1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỬ NGHIỆM KHẢ NĂNG PHÒNG TRỪ BỌ NHẢY BẰNG RỂ CÂY THUỐC CÁ TRÊN RAU CẢI XANH TẠI KHU PHỐ XUÂN ĐỒNG PHƯỜNG TÂN THIỆN THỊ XÃ ĐỒNG XOÀI, BÌNH PHƯỚC

88 194 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Sinh viên: LÊ THỊ THU HƯƠNG, Trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, tháng 8/2009 “THỬ NGHIỆM KHẢ NĂNG PHÒNG TRỪ BỌ NHẢY BẰNG RỄ CÂY THUỐC CÁ TRÊN RAU CẢI XANH TẠI KHU P

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA NÔNG HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

THỬ NGHIỆM KHẢ NĂNG PHÒNG TRỪ BỌ NHẢY BẰNG

RỂ CÂY THUỐC CÁ TRÊN RAU CẢI XANH TẠI

KHU PHỐ XUÂN ĐỒNG PHƯỜNG TÂN THIỆN

Trang 2

THỬ NGHIỆM KHẢ NĂNG PHÒNG TRỪ BỌ NHẢY BẰNG

RỂ CÂY THUỐC CÁ TRÊN RAU CẢI XANH TẠI KHU PHỐ XUÂN ĐỒNG PHƯỜNG TÂN THIỆN

THỊ XÃ ĐỒNG XOÀI, BÌNH PHƯỚC

Tác giả

LÊ THỊ THU HƯƠNG

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư ngành

Nông Học

Giáo viên hướng dẫn:

Nguyễn Hữu Trúc

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

CHÂN THÀNH CÁM ƠN

Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm – Thành phố Hồ Chí Minh, Ban chủ nhiệm khoa Nông học đã tạo điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập, cũng như trong thời gian thực tập tốt nghiệp

Qúy thầy cô Khoa Nông học đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian tôi theo học tại trường

Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến Thầy Nguyễn Hữu Trúc, người đã tận tình hướng dẫn và cho tôi những kinh nghiệm quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Ban lãnh đạo Hội Nông dân tỉnh Bình Phước đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập

Gia đình anh, chị Tạ Đình Phong đã giúp đỡ nhiệt tình trong thời gian tôi thực hiện đề tài

Cuối cùng gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn giúp

đỡ, động viên tinh thần, hỗ trợ tạo điều kiện tốt để tôi hoàn thành nhiệm vụ

Đồng Xoài, ngày tháng 8 năm 2009

Sinh viên thực hiện

Lê Thị Thu Hương

Trang 4

TÓM TẮT

Sinh viên: LÊ THỊ THU HƯƠNG, Trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, tháng 8/2009

“THỬ NGHIỆM KHẢ NĂNG PHÒNG TRỪ BỌ NHẢY BẰNG RỄ CÂY THUỐC

CÁ TRÊN RAU CẢI XANH TẠI KHU PHỐ XUÂN ĐỒNG PHƯỜNG TÂN THIỆN THỊ XÃ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC”

Giảng viên hướng dẫn: Giảng viên NGUYỄN HỮU TRÚC

Đề tài được thực hiện từ tháng 2 đến tháng 5/2009

Mục đích của đề tài

- Xác định mức độ gây hại của bọ nhảy Phyllotreta striolata trên cây rau cải

xanh

- Xác định được hiệu lực của rễ cây thuốc cá trên bọ nhảy Phyllotreta striolata

- Theo dõi mật độ bọ nhảy ở từng thời kì sau khi sử dụng rễ cây thuốc cá; xác định nồng độ nào đảm bảo được mục đích phòng trừ sâu hại

Kết quả: Thí nghiệm làm cơ sở giúp nông dân có biện pháp canh tác hiệu quả

hơn trong phòng trừ bọ nhảy

Gồm các nghiệm thức:

1 Xử lý bột rễ cây thuốc cá trước gieo 02 ngày ở liều 15 kg/ha

2 Xử lý bột rễ cây thuốc cá trước gieo 02 ngày ở liều 20 kg/ha

3 Xử lý bột rễ cây thuốc cá trước gieo 02 ngày ở liều 25 kg/ha

4 Xử lý bột rễ cây thuốc cá trước gieo 02 ngày ở liều 30 kg/ha

5 Xử lý thuốc Selecron 500 EC trước gieo 02 ngày ở liều 1,5 lít/ha

6 Xử lý thuốc Kitabamec 3.6 EC trước gieo 02 ngày ở liều 0,8 lít/ha

Qua kết quả thí nghiệm, chúng tôi nhận thấy:

Bột rễ cây thuốc cá có khả năng hạn chế sự cắn phá của bọ nhảy có thể khuyến cáo sử dụng ở liều lượng 20 – 25 kg/ha

Thuốc Selecron 500 EC hiệu quả phòng trừ bọ nhảy tương đối cao ở giai đoạn đầu, sau giảm dần Thuốc Kitabamec 3,6 EC cho hiệu quả thấp và mau bị phân hủy

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM TẠ ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH SÁCH CÁC BẢNG – BIỂU vii

DANH SÁCH CÁC HÌNH viii

DANH SÁCH CÁC HÌNH viii

Chương 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích 2

1.3 Yêu cầu 2

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Sơ lược về bọ nhảy 3

2.1.1 Phân bố 3

2.1.2 Đặc điểm hình thái 3

2.1.3 Tập tính sinh sống và quy luật phát sinh gây hại 4

2.1.4 Một số biện pháp quản lý và phòng trừ bọ nhảy 5

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 6

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 6

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 7

2.3 Giới thiệu chung về cây cải bẹ xanh 8

2.3.1 Nguồn gốc phân bố 8

2.3.2 Đặc điểm thực vật học 8

2.3.3 Điều kiện sinh thái 8

2.3.4 Giống và thời vụ 9

2.4 Khái niệm về rau an toàn 9

2.5 Giới thiệu về cây thuốc cá và hoạt chất Rotenone 9

2.5.1Cây thuốc cá 9

2.5.2 Rotenone 12

Trang 6

2.5.4 Thuốc Tikabamec 3.6EC 13

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

3.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 14

3.1.1 Điều kiện cây trồng 14

3.1.2 Điều kiện đất đai 14

3.1.3 Điều kiện thời tiết khí hậu trong thời gian làm thí nghiệm 14

3.2 Vật liệu và phương pháp thí nghiệm 15

3.2.1 Vật liệu thí nghiệm 15

3.2.2 Phương pháp thí nghiệm 15

3.2.2.1 Điều tra hiện trạng canh tác cây cải xanh tại phường Tân Thiện, thị xã, Đồng Xoài, Bình phước 15

3.2.2.2 Xác định hiệu lực phòng trừ bọ nhảy P striolata trên cây cải xanh của rể cây thuốc cá 15

3.3 Phương pháp xử lý số liệu 17

Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 18

4.1 Hiện trạng canh tác cải xanh tại Khu phố Xuân Đồng Phường Tân Thiện thị xã Đồng Xoài tỉnh Bình Phước 18

4.2 Biến động mật số một số sâu hại chính trên cải xanh 23

4.3 Mối quan hệ giữa bọ nhảy, tỷ lệ hại và chỉ số hại trên cây cải xanh 25

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38

5.1 Kết luận 38

5.2 Đề nghị: 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

Trang 7

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT

NT: Nghiệm thức NSG: Ngày sau gieo NST: Ngày sau trồng BVTV: Bảo vệ thực vật Nt: Như trên

KS: Kỹ sư NS: Năng suất

Trang 8

DANH SÁCH CÁC BẢNG – BIỂU

Bảng 2.1: Phân tích định tính các thành phần hoạt chất thứ cấp 11

Bảng 3.3: Diễn biến thời tiết từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2009 tại Thị xã Đồng Xoài tỉnh Bình Phước 14

Bảng 3.2: Các nghiệm thức thí nghiệm 15

Bảng 4.1: Canh tác cải bẹ xanh của nông dân tại khu phố Xuân Đồng Phường Tân Thiện thị xã Đồng Xoài tỉnh Bình Phước 18

Bảng 4.2 Các loài sâu hại thường xuất hiện trên ruộng cải bẹ xanh 19

Bảng 4.3 Biện pháp phòng trừ sâu hại trên cải bẹ xanh bằng thuốc BVTV 20

Bảng 4.5 Mật số trung bình bọ nhảy trên cải xanh 23

Bảng: 4.7 Mật số bọ nhảy, tỷ lệ hại và chỉ số hại trên cây cải xanh 8 ngày sau gieo 25

Bảng 4.8 Mật số bọ nhảy, tỷ lệ hại và chỉ số hại trên cây cải xanh 12 ngày sau gieo 26

Bảng 4.9 Mật số bọ nhảy, tỷ lệ hại và chỉ số hại trên cây cải xanh 18 ngày sau gieo 27

Bảng 4.10 Mật số bọ nhảy, tỷ lệ hại, chỉ số hại trên cây cải xanh 22 ngày sau gieo 27

Bảng 4.11 Mật số bọ nhảy, tỷ lệ hại, chỉ số hại trên cây cải xanh 26 ngày sau gieo 28

Bảng 4.12 Mật số bọ nhảy, tỷ lệ hại, chỉ số hại trên cây cải xanh 30 ngày sau gieo 29

Bảng 4.13: Hiệu quả phòng trừ bọ nhảy của các nghiệm thức thí nghiệm 30

Bảng 4.14: Năng suất của các nghiệm thức 31

Bảng 4.15: Hiệu quả kinh tế của các nghiệm thức 32

Trang 9

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 4.1: Bột rể cây thuốc cá 34

Hình 4.2: Bọ nhảy đang cắn phá cây cải xanh ở 12 ngày sau gieo 35

Hình 4.3: Nghiệm thức đối chứng 8 ngày sau gieo 35

Hình 4.4: Nghiệm thức IV, lần lập lại thứ 3 ở 12 ngày sau gieo 36

Hình 4.5: Toàn cảnh khu thí nghiệm ở 30 ngày sau gieo 37

Hình 4.6 : Mức độ bị thiệt hại của cây cải 12 ngày sau gieo 37

Trang 10

kê thì hiện nay tính bình quân chung cả nước ta mới đáp ứng được khoản 50% nhu cầu tiêu thụ rau xanh, do đó việc gia tăng diện tích và sản lượng rau là cần thiết trong thời gian tới

Trong số các loại rau ăn, thì loại rau họ thập tự (Crucifereae) được trồng và tiêu thụ mạnh ở nước ta cũng như các nước khác trên thế giới Tuy nhiên đây cũng là loại cây trồng thường bị nhiều loại sâu gây hại như sâu xanh, sâu tơ, sâu khoang, rệp, bọ nhảy… các đối tượng này là một trong những nguyên nhân gây ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng rau và gây thiệt hại về kinh tế cho người trồng rau

Để phòng trừ chúng nhằm bảo vệ năng suất và sản lượng rau thì biện pháp duy nhất hiện nay đối với người nông dân vẫn là dùng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), với chủng loại, số lượng và số lần dùng rất cao trong mỗi vụ gieo trồng, khoãn thời gian giữa các lần phun ngắn, không theo nguyên tắc 4 đúng, thời gian cách ly quá gần với thời gian thu hoạch, đã tạo điều kiện cho các đối tượng sinh vật gây hại hình thành tính

kháng thuốc, đặc biệt là bọ nhảy (Phyllotreta striolata) làm cho việc phòng trị ngày

càng khó khăn hơn, kéo theo các vụ ngộ độc thực phẩm đã liên tục xảy ra trong những năm gần đây Một trong những tồn tại lớn của sản xuất nông nghiệp đang được quan tâm hiện nay là: việc sử dụng quá nhiều thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học

Trang 11

nông nghiệp bền vững và an toàn mà chúng ta đang nỗ lực tiến tới Để góp phần hạn

chế tồn tại trên, đề tài “Thử nghiệm khả năng phòng trừ bọ nhảy bằng rể cây thuốc

cá trên rau cải xanh tại Khu phố Xuân Đồng phường Tân Thiện thị xã Đồng Xoài tỉnh Bình Phước” đã được thực hiện

1.2 Mục đích

Đánh giá khả năng phòng trừ bọ nhảy (Phyllotreta striolata) trên cây rau cải

xanh bằng rễ cây thuốc cá tại Đồng Xoài, Bình Phước

Trang 12

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Sơ lược về bọ nhảy

- Tên khoa học: Phyllostreta striolata Fab

- Trứng có hình oval, dài khoảng 0,3 – 0,42 mm và rộng 0,15 – 0,27 mm, khi mới đẻ trứng có màu trắng đục sau chuyển sang màu vàng nhạt Bọ nhảy đẻ trứng dưới đất hoặc trên các rễ nhỏ của cây, trứng được đẻ riêng lẻ hay đẻ tập trung 3 -5 trứng trên rễ của cây ký chủ

- Ấu trùng bọ nhảy có dạng hình trụ, trãi qua 3 giai đoạn biến thái (3 tuổi), thời gian phát triển kéo dài khoảng 3 -4 tuần, sâu non mới mở có màu trắng đục, dài khoảng 0,84mm và đạt 3,38mm ở giai đoạn biến thái cuối cùng, sâu đẩy sức có thể dài

Trang 13

nhiên, hàm trên , cặp má, móng chân thì có màu đen Đầu màu nâu không có mắt đơn Ngực mang 3 đôi chân ngực rất phát triển

- Nhộng thuộc loại nhộng trần, hình bầu dục, màu sắt thay đổi từ trắng hoặc vàng nhạt đến nâu hơi nhạt khích thước dài khoảng 2mm, rộng khoảng 0,8 -1 mm Nhộng có 1 cặp mắt kép to màu nâu, mầm cánh và mầm chân sau rất dài Sự hoá nhộng diễn ra trong đất xung quanh gốc, rễ, ít khi hoá nhộng trên rễ chính Thời gian làm nhộng từ 7 – 10 ngày (Nguyễn Thị Chắt, 1998)

2.1.3 Tập tính sinh sống và quy luật phát sinh gây hại

Kí chủ chính của bọ nhảy là trên cây họ thập tự như: cải bẹ xanh, cải ngọt, cải thìa, cải bắc thảo… và kí chủ phụ là bông vải, ngủ cốc, cà tím

Thành trùng thường ẩn vào nơi râm mát, mặt dưới các lá gần mặt đất khi trời nắng, chúng có khả năng nhảy xa và bay rất nhanh, thường bò trên mặt lá ăn phá vào sáng sớm và chiều tối, cắn lủng lá cải thành những lỗ nhỏ đều đặn trên khắp mặt lá rất

dễ nhận diện, làm lá có thể bị vàng và rụng Thành trùng đẻ trứng trong đất cách rể chính khoảng 3cm, đôi khi để trứng ngay trên thân cây gần sát mặt đất, sau khi mở ấu trùng bọ nhảy ăn hại rễ cây, phần rễ tơ và chóp rễ của cây con, trong một vài trường hợp chúng đục vào thân và rễ ở phần tiếp giáp với mặt đất Ấu trùng cắn phá rễ cây làm cây còi cọc đôi khi héo hoặc thối Khi lớn đủ sức ấu trùng làm nhộng ngay trong trong đất ở độ sâu 3 – 7cm

Bọ nhảy sống rất lâu, chúng gây hại chủ yếu ở giai đoạn cây con và sau trồng từ

0 – 40 ngày sau trồng, chúng ăn hại mặt trên của lá mầm, lá thật, chồi non (đỉnh sinh trưởng), thân tạo ra các lỗ nhỏ, các lỗ này có thể kết thành các lỗ lớn hơn Tuỳ theo mức độ gây hại có thể làm héo, rụng lá, sự thiệt hại nghiệm trọng khi chúng tấn công điểm sinh trưởng làm hạn chế sự đền bù của cây Sự gây hại từ mức độ nhẹ đến trung bình cũng có thể kéo dài thời gian phát triển của cây gây nên sự thành thục không đồng bộ trên ruộng Nghiêm trọng hơn khi mật số cao chúng ăn hết phần thịt lá chỉ chừa lại gân lá Ngoài ra bọ nhảy còn là môi giới truyền bệnh virút khảm lá, vàng lá

Sự thiệt hại do bọ nhảy khi trưởng thành có thể làm mất 10% năng suất, ngay

cả khi nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và ấu trùng có thể làm giảm 5% năng suất Sự thiệt hại có thể cao hơn tuỳ thuộc vào mật độ của chúng cũng như khả năng

Trang 14

Bọ nhảy gây hại quanh năm trên cây họ thập tự tại Đồng Xoài, chúng gây hại nặng trên cây cải xanh suốt giai đoạn sinh trưởng của cây Bọ nhảy gây hại nặng trong những ngày nắng nóng, lúc sáng sớm hay chiều mát, buổi trưa thường ẩn ở mặt dưới

lá, nơi râm mát hay khe nứt của đất, đêm đến tập trung ở các đợt lá non Khi trời lặng gió và nắng ấm, khô là điều kiện thuận lợi cho sự hoạt động của thành trùng

Ngược lại khi có mưa, gió mạnh làm hạn chế sự hoạt động phá hại Thành trùng

bọ nhảy xuất hiện nhiều và phá hại nặng nhất vào tháng 3 đến tháng 5 và tháng 7 – 9 hàng năm (Nguyễn Thị Chắt,1998)

2.1.4 Một số biện pháp quản lý và phòng trừ bọ nhảy

Theo FAO và Chương trình IPM quốc gia, để phòng trừ bọ nhảy P striolata có

hiệu quả cần kết hợp đồng thời nhiều biện pháp quản lý dịch hại như:

- Vệ sinh đồng ruộng: vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ trước khi gieo hạt, phòng trừ

cỏ dại, đặc biệt với cỏ thuộc hoa thập tự: rễ cải, cải dại

- Luân canh: không trồng liên tục các loại cải trên cùng một ruộng mà nên luân canh cải với các loại rau khác họ (dền, mồng tơi ) Nếu có thể nên luân canh cây thập

tự với lúa nước

- Xử lý hạt giống bằng các loại thuốc bột 0,3kg/1kg hạt giống, xử lý đất vườn ươm bằng chế phẩm nấm Ma, thuốc Regent, biện pháp xông hơi sinh học

- Làm đất: đất trồng rau cần làm kỹ, cần phơi đất thật khô tối thiểu từ 10 – 15 ngày trước khi gieo để tiêu diệt trứng và ấu trùng bọ nhảy trong đất Bón thêm phân chuồng ủ hoai khoảng 1 -2 kg/m2 đất góp phần cải tạo đất, kích thích các vi sinh vật

có ích trong đất hoạt động, giúp cây sinh trưởng phát triển tốt

- Không nên kéo dài thời gian thu hoạch quá 3 ngày Nên trồng và thu hoạch từ dưới hướng gió ngược lên trên hứơng gió Khi thu hoạch nên chừa khoảng vài nhóm cải ở cuối hứơng gió và nơi có ánh nắng mặt trời chiếu vào để thành trùng bọ nhảy tập trung vào sau đó bắt đầu tiêu huỷ

- Hạn chế gieo trồng vào thời điểm nắng nóng gắt kéo dài và vào mùa khô hạn thiếu nước canh tác

- Khi mật số bọ nhảy cao có thể phòng trừ bằng thuốc bảo vệ thực vật cho phép

và thời gian cách ly an toàn: Hopsan 75ND, Fastac 5EC, Regent 800WG, Nomolt

Trang 15

thuốc vào sáng sớm hoặc chập tối, phun sương ướt đều cả hai mặt lá và trên đọt non của cây cải

Theo Nguyễn Thị Chắt (1998) có thể phòng trừ bọ nhảy sọc vỏ lạc bằng các biện pháp tổng hợp:

- Xử lý đất, xử lý hạt giống bằng thuốc bột 0,3kg/1kg hạt giống, xử lý đất vườn ươm Vệ sinh đồng ruộng sạch trước khi gieo hạt

- Luân canh cây họ cải với cây trồng khác

- Phòng trừ bọ nhảy trong vườn ươm bằng thuốc trừ sâu dạng bột hoặc hạt 2g/m2, 5 ngày sau khi nẩy mầm hoặc phun thuốc hoá học thông dụng cho phép khi mật

độ bọ nhảy cao như: Diazinon, Dipterex

Theo Nguyễn Văn Huỳnh: sử dụng thuốc trừ sâu gốc lân hữu cơ để trị bọ nhảy, nhất là đối với ấu trùng nên phun sát gốc cây cải để tiêu diệt ấu trùng sống dưới đất

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở nước ta chưa có nhiều tài liệu nghiên cứu về bọ nhảy, chủ yếu tập trung vào việc mô tả đặc điểm hình thái bọ nhảy, tập quán sinh sống và biện pháp chủ yếu phòng trừ là sử dụng thúôc bảo vệ thực vật

Theo Hà Thị Hiến (2003), ấu trùng sống dứơi đất ăn vào tế bào biểu bì của thân

rễ hay các phần rễ nhỏ non của cây, các thân ngầm mọc dưới mặt đất Ấu trùng sống trong đất khoảng 30 ngày thì hoá nhộng, sự hoá nhộng diễn ra trong đất độ sâu 3 – 7

cm hay xung quanh rễ cây

Theo Phạm Hữu Thiện (2005) Mật độ bọ nhảy tăng dần ở 7 ngày sau trồng và đạt mức cao nhất ở 14 ngày sau trồng, sau đó giảm xuống

Gần đây có nhiều thông tin về việc sử dụng các chế phẩm sinh học, và các chế phẩm từ Rotenon có khả năng phòng trừ bọ nhảy, diệt được nhiều loại sâu bệnh và tuyến trùng trong đất như chưa có kết quả nghiên cứu cụ thể

Theo Lại Thế Hưng (2002), các chế phẩm thảo mộc: Thuốc lào và Neem có hiệu lực trừ bọ nhảy sọc vỏ lạc hại cây cải bắc thảo tại Đà Lạt với hiệu lực đồng ruộng đạt trung bình của thuốc lào là 47.36% và Vineem 1500EC là 48,26%

Trang 16

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Theo Prasterink (1996) bọ nhảy gây hại nhiệm trọng ở giai đoạn cây con bắt đầu nảy mầm đến khi cây con có 9 lá thật (đối với rau cải xanh) ở giai đoạn cây có 5 –

6 lá thật cây có khả năng đền bù hầu hết các thiệt hại do bọ nhảy gây ra, tuy nhiên cần phải áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM) trong phòng trừ bọ nhảy như trồng cây khoẻ, trừ cỏ, xứ lý hạt giống bằng thuốc sâu, dùng bẩy dính con trưởng thành, khi cây có 9 lá thật không cần dùng các biện pháp phòng trừ

Theo Cranshan and Al-Doghairi (2001) có thể dùng bẩy cây trồng bằng cây củ cải hoặc cây củ cải Nhật Bản để bảo vệ cây con hoặc dùng loại thuốc hoá học chứa hoạt chất Carbaryl, Permethrin có hiệu quả phòng trừ tốt trong một tuần lễ Một số thúôc trừ sâu thảo mộc như Neem và dầu thực vật cũng có thể gây hiệu quả chán ăn đối với bọ nhảy

Theo Caryn L Andensen (2002), loài săn mồi, ký sinh và tác nhân gây chết có thể quan trọng trong điều chỉnh quần thể bọ nhảy mặc dù cho đến nay, hiệu quả biện pháp phòng trừ sinh học còn hạn chế nhưng một số loài côn trùng như dế đồng

(Gryllus pennsylvanicus) kén trắng (Microctonus vittatae)… có khả năng gây hại cho

bọ nhảy Tuy nhiên, sự ký sinh và săn mồi này khó kiểm soát quần thể bọ nhảy trong một thời gian ngắn trên đồng ruộng Các biện pháp canh tác như diệt cỏ, dùng hạt giống tốt, mở rộng khoảng cách hàng trồng cũng có hiệu quả hạn chế thiệt hại bọ nhảy, luân canh không là biện pháp hữu hiệu trong phòng trừ bọ nhảy ở những vùng chúng

có tập tính quá đông Một số hoạt chất hoá học có hiệu quả phòng trừ như: Imidaplorid, Carbaryl, Thiamethoxam

- Về thiên địch:

+ Theo Eddy (1983) Ong ký sinh Perilitus epitricis có khả năng ký sinh trên

trưởng thành bọ nhảy nhưng số lượng không nhiều

+ Ở Canada, Loan (1969) và Wylie et al (1984), trong điều kiện phòng thí

nghiệm đã ghi nhận được thiên địch là ong ký sinh Townesilitus bicolor kí sinh trên

bọ nhảy trưởng thành

- Quản lý bằng kỹ thuật canh tác:

+ Theo Liu và Yen (1941) đã sử dụng loại bẫy có 2 lớp nhầy trên những cánh

Trang 17

trùng bộ cánh cứng, nhưng cần sự thay đổi để cải thiện hiệu quả khi sử dụng nó ở diện rộng

- Quản lý bằng biện pháp hoá học:

+ Reed và Byers (1981), nguyên nhân thất thoát bởi thành trùng là do tập quán canh tác cải xoăn ở Pennsylvania Theo Reed và Byers có thể ngăn ngừa bằng cách sử dụng thúôc trừ sâu dạng hạt nhỏ vào thời điểm gieo hạt Thúôc hạt này được sử dụng bằng cách vãi hạt sẽ mang lại hiệu quả hơn là phun thuốc trên hàng

+ Tuy nhiên, Georhiou và Lagunes – Tejeda (1991) đã chứng minh rằng bọ nhảy sọc vỏ lạc có khả năng kháng thuốc trừ sâu như: Aldrin, Dieldrin, Lindane và BHC

- Quản lý dịch hại tổng hợp:

+ Ở Tennessee - Mỹ, Shamiyeh et al (1993) đã tiến hành thí nghiệm trên cây cải

súp lơ và cải bắp với nhiều loại thúôc trừ sâu khác nhau và với khuẩn Bacillus thuringensis Kurstaki để kiểm soát bọ nhảy sọc cong nhưng không có kết luận nào

được đưa ra

2.3 Giới thiệu chung về cây cải bẹ xanh

Tên khoa học: Brassica juncea L

2.3.3 Điều kiện sinh thái

Trang 18

Nhiệt độ thích hợp cho cây cải bẹ xanh sinh trưởng và phát triển từ 10 – 270C,

ẩm độ đất thích hợp 75%, ẩm độ không khí 80 – 90%

2.3.4 Giống và thời vụ

- Giống: có 2 giống cải bẹ xanh phổ biến Cải bẹ xanh mỡ có bẹ dẹp màu xanh vừa, chiều cao trung bình từ 35 – 45cm và giống cải bẹ xanh có bẹ hơi tròn Màu xanh vừa, chiều cao trung bình từ 40 – 45cm Giống cải bẹ xanh mỡ được thị trường ưa chuộng nên được trồng phổ biến

- Thời vụ: cải bẹ xanh có thể trồng quanh năm, nhưng trồng trong mùa khô cho năng suất cao hơn Từ tháng 11 đến tháng 4 cần theo dõi côn trùng gây hại và từ tháng

5 – tháng 10 cần theo dõi bệnh hại và phải có giàn che mưa tránh dập lá

- Thu hoạch: thời gian sinh trưởng, phát triển khoảng 50 – 60 ngày Nhưng cải

ra hoa sẽ có nhiều xơ, vị đắng và rất nồng còn cải nhỏ có vị hăng và ngọt nên thu hoạch trước khi ra hoa thường khoảng 20 – 25 ngày sau trồng

2.4 Khái niệm về rau an toàn

- Rau phải được đảm bảo về mặt phẩm chất, không bị hư hại, dập nát, héo úa

- Không nhiễm các loại vi sinh vật gây hại cho người sử dụng

- Hàm lượng Nitrate và kim loại nặng phải dưới mức cho phép

- Dư lượng thuốc trừ sâu bệnh, thuốc diệt cỏ và các loại thuốc kích thích dưới mức cho phép

2.5 Giới thiệu về cây thuốc cá và hoạt chất Rotenone

2.5.1Cây thuốc cá

Trong nhiều thế kỷ người dân bản xứ vùng nhiệt đới Biển Đông đã dùng nguyên liệu từ các loại cây khác nhau để đánh bắt cá và săn thú rừng Ở Malaysia những cây này được gọi là “toeba” hay “tuba” và thuộc họ đậu (Leguminosae), trong

đó Derris là giống có hiệu lực, tác dụng trừ sâu và cá mạnh nhất vì có chứa nhóm chất

rotenoid, trong đó có rotenone là thành phần quan trọng

Trong các vùng ôn đới khác thuộc Nam Mỹ, nhiệt đới châu Phi có sự hiện diện của nhiều giống liên quan mật thiết với nhau có chứa hợp chất rotenone và điều thuộc

họ Leguminosae Rotenone là một hợp chất thứ cấp quan trọng thuộc nhóm

Isoflavonoid đã được sử dụng làm chất độc diệt cá ở Malaysia (1947) và Nam Mỹ

Trang 19

Oxley phát hiện ra rễ “tuba” có khả năng chống lại các loại sâu róm ăn lá Vào năm

1982, lần đầu tiên E.Greoffrey tách chiết rotenone từ cây thuốc cá Đến năm 1911,

Lenz đã phát hiện một tinh thể từ cây Derris elliptica ở New Guinea gọi là derrin Đến năm 1912 Nagai đã cô lập đựơc nó từ Derris chinensis mà dân bản xứ gọi là roten

và đặt tên là rotenone Từ đó tên này đựơc gọi chính thức và hoạt chất rotenone đã đựơc sử dụng làm thuốc trừ sâu

Trên thế giới có khoảng 68 – 80 loài dây leo khác nhau thụôc họ Fabaceae có

chứa rotenone Theo Đỗ Tất Lợi và một số tác giả khác trong nước, dây thuốc cá có nguồn gốc hoang dại hoặc đựơc trồng tại các nước Malaysia, Ấn Độ, Indonesia, Việt Nam và một số nứơc khác ở Châu Phi Ở Việt Nam có khoảng 21 loài Derris đã được dịnh danh Ở các tỉnh phía Bắc có khoảng 12 loài, phân bố nhiều vùng trung du và miền núi, chúng mọc trên các vùng hoang hoá, ven bờ suối Nam bộ có 9 loài, trong

đó có Derris elliptica Benth là loại cho năng suất bộ rễ và hàm lượng rotenone cao

nhất trong các loài hiện có trên thế giới và được trồng nhiều ở các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long

* Các đặc điểm của Derris elliptica Benth: Loài Derris elliptica (Roxb) Benth

còn có tên gọi là tubli (Philippines), Derris (Pháp), tobaroot (Anh), cây thuốc cá ( Việt Nam) thường được tìm thấy ở nhiều dạng bụi cây dọc theo bờ suối, trong các rừng thứ cấp

Kết quả phân tích trên cho thấy Derris không chứa glucosid và alkaloid nhưng flavone và tanin thì hiện diện trong tất cả các bộ phận của cây Đặc biệt, Flavon trong

đó có rotenone tích tụ một lượng rất lớn ở rễ Sterol chỉ có trong lá mà không có trong các bộ phận khác Trong khi đó saponin lại không có trong lá nhưng lại có trong thân

và rễ

Trang 20

* Thân: Derris có thân gỗ vừa là dây leo vừa bò lan, đường kính trung bình

1.5-2.0cm khi trưởng thành Nếu để cây bò tự nhiên thì sau 12-13 tháng tuổi thân có

thể dài trên 10m, cây 5 tuổi dài trên 21m Bề mặt ngoài vỏ thân lúc mới đâm chồi đựơc

phủ một lớp lông tơ mịn màu nâu nhạt, sau rụng dần và chuyển sang màu xanh nhạt 10

– 15 ngày sau đó, khi trưởng thành có màu xám đen Đường kính thân trung bình ở độ

cao 50cm là 1.5-2.0cm Cây trồng để tự nhiên sau 2 năm có thể dài đến 20m và cho tán

rộng 7-8m2 Thời kỳ đầu sau khi trồng 5-6 tháng, thân cây thẳng đứng cao đến

0.6-0.8m, sau đó ngã bò dài trên đất Rễ mọc ra từ thân sẽ làm giảm năng suất của bộ rễ

chính, theo kinh nghiệm của nông dân phải loại bỏ các chồi ở cây đã trưởng thành, để

giữ cây mọc đứng Trọng lượng thân chiếm khoảng 65-70% so với tổng trọng lượng

toàn thân

* Lá: Lá của cây Derris elliptica là hệ thống lá kép hình lông chim lẻ, dài

30-40cm gồm 9-12 lá chét mọc đối Khi lá còn non thường bị sâu bọ cắn phá do lúc này

rotenone gần như chưa đựơc hình thành Khi lá đã có màu xanh lục, hàm lượng

rotenone đạt được từ 1.1-1.9% nên không còn bị sâu cắn phá Trọng lượng lá thường

chiếm khoảng 25-27% so với tổng trọng lượng toàn thân, đồng biến với trọng lượng

bộ rẽ và hàm lượng rotenone

* Bông: Bông chùm màu tím hoa sim có mùi thơm dễ chịu và nở sau 12 tháng

tuổi vào mùa xuân hợac mùa hè Mỗi chùm có từ 20 - 50 hoa, dài 10-15cm

Trang 21

- Cuống hoa nhỏ đường kính ≤ 0.8-1.0mm, dài1.2-1.3cm

- Đài hoa hình tô, màu vàng xám nhạt, đường kính 0.8-1.2cm

- Mỗi hoa có 5 cánh hoa không đối xứng Cánh hoa ngoài cùng lớn gấp 2-3 bên trong bao bọc 8-10 nhị và một nhuỵ trong cùng

- Nhuỵ trong cùng có bầu noãn hình bầu dục màu trắng, vòi nhuỵ hơi cong, dài 1.3cm, núm nhuỵ hơi loe ra và có màu xanh lá chuối non

* Rễ: Rễ cây Derris vốn là rễ cọc nhưng do trồng bằng hom nên từ gốc và thân

hom phát triển thành chùm nhiều rễ nhỏ Hệ thống các rễ phụ R2,R3,R4 là các rễ tơ mọc ra từ rễ mẹ chằng chịt trên đó có dính nhiều các nốt sần có ích Rễ khi còn non có màu vàng nhạt sáng, sau đó chuyển dần sang màu vàng xám sẫm màu hơn khi trưởng thành Sau khi ngâm trong nước 7-10ngày vỏ rễ chuyển thành màu đen Hệ thống rễ tơ phát triển rất nhiều Nếu bị ngập nước úng lâu thì hệ thống rễ tơ này bị thối, khả năng hút nước rễ giảm nhiều làm cho cây rụng lá và ngưng phát triển Trọng lượng bộ rễ chiếm 10-12% trọng lượng toàn cây (12-15 tháng tuổi) là nơi tích lũy chủ yếu rotenone

2.5.2 Rotenone

Rotenone và các chất tương tự với nó được gọi là rotenoids, được thương mại hóa dùng làm thuốc diệt côn trùng ăn lá cây trồng từ năm 1848 Tuy nhiên chúng đã được dùng làm thuốc để làm tê liệt cá từ nhiều thế kỷ trước ở nhiều địa điểm khác nhau trên thế giới ( Trung Quốc, Nam Mỹ) Rotenone tác động đến quá trình hô hấp, là chất độc đối với động vật thở bằng mang Chim và động vật có vú ít hoặc không bị ảnh hưởng là vì chúng có thể làm vô hiệu rotenone bằng enzyme matic có trong ruột Rotenone không bị phân giải ở cá là vì nó được ngấm qua mang vào máu mà không qua đường ruột

* Cơ sở khoa học tác động của rotenone lên sinh vật

Theo Nathaniel Tischler, rễ cây Derris chứa rotenone độc đối với một số protozoa, sâu bọ, giáp sát (Cyclops), ếch và vi khuẩn phát sáng (luminescent bacterium) Rotenone xâm nhập vào cơ thể của đối tượng sinh vật qua đường tiêu hoá,

hệ thống hô hấp và vỏ bọc Dịch chiết từ cơ thể và dịch trong cơ thể sẽ hoà tan rotenone tạo ra những hiệu quả độc tính Rotenone không những tác động đặc hiệu lên

Trang 22

hệ thống thần kinh vận động hay trên những cơ bám mà còn tác động lên phản xạ tự nhiên và sức căng cơ tim và sau đó là hệ tuần hoàn

Thuốc có nguồn gốc từ rotenone được sử dụng dưới dạng dịch phun đậm đặc hoặc dạng bột và được sử dụng rất đa dạng: dùng cho bảo vệ mùa màng, cho cây trồng trong nhà và vườn trang trí, trên thú nuôi: chó, mèo,thỏ Chất này không độc cho cây trồng, những rất độc cho cá và côn trùng, ít độc cho các động vật máu nóng và không

để lại dư lượng trên sản phẩm nên đặc biệt rất hiệu quả trong rau sạch vì nhanh phân huỷ ít độc cho người và môi trường Rotenone tuy giết côn trùng chậm nhưng côn trùng bỏ ăn ngay khi tiếp xúc với thuốc Dưới điều kiện có ánh nắng mặt trời rotenone chỉ tồn tại 1 đến 3 ngày Trên thế giới đã có nhiều chế phẩm đựơc sản xuất từ hoạt chất rotenone với các tên thương mại như: Rotenone FK11, Cham fish, Foliafme ở Việt Nam được điều chế trong các chế phẩm thảo mộc hoặc dùng dạng bột nguyên chất trộn chung với các loại phân hữu cơ, hiện có chế phẩm Rotec5 và một số thuốc khác

2.5.3 Thuốc Selecron 500EC

Hoạt chất: Profenofos

Tính chất: Thuốc kỹ thuật ở dạng lỏng, điểm sôi 110oC (ở 0,001mg Hg), rất ít tan trong nứơc (20 ppm) tan nhiều trong dung môi hữu cơ, thuỷ phân nhanh chóng trong môi trường kiềm, bền trong môi trường acid và trung tính nhẹ

Nhóm độc II, LD50 qua miệng 358mg/kg, LD50 qua da 277mg/kg Độc với cá và ong mật Thời gian cách ly 14 ngày

Tác động tiếp xúc, vị độc, có khả năng thấm sâu Phổ tác dụng rộng, phòng trừ đựơc nhiều loại sâu, nhện và bọ nhảy trên cây trồng, diệt được cả trứng sâu

Dùng để phòng trừ các loại sâu hại trên cây trồng với liều lượng 1 – 1,5 lít/ha

2.5.4 Thuốc Tikabamec 3.6EC

Hoạt chất : Abamectin

- Kiểu tác động : Vị độc và tiếp xúc

- LD50 ( miệng chuột): 3270 mg/kg; LD50 (da chuột ): > 2000 mg/kg Phổ tác dụng rộng, phòng trừ đựơc nhiều loại sâu, nhện, rầy và bọ nhảy trên cây trồng An toàn cho cây trồng; độc nhẹ với ong Cách sử dụng: Pha 2 - 4 ml/bình 10 lít phun khi sâu chớm xuất hiện, lượng nước phun là 400- 500 lít/ha

Trang 23

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm

Thí nghiệm đã được tiến hành từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2009 tại khu 7 mẫu

thuộc khu phố Xuân Đồng phường Tân Thiện thị xã Đồng Xoài tỉnh Bình Phước

3.1.1 Điều kiện cây trồng

Thí nghiệm được tiến hành trên cây cải bẹ xanh (Brassica juncea) của Công ty

giống Trang Nông, tiến hành kiểm tra mật độ bọ nhảy 8 NSG khi cây có 1 – 2 lá thật

3.1.2 Điều kiện đất đai

Thí nghiệm được thực hiện trên vùng chuyên canh cây rau họ thập tự tại Khu

phố Xuân Đồng Phường Tân Thiện Thị xã Đồng Xoài, trên nền đất thịt nặng, có tầng

canh tác nông, độ phì kém, nước tưới là giếng bơm và nước mưa Tiền canh của lô đất

này là trồng xà lách, cải ngọt

3.1.3 Điều kiện thời tiết khí hậu trong thời gian làm thí nghiệm

Bảng 3.3: Diễn biến thời tiết từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2009 tại Thị xã Đồng

Số ngày mưa (ngày)

Số giờ nắng (giờ)

Trang 24

3.2 Vật liệu và phương pháp thí nghiệm

3.2.1 Vật liệu thí nghiệm

- Bột rể cây thuốc cá, thuốc hóa học Selecron 500EC, Tikabamec 3.6EC

- Cải bẹ xanh (B juncea L) của Công ty giống Trang Nông

3.2.2 Phương pháp thí nghiệm

3.2.2.1 Điều tra hiện trạng canh tác cây cải xanh tại phường Tân Thiện, thị xã, Đồng Xoài, Bình phước

Bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp nông dân canh tác cải xanh trong vùng

để nắm bắt hiện trang canh tác của nông dân thông qua các mẫu phiếu điều tra đã chuẩn bị sẵn Tổng số hộ điều tra 50 hộ

3.2.2.2 Xác định hiệu lực phòng trừ bọ nhảy P striolata trên cây cải xanh của rể

Nghiệm thức Liều lượng (kg, lít/ha) Thời điểm xử lý

Bột rễ cây thuốc cá 15 Bón lót cùng phân hữu cơ trước khi gieo Bột rễ cây thuốc cá 20 Bón lót cùng phân hữu cơ trước khi gieo Bột rễ cây thuốc cá 25 Bón lót cùng phân hữu cơ

trước khi gieo Bột rễ cây thuốc cá 30 Bón lót cùng phân hữu cơ trước khi gieo Selecron 500EC 1,5 Phun trước gieo 1 ngày Tikabamec 3.6EC 0,8 Phun trước gieo 1 ngày

Trang 25

+ Sơ đồ bố trí thí nghiệm

+ Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi

- Chỉ tiêu theo dõi

Theo dõi biến động mật độ bọ nhảy trên đồng ruộng

Tính tỉ lệ hại và chỉ số hại ở các nghiệm thức trồng

Tính hiệu lực của thuốc

Đánh giá năng suất và hiệu quả kinh tế khi dùng bột rễ cây thuốc cá

- Phương pháp theo dõi

Mỗi ô thí nghiệm chọn 5 điểm cố định theo đừơng chéo góc, tại mỗi điểm chọn

3 cây để đếm mật số bọ nhảy trên cây và số lá bị hại để tính chỉ số hại và tỉ lệ lá bị hại

Theo dõi các chỉ tiêu 4 ngày/lần lúc sáng từ 7h – 8h30 Phương pháp điều tra dựa theo tài liệu Phương pháp Nghiên cứu Bảo vệ thực vật (tập 3)

Bọ nhảy thu được Mật số bọ nhảy (con/cây) = ————————

∑ Số cây điều tra

Số lá bị hại

Tỉ lệ bị hại % ( lá/cây) = ——————— × 100

Tổng số lá điều tra ∑( a × n)

Chỉ số hại % (Lá /cây) = ———— × 100

N × 4

Trang 26

Trong đó: a: Cấp hại

n: Số lá bị hại tương ứng mỗi cấp N: Tổng số lá điều tra

4: Cấp hại cao nhất Cấp 0: lá không có diện tích bị hại Cấp 1: lá có diện tích bị hại 1 – 10%

%: Độ hữu hiệu

3.2.2.3 Năng suất và hiệu quả kinh tế

- Năng suất ô thí nghiệm: Cân toàn bộ cải xanh thu được trên ô thí nghiệm rồi qui ra năng suất tấn/ha Tính giá thành tại thời điểm thu hoạch cải để tính hiệu quả kinh tế

3.3 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu được tính toán trên phần mềm Excel 2003 và xử lý thống kê ANOVA và trắc nghiệm phân hạng trên phần mềm MSTATC

Trang 27

Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN

4.1 Hiện trạng canh tác cải xanh tại Khu phố Xuân Đồng Phường Tân Thiện thị

xã Đồng Xoài tỉnh Bình Phước

Bảng 4.1: Canh tác cải bẹ xanh của nông dân tại khu phố Xuân Đồng Phường

Tân Thiện thị xã Đồng Xoài tỉnh Bình Phước

Trang 28

Qua bảng 4.1 Chúng tôi nhận thấy:

+ Đa số nông dân tại Thị xã Đồng Xoài có diện tích trồng cải bẹ xanh phổ biến

từ 500 - 1000 m2 chiếm tỷ lệ cao nhất 52%, số hộ có diện tích canh tác từ 500 m2

chiếm tỷ lệ 28%, số hộ có diện tích trồng cải xanh trên 1000 m2 thấp hơn chiếm tỷ lệ 20%

+ Đa số nông dân trồng hạt giống mua từ các công ty sản xuất giống Số hộ mua giống cải chiếm tỷ lệ 88%, còn lại tự để giống địa phương chiếm tỷ lệ thấp 12%

+ Đa số nông dân có xử lý đất trước khi gieo trồng chiếm tỷ lệ 100% Người dân thường bổ sung phân chuồng, phân hoá học và vôi vào đất chủ yếu là phân gà ủ hoai + với tro trấu để bón lót trước khi trồng, sau đó trong giai đoạn bón thúc nông dân chủ yếu dùng phân urea bằng cách rải trực tiếp lên ruộng vào buổi chiều mát sau

đó tưới nước, một vài hộ có bổ sung phân bón lá như DAP nhưng tỷ lệ không đáng kể chiếm 30% Ngoài ra họ còn kết hợp với thuốc trừ tuyến trùng, kiến và thuốc trừ nấm trước khi gieo trồng

+ Nguồn nước tưới của nông dân chủ yếu được lấy từ nước ao (đào) chiếm 62% hoặc giếng khoan 28%

Bảng 4.2 Các loài sâu hại thường xuất hiện trên ruộng cải bẹ xanh

Tên loài sâu hại

Tên thường gọi Tên khoa học

Số hộ ghi nhận

Tỉ lệ (%)

Bọ nhảy Phyllotreta striolata Fab 50 100

Sâu khoang Spodoptera litura Fab 40 80

Trang 29

Qua bảng 4.2 Chúng tôi nhận thấy:

+ Có 8 loại sâu hại xuất hiện trên ruộng cải của nông dân trong đó sâu tơ

(Plutella xylostella L.), Bọ nhảy (Phyllotreta striolata Fab.), xuất hiện ở mức độ

thường xuyên , 100% số nông dân được điều tra đều ghi nhận

+Còn lại là các loại: Sâu xanh da láng (Spodoptera exigua Hb.), sâu đàn

(Crocidolomia binotalis Zellen) có số hộ ghi nhận chiếm tỷ lệ 84%, Sâu khoang

(Spodoptera litura Fab.) 80%, rầy mềm (Brevicorynae brassica) 60%, đối với dòi đục

lá (Liriomiza sp.) Hai loại có tỷ lệ nông hộ ghi nhân thấp hơn lần lượt là: Dòi đục lá

(Liriomiza sp) 30%, sâu đục nõn (Helula undalis Fab) 20%

Bảng 4.3 Biện pháp phòng trừ sâu hại trên cải bẹ xanh bằng thuốc BVTV

Có 23 46 Thuốc sinh học

Có 50 100 Thuốc hóa học

Có 50 100 Hỗn hợp

Trang 30

Qua bảng 4.3 Kết quả điều tra hiện trạng canh tác cải xanh của nông dân tại thị xã Đồng Xoài tỉnh Bình Phước chúng tôi nhận thấy:

+ Về biện pháp phòng trị chúng tôi nhận thấy nông dân phòng trị sâu hại bằng các loại thuốc hóa học chiếm tỷ lệ cao và có 46 % số hộ có sử dụng thuốc sinh học Đa

số nông dân đều phun nhiều loại thuốc kết hợp để phòng trừ sâu bệnh

+ Tại địa phương điều tra chúng tôi nhận thấy số lần phun xịt trên vụ cải 3-4 lần chiếm tỷ lệ cao nhất 74%, số hộ phun > 4lần /vụ chiếm là 8%, 1-2 lần/vụ chiếm 18%

+ Về thời gian cách ly số hộ có chú ý cách ly theo khuyến cáo trên nhãn thuốc chiếm tỷ lệ 84%, còn lại 16% chưa chú ý đến thời gian cách ly của thuốc

+ Đa số nông dân trồng cải đều kết hợp nhiều loại thuốc trừ bệnh + trừ sâu để phun cùng lúc để phòng trừ sâu, bệnh trên cây cải chiếm tỷ lệ 100% Có 80% nông dân quan tâm đến thời gian cách ly khi sử dụng thuốc

+ Thông tin mà nông dân biết về cách sử dụng thuốc có được là do từ các đại

lý bán thuốc chiếm tỷ lệ cao nhất là 60%, từ các chương trình khuyến nông chiếm tỷ lệ 26%, từ đài báo là 8% và từ nông dân truyền miệng cho nhau là 4% Qua đó cho thấy rằng, vai trò của các đại lý thuốc có ảnh hưởng lớn đến việc sử dụng thuốc của nông dân

Trang 31

Bảng 4.4 Các loại thuốc trừ sâu mà nông dân thường sử dụng trên cải

Karate 2,5EC Lambda-cyhalothrin 0,8 1,3 32

+Nhóm cúc tổng hợp được phần lớn nông dân sử dụng trong đó có 2 loại là

Karate 2,5EC 64%, và Secsaigon 10EC thì tỷ lệ nông dân sử dụng thấp nhất là 10%

+Nhóm thuốc Cacbamat nông dân sử dụng nhiều nhất là Bassan 50ND chiếm tỷ

lệ 75%

+Nhóm thuốc trừ sâu lân hữu cơ bà con nông dân sử dụng có 3 loại ( trong đó

thuốc Selecron 500EC chiếm 82% và supracide chiếm tỷ lệ 64%)

Trang 32

+ Các loại thốc thuộc nhóm khác nông dân sử dụng 3 loại trong đó có Forsan

50EC chiếm 14% còn lại là Match 50EC và Aplau 10WP chiếm tỷ lệ lần lượt là 18 %

và 13,3%, Kitabamec là 52%

4.2 Biến động mật số một số sâu hại chính trên cải xanh

Bảng 4.5 Mật số trung bình bọ nhảy trên cải xanh

Qua bảng 4.5 Chúng tôi nhận thấy biến động mật số bọ nhảy trên cải xanh có

mật số thấp nhất là 1,5 con/cây ở giai đoạn 40NSG và cao nhất là 4 con/cây ở giai

đoạn từ 20 - 25 ngày sau gieo Tuy nhiên ta cũng có thể thấy giai đoạn 30 -40 ngày sau

gieo có mật số giảm dần là do cây đã lớn, lá dày nên bọ nhảy ít cắn phá được

Bảng 4.6 Mật số trung bình sâu tơ trên cải xanh tại thị xã Đồng Xoài

Thời điểm điều tra

(Ngày sau gieo) Giai đoạn phát triển của cải xanh ( con/m Mật số 2 )

20 Giai đoạn sinh trưởng 5-6 lá 21,3

25 Giai đoạn sinh trương 6-7 lá 37,2

30 Giai đoạn sinh trưởng 7-8 lá 54,4

35 Giai đoạn chuẩn bị thu hoạch 7-8 lá 16,0

Thời điểm điều tra

Ngày sau gieo Giai đoạn phát triển Mật số ( con/cây )

20 Giai đoạn sinh trưởng 5-6 lá 4

25 Giai đoạn sinh trương 6-7 lá 4

30 Giai đoạn sinh trưởng 7-8 lá 3,5

35 Giai đoạn chuẩn bị thu hoạch 7-8 lá 2,5

Trang 33

Qua bảng 4.6 Chúng tôi nhận thấy ở giai đoạn 10 ngày sau gieo mật số sâu tơ là 4,0 con/m2 và mật số cao nhất là giai đoạn 30 ngày sau gieo là 54,4 con/m2

*Tóm lại: Qua các bảng chúng tôi có nhận xét:

- Bọ nhảy (Phyllotreta striolata) là đối tượng gây hại chủ yếu khi thời tiết khô

và rất khó phòng trừ

- Theo Giáo trình côn trùng chuyên khoa (NXB Nông nghiệp) thì sâu tơ là đối tượng phòng chống số 1 trên rau họ thập tự trong đó có cải xanh, mà đây là vùng chuyên canh rau trong đó có họ thập tự chiếm một diện tích khá lớn nên sâu tơ củng xuất hiện trên nhiều mùa vụ

*Kết quả điều tra diễn biến và tỷ lệ của bọ nhảy, sâu tơ và sâu đàn cho thấy:

- Vào cuối tháng 11 đầu tháng 3 hàng năm thời tiết nắng bọ nhảy xuất hiện sớm

ở giai đoạn 10 ngày sau gieo (có 3-4 lá thật) là bọ nhảy bắt đầu phát triển và tăng dần mật số từ 2con/cây đến đỉnh cao nhất là giai đoạn 30 ngày sau gieo với mật số 4con/ cây

- Bà con nông dân thường sử dụng thuốc BVTV để phòng trừ bọ nhảy từ rất sớm ở giai đoạn 10 – 15 NSG

- Ở giai đoạn 10 ngày sau gieo sâu tơ củng xuất hiện với mật số 4,0 (con/m2) sau đó củng tăng dần đến giai đoạn 30 ngày sau gieo là 54,4 (con/m2) này do nông dân

sử dung thuốc Amara trừ sâu tơ để giữ năng suất rau nên mật số giảm xuống còn 16,0 (con/m2) Do quy luật phát sinh phát triển của sâu tơ, nên sau đó mật số tăng lên ở giai đoạn 40 ngày sau gieo mật số sâu tơ có chiều hướng tăng (18,3 con/m2), đây củng là giai đoạn thu hoạch cải xanh

Trang 34

4.3 Mối quan hệ giữa bọ nhảy, tỷ lệ hại và chỉ số hại trên cây cải xanh

Bảng: 4.7 Mật số bọ nhảy, tỷ lệ hại và chỉ số hại trên cây cải xanh 8 ngày sau gieo

Nghiệm thức Mật số bọ nhảy Tỷ lệ hại Chỉ số hại

Rể cây thuốc cá 15 kg/ha 0,3 b 1,0 bc 1,9 c

Rể cây thuốc cá 20 kg/ha 0,3 b 0,7 bc 1,3 cd

Rể cây thuốc cá 25 kg/ha 0,0 b 0,0 c 0,5 de

Rể cây thuốc cá 30 kg/ha 0,0 b 0,0 c 0,0 e

Thuốc Selecron 500EC 0,7 ab 2,0 bc 2,7 b

Thuốc Tikabamec 3.6EC 1,3 ab 3,0 ab 3,2 ab

Ghi chú: cùng một cột, các số có cùng mẫu tự theo sau thì không khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê

Nhận xét: sau khi sử lý 8 ngày các nghiệm thức xử lý bằng rể cây thuốc cá mật

số bọ nhảy xuất hiện rất thấp từ 0,0 đến 0,3 con /cây tương ứng với tỷ lệ hại là 0,0%

đến 1,0% và chỉ số hại là 0,9% đến 2,5% Nghiệm thức xử lý bằng thuốc hóa học bọ

nhảy xuất hiện từ 0,7 đến 1,3 con/cây tương ứng với tỷ lệ hại là 2,0% đến 3,0% và chỉ

số hại 2,7% đến 3,7%

- Giai đoạn 8 ngày sau gieo có sự khác biệt có ý nghĩa Mặc dù bọ nhảy có xuất

hiện nhưng mật số bọ nhảy thấp, vì ở giai đoạn này cây còn nhỏ, số lá còn ít, sinh

trưởng chưa mạnh và do hiệu lực của thuốc đang ở mức độ cao Trong giai đoạn này

nếu gặp điều kiện mật số bọ nhảy cao tấn công gây hại nhiều sẽ ảnh hưởng không nhỏ

đến sinh trưởng và năng suất của cây cải về sau

Trang 35

Bảng 4.8 Mật số bọ nhảy, tỷ lệ hại và chỉ số hại trên cây cải xanh 12 ngày sau gieo

Nghiệm thức Mật số bọ nhảy Tỷ lệ hại Chỉ số hại

Rể cây thuốc cá 15 kg/ha 1,0 bc 1,3 bcd 2,1 c

Rể cây thuốc cá 20 kg/ha 1,0 bc 1,0 bcd 1,7 cd

Rể cây thuốc cá 25 kg/ha 0,3 c 0,6 cd 0,1 cd

Rể cây thuốc cá 30 kg/ha 0,0 c 0,3 d 0,3 d

Thuốc Selecron 500EC 1,3 bc 2,6 bc 3,5 b

Thuốc Tikabamec 3.6EC 1,6 a 3,0 b 4,4 ab

Ghi chú: cùng một cột, các số có cùng mẫu tự theo sau thì không khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê

Nhận xét: Các nghiệm thức xử lý bằng rể cây thuốc cá và thuốc hóa học bọ

nhảy đã xuất hiện ở mức tăng từ 0,3 đến 1,6 con/cây tương ứng với tỷ lệ hại là 0,6%

đến 3,0% và chỉ số hại là 0,1% đến 4,4%

- Sau xử lý 12 ngày mật số bọ nhảy ở các nghiệm thức 1,2,3, 5,6,7 đều tăng nhẹ ở mức

0,3 đến 2,3 con/cây, riêng nghiệm thức 4 không thấy xuất hiện bọ nhảy

Nhận xét: bảng 4.9 cho thấy rằng, sau xử lý 18 ngày ở tất cả các nghiệm thức

đều xuất hiện bọ nhảy Ở mức độ 0,3 đến 3,7 con/cây Ở nghiệm thức 6,7 tăng từ 2,7

đến 3,7 con /cây Thuốc đã bắt đầu giảm hiệu lực Giai đoạn này mật số bọ nhảy tăng

nhanh dẫn đến chỉ số hại và tỷ lệ hại đều tăng cao Mặt khác cũng ở giai đoạn này cây

sinh trưởng mạnh, tốc độ ra lá nhanh và hình thành nhiều lá mới nên khi mật số bọ

nhảy đạt cao nhất vào thời điểm này cũng là lúc cây bị hại nhiều nhất Mật số bọ nhảy

tăng lên và đạt cao nhất vào thời điểm này được giải thích: bọ nhảy có thể từ các ruộng

cải lân cận di chuyển đến ( do ruộng cải được thu hoạch hay ruộng xịt thuốc trừ bọ

nhảy) và giai đoạn này cây ra nhiều lá non nên thu hút bọ nhảy tập trung từ 12 đến 22

ngày sau gieo và cũng ở giai đoạn này thuốc đã bắt đầu giảm hiệu lực

Trang 36

Bảng 4.9 Mật số bọ nhảy, tỷ lệ hại và chỉ số hại trên cây cải xanh 18 ngày sau gieo

Nghiệm thức Mật số bọ nhảy Tỷ lệ hại Chỉ số hại

Rể cây thuốc cá 15kg/ha 1,7 bc 2,3 c 3,8 bc

Rể cây thuốc cá 20 kg/ha 1,3 c 2,7 c 4,0 b

Rể cây thuốc cá 25 kg/ha 1,0 c 1,7 c 2,6 cd

Rể cây thuốc cá 30 kg/ha 0,7 c 1,0 c 1,6 d

Thuốc Selecron 500EC 2,7 b 14,0 b 4,8 ab

Thuốc Tikabamec 3.6EC 3,3 a 21,7 a 5,4 a

Ghi chú: Các số có cùng mẫu tự theo sau thì không khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê

Bảng 4.10 Mật số bọ nhảy, tỷ lệ hại, chỉ số hại trên cây cải xanh 22 ngày sau gieo

Nghiệm thức Mật số bọ nhảy Tỷ lệ hại Chỉ số hại

Rể cây thuốc cá 15 kg/ha 2,0 bc 3,0 c 4,8 ab

Rể cây thuốc cá 20 kg/ha 1,7 c 4,0 c 4,7 ab

Rể cây thuốc cá 25kg/ha 1,7 c 3,0 c 3,0 bc

Rể cây thuốc cá 30 kg/ha 0,7 c 1,0 c 1,7 c

Thuốc Selecron 500EC 3,3 b 15,3 b 5,6 a

Thuốc Tikabamec 3.6EC 4,0 a 25,7 a 6,0 a

Ghi chú: Các số có cùng mẫu tự theo sau thì không khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê

Trang 37

Nhận xét: Sau sử lý 22 ngày mật số bọ nhảy ở các nghiệm thức 1,2,3,4 vẫn tiếp

tục tăng nhưng không có sự khác biệt rõ rệt giữa các nghiệm thức Với nghiệm thức

5,6 và đối chứng mức độ bọ nhảy tăng cao từ 3,3 đến 4,3 con/cây

Bảng 4.11 Mật số bọ nhảy, tỷ lệ hại, chỉ số hại trên cây cải xanh 26 ngày sau gieo

Nghiệm thức Mật số bọ nhảy Tỷ lệ hại Chỉ số hại

Rể cây thuốc cá 15 kg/ha 1,7 c 7,0 c 7,0 ab

Rể cây thuốc cá 20 kg/ha 1,3 c 7,3 c 5,4 ab

Rể cây thuốc cá 25 kg/ha 1,7 c 4,7 c 4,8 bc

Rể cây thuốc cá 30 kg/ha 1,0 c 4,3 c 2,8 c

Thuốc Selecron 500EC 3,7 ab 17,7 b 5,9 ab

Thuốc Tikabamec 3.6EC 4,7 a 26,3 a 6,3 ab

Ghi chú: Các số có cùng mẫu tự theo sau thì không khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê

Nhận xét: Sau xử lý 26 ngày các nghiệm thức 1,2 đều giảm nhẹ , nghiệm thức

3,6,7 hầu như không tăng , còn lại ở các nghiệm thức đều tăng nhưng mức độ tăng khá

thấp Tuy nhiên cây cải đã bị hại ở giai đoạn 12 đến 22 ngày sau gieo mật số bọ nhảy

có giảm xuống nhưng tình trạng bị hại được cộng dồn do đó tỷ lệ hại và chỉ số hại ớ

các nghiệm thức đểu tăng Hiệu lực thuốc đã giảm

Ở 30 ngày sau xử lý mật số bọ nhảy ở các nghiệm thức đều giảm vì ở giai đoạn

này cây cải xanh đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, lá dày và già hơn, tuy nhiên số lá

cải mới vẫn tiếp tục được hình thành tăng lên cùng với mật số bọ nhảy giảm không

nhiều dẫn đến cây cải vẫn tiếp tục bị hại Do đó, tỷ lệ hại và chỉ số hại có tăng nên có

sự tương quan giữa mật số bọ nhảy với chỉ số hại ở giai đoạn sinh trưởng cuối cùng

của cây và ở giai đoạn này hiệu lực thuốc đã giảm thấp

Trang 38

Kết quả thống kê cho thấy mật số bọ nhảy, tỷ lệ hại và chỉ số hại 30 ngày sau gieo ở các nghiệm thức được xứ lý bằng rể cây thuốc cá vẫn có sự khác biệt rất có ý nghĩa so với các nghiệm thức khác

Trong thời gian thí nghiệm đã xuất hiện một số loài sâu gây hại khác nhưng

mức độ không cao : chủ yếu là sâu tơ (Phutella xylostella L.), sâu xanh và ốc sên Vì

mật số không cao nên không cần phun thuốc, chủ yếu bắt bằng tay Như vậy việc xử lý

rễ cây thuốc cá có tác dụng hạn chế sự phát triển của bọ nhảy và có tác dụng xua đuổi các côn trùng trưởng thành khác

Bảng 4.12 Mật số bọ nhảy, tỷ lệ hại, chỉ số hại trên cây cải xanh 30 ngày sau gieo

( con/cây)

Tỷ lệ hại (%)

Chỉ số hại (%)

Rể cây thuốc cá 15 kg/ha 1,0 c 9,0 c 7,7 ab

Rể cây thuốc cá 20 kg/ha 1,0 c 8,3 c 6,3 b

Rể cây thuốc cá 25 kg/ha 1,0 c 5,7 c 6,2 bc

Rể cây thuốc cá 30 kg/ha 0,7 c 5,0 c 3,9 c

Thuốc Selecron 500EC 3,3 b 18,7 b 6,8 ab

Thuốc Tikabamec 3.6EC 4,7 ab 28,3 a 8,0 ab

Ghi chú: Các số có cùng mẫu tự theo sau thì không khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê

4.4 Hiệu lực của các loại thuốc xử lý ở thí nghiệm

Sử dụng công thức tính hiệu lực thuốc Abott qua các kỳ điều tra sau xử lý được trình bày ở bảng 4.13

Qua bảng 4.13 cho thấy:

- Hiệu lực thuốc đạt cao nhất ở giai đoạn 8 và 12 ngày sau gieo tương ứng 38,9 đến 100%

Trang 39

Bảng 4.13: Hiệu quả phòng trừ bọ nhảy của các nghiệm thức thí nghiệm

Hiệu lực (%) Nghiệm thức

8 NSG 12 NSG 18 NSG 22 NSG 26 NSG 30 NSG

Rể cây thuốc cá 15 kg/ha 88,9a 61,1ab 66,7abc 53,3bc 61,1ª 68,9ab

Rể cây thuốc cá 20 kg/ha 83,3ab 88,9ab 75,0ab 61,6ab 61,1ª 71,1ab

Rể cây thuốc cá 25 kg/ha 100a 88,9ab 91,7a 60,0ab 63,9ª 75,6ab

Rể cây thuốc cá 30 kg/ha 100a 100a 88,9a 85,0a 75,0a 80,0a Thuốc Selecron 500EC 72,2ab 44,4b 44,4bc 23,3cd 11,1b 31,1bc Thuốc Tikabamec 3.6EC 38,9b 38,9b 27,7c 15,0d 16,7b 13,3c

Ghi chú: Các số có cùng mẫu tự theo sau thì không khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê

NSG: ngày sau gieo

- Qua 22 ngày sau gieo nghiệm thức 5,6 hiệu lực thuốc giảm mạnh, các nghiệm

thức 1,2,3,4 hiệu lực thuốc đạt 53,3 đến 85,0% Ở 12 đến 22 ngày sau gieo đây là giai đoạn bọ nhảy cắn phá nhiều nhất, do cây hấp thu đủ các dưỡng chất, do đó cây bắt đầu

sinh trưởng nhanh, hình thành nhiều lá mới đầy là điều kiện thuận lợi cho quần thể bọ

nhảy hình thành và là nguyên nhân chính làm cho mật số bọ nhảy ngày càng tích lũy

và tăng đến ngưỡng cực đại ở 22 ngày sau gieo rồi giảm dần ở giai đoạn cuối

- Giai đoạn 26 đến 30 ngày sau gieo sinh trưởng của cây cải đã chựng lại lúc này lá đã già và dày nên mật số bọ nhảy có giảm xuống Hiệu lực thuốc ở nghiệm thức

1,2,3,4 vẫn còn hiệu lực, nghiệm thức 5,6 giảm thấp

4.5 Năng suất và hiệu quả kinh tế

4.5.1 Năng suất

Nhận xét: Năng suất là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả kinh tế, năng

suất chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như điều kiện thời tiết, đất đai, phân bón, kỹ

thuật canh tác, hiệu quả của các phương pháp phòng trừ sâu bệnh Năng suất thực tế

chênh lệch từ 19,40 tấn/ha đến 24,70 tấn/ha, năng suất ở nghiệm thức 4 đạt cao nhất

Trang 40

Năng suất nghiệm thức so với đối chứng có sự chênh lệch từ 3,76 % đến 27,32

%, nghiệm thức 6 đạt thấp nhất

Kết quả cho thấy giữa các nghiệm thức có sự khác biệt với nhau về năng suất

Bảng 4.14: Năng suất ô thí nghiệm, năng suất thực tế, năng suất nghiệm thức so

Rể cây thuốc cá 15 kg/ha 21,47cd 10,67

Rể cây thuốc cá 20 kg/ha 22,40bc 15,46

Rể cây thuốc cá 25 kg/ha 23,80ab 22,68

Rể cây thuốc cá 30 kg/ha 24,70ª 27,32

Thuốc Selecron 500EC 21,37cd 10,15

Thuốc Tikabamec 3.6EC 20,13de 3,76

Đối chứng 19,40e

CV(%) 4,49

Ngày đăng: 18/09/2018, 07:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w