trên lá để hóa nhộng, phần lớn sâu non thường hóa nhộng ở mặt dưới lá già hoặc ở các khe lõm của lá (Theo Trần Thị Thiên
An, 2008 Côn trùng chuyên khoa)
Sâu tơ có khả năng thích ứng rộng có thể sinh sống và phát triển được ở nhiệt
độ 10 – 40 oC, nhưng ở nhiệt độ thích hợp là 20 – 30 oC (Theo Trần Thị Thiên An,
2008 Côn trùng chuyên khoa)
Vụ rau đông xuân muộn (cuối tháng 2 đến đầu tháng 3) thường bị sâu tơ phát sinh gây hại nặng Trên đồng ruộng thường có các lứa sâu tơ nối tiếp nhau gây hại trong năm Những năm nào mưa dầm nhiều thì sâu non của sâu tơ dễ bị bệnh nhiều (Theo Trần Thị Thiên An, 2008 Côn trùng chuyên khoa)
Ngài cái sâu tơ thường đẻ trứng rất ít ở độ ẩm < 76% Mùa khô sâu tơ phát sinh gây hại nặng hơn mùa mưa (Theo Trần Thị Thiên An, 2008 Côn trùng chuyên khoa)
Thiên địch bắt mồi sâu tơ gồm có một số loài phổ biến là kiến 3 khoang, một số loài nhện, chim…(Theo Trần Thị Thiên An, 2008 Côn trùng chuyên khoa)
Thiên địch ký sinh của sâu tơ phong phú hơn, các loài ký sinh sâu non, nhộng
phổ biến gồm có vi khuẩn Bacillus thuringiensis, một số nấm như zoophtora,
beauveria,…, một số loài ong trong họ Ichneunomidae, một số loài ruồi trong họ
Tachinidae,… Ký sinh trứng của sâu tơ gồm một số loài ong trong họ Trichogrammatidae (Theo Trần Thị Thiên An, 2008 Côn trùng chuyên khoa)
Vòng đời trung bình của sâu tơ khoảng 21 – 25 ngày Thời gian này thay đổi tùy theo nhiệt độ trong năm Thời gian phát dục của trứng là 3 – 4 ngày, của sâu non là
11 – 12 ngày, của nhộng là 5 – 6 ngày và của trưởng thành là 2 – 3 ngày (Theo Trần Thị Thiên An, 2008 Côn trùng chuyên khoa)
2.2.4 Thiên địch
• Người ta đã biết đến nhiều loài ký sinh của sâu tơ nhưng chỉ một số ít có hiệu
quả trên ruộng Đó là những con ký sinh thuộc loài Diadegma sp., Cotesia sp
và Diadromus sp Hiệu quả của những ký sinh này phụ thuộc vào khí hậu Ký
sinh thường được du nhập và thả trên ruộng để phòng trừ sâu tơ hiệu quả Điều này rất cần thiết vì cải bắp (và những cây cải khác) có nguồn gốc từ Châu Âu
Trang 18và không có thiên địch bản địa hiệu quả đối với sâu tơ ở Châu Á (theo Chương trình FAO – IPM rau, Hướng dẫn sinh thái học Cải bắp, 2004)
• Diadegma semiclausum: Diadegma semiclausum đã được du nhập thành công
vào những vùng cao nguyên ở Philippine và Việt Nam Ở vùng cao nguyên
Cordillera, Philippine, việc du nhập và thả Diadegma semiclausum đã làm giảm
việc phun thuốc trừ sâu hóa học đến 80 % trong mùa khô và 55 % trong mùa
mưa Diadegma semiclausum rất có hiệu quả trong việc duy trì quần thể sâu tơ
ở mức thấp trong điều kiện khí hậu ôn hòa Nhưng ở nhiệt độ trên 25 oC thì hiệu quả phòng trừ không rõ rệt Kết quả là sâu tơ vẫn là một vấn đề ở những vùng
đồng bằng nhiệt đới D semiclausum được nhân nuôi hàng loạt trong các trạm
nuôi ở vùng cao nguyên nhiều nước Đông Nam Châu Á (theo Chương trình FAO – IPM rau, Hướng dẫn sinh thái học Cải bắp, 2004)
• Diadegma insulare: Ong ký sinh Diadegma insulare thích hợp với điều kiện ấm
hơn và có thể đóng vai trò chính trong việc phòng trừ sâu tơ ở các vùng quá ấm
đối với D semiclausum Mới đây D insulare từ Florida (Mỹ) được du nhập vào
Philippine để phòng trừ sâu tơ vùng đồng bằng Hiện nay, người ta đang nghiên cứu các phương pháp nuôi ký sinh và tiến hành một số thí nghiệm nhỏ trong nhà lưới (theo Chương trình FAO – IPM rau, Hướng dẫn sinh thái học Cải bắp, 2004)
• Cotesia plutellae: Ong ký sinh Cotesia plutellae cũng có thể thích nghi với khí hậu ấm hơn so với Diadegma semiclausum Cotesia plutellae được nhân nuôi
hàng loạt ở các nước Ở Philippine để thả trên ruộng và trình diễn trên ruộng nông dân Kén của chúng cũng được dùng để thả trên ruộng (Báo cáo tiến độ
FAO – ICP ’96 – 99’) Tuy nhiên, Cotesia plutellae ký sinh hiệu ít quả hơn so với Diadegma semiclausum vì chúng có hiệu quả tốt khi mật độ sâu tơ cao và
khi mật độ sâu tơ thấp thì hiệu quả không rõ ràng (theo Chương trình FAO – IPM rau, Hướng dẫn sinh thái học Cải bắp, 2004)
• Diadromus collaris: Một loài ký sinh đã được du nhập vào Việt Nam là
Diadromus collaris Loài ong nhỏ này ký sinh nhộng sâu tơ Diadromus được
thả trên ruộng cải bắp ở Đà Lạt, Việt Nam năm 1998 Việc theo dõi và các nghiên cứu sinh thái do lớp Huấn luyện nông dân và các nhóm nông dân nghiên
Trang 19cứu tiến hành (Báo cáo tiến độ FAO – ICP ’96 – 99’) Tuy nhiên, Diadromus
collaris vẫn chưa thiết lập được quần thể trên ruộng ( Ooi, 1999) Diadromus collaris đang được thiết lập tại các vùng cao nguyên Malaysia (Cao nguyên Ca
– mơ – run ) (theo Chương trình FAO – IPM rau, Hướng dẫn sinh thái học Cải bắp, 2004)
• Các loài ký sinh khác: Có một vài loài ký sinh khác trên sâu tơ, trong đó có cả
ký sinh sâu non là Microplites plutellae, loài này rất phổ biến ở Bắc Mỹ và
Apanteles ippeus, loài này được phân bổ rộng rãi ở miền Đông nước Úc (Tài
liệu của CABI về Diadegma insulare) Các loài ký sinh khác có thể xuất hiện tự
nhiên ở một số vùng cụ thể và có thể đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiệt hại do sâu tơ gây ra khi các loại thuốc trừ sâu phổ rộng không được sử dụng nhiều Tóm lại, mức độ ký sinh của chúng tương đối thấp (theo Chương trình FAO – IPM rau, Hướng dẫn sinh thái học Cải bắp, 2004)
• Các tác nhân gây bệnh: Người ta biết một số tác nhân gây bệnh giết sâu tơ Tác
nhân gây bệnh phổ biến nhất là nấm Entomophthora blunckii và
Entomophthora radicans Sâu tơ cũng có thể bị giết do virus hạt và virus đa
diện nhân (NPV) Trừ Bt, có những hạn chế về hiệu quả của những tác nhân gây bệnh này vì chúng cần những điều kiện đặc trưng (nhiệt độ, ẩm độ) để hoạt
động Các chế phẩm thương mại của Bacillus thuringiensis (Bt) có thể phòng
trừ sâu tơ cũng như một số loại sâu khác một cách hiệu quả Cần phải chú ý ở đây là ở một số vùng, người ta đã tìm thấy sự kháng Bt Chỉ sử dụng Bt trên cơ
sở quan sát đồng ruộng Phải thận trọng, không nên dùng Bt thường xuyên và nên quay vòng sử dụng hỗn hợp nhiều loại thuốc khác nhau Bt diệt sâu non của sâu tơ rất chậm: chỉ có tác dụng sau khoảng 3 ngày Tuy nhiên, những con sâu
bị nhiễm Bt ngừng ăn cây sau một khoảng thời gian ngắn Do vậy, mặc dù còn sống nhưng chúng không gây hại cho cây trồng nữa (theo Chương trình FAO – IPM rau, Hướng dẫn sinh thái học Cải bắp, 2004)
• Con ăn mồi: Con ăn mồi cũng có thể đóng vai trò quan trọng trong việc phòng
trừ sâu tơ Chẳng hạn như: nhện, bọ rùa, chuồn chuồn cỏ (Chrysopa sp.) và
người ta cũng ghi nhận là có một số loại cánh cứng cũng tấn công sâu tơ Những con ăn mồi này có hướng phát triển quần thể vào cuối vụ Ngoài ra, còn
Trang 20có một số loài chim, chuồn chuồn săn bắt sâu tơ trưởng thành vào chiều tối khi trưởng thành sâu tơ tiến hành giao phối hay đẻ trứng Hiệu quả của các con ăn mồi thay đổi nhiều giữa các vùng (theo Chương trình FAO – IPM rau, Hướng dẫn sinh thái học Cải bắp, 2004)
2.2.5 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Sâu tơ P xylostella có nguồn gốc ở vùng Địa Trung Hải ấm áp thuộc châu Âu Đến năm 1972, P xylostella được ghi nhận là loài sâu hại trên các cây trồng thuộc họ
Thập tự Cruciferaceae ở tối thiểu 128 quốc gia và vùng lãnh thổ (theo CIE, 1967 và Salinas, 1972)
Theo Othmam và Hashim (2002), P xylostella được ghi nhận ở Malaysia đầu
tiên vào năm 1925 ở vùng đồi Fraser Vào năm 1934, khi cao nguyên Cameron bắt đầu trồng những loài rau có nguồn gốc ở vùng ôn đới thì người ta đã phát hiện loài côn trùng này Đến năm 1941, loài sâu hại chính trên cây cải bắp ở đây được báo cáo là
sâu tơ P xylostella
Ở Nhật Bản, P xylostella trở thành loài dịch hại quan trọng vào thập niên 1960
và mật số của chúng hàng năm phụ thuộc rất nhiều vào các cây trồng họ Thập tự (Yamada, 1977)
Theo Ooi (1981), loài dịch hại trong nông nghiệp đầu tiên kháng thuốc trừ sâu
ở Malaysia là P xylostella Henderson (1957) báo cáo rằng P xylostella đã kháng với
DDT và BHC Trước đó, Ankesmit đã thông báo hiện tượng này vào năm 1953 ở Indonesia
Trước tình hình đó, Trung tâm nghiên cứu rau châu Á đã nhấn mạnh việc sử
dụng thiên địch của P xylostella trong đấu tranh sinh học Ở châu Âu, P xylostella đã
bị kiểm soát ở dưới ngưỡng gây hại bởi một lượng lớn thiên địch (Talekar và Yang, 1993) Người ta đã kiểm tra được ở xứ Modavia thuộc Rumani có đến 128 loài ong kí
sinh P xylostella (Tôn Thất Trình, 1994) Vấn đề ngày càng được quan tâm hơn trong
việc tăng cường quản lí dịch hại tổng hợp (IPM) với mức độ sử dụng thuốc trừ sâu hóa
học thấp nhất Vì sinh P xylostella là loài côn trùng du nhập vào các nước nhiệt đới và
cận nhiệt đới nên thiên địch của nó cũng phải được du nhập đến những nơi này
Trang 21Song song với việc du nhập các loài kí sinh P xylostella là việc sản xuất sinh
khối, thực hiện thêm các nghiên cứu về loài côn trùng này Trong công tác nhân sinh khối sâu tơ, ngoài giá thể làm thức ăn là các loài cây thuộc tộc cải Brassicae, các nhà khoa học đã nghiên cứu và giới thiệu nhiều môi trường thức ăn tổng hợp nhân tạo cho
P xylostella như môi trường Biever và Boldt, môi trường Hsiao & Hou, môi trường
