Qua thời gian thí nghiệm thu được kết quả thu được như sau: Áp dụng phương pháp bón phân theo hệ thống tưới nhỏ giọt 5 ngày/lần, 10 ngày/lần, 15 ngày/lần cho thấy cây có sự tăng trưởng v
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
HIỆU QUẢ CỦA PHÂN BÓN THÔNG QUA HỆ THỐNG TƯỚI
NHỎ GIỌT CHO CÂY CA CAO (Theobroma cacao L.) GIAI
ĐOẠN KINH DOANH Ở HUYỆN TÂN THÀNH
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Họ tên sinh viên: LÊ THỊ MINH HẢO Nghành : NÔNG HỌC
Niên khóa: 2005 – 2009
Trang 2HIỆU QUẢ CỦA PHÂN BÓN THÔNG QUA HỆ THỐNG TƯỚI NHỎ
GIỌT CHO CÂY CA CAO (Theobroma cacao L.) GIAI ĐOẠN
KINH DOANH Ở HUYỆN TÂN THÀNH
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Tác giả
LÊ THỊ MINH HẢO
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng kỹ sư ngành Nông Học
Giáo viên hướng dẫn:
TS.Phạm Hồng Đức Phước
Tháng 8 năm 2009
Trang 3Đặc biệt em xin cảm ơn TS.Phạm Hồng Đức Phước, ThS.Lê Thị Tuyết đã tận tình hướng dẫn giúp em hoàn thành tốt đề tài
Cảm ơn gia đình bác Nguyễn Văn Đức – Nguyễn Thị Kim Anh xã Sông Soài huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đã hết lòng giúp đỡ tạo điều kiện để em có thể thực hiện
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu xác định “Hiệu quả của phân bón thông qua hệ thống tưới
nhỏ giọt cho cây ca cao (Theobroma cacao L.) giai đoạn kinh doanh” được tiến hành
tại huyện Tân Thành tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, thời gian từ tháng 2/2009 đến tháng 6 /2009
Thí nghiệm bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên với 6 nghiệm thức (ứng với
6 cách bón phân khác nhau cho cây ca cao giai đoạn kinh doanh) và 3 lần lặp lại
Tiến hành thu thập các số liệu về chu vi thân, tỷ lệ ra đọt non hàng tháng, các yếu tố cấu thành năng suất như: TLTB/trái, TLTB hạt tươi/trái, TLTB hạt khô/trái, TL trái tươi/TL hạt khô cỡ hạt (số hạt/100 g)
Qua thời gian thí nghiệm thu được kết quả thu được như sau:
Áp dụng phương pháp bón phân theo hệ thống tưới nhỏ giọt 5 ngày/lần,
10 ngày/lần, 15 ngày/lần cho thấy cây có sự tăng trưởng về chu vi thân, tỷ lệ ra đọt non hàng tháng cao hơn so với cách bón truyền thống 3 lần/năm, 4 lần/năm, 5 lần/năm Các chỉ tiêu về yếu tố cấu thành năng suất như: TLTB/trái, TLTB hạt tươi/trái, TLTB hạt khô/trái, cỡ hạt cao hơn hẳn (riêng TL trái tươi/TL hạt khô thấp hơn) so với cách bón phân truyền thống
Đồng thời với hệ thống tưới nhỏ giọt có ưu điểm nổi bật là giảm đáng kể công lao động; chi phí đầu tư trong thời gian dài thấp hơn, nhưng năng suất hạt khô thu được/ha cao hơn so với cách bón phân truyền thống; do đó mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn
Có thể áp dụng phương pháp bón phân theo hệ thống tưới nhỏ giọt 5 ngày/lần hoặc
10 ngày/lần sẽ giúp cây sinh trưởng, phát triển tốt cho năng suất, phẩm chất và đạt hiệu quả cao đối với cây ca cao trong giai đoạn kinh doanh
Trang 5MỤC LỤC
Trang Trang tựa i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt iii
Mục lục iv
Danh sách các chữ viết tắt vii
Danh sách các hình viii
Danh sách các biểu đồ ix
Danh sách các bảng x
Chương 1 MỞ ĐẦU i
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích 3
1.3 Yêu cầu 3
1.4 Giới hạn đề tài 3
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Giới thiệu về cây ca cao 4
2.1.1 Phân loại khoa học của ca cao 4
2.1.2.1 Rễ 4
2.1.2.2 Thân 4
2.1.2.3 Lá 5
2.1.2.4 Hoa 5
2.1.2.5 Trái 5
2.1.2.6 Hạt 6
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây ca cao 6
2.2.1 Lượng mưa 6
2.2.2 Đất đai 7
2.2.3 Nhiệt độ 7
Trang 62.2.5 Ánh sáng và bóng rợp 7
2.3 Giá trị của cây ca cao 8
2.3.1 Đối với sức khoẻ con nguời 8
2.3.2 Giá trị kinh tế 8
2.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ca cao 10
2.4.1 Trên thế giới 10
2.4.1.1 Tình hình sản xuất 10
2.4.1.2 Tình hình tiêu thụ 12
2.4.2 Trong nước 10