Chi Sun Theo Biever và Boldt (1971), môi trường Biever và Boldt khá thích hợp với sâu tơ Thời gian phát triển từ trứng đến trưởng thành chỉ 19 ngày; trứng 3 ngày, sâu non 11 ngày, nhộng 5 ngày ở 23 ± 1 oC, ẩm độ không khí 60 ± 5 % Tỷ lệ nhộng chỉ đạt 59 % khi sâu tơ được nuôi trên môi trường Biever và Boldt và tỷ lệ sống sót của sâu non chỉ khoảng 62 % khi chúng được nuôi trên môi trường Hsiao & Hou Trong khi đó, tỷ lệ sống sót của sâu non và tỷ lệ nhộng khoảng trên 83 % khi sâu tơ được nuôi trên lá bắp cải Tuy nhiên, các môi trường thức ăn tổng hợp nhân tạo rất hữu dụng cho việc sản xuất sinh khối sâu tơ trong phòng thí nghiệm vì tính tiện lợi, ít tốn thời gian so với việc chuẩn bị thức ăn là các loài cây họ Thập tự Việc chuẩn bị thức ăn tổng hợp rất quan trọng vì nguồn thức ăn này phải thích hợp với tất cả các pha phát triển của côn trùng và cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho sự sinh trưởng và phát triển của chúng Khi làm thức ăn tổng hợp nhân tạo, ta cần chú ý đến hai yếu tố cơ bản hàng đầu là các thành phần dinh dưỡng phải được trộn đều với nhau và hỗn hợp thức ăn sau cùng phải duy trì đầy đủ dinh dưỡng để cung cấp cho côn trùng ( Theo Hou, 1986)
Shigekazu Wakisaka (1991), đã đánh giá ảnh hưởng của thiên địch, nước mưa,
nhiệt độ, cây kí chủ lên khả năng sống sót và sinh sản của P xylostella thông qua việc
nghiên cứu bảng sống loài côn trùng này Thí nghiệm được tiến hành vào tháng 6, tháng 9 và tháng 10 năm 1989 trên ruộng cải bông ở Okayama, Nhật Bản Kết quả thí nghiệm cho rằng khoảng 1/3 đến 1/2 số trứng và sâu non biên mất trong các lô thí
nghiệm mà không rõ nguyên nhân Tỷ lệ trứng bị ký sinh bởi Trichogramma chilonis cao nhất vào tháng 6, kế đến là tháng 9 và 10 Tỷ lệ sâu non bị ký sinh bởi Cotesia
plutellae, Diadromus subtilicornis, Tetrastichus sokolowskii cao vào mùa hè
Thí nghiệm về nhiệt độ được tiến hành ở 25 oC, 27 oC, 28,5 oC, 30,5 oC và 33
oC Tỷ lệ nở của trứng ở các nhiệt độ trên đạt từ 85 – 92 % Thời gian phát triển từ trứng cho đến trưởng thành là 15,2 ngày, 14,9 ngày, 13,8 ngày, 12,8 ngày và 14,8 ngày tương ứng với 25 oC, 27 oC, 28,5 oC, 30,5 oC và 33 oC Khả năng đẻ trứng của ngài cái
Trang 22đạt cao nhất ở 25 oC với 241 trứng/con cái, sau đó là các nhiệt độ 27 oC, 28,5 oC, 30,5
oC và 33 oC Thấp nhất là 33 oC với 52 trứng/con cái Nhiệt độ trên 30 oC làm giảm sự phát triển và khả năng sống sót của sâu non cùng khả năng sinh sản của ngài cái
Thời gian phát triển từ trứng đến trưởng thành của P xylostella khi cho sâu non
sử dụng cải bông, lá cải bắp non, lá cải bắp già, cải thảo và loài cải dại C bursa-
Sâu non sử dụng cải bông, lá cải bắp non, cải thảo làm thức ăn thì khả năng sinh sản
của trưởng thành cái sau này cao hơn hẳn so với sâu non ăn lá cải bắp già và C bursa-
pastoris
Nghiên cứu của Sivapragasam ở Nhật Bản vào năm 1986 đã đánh giá cao hiệu
quả của nước mưa lên trứng của P xylostella Ông cho rằng nước mưa đã rửa trôi trứng và gây ra tỷ lệ chết là 38 % Tỷ lệ sống sót của của P xylostella trong mùa mưa
thấp chủ yếu là do mưa và bị ký sinh
Hình 2.2 Vườn cải bắp điều tra ở giai đoạn bắt đầu cuốn bắp
Trang 23Bảng 2.1: Quá trình sử dụng thuốc trừ sâu hóa học để phòng trừ sâu tơ P
xylostella ở Malalaysia
STT Loại thuốc
Năm giới thiệu
Ghi chú
1 Nicotine & Derris <1950 Được thay thế bằng các 14TTS hữu cơ tổng hợp
2 DDT 1950 Nghi ngờ P xylostella kháng năm 1956
3 Gamma HCH 1950 Nghi ngờ P xylostella kháng năm 1956
4 Dielrin 1950 Cấm sử dụng trên cải bắp sau năm 1956
5 Malathion 1956 Tần số kháng lên đến 2096 vào năm 1975
6 Dimethoate 1956 Chủ yếu để kiểm soát ruồi đục lá
7 Diazinon 1956 Dùng kết hợp với các loại TTS khác
8 Trichlorfon 1964 Hiệu quả kém vào năm 1966
9 Isobenzan 1964 Cấm sử dụng vào năm 1966
10 Dichlorvos 1966 Không phổ biến với nông dân
11 Methomyl 1967 Không phổ biến vào giữa thập niên 1970
12 Aminocarb 1969 Nghi ngờ P xylostella kháng vào năm 1970
13 Quinalphos 1969 Hiệu quả kém vào năm 1970
14 Leptophos 1970 Hiệu quả kém vào năm 1971
15 Methamidophos 1970 Dùng kết hợp với các loại TTS khác
16 Cartap 1973 Hiệu quả kém vào năm 1975
17 Bioresmethrin 1974 Hiệu quả tốt nhưng không phổ biến
18 Fenvalerate 1975 Hạn chế sử dụng vào năm 1979
19 Prothiofos 1976 Sử dụng với nồng độ cao vào năm 1979
20 Permethrin 1978 Tần số kháng trên 700 lần vào năm 1980
21 Cypermethrin 1980 Mức độ kháng tăng lên do kháng chéo
22 Diflubenzuron 1980 P xylostella kháng vào năm 1990
23 Chlorfluazuron 1986 P xylostella kháng vào năm 1990
24 Teflubenzuron 1987 P xylostella kháng vào năm 1990
25 Avermectin 1992 P xylostella kháng vào giữa thập niên 1990
TTS: Thuốc trừ sâu (Theo Ooi, 1986 và Syed, 1992)
Trang 24P Keinmeesuke và ctv (1991), nghiên cứu ở Thái Lan công bố thời gian P
14,33 ngày, và ở 25 oC là 24,38 ngày P xylostella có khoảng 17 thế hệ trong năm ở
vùng cao nguyên và khoảng 25,5 thế hệ trong năm ở những vùng đất thấp Tỷ lệ sống
sót của P xylostella từ trứng cho đến khi trưởng thành ở vùng cao nguyên đặc biệt cao
vào mùa khô và mùa nóng, khoảng 13,9 % và 13,3 % ở nhiệt độ trung bình là 18,3 oC
và 24,2 oC Tuy nhiên, tỷ lệ sống sót của P xylostella ở vùng đất thấp chỉ cao vào mùa
khô Tỷ lệ này thấp trong suốt mùa lạnh, khoảng 6,2 % ở nhiệt độ trung bình là 13,9
oC Tỷ lệ trứng nở, hóa nhộng và vũ hóa khá cao ở nhiệt độ từ 17,5 - 27,5 oC và thấp ở
30 – 32 oC Nhiệt độ cao vào mùa nóng đã ảnh hưởng đến khả năng sống sót và làm
giảm khả năng sinh sản của trưởng thành sâu tơ P xylostella chết chủ yếu do nước mưa và bị ký sinh Các loài ký sinh P xylostella được tìm thấy ở vùng cao nguyên là
Trichogramma cofusum ký sinh trứng, Cotesia Plutellae K ký sinh sâu non, Diadromus collaris Gravenhorst ký sinh nhộng Ở vùng đất thấp, Trichogramma bactrae Nagaraja là loài ký sinh trứng P xylostella được ghi nhận đầu tiên ở Thái Lan
với tỷ lệ ký sinh từ 16,2 % đến 45,2 % Đây là một trong những loài ký sinh trứng P
xylostella được đánh giá khá quan trọng
Tóm lại, việc tăng giảm số lượng của sâu tơ phụ thuộc khá nhiều yếu tố Biến động mật độ của sâu tơ ở mỗi vùng phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, trong đó ẩm độ
và chế độ mưa ảnh hưởng rõ rệt
2.2.6 Tình hình nghiên cứu trong nước
Sâu tơ P xylostella thuộc loài côn trùng ăn hẹp (Oligophagus) và có thể phá
trên 30 loài cây thuộc họ Thập tự có chứa hợp chất “ mustard glucosides” Sự xuất
hiện của P xylostella ở Việt Nam chưa có tài liệu nào ghi chép chính xác Tuy nhiên,
vào cuối thập niên 1940, nhiều vùng ở Hà Nội, Hải Phòng nông dân đã sử dụng thuốc
trừ sâu để hạn chế sâu tơ gây hại trên các ruộng cải Điều này chứng tỏ P xylostella gây hại ở nước ta vào khoảng những năm 1940 Hiện nay, P xylostella được tìm thấy
ở tất cả các vùng trồng rau cải trong cả nước (Theo Nguyễn Quý Hùng, 1995)
Sâu tơ không chỉ gây thất thu về năng suất mà còn làm ảnh hưởng lớn đến phẩm chất cải bắp và gây khó khăn cho việc tiêu thụ sản phẩm Vì thế, nông dân
Trang 25hoang mang sử dụng thuốc từ đầu vụ cho đến lúc thu hoạch Ở Đà Lạt, nông dân thường phun từ 10 – 20 lần thuốc trong 1 vụ cải để trừ sâu tơ thường pha hỗn hợp từ 2 – 3 loại thuốc trong 1 lần phun (Theo Nguyễn Hữu Hải, 2003)
Vòng đời của sâu tơ thay đổi tùy theo mùa và tùy theo vùng Ở Đà Lạt, sâu tơ
có vòng đời từ 20 – 26 ngày tùy theo mùa Pha trứng kéo dài từ 4 – 6 ngày, pha sâu non từ 8 – 11 ngày, pha nhộng từ 7 – 9 ngày Sâu tơ thường phá hại nặng vào mùa khô, tức là từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau (theo Nguyễn Hữu Hải (2003)) Nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, vòng đời sâu tơ khoảng 15 – 17 ngày vào tháng 9, tháng 10 Trong đó, pha trứng kéo dài từ 2 – 3 ngày, pha sâu non từ 8,4 – 8,8 ngày, pha nhộng từ 3 – 3,3 ngày (Theo Nguyễn Quý Hùng, 1995)
Theo Nguyễn Quý Hùng (1995), khả năng đẻ trứng của sâu tơ khoảng 100 –
150 (trứng/con cái) khi sâu được nuôi trong lồng lưới vào tháng 9, tháng 10 tại thành phố Hồ Chí Minh Sâu được nuôi trên lá cải bắp ở giai đoạn non hơn thì số trứng đẻ cao hơn rõ rệt, trung bình là 169,7 (trứng/con cái) Trưởng thành sâu tơ có thể giao phối và đẻ trứng ngay trong ngày vũ hóa Trưởng thành cái đẻ tập trung ở 3 ngày đầu (khoảng 88 % tổng số trúng) Đặc biệt, ngay tối hôm vũ hóa, số trứng đẻ chiếm 44 % tổng số trứng Trứng được đẻ rải rác trên khắp cây, ở cả mặt trên và mặt dưới lá thành từng cụm rời từ 10 – 15 trứng hoặc thành từng ổ từ 50 – 70 trứng Ở thành phố Hồ Chí Minh, ước tính có khoảng 20 lứa sâu tơ gây hại trong năm Kết quả nghiên cứu trong 3 năm (1991 – 1993) trên vụ cải bắp chính ở mùa khô có 7 – 8 lứa sâu non rộ, trung bình
14 – 16 ngày có 1 đỉnh cao Hai thời điểm nhiều sâu tơ nhất trong năm:
- Thời gian cuối tháng 11, đầu tháng 12, giai đoạn cải cuốn bắp, mật độ sâu có thể đạt 50 – 60 con/cây
- Thời gian cuối tháng 2 đến đầu tháng 3 ở vụ cải bắp muộn, mật độ sâu khoảng hơn 100 con/cây
Trong các thời vụ trồng cải bắp ở thành phố Hồ Chí Minh, thời vụ trồng giưa tháng 1 thường bị hại nặng nhất ở giai đoạn trải lá bàng (40 – 55 con/cây) Nếu trồng trễ vào cuối tháng 2, mật số sâu tơ sẽ thấp hơn do nhiệt độ lúc này đã cao, thức ăn
không thích hợp và ong ký sinh Cotesia plutellae phát triển mạnh
Trang 262.2.7 Các biện pháp quản lý và phòng trừ
• Mặc dù có sự khác nhau về khả năng mẫn cảm với sự tấn công của sâu tơ của các giống cải bắp khác nhau, nhưng cho đến nay người ta vẫn chưa biết một loại giống kháng nào Do sâu tơ có thể sinh sản nhiều lứa trong 1 vụ nên tính kháng có thể bị mất đi rất nhanh (Theo Chương trình FAO – IPM rau, Hướng dẫn sinh thái học Cải bắp, 2004)
• Có thể theo dõi con trưởng thành bằng bẫy pheromone Các bãi đất thấm chất pheromone làm ngăn cản sâu tơ giao phối cũng được thử nghiệm (Theo Chương trình FAO – IPM rau, Hướng dẫn sinh thái học Cải bắp, 2004)
• Tốt hơn nên trồng cải bắp trong mùa mưa khi quần thể sâu tơ bị mưa ngăn cản (Theo Chương trình FAO – IPM rau, Hướng dẫn sinh thái học Cải bắp, 2004)
• Trồng xen với cà chua (hoặc các cây không mẫn cảm với sâu tơ) có thể giúp giảm mật độ sâu tơ Ý tưởng của việc trồng xen này là sâu tơ trưởng thành sẽ khó tìm thấy cây cải bắp hơn khi chúng được ngụy trang giữa các cây trồng khác (Theo Chương trình FAO – IPM rau, Hướng dẫn sinh thái học Cải bắp, 2004)
• Đôi khi trồng cây dẫn dụ quanh ruộng cũng góp phần phòng trừ sâu tơ Cây dẫn
dụ nên được trồng trước cây bắp cải, chúng sẽ thu hút sau hại Những sâu hại này sẽ thu hút thiên địch Cây dẫn dụ hoặc sẽ bị phá hủy cùng với sâu non của sâu tơ hoặc để lại trên ruộng như “nơi qui tụ thiên địch” Cần theo dõi những cây dẫn dụ này thường xuyên hơn so với cây trồng chính và cần phòng trừ sâu
tơ trước khi chúng có thể di chuyển từ cây dẫn dụ sang cây trồng chính Các cây dẫn dụ không được kiểm tra thường xuyên có thể tạo ra quần thể sâu tơ cao Cần chú ý đặc biệt để quản lý những cây này và sử dụng chúng như một phần của biện pháp phòng trừ Trong thực tế, một vài nhà nghiên cứu có báo cáo rằng việc sử dụng cây dẫn dụ kết hợp thả ong ký sinh là một biện pháp quản lý sâu tơ rất tốt (Theo Chương trình FAO – IPM rau, Hướng dẫn sinh thái học Cải bắp, 2004)
• Ở những nơi tác dụng của thiên địch có hiệu quả cao trên ruộng, cần thiết có một ít sâu tơ ở trên ruộng để duy trì quần thể thiên địch Nếu tiêu diệt hết tất cả
Trang 27sâu non sâu tơ có thể dẫn tới làm giảm mật độ thiên địch (Theo Chương trình FAO – IPM rau, Hướng dẫn sinh thái học Cải bắp, 2004)
• Thả ong ký sinh trên ruộng cải bắp được chứng minh là có khả năng phòng trừ sâu tơ hiệu quả nếu không sử dụng thuốc BVTV Việc thả ong cần được xem là một phần của một chương trình quản lý sâu tơ trên diện rộng, trong đó bao gồm việc tập huấn cho nông dân (Theo Chương trình FAO – IPM rau, Hướng dẫn sinh thái học Cải bắp, 2004)
• Khi có điều kiện về hệ thống tưới tiêu, phun nước có thể là một biện pháp phòng trừ sâu tơ Việc tưới phun mưa, đặc biệt là tưới vào buổi chiều, ngăn cản sâu tơ giao phối và đẻ trứng Thêm vào đó, sâu non có thể bị rửa trôi khỏi lá và
bị dìm chết Tưới phun mưa có thể gây ảnh hưởng xấu tới bệnh, bệnh lan truyền
dễ hơn theo những giọt nước bắn đi khi tưới (Theo Chương trình FAO – IPM rau, Hướng dẫn sinh thái học Cải bắp, 2004)
• Sau khi theo dõi ruộng cẩn thận, so sánh số thiên địch và sâu hại, nếu số lượng thiên địch trên ruộng không đủ để phòng trừ sâu tơ thì có thể dùng Bt Bt an toàn cho hầu hết thiên địch và nếu sử dụng đúng cách sẽ mang lại hiệu quả phòng trừ sâu tơ cao hơn Cần thay đổi các loại thuốc Bt để làm giảm cơ hội cho sâu tơ phát triển tính kháng Bt (Theo Chương trình FAO – IPM rau, Hướng dẫn sinh thái học Cải bắp, 2004)
• Ở một số nước, người ta đã phát hiện rằng một số thuốc thảo mộc như các chất chiết từ cây xoan Ấn Độ có hiệu quả trừ sâu tơ trên bắp cải Nên thử những loại thuốc thảo mộc này ở những khu thử nghiệm nhỏ trước khi dùng trên diện rộng Thuốc thảo mộc có thể có ảnh hưởng xấu tới quần thể thiên địch (Theo Chương trình FAO – IPM rau, Hướng dẫn sinh thái học Cải bắp, 2004)
• Dọn bỏ tất cả các tàn dư cây trồng sau khi thu hoạch giúp làm giảm quần thể sâu Có thể dùng các lá cải bắp làm thức ăn cho động vật hoặc cho vào đống phân ủ Sâu tơ có thể sống sót trong tàn dư cây và di chuyển sang ruộng bên cạnh (Theo Chương trình FAO – IPM rau, Hướng dẫn sinh thái học Cải bắp, 2004)
• Một phương pháp mới để phòng trừ sâu tơ hiện nay đang trong giai đoạn thử nghiệm là hấp dẫn con trưởng thành vào bẫy, nơi chúng bị nhiễm với một tác
Trang 28nhân gây bệnh trước khi thoát được ra ngoài Các nhà nghiên cứu ở Anh đã xây dựng những chiếc bẫy đặc biệt cho phép sâu tơ chui vào bẫy, bị tác nhân gây
bệnh là nấm Zoophthora radicans gây bệnh rồi thoát ra khỏi bẫy Sau đó, ngài
sẽ mang tác nhân gây bệnh tới cây trồng, nơi nó có thể nhiễm cả sâu non và các con trưởng thành khác (Theo Chương trình FAO – IPM rau, Hướng dẫn sinh thái học Cải bắp, 2004)
2.2.8 Các loại thuốc thí nghiệm
2.2.8.1 DAS-001
Thuốc mới đang tiến hành khảo nghiệm nên công ty chưa công bố hoạt chất 2.2.8.2 Spinosad
Tên thương mại: Success 25 SC (Dow Agro Sciences B.V.)
Tên hóa học: Sacharopolyspora spinosa (nấm thuộc nhóm Actinomycete)
Nhóm hóa học: Thuốc vi sinh
Tính chất: thuốc rất ít độc với người, gia súc, cá và ong mật Nhóm độc III,
LD50 qua miệng > 5000 mg/kg Thời gian cách li 7 ngày
Tác động tiếp xúc và vị độc Phổ tác dụng rộng
Sử dụng: Phòng trừ các loại sâu ăn lá cho rau, bông, thuốc lá Success 25 SC sử dụng với liều lượng 0,5 – 1 l/ha pha với nồng độ 0,1 – 0,2 % phun ướt đều lên cây
Khả năng hỗn hợp: không pha chung với các thuốc trừ nấm
2.2.3 Bacillus thuringiensis var kurstaki
Tên thương mại: Biocin 16 WP (công ty TNHH một thành viên BVTV Sài Gòn)
Tên khoa học: Bacillus thuringiensis Berliner var Kurstaki
Nhóm hóa học: Vi sinh vật
Tính chất: là thuốc trừ sâu sinh học, nguồn gốc vi khuẩn, được sản xuất bằng
phương pháp lên men vi khuẩn B thuringiensis (Bt) Sản phẩm lên men là độc tố ở
dạng đạm tinh thể cao phân tử và dạng bào tử của vi khuẩn Độc tố là chất Endotoxin,
có nhiều dạng α , β, γ , δ Trong đó, dạng delta Endotoxin có hiệu lực cao với sâu non bộ cánh vẩy và là thành phần chủ yếu trong các loại thuốc Bt Độc tố có độ lớn từ 0,5 – 2 micron, không bền vững trong môi trường kiềm và acid, không tan trong nước
và trong nhiều dung môi hữu cơ nhưng tan trong dung dịch kiềm (pH > 10), tan trong
Trang 29dịch ruột của sâu non bộ cánh vẩy Lần đầu tiên năm 1870, nhà bác học Pasteur đã
phát hiện một loài vi khuẩn gây bệnh liệt cho con tằm và đặt tên là Bacillus bombycis
Về sau, Berliner xác định đó là vi khuẩn Bacillus thuringiensis, có hơn 30 chủng khác
nhau Đến năm 1971, đã có danh sách 400 loài côn trùng mẫn cảm với các dòng Bt Từ những năm giữa thập kỉ 70, thuốc trừ sâu Bt đã trở thành phổ biến và cạnh tranh với thuốc hóa học trừ sâu
Có 2 loại thuốc Bt, loại chứa cả tinh thể độc tố và bào tử (khoảng 107 bào tử/mg) và loại chỉ chứa tinh thể độc tố Sau khi phun, sâu ăn phải thuốc, tinh thể độc tố gây hiệu lực ngay và sau đó bị phân hủy, còn bào tử thì có thể tồn tại lâu, tiếp tục sinh sản và gây ra độc tố
Nhóm độc III, LD50 qua miệng > 8000 mg/kg Rất ít độc với người, môi trường
và các loài thiên địch, không độc với cá và ong Thời gian cách li 5 ngày Loại Bt chứa bào tử rất mẫn cảm với tằm nên ở những nơi trồng dâu nuôi tằm chỉ nên dùng loại Bt không chứa bào tử
Tác động vị độc, không có hiệu lực tiếp xúc và xông hơi Sau khi ăn phải lá cây
có thuốc, chỉ 1 giờ sau sâu sẽ yếu và ngừng ăn, cơ thể đen dần, teo lại và chết sau vài ngày Phổ tác dụng hẹp, chủ yếu có hiệu lực với sâu non bộ cánh vẩy
Tác dụng: Thuốc Bt dùng phòng trừ các loại sâu tơ, sâu xanh, sâu khoang, sâu keo hại rau, đậu, thuốc lá, bông, ngô, đay
Thuốc Biocin 16 WP (chứa 16 000 i.u/mg, i.u = international unit = đơn vị quốc tế) sử dụng với liều lượng 1 – 2 kg/ha, pha nước với nồng độ 0,2 – 0,4 % phun 400 –
500 l/ha
Khả năng hỗn hợp: Có thể pha chung với nhiều thuốc trừ sâu bệnh khác, không pha chung với thuốc có tính kiềm (như Bordeaux), phân hóa học, các thuốc trừ bệnh
có nguồn gốc kháng sinh (như Kasugamycin, Validamycin) và thuốc có đồng
Thuốc rất mẫn cảm với nhiệt độ cao và ẩm, cần bảo quản nơi khô và mát
2.2.8.4 Diafenthiuron
Tên thương mại: Pegasus 500 SC (Syngenta Vietnam Ltd.)
Tên hóa học: 1 – tert – butyl – 3 – (2,6 – di – isopropyl – 4 – phenoxyphenyl) thiourea
Phân tử lượng: 384,6
Trang 30Tính chất: thuốc kỹ thuật dạng bột, màu trắng, điểm nóng chảy 149,6 oC tan rất
ít trong nước (0,05 mg/l ở 20 oC), tan nhiều trong dung môi hữu cơ như acetone,
toluene, bền vững trong nước, không khí và ánh sáng
Nhóm độc III, LD50 qua miệng 2068 mg/kg LD50 qua da > 2000 mg/kg Ít độc
với cá, độc với ong Thời gian cách li 7 ngày
Tác động tiếp xúc, vị độc và xông hơi, có khả năng thấm sâu Phổ tác dụng
rộng, diệt được cả trứng sâu
Sử dụng: Phòng trừ nhiều loại sâu và nhện hại cây trồng như sâu tơ, sâu xanh,
rệp hại rau, sâu xanh da láng, sâu khoang, sâu đục quả, rệp hại đậu, sâu hại bông, sâu
ăn lá, rệp sáp, bọ xít, rầy, nhện đỏ hại cây ăn quả, chè, cà phê
Pegasus 500 SC sử dụng với liều lượng 0,5 – 1 l/ha pha với 300 – 400 lít nước
phun trừ sâu non cho rau, đậu, bông hoặc pha nước với nồng độ 0,1 % phun ướt đều
lên cây lâu năm
Khả năng hỗn hợp: Có thể pha chung với nhiều loại thuốc trừ sâu bệnh khác
Trang 31
Chương 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm
• Thời gian thực hiện: từ ngày 16 tháng 2 đến ngày 31 tháng 5 năm 2009
• Địa điểm thực hiện: Địa bàn TP.Pleiku
3.2 Điều kiện tự nhiên và thời tiết khí hậu
• Điều kiện tự nhiên:
Thành phố Pleiku với tổng diện tích tự nhiên khoảng 262 km2, nằm trên ngã ba giao lộ của quốc lộ 19 và quốc lộ 14, cách cảng Quy Nhơn 180 km đường bộ, là trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa của tỉnh Gia Lai
¾ Phía Bắc: giáp huyện Chư Păh
¾ Phía Đông: giáp huyện Đắk Đoa
¾ Phía Nam: giáp huyện Chư Prông
¾ Phía Tây: giáp huyện Ia Grai
Khu vực thành phố Pleiku chủ yếu là đất đỏ bazan và đất đen có hàm lượng mùn cao Nhìn chung đất đai của khu vực Pleiku rất thuận lợi cho việc phát triển cây công nghiệp dài ngày và ngắn ngày cũng như các loại rau và hoa
• Thời tiết khí hậu:
Thành phố Pleiku thuộc vùng khí hậu cao nguyên nhiệt đới gió mùa, dồi dào về
độ ẩm, có lượng mưa lớn, không có bão và sương muối Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Thời tiết khí hậu là yếu tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của các loại cây trồng Đề tài đã được thực hiện tại khu vực thành phố Pleiku từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2009, tức là vào cuối mùa khô và đầu mùa mưa của năm
Trang 32T háng 3/2009
T háng 4/2009
T háng 5/2009
T háng 6/2009
T háng 3/2009
T háng 4/2009
T háng 5/2009
T háng 6/2009
Lượng mưa
Biểu đồ 3.2 : Lượng mưa trong các tháng tại khu vực Tp Pleiku từ tháng 2 đến tháng
6 năm 2009
Trang 33Theo số liệu của trạm khí tượng thuỷ văn TP Pleiku trong 5 tháng từ tháng 2 đến tháng 5, nhiệt độ trung bình có xu hướng tăng dần từ tháng 2 đến tháng 4 do đây là những tháng mùa khô trong năm nhưng đến tháng 5 trở đi nhiệt độ trung bình có xu hướng giảm do thời điểm này là lúc bắt đầu vào mùa mưa Nhiệt độ trung bình cao nhất trong 4 tháng là 23,80C nhằm vào tháng 4 và nhiệt độ trung bình thấp nhất là 21,40C nhằm vào tháng 2 (Biểu đồ 3.1)
Ẩm độ trung bình cũng tăng dần từ tháng 2 đến tháng 6 nhưng trong tháng 3 ẩm
độ trung bình có xu hướng giảm đây là giai đoạn cuối mùa khô và sau đó tăng cao ở các tháng sau Ẩm độ trung bình cao nhất là 89 % nhằm vào tháng 6, ẩm độ trung bình thấp nhất là 72 % nhằm vào tháng 3
Theo số liệu của Đài khí tượng thuỷ văn khu vực Tây Nguyên, trong 5 tháng từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2009 thời tiết biến động bất thường, từ tháng 2 đến tháng 4 là mùa khô nhưng có mưa trái mùa rải rác Tổng lượng mưa cao nhất là 266,0 mm vào tháng 5, tổng lượng mưa thấp nhất là 5,0 mm vào tháng 2 (biểu đồ 3.2)
3.3 Vật liệu nghiên cứu
• Các vật liệu cần thiết để thực hiện thí nghiệm
• Một số loại thuốc phòng trừ sâu tơ: DAS-001, Success 25SC, Biocin 16WP,
Pegasus 500SC
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Điều tra hiện trạng canh tác cây cải bắp tại TP Pleiku
Phương pháp điều tra: Tiến hành bằng cách phỏng vấn trực tiếp 35 hộ nông dân
về quá trình canh tác cây cải bắp của họ tại địa phương bằng phiếu điều tra (mẫu phiếu
và danh sách các hộ nông dân điều tra được thể hiện ở phụ lục 3)
Chỉ tiêu điều tra:
Trang 343.4.2 Điều tra thành phần, diễn biến và các biện pháp phòng trừ sâu hại trên cây
cải bắp của nông dân tại thành phố Pleiku
Mục đích: Tìm hiểu thành phần, diễn biến mật số của các loài sâu hại và sự sử
dụng thuốc phòng trừ sâu hại trên cây cải bắp của 35 hộ nông dân tại TP.Pleiku Từ đó
có thể biết được sâu tơ phá hại trong thời gian nào nặng nhất và các loại thuốc trừ sâu
nào được nông dân sử dụng phổ biến nhất
3.4.2.1 Điều tra thành phần và diễn biễn các loài sâu hại trên cây cải bắp của
nông dân tại thành phố Pleiku
Khu vực điều tra: 3 vùng chuyên canh rau ở tổ dân phố 3 phường Thống Nhất,
phường Yên Thế, xã An Phú và một số hộ nông dân sản xuất với diện tích nhỏ ở vùng
không chuyên canh rau
Điểm điều tra: Mỗi ruộng (hộ nông dân) điều tra 10 điểm nằm trên 2 đường
chéo chính của khu vực điều tra Điểm điều tra phải cách bờ ít nhất 2 m
Số mẫu điều tra của 1 điểm: Theo dõi, quan sát số sâu mỗi loài trên 5-10
cây/điểm trên các vườn cải bắp tại địa bàn TP.Pleiku
Cách điều tra: Điều tra ngoài đồng, đếm số lượng sâu mỗi loài có trên từng cây
trong điểm điều tra
Các chỉ tiêu theo dõi:
o Mật độ sâu: con/m2
o Tần số xuất hiện của sâu hại:
TSXH (%) = (Số lần bắt gặp trên các điểm điều tra / tổng số điểm điều tra) x 100
Công thức tính: Mật độ sâu (con/m2) = Tổng số sâu điều tra / Tổng số m2 điều tra Lịch theo dõi: Điều tra 7 ngày 1 lần theo tuyến điều tra trong khu vực điều tra cố định
ngay từ đầu vụ
3.4.2.2 Điều tra các biện pháp phòng trừ sâu hại trên cây cải bắp của nông dân tại
thành phố Pleiku
Phương pháp điều tra: Tiến hành bằng cách phỏng vấn trực tiếp 35 hộ nông dân
về quá trình phòng trừ sâu hại trên cây cải bắp của họ tại địa phương bằng phiếu điều
tra (mẫu phiếu và danh sách các hộ nông dân điều tra được thể hiện ở phụ lục 3)
Chỉ tiêu theo dõi:
Trang 35o Các biện pháp phòng trừ sâu hại cây bắp cải
o Khoảng cách giữa 2 lần phun thuốc
o Thời gian cách ly
o Các loại thuốc hóa học đã sử dụng
3.4.3 Khảo nghiệm hiệu lực phòng trừ sâu tơ hại trên cây cải bắp của một số thuốc phòng trừ sâu tơ tại TP Pleiku
Mục đích: Đánh giá hiệu lực phòng trừ sâu tơ trên cây cải bắp của một số loại thuốc
Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm 1 yếu tố được bố theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên, 6 nghiệm thức, 3 lần lặp lại
Đánh giá 6 loại thuốc phòng trừ sâu tơ, trong đó nghiệm thức đối chứng là thuốc Pegasus 500 SC được nông dân trên TP.Pleiku sử dụng phổ biến nhất
Sơ đồ bố trí thí nghiệm:
NT1 NT5 NT2 NT3 NT6 NT3 NT5 NT2 NT6 NT2 NT1 NT5 NT4 NT4 NT1 NT6 NT7 NT4 NT7 NT3 NT7
Trang 36Ghi chú: Thí nghiệm chỉ phun 1 lần vào buổi chiều râm mát, trời không mưa
Phương pháp điều tra: Mỗi ô thí nghiệm chọn 5 điểm trên 2 đường chéo góc
Và mỗi điểm điều tra 5 cây, đếm tổng số sâu tơ còn sống trên cây tại các điểm điều tra
này ở các thời điểm trước xử lý thuốc, 1, 3, 7, 14 và 21 ngày sau xử lý thuốc
Hiệu lực của thuốc được tính dựa theo công thức Henderson – Tilton:
H (%) = [1 – (Ta x Cb) / (Tb x Ca)] x 100
Trong đó, H: hiệu lực phòng trừ của thuốc đối với sâu hại
Ta: số sâu sống ở ô có phun thuốc sau xử lý
Tb: số sâu sống ở ô có phun thuốc trước xử lý
Cb: số sâu sống ở ô đối chứng trước xử lý
Ca: số sâu sống đối chứng sau xử lý
3.5 Phân tích thống kê và xử lý số liệu
Số liệu được thu thập, phân tích ANOVA II và trắc nghiệm LSD bằng phần mềm MSTATC Các đồ thị được vẽ bằng phần mềm EXCEL
Trang 37Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Hiện trạng canh tác cây cải bắp ở Thành phố Pleiku
Kết quả điều tra 35 hộ nông dân trồng cây cải bắp ở 3 vùng rau phường Thống Nhất, phường Yên Thế và xã An Phú tại thành phố Pleiku được trình bày ở bảng 4.1
Bảng 4.1 cho thấy nông dân tại thành phố Pleiku chủ yếu trồng 4 dạng giống cây cải bắp chính, đó là KK Cross, C35, C38 và A76 Trong đó, giống KK Cross chiếm 11,4 % tổng số hộ điều tra, giống C35 chiếm 28,6 % tổng số hộ điều tra, giống C38 chiếm 37,1 % tổng số hộ điều tra và giống A76 chiếm 22,9 % tổng số hộ điều tra Giống KK Cross được trồng với tỷ lệ thấp nhất vì giống này có thời gian sinh trưởng dài hơn (từ lúc cấy đến thu hoạch là 70 ngày) các giống còn lại (từ lúc cấy đến thu hoạch là 60 ngày), đồng thời giống KK Cross cho bắp to nhưng nhẹ cân (Pbắp trung bình là 1,5 – 2,2 kg) vì bắp cuốn không chặt không đáp ứng được thị hiếu người tiêu dùng và người sản xuất nên không được trồng nhiều
Tất cả 100 % số hộ điều tra đều trồng thuần cải bắp ở một diện tích riêng Còn các loại rau khác được trồng ở một diện tích khác trong vườn
Số hộ nông dân trồng cải bắp với khoảng cách 60 cm x 60 cm chiếm 22,9 % tổng số hộ điều tra, khoảng cách 50 cm x 60 cm chiếm 20,0 % tổng số hộ điều tra, khoảng cách 40 cm x 50 cm chiếm 48,6 % tổng số hộ điều tra và khoảng cách 40 cm x
40 cm chiếm 8,6 % tổng số hộ điều tra Trong đó, khoảng cách 40 cm x 50 cm được trồng phổ biến nhất vì trồng khoảng cách này cây cải bắp cho bắp có trọng lượng khoảng 1,2 -1,5 kg, trọng lượng này phù hợp thị hiếu người tiêu dùng vì bắp không lớn quá cũng không nhỏ quá
Tất cả 100 % số hộ điều tra đều tưới nước trong suốt vụ, tưới 2 lần/ngày từ lúc cấy đến 10 – 12 ngày tuổi, lúc này cây cải bắp vừa qua giai đoạn hồi xanh quen với môi trường mới Sau đó, tưới 1 lần/ngày đến cuối vụ
Trang 38Bảng 4.1 Hiện trạng canh tác cây cải bắp ở 3 vùng rau phường Thống Nhất,
phường Yên Thế và xã An Phú tại thành phố Pleiku năm 2009
hộ
Tỷ lệ (%)
Từ lúc cấy đến 10 - 12 ngày ( 2 lần/ngày) 35 100,0
5 Tưới nước Từ 10 - 12 ngày đến thu hoạch (1lần/ngày) 35 100,0
Số hộ điều tra làm cỏ 2 lần/vụ chiếm 14,3 % tổng số hộ điều tra, còn 85,7 % số
hộ điều tra làm cỏ 1 lần/vụ Đa số nông dân làm cỏ 1 lần/vụ vào thời điểm khoảng 12 –
15 ngày sau cấy, thời gian sau các lá bàng của cây cải bắp phát triển mạnh lấn át sự
phát triển của cỏ
Số hộ điều tra tỉa lá 2 lần/vụ chiếm 14,3 % tổng số hộ điều tra, còn 85,7 % số
hộ điều tra tỉa lá 1 lần/vụ Đa số nông dân tỉa lá 1 lần/vụ vào thời điểm khoảng 40 – 50