2.5 Phân bón đối với cây ca cao 14
2.5.1 Nhu cầu 14
2.5.2 Vai trò của một số chất khoáng và biểu hiện thiếu dinh dưỡng trên cây 16
2.6 Giới thiệu về hệ thống tưới nhỏ giọt 16
2.6.1 Sự ra đời của hệ thống tưới nhỏ giọt 16
2.6.2 Một số ưu – nhược điểm của hệ thống tưới nhỏ giọt 17
2.6.2.1 Ưu điểm 17
2.6.2.2 Nhược điểm 18
2.6.3 Áp dụng phương pháp tưới nhỏ giọt cho một số cây trồng ở Việt Nam 18
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Bố trí thí nghiệm 20
3.1.1 Địa điểm nghiên cứu 20
3.1.2 Thời gian nghiên cứu 20
3.2 Điều kiện khí tượng 20
3.3 Vật liệu thí nghiệm 21
3.4 Phương pháp thí nghiệm 21
3.5 Các chỉ tiêu theo dõi 22
3.5.1 Chu vi thân 22
3.5.2 Tỷ lệ ra cơi đọt 22
3.5.3 Các chỉ tiêu về năng suất: 23
3.6 Phương pháp xử lý số liệu 23
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24
Trang 74.1 Về chu vi thân 24
4.2 Về tỷ lệ ra đọt non 26
4.3 Về TLTB trái 28
4.4 Về TLTB hạt tươi/trái 30
4.5 Về TLTB hạt khô/trái 32
4.6 Về TL trái tươi/TL hạt khô 34
4.7 Về cỡ hạt 36
4.8 Hiệu quả kinh tế của việc bón phân theo hệ thống tưới nhỏ giọt .38
4.8.1 Về chi phí đầu tư, công chăm sóc 38
4.8.2 Về năng suất 39
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 41
5.1 Kết luận 41
5.2 Đề nghị 42
TÀI LIỆUTHAM KHẢO 43
PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 45
PHỤ LỤC BẢNG PHÂN TÍCH THỐNG KÊ 51
Trang 9Hình 7: Hệ thống tưới nhỏ giọt đang vận hành
Hình 8: Phương pháp bón phân theo kiểu truyền thống
Hình 9: Cành có đọt non
Hình 10: Cành không có đọt
Hình 11: Đo chu vi thân cây
Hình 12: Trữ trái sau thu hoạch
Hình 13: Hạt ca cao sau khi tách vỏ
Hình 14: Hạt ca cao sau khi lên men
Hình 15: Hạt ca cao khô
Trang 10DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1: Tình hình sản xuất ca cao trên thế giới 10
Biểu đồ 2.2: Tình hình tiêu thụ ca cao trên thế giới 12
Biểu đồ 4.1: Ảnh hưởng của phân bón tới sự tăng trưởng của chu vi thân 25
Biểu đồ 4.2: Ảnh hưởng của phân bón tới tốc độ tăng trưởng của chu vi thân 25
Biểu đồ 4.3: Ảnh hưởng của phân bón tới tỷ lệ ra cơi đọt 27
Biểu đồ 4.4: Ảnh hưởng của phân bón tới trọng lượng trung bình trái tươi 29
Biểu đồ 4.5: Ảnh hưởng của phân bón tới TL hạt tươi/trái 31
Biểu đồ 4.6: Ảnh hưởng của phân bón tới TL hạt khô/trái 33
Biểu đồ 4.7: Ảnh hưởng của phân bón tới TL trái tươi/TL hạt khô 35
Biểu đồ 4.8: Ảnh hưởng của phân bón tới cỡ hạt 37
Trang 11DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Thành phần hoá học của vỏ trái cacao 9
Bảng 2.2: Thành phần của bột cacao 9
Bảng 2.3 : Sản lượng của các nước sản xuất ca cao chính trên thế giới 11
Bảng 2.4: Lượng dinh dưỡng cho cây ca cao mới trồng 15
Bảng 2.5: Lượng dinh dưỡng (kg) cây lấy đi để tạo ra 1000 kg hạt cacao khô 15
Bảng 3.1: Điều kiện khí tượng trong thời gian thí nghiệm 20
Bảng 4.1: Ảnh hưởng của phân bón tới tốc độ tăng chu vi thân cây cacao 24
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của phân bón tới tỷ lệ ra cơi đọt 26
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của phân bón tới trọng lượng trung bình trái 28
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của phân bón tới trọng lượng hạt tươi/trái 30
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của phân bón tới TL hạt khô/trái 32
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của phân bón tới TL trái tươi/TL hạt khô 34
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của phân bón tới cỡ hạt 36
Bảng 4.8: So sánh chi phí của 2 cách tưới/ha/5năm 38
Bảng 4.9: Chi phí tiêu thụ điện hàng tháng 39
Bảng 4.10: Tổng thu 39
Trang 12Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Ca cao (Theobroma cacao L.) theo tiếng la tinh có nghĩa là thực phẩm trời ban
Là cây công nghiệp nhiệt đới tạo ra mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao Với diện tích trên 7 triệu ha chủ yếu là ở các nước đang phát triển, cây ca cao có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - văn hoá – xã hội của các nông hộ (có ảnh hưởng đến khoảng
25 triệu người trên thế giới – WFC, 2006)
Sản phẩm thu hoạch chính từ cây ca cao là hạt, hạt ca cao được sử dụng chế biến các sản phẩm cao cấp nhờ hương vị thơm ngon với khoảng 385 chất thơm (Nguyễn Sĩ Nghị, Trần An Phong và ctv, 1996), giàu dinh dưỡng, có chất kích thích nhưng lượng cafein thấp hơn cà phê rất nhiều được sử dụng làm thức uống, nước giải khát, sô cô la, thực phẩm, dược liệu Hạt ca cao ngoài việc tiêu thụ phục vụ trong nước hàng năm còn thu về một nguồn ngoại tệ rất lớn từ việc xuất khẩu ra thị trường nước ngoài mà chủ yếu là các nước phát triển
Ngoài ra các sản phẩm phụ từ cây ca cao cũng được tận dụng làm thức ăn trong chăn nuôi, làm phân bón
Với đặc tính là cây ưa bóng điển hình, giá cả trên thị trường tương đối ổn định cây ca cao được xem là đối tượng trồng xen để tận dụng diện tích đất canh tác Vị thế cây ca cao đang dần được nâng lên trong hệ thống cây công nghiệp ở Việt Nam
Trong quy trình trồng cây ca cao biện pháp chăm sóc trong giai đoạn kinh doanh là hết sức quan trọng và có ý nghĩa, nó ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây
Đối với cây ca cao ngoài giống, nước tưới thì vấn đề phân bón rất cần được quan tâm Hiện nay có nhiều cách bón phân như: bón theo kiểu truyền thống (rải phân vào gốc theo hình chiếu của vanh tán), bón phân thông qua hệ thống tưới nhỏ giọt hoặc bằng cách phun dung dịch phân qua lá
Trang 13Theo như cách bón truyền thống 1 năm với những nông dân tích cực cũng chỉ bón được 4 lần Với cách bón đó, mỗi lần bón nhà vườn phải tốn công xẻ rãnh để bỏ phân Sau khi bỏ phân phải tốn công lấp lại nếu không khi trời nắng phân sẽ bị bay hơi
và làm cháy lá
Vấn đề tưới nước, bón phân cho cây trồng tưởng như một việc rất đơn giản bình thường gần như ai cũng có thể làm được, nhưng để tưới đúng, tưới đủ và tưới thật hiệu quả thì công việc này cũng rất phức tạp
Hiện nay nước ngọt đang là vấn đề cấp thiết trên thế giới, nước sinh hoạt không
đủ nhu cầu, do đó nước phục vụ cho nông nghiệp càng hạn chế đặc biệt là vào mùa khô Trong khi đó ngành nông nghiệp phải đáp ứng đủ nhu cầu lương thực cho hơn 6
tỷ người trên thế giới Để giải quyết vấn đề nan giải đó phương pháp tưới nhỏ giọt ra đời đã giúp tiết kiệm 50 – 70 % lượng nước tưới cho cây trồng mà vẫn đảm bảo năng suất, chất lượng cho nông phẩm Phương pháp tưới nhỏ giọt còn giải quyết một khó khăn trong nông nghiệp nữa là sự thiếu hụt công lao động, do hiện nay người lao động nông thôn thường có xu hướng chạy theo các ngành nghề khác như công nghiệp, dịch
vụ, buôn bán
Với hệ thống tưới nhỏ giọt vừa tưới nước vừa có thể kết hợp bón phân cho cây qua hệ thống đường ống từ đó giảm hẳn được công lao động Với việc chia ra nhiều lần bón phân giúp tăng khả năng hấp thu của cây, lượng phân được tận dụng một cách triệt để, có thể hạn chế lượng phân thất thoát do bốc hơi, rửa trôi, làm giảm xói mòn đất, giúp đất tơi xốp, bộ rễ của cây phát triển tốt hơn, từ đó có thể chủ động tính toán lượng phân bón thích hợp cho cây
Tuy nhiên vấn đề bón lượng phân bao nhiêu với cách bón như thế nào cho cây
ca cao trong giai đoạn kinh doanh còn là vấn đề gây không ít khó khăn cho các nông
hộ Trong khi đó kỹ thuật tưới nhỏ giọt còn khá mới mẻ ở Việt Nam, chỉ mới có rất ít
hộ dân áp dụng kỹ thuật tưới này Mặc dù có nhiều ưu điểm nhưng chưa có nghiên cứu nào khẳng định phương pháp này sẽ đem lại hiệu quả cao Do đó yêu cầu đặt ra là phải tìm ra cách bón nào, số lần bón bao nhiêu sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao
Xuất phát từ nhu cầu thực tế, được sự đồng ý của KIhoa Nông Học, Trường Đại
Trang 14của phân bón thông qua hệ thống tưới nhỏ giọt cho cây ca cao (Theobroma cacao L.)
giai đoạn kinh doanh” tại Huyện Tân Thành, Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, dưới sự hướng dẫn của tiến sĩ Phạm Hồng Đức Phước
Đề tài được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 2/2009 đến tháng 6/2009
do đó chỉ theo dõi được tác dụng của phân bón đối với cây ca cao trong thời gian ngắn
Trang 15Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Giới thiệu về cây ca cao
2.1.1 Phân loại khoa học của ca cao
Giới (regnum) : Plantae
Ngành (division) : Magnoliophyta
Lớp (class) : Magnoliopsida
Bộ (ordo) : Malvales
Họ (familia) : Sterculiaceae
Chi (genus) :Theobroma
Loài (species) : T cacao
Tên khoa học : Theobroma cacao L
Ca cao thuộc họ Sterculiaceae (hay Malvaceae), có nguồn gốc hoang dại trong các
khu rừng nhiệt đới Trung và Nam châu Mỹ Thứ Theobroma có tất cả hơn 20 loài nhưng Theobroma cacao là một loài duy nhất được trồng rộng rãi
2.1.2 Đặc điểm thực vật
2.1.2.1 Rễ
Bộ rễ ca cao gồm 1 rễ trụ chính, phát triển rất nhanh trong 3 tháng đầu (có thể đạt 25 cm) và có thể dài 1,5 – 2 m khi cây được 3 năm tuổi Trên rễ trụ có nhiều rễ ngang mọc ra và phân nhánh với rất nhiều rễ con tập trung chủ yếu ở vùng dưới cổ rễ khoảng 20 cm
Với bộ rễ phụ dày đặc giúp cây ca cao hút chất dinh dưỡng và rễ trụ có nhiệm
vụ hút nước, chất dinh dưỡng ở tầng đất sâu
2.1.2.2 Thân
Cây ca cao là loại thân gỗ nhỏ có thể cao 10 – 20 m trong tự nhiên Trong sản xuất, cây thường có chiều cao trung bình từ 5 – 7 m, đường kính thân trung bình
Trang 16- Đối với thân phát triển từ hạt: có 3 giai đoạn phát triển
+ Giai đoạn 1: Hạt nảy mầm thượng địa, đoạn thân dưới tử diệp không có mầm bất định
+ Giai đoạn 2: Tử diệp mở, 4 lá đầu tiên trên thân phát triển, đốt rất ngắn
+ Giai đoạn 3: Cây tạm ngừng sinh truởng về chiều cao Cành ngang trên đỉnh
ngọn phát triển tạo tầng cành đầu tiên
- Đối với thân phát triển từ cành ghép (mầm ghép lấy từ cành ngang):
Cành không tăng trưởng thẳng đứng mà thường mọc nghiêng Các chồi nách
phát triển sớm, nhiều nên cây có dạng bụi gồm nhiều cành chính và không có tầng
cành
2.1.2.3 Lá
Lá non ca cao phát triển theo từng đợt, sau mỗi đợt ra lá đỉnh cành vào trạng
thái ngủ (khoảng 4 - 6 tuần) Ca cao trồng trong điều kiện che bóng có phiến lá rộng và
xanh hơn ngoài nắng nhưng đợt ra lá chậm lại
Màu sắc lá non thay đổi theo giống, khi cây trưởng thành lá có màu xanh thẫm
cứng cáp hơn và nằm ngang Khí khổng chỉ nằm phía dưới mặt lá
Trên thân chính cành vượt lá có cuống dài 7 – 9 cm mọc theo hình xoắn ốc Lá
trên cành ngang có cuống ngắn 2 – 3 cm mọc đối cách trên cành
2.1.2.4 Hoa
Cây trồng từ hạt có thể nở hoa vào 14 – 20 tháng sau trồng, cây ghép, cành
giâm có thể ra hoa từ 9 – 18 tháng sau trồng Hoa xuất hiện từ các sẹo lá ở trên thân,
cành lâu ngày phình thành đệm hoa, hoa ra tập trung vào mùa mưa
Hoa nhỏ có cuống dài 1 – 3 cm, 5 cánh đều đặn, bầu nhụy có 5 ngăn Hoa
thường nở vào 3 giờ chiều hôm trước đến 9 giờ sáng hôm sau Hoa ca cao nhiều nhưng
thường chỉ có 1 – 5 % số hoa được thụ tinh và hình thành quả, số còn lại khô và rụng
đi sau 48 giờ
2.1.2.5 Trái
Sau khi thụ phấn 40 ngày trái tăng trưởng chậm và đạt tốc độ tối đa sau 75
ngày; sau 85 ngày sự trăng trưởng của trái chậm lại, hạt bắt đầu tăng trưởng nhanh và
tích luỹ chất béo
Trang 17Khi hạt tăng trưởng tối đa trái vào giai đoạn chín Trái chín không nở bung, có cuống hoá gỗ Từ khi hoa được thụ phấn đến khi trái chín kéo dài 5 – 6 tháng
Trái chưa chín có màu xanh đỏ tím hoặc điểm đỏ tím; khi trái chín màu xanh chuyển thành màu vàng; đỏ tím chuyển thành da cam
Hình dạng trái thay đổi từ hình cầu đến dài nhọn hay hình trứng, có 5 – 10 rãnh, rãnh có thể nông, sâu hoặc trơn nhẵn Vỏ trái dày 1 – 3 cm, trọng lượng trái 0,2 – 1 kg
Ở ca cao có đặc tính sinh lý đặc biệt là hiện tượng khô héo trái non Khoảng 20 – 90 %
số trái đã được thụ phấn bị khô héo trong giai đoạn đầu phát triển, nhằm đảm bảo phù hợp với giai đoạn phát triển của cây 50 ngày sau khi hoa được thụ phấn trái bị khô héo sinh lý nhiều sau đó chậm dần và tăng lại sau 70 ngày Sau 90 - 100 ngày trái không còn bị hiện tượng héo sinh lý
Ngoài hiện tượng héo sinh lý gây rụng trái còn nhiều nguyên nhân khác cũng làm héo trái như bệnh thối trái, côn trùng chích hút
2.1.2.6 Hạt
Mỗi trái chứa 30 – 40 hạt, bao quanh hạt là lớp cơm nhầy có vị chua, ngọt thơm
và xếp thành 5 dãy Vỏ hạt mỏng màu hồng có nhiều đường gân Hạt rất dễ mất sức nảy mầm sau khi tách khỏi vỏ trái
Tử diệp hạt có màu tím, hoá nâu sau khi lên men Hạt phát triển trong mùa khô
có kích thước, trọng lượng nhỏ, hàm lượng chất béo thấp, tỷ lệ hạt lép nhiều hơn so với mùa mưa
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây ca cao
2.2.1 Lượng mưa
Lượng mưa trung bình thích hợp cho ca cao khoảng 2000 mm/năm là thích hợp,
ít nhất cũng khoảng 1250 mm/năm và cũng cần đều trong cả năm, nếu trong vòng hai tháng liên tiếp lượng mưa dưới 60 mm thì trái ca cao sẽ bị teo nhỏ ảnh hưởng trưc tiếp tới sản lượng ca cao
Cây ca cao rất mẫn cảm với sự thiếu nước, ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển của cây, cây bị hạn dẫn đến cháy lá toàn bộ Tuy nhiên vấn đề tiêu nước cũng rất quan trọng trong những vườn ca cao khó thoát nước
Vì vậy cần cung cấp đủ lượng nước đảm bảo cho cây sống, sinh trưởng, và cho
Trang 182.2.2 Đất đai
Cây ca cao có thể phát triển trên nhiều địa hình và loại đất khác nhau, từ các vùng trên đất dốc, đất cát, đất phù sa ven sông, đất phù sa cổ bạc màu (nếu có bóng
che và đầy đủ nước tưới)
Cây ca cao chịu được trên vùng đất có pH từ 5 – 8 nhưng độ pH tối ưu để cây phát triển vào khoảng 5,5 – 6,7
lá sớm Nhiều nghiên cứu cho thấy trong tự nhiên cây ca cao có năng suất rất thấp nhưng năng suất có thể tăng lên rất cao nếu được trồng dưới bóng râm thích hợp
Yêu cầu độ che bóng cây con khoảng 50 % ánh sáng mặt trời trực tiếp
Khi cây vào giai đoạn kinh doanh trở đi cây cần 25 % bóng rợp, lúc này cây có thể tự che bóng cho nhau
Có thể đồng thời tận dụng cây che bóng để chắn gió cho cây ca cao nhằm hạn chế gãy gối lá, lá bị gãy hoặc trầy nát khi gặp gió mạnh
Trang 192.3 Giá trị của cây ca cao
2.3.1 Đối với sức khoẻ con nguời
Hạt ca cao chứa nhiều nhóm chất chống oxy hoá flavanol (epicatechin, catechin, procianidin) Chất chống oxy hoá có vai trò quan trọng trong việc duy trì giúp hệ thống tim mạch hoạt động tốt Chất chống oxy hoá giới hạn sự oxy hoá của cholesterol nên giữ cho mạch máu luôn khoẻ mạnh
Trong thành phần bơ ca cao có 3 loại acid béo chính là acid palmitic, acid stearic (chất béo no) và acid oleic (chất béo không no) Ngoài ra còn có acid linoleic là chất béo không no Các acid béo không no chiếm 1/3 của thành phần bơ ca cao và được cho là có tác dụng làm giảm lượng cholesterol trong máu
Acid béo no, acid stearic cho thấy chúng không có ảnh hưởng đến lượng cholesterol trong máu mặc dù thông thường các acid béo no sẽ làm tăng lượng cholesterol có hại cho sức khoẻ
Bộ phận chính được sử dụng là hạt, hạt ca cao có hàm lượng chất béo 50 – 60 % trọng lượng hạt Bột nhão, bơ và bột ca cao là những nguyên liệu chính cho ngành công nghiệp bánh kẹo, thực phẩm Ngoài việc đáp ứng cho nhu cầu tiêu thụ trong nước hạt ca cao còn được sử dụng để xuất khẩu thu về nguồn ngoại tệ cao Vỏ ca cao có chứa 3 – 4 % K/trọng lượng chất khô, là nguồn phân bón rất giàu Kali, người ta đã từng sử dụng tro của vỏ quả ca cao làm xà bông Vỏ quả ca cao khô xay nhỏ có thể trộn vào thức ăn cho bò, dê, cừu Đối với bò có thể cho ăn trực tiếp vỏ quả tươi Theo
Bo Gohl (1981) bột vỏ ca cao có thể thay thế bắp và trộn với tỷ lệ 35 % và vẫn không làm thay đổi mức tăng trọng của heo Cứ 100 kg vỏ trái ca cao nghiền thành bột nhuyễn có giá trị ngang bằng 97 kg bột bắp (Nguyễn Văn Uyển và Nguyễn Tài Sum, 1996)
Trang 20Bảng 2.1: Thành phần hoá học của vỏ trái ca cao
Nguồn: Opeke (1982) Trích theo Phạm Hồng Đức Phước (2006)
Nguồn: Paul và Southgate (1978) Trích theo Phạm Hồng Đức Phước, 2006
Cây ca cao có rất nhiều lá, lá ca cao có thể sử dụng làm nguồn tthức ăn ổn định
tốt cho dê, bò và thỏ Thai tòa có thể sử dụng làm thức ăn cho cá và heo
Lớp cơm nhầy chứa nhiều đường (10 – 13 %), pentosan (2 - 3 %) acid citric
(1 - 2 %) và muối (7 - 10 %) Có thể sử dụng lớp cơm nhầy này làm nước sinh tố, kem
Trang 21hoặc cô đặc làm nước cốt trái cây Lên men lớp cơm nhầy thu được dịch để chế biến rượu, nguyên liệu dùng trong sản xuất thạch dừa
Hiện nay ca cao được chế biến rộng rãi trong công nghiệp thực phẩm Nhiều nhất là bánh kẹo và các thức uống Nói đến bánh kẹo có nguồn gốc từ cacao người ta thường nghĩ ngay đến sô cô la, nổi tiếng nhất là sô cô la được sản xuất từ Thụy Sỹ, Ðức… Người Châu Âu rất thích ăn sô cô la, tính bình quân mỗi người tiêu thụ khoảng 11,9 kg/năm Do nhu cầu tiêu thụ ngày càng cao nên ca cao trong tương lai vẫn là mặt hàng nông sản có giá, ít bị biến động về giá cả
Vì vậy để phát huy giá trị của ca cao cần có những đầu tư và chính sách phù hợp, tăng cường mở rộng diện tích cây ca cao, chọn ra những giống tốt, tiến hành trồng xen canh hợp lý, và có chế độ chăm sóc tốt Đồng thời chế biến các sản phẩm từ
ca cao đặc biệt là rượu ca cao, từng bước tiến tới công nghệ chế biến bột ca cao, bơ và
sô cô la
2.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ca cao
Biểu đồ 2.1: Tình hình sản xuất ca cao trên thế giới
Tình hình sản xuất trên thế giới
Trang 22Bảng 2.3 : Sản lượng của các nước sản xuất ca cao chính trên thế giới (1000 tấn)
Châu Phi 2.414
(71 %)
2.647 (70 %)
2.378 (70 %)
2.602 (71 %)
695 (74 %)
194 (40 %)
2.372 (69 %)
147 (16 %)
184 (38 %)
106 (22 %)
Nguồn: Theo ICCO, 6/2009
Nguồn cung hiện nay thấp hơn cầu, tốc độ cung tăng 2,5 %/năm, trong khi tốc
độ cầu là 4 %/năm, theo dự báo của tổ chức ca cao thế giới (ICCO) đến năm 2011 toàn
cầu sẽ thiếu 102.000 tấn Trong khi các nước có diện tích sản xuất ca cao lớn thì bị
thiên tai, tình hình chính trị không ổn định, diện tích cây già cỗi, sâu bệnh, gây thiệt
hại lớn
Sản lượng ca cao của Bờ Biển Ngà vụ 2008/2009 giảm gần 20 % so với vụ
trước, xuất khẩu ca cao của Bờ Biển Ngà tháng 6/2008 ở mức thấp 17.100 - 17.300
tấn/tuần, giảm 22 – 23 % so với cùng kỳ năm trước
Trang 23Diện tích ca cao cũng có xu hướng giảm ở một số nước điển hình như:
Malayxia, Philipin, Brazil, sản lượng ca cao khó có thể đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của
thế giới liên tục tăng từ 90.000 đến 120.000 tấn hạt/năm
Biểu đồ 2.2: Tình hình tiêu thụ ca cao trên thế giới
Nước nhập khẩu lớn nhất là Mỹ với 677.500 tấn (23,62 %)
Đức với 326.520 tấn (12,7 %)
Giá xuất khẩu hạt ca cao: Từ 1973 – 2003 giá hạt ca cao bình quân ở mức 1.801 USD/tấn Theo dự báo của ICCO giá hạt ca cao sẽ ở mức 2.200 – 2.500
USD/tấn trong giai đoạn 2006 – 2016 Mức độ tiêu thụ ca cao tăng từ 2,726 triệu tấn
(1997/1998) lên 3,449 triệu tấn (2005/2006) Bột ca cao tiêu thụ bình quân đầu người
trong niên vụ 2005/2006 là 0,6 kg/người/năm Trong đó cao nhất là Châu Âu với
2,607 kg/người/năm, và nước tiêu thụ bình quân đầu người cao nhất là Bỉ (5,2967
kg/người/năm.)
2.4.2 Trong nước
Cây ca cao đã được đưa vào Việt Nam từ năm 1956 nhưng sau đó chỉ dừng lại
ở việc trồng thử nghiệm do không có thị trường tiêu thụ
Tình hình tiêu thụ trên thế giới
57%
12%
Châu Á Châu Mỹ
Trang 24Theo Giáo sư - tiến sĩ Nguyễn Văn Uyển - ủy viên Ban chủ nhiệm chương trình
ca cao quốc gia: Cây ca cao đáp ứng 3 chương trình lớn của quốc gia là phủ xanh đồi trọc, xóa đói giảm nghèo cho vùng sâu, vùng xa và đa dạng hóa hệ thống cây trồng Sắp tới, cây ca cao sẽ được trồng ở 16 tỉnh bao gồm 4 khu vực rất tiềm năng là duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ
Nhu cầu tăng nhưng nguồn cung tại các nước đang phát triển lại trên đà giảm sút Các nước ở Tây Phi như Ghana, Bờ Biển Ngà, Nigeria, chiếm gần 60 % sản lượng
ca cao thế giới, nhưng bất ổn chính trị tại đây khiến nguồn cung tăng trưởng chậm Đặc biệt theo các ngân hàng lớn trên thế giới cho biết nguồn cung ca cao trong vụ
2007 - 2008 sẽ thiếu hụt khoảng 5.000 tấn Trong bối cảnh đó, Việt Nam nổi lên là một niềm hy vọng mới của các nhà chế biến ca cao trên thế giới Cuối năm 2006
Việt Nam đã có 7.320 ha trồng ca cao trong đó 996 ha đang cho thu hoạch Theo đề án
“Phát triển cây ca cao đến năm 2015 và định hướng tới năm 2020” sẽ đầu tư 40 tỉ đồng vào việc phát triển cây ca cao tới năm 2015 đạt 60.000 ha Trong đó, 35.000 ha cho sản lượng 52.000 tấn hạt ca cao khô, xuất khẩu thu về 50 - 60 triệu USD Tới năm
2020, đưa diện tích ca cao lên đến 80.000 ha, trong đó có 60.000 ha ca cao cho thu hoạch với năng suất bình quân 1,8 tấn/ha, sản lượng 108.000 tấn hạt ca cao xuất khẩu thu về 100 - 120 triệu USD (Theo http://www.khuyennongvn.gov)
Hiện nay các giống được trồng chủ yếu là:
Các dòng ca cao vô tính nhập nội bước đầu đã qua khảo nghiệm (82,2 %) Trong đó có 8 dòng TĐ1, TĐ2, TĐ3, TĐ5, TĐ6, TĐ8, TĐ10 VÀ TĐ14 của trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh và 5 cây ca cao đầu dòng của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm Nghiệp Tây Nguyên đã được bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn công nhận và cho phép phát triển ở các tỉnh phía Nam
Các cây lai từ các cặp lai đã biết trước bố, mẹ (chiếm 17,8 %) Ngoài ra có một
số ít cây trồng từ việc gieo ươm hạt của trái ca cao thương phẩm
Ca cao thích hợp trồng xen do đó khuyến khích các mô hình trồng xen cacao với dừa, điều, cà phê, cây ăn quả của các nông hộ Các tỉnh có diện tích lớn hiện nay như Bến Tre (3.916 ha) Tiền Giang (1.245 ha), ĐăkLăk (1.830 ha), Bình Phước (1.300 ha)
Hiện nay công ty E.D&FMan và công ty Cargil là 2 đơn vị chủ lực thu mua hạt
ca cao ở Việt Nam, bên cạnh đó cũng có nhiều công ty quan tâm tới sản phẩm ca cao
Trang 252.5 Phân bón đối với cây ca cao
2.5.1 Nhu cầu
Cây ca cao cần được cung cấp đầy đủ các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng Thiếu hoặc thừa một trong những nguyên tố này đều ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của cây Nhu cầu phân bón tùy theo tuổi cây và năng suất
Ca cao kinh doanh cần bón nhiều phân hơn ca cao kiến thiết cơ bản Năng suất càng cao, càng cần phải bón nhiều phân hơn
Cây hút nhiều dinh dưỡng, nhiều nhất là K, tiếp đến là N, Ca, Mg, P Nhu cầu dinh dưỡng của cây ca cao cũng thay đổi theo điều kiện che bóng rợp của cây
Do đặc điểm bộ rễ cây ca cao ăn nông (80 % rễ tập trung ở tầng 0 – 30 cm) nên cần bón phân trong lớp đất mặt Rải phân theo đường chiếu của vanh tán rồi vùi lấp để giảm bớt thất thoát do bay hơi, rửa trôi Vào thời kỳ kinh doanh, cây đã giao tán, có thể chịu hạn và cho năng suất khá ổn định
Qua thực nghiệm ở Việt Nam hiện nay cho thấy trong năm đầu tổng lượng phân cung cấp cho mỗi cây khoảng 150 – 200 gram phân tổng hợp NPK (16 – 16 – 8) Đến năm thứ hai lượng phân cần tăng lên khoảng 300 – 400 gram/gốc; năm thứ 3 khoảng
500 – 600 gram/gốc Từ năm thứ tư trở đi, cây vào giai đoạn cho nhiều trái, lượng phân bón cần dựa vào điều kiện đất đai tại chỗ và sản lượng ca cao thu hoạch được để cân đối lượng dinh dưỡng do cây trồng lấy đi để tạo quả, hạt, cùng với sự mất đi do các yếu tố môi trường tác động
Bảng 2.4: Lượng dinh dưỡng cho cây ca cao mới trồng
LƯỢNG DINH DƯỠNG CHO MỖI CÂY (g) THÁNG SAU
TRỒNG Urea Super lân Lâm Thao Sulphate Kali Tổng số
Trang 26Bảng 2.5: Lượng dinh dưỡng (kg) cây lấy đi để tạo ra 1000 kg hạt ca cao khô
Dinh dưỡng N P K Ca Mg
Hạt
Vỏ
21,3 14,5
4,0 1,8
9,5 63,0
1,0 6,0
3,0 3,1
Tổng số 35,8 5,8 72,5 7,0 6,1
Nguồn: Wood và Lass (2001) Trích theo Phạm Hồng Đức Phước (2006)
Theo Wyrley-Birch (1973) để sản xuất 100 kg hạt ca cao khô cần bón 600 kg/ha phân bón chứa 6 – 10 % N, 8 – 12 % P2O5 hòa tan, 15 – 18 % K2O và 2 % MgO
Lượng phân bón được chia ra bón nhiều lần trong mùa mưa hoặc đều quanh năm nếu sử dụng biện pháp tưới nhỏ giọt Tuy nhiên có hai thời điểm cây đặc biệt cần nhiều phân bón là lúc vừa hình thành trái và trước khi thu hoạch trái hai tháng
Theo cách bón truyền thống trong những năm đầu, phân bón cần chôn quanh gốc nhưng khi cây đã giao tán vào giai đoạn kinh doanh chỉ cần rải phân trên mặt đất, sau đó phủ đậy bằng lớp lá mục vốn có sẵn trong vườn ca cao
Trong trường hợp cây thiếu dinh dưỡng đặc biệt là các nguyên tố vi lượng (thiếu Zn thường ở vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ), de Geus (1973) khuyến cáo
sử dụng phân bón lá bằng dung dịch phun cho cây
2.5.2 Vai trò của một số chất khoáng và biểu hiện thiếu dinh dưỡng trên cây
+) Đạm: là thành phần quan trọng trong tất cả các bộ phận của cây, đặc biệt cần thiết cho sự sinh trưởng dinh dưỡng Có liên quan tới việc ra lá non, rụng lá, ra hoa, đậu trái và sự phát triển của trái
Thiếu Đạm: Lá ca cao có màu xanh vàng hoặc xanh nõn chuối Nếu thiếu nặng lá rụng nhiều, năng suất kém
+) Lân: Cây ca cao có nhu cầu về lân tương đối thấp Lượng lân dễ tiêu trong đất thường ít, đặc biệt là ở đất chua Cần chú ý bón lót phân lân trong hố trước khi trồng
để giúp cây tăng trưởng tốt trong giai đoạn đầu
Thiếu Lân: Lá chuyển màu xỉn, mép lá non ửng đỏ, nếu thiếu nặng lá rụng, cành chết
Trang 27+) Kali: Là dinh dưỡng đặc biệt quan trọng khi cây ra trái Lượng K trong trái rất
lớn, để có năng suất cao cần thường xuyên bón K
Thiếu K: Ban đầu mép lá màu vàng cam, sau chuyển sang màu xám nâu và khô,
lá rụng nhiều
+) Calcium: Ca cao cần rất ít Nếu đất chua cần phải bón thêm vôi để nâng pH,
đồng thời bổ sung Ca cho đất
Thiếu Ca: Lá héo vàng từ rìa lá, và lan dần vào gân chính
+) Ma nhê: Có tác động tới sự hấp thu Ca, sự gia tăng chất này sẽ ảnh hưởng đến
sự hấp thu chất kia Vì vậy cần phải đảm bảo sự cân đối giữa Ca và Mg
Thiếu Mg: phần thịt lá bị vàng và lan dần vào gân chính ra mép lá
+) Kẽm: Cây ca cao cần lượng rất nhỏ nhưng lại rất cần thiết
Thiếu Kẽm: Lá và chồi đầu cành thường kém phát triển (rụt đọt), lá không nở
lớn
2.6 Giới thiệu về hệ thống tưới nhỏ giọt
2.6.1 Sự ra đời của hệ thống tưới nhỏ giọt
Theo tổng giám đốc quỹ bảo vệ động - thực vật hoang dã Thế giới James Leape:
các nguồn cung cấp nước ngọt không thể chịu nổi tình trạng sử dụng nước lãng phí và
quản lý không thích hợp như hiện nay Sau cuộc khủng hoảng lương thực là cuộc
khủng hoảng nước ngọt toàn cầu, sẽ ngày càng nghiêm trọng khi các tác động của biến
đổi khí hậu tăng lên Theo Leap, trong tổng số tài nguyên nước của thế giới có 97,5 %
là nước mặn, chỉ có 1 % lượng nước con người có thể sử dụng Tuy nhiên, tỷ lệ nhỏ
này sẽ đủ cho con người trên Trái đất nếu chu trình nước hoạt động thích hợp và chúng
ta quản lý sử dụng nước khôn ngoan Nông nghiệp sử dụng nước tưới cung cấp 45 %
sản lượng lương thực của thế giới để duy trì sự sống cho hơn 6 tỷ dân trên hành tinh
Với cách tưới tràn như từ trước tới nay vừa lãng phí nước vừa tồn tại một số vấn đề:
- Việc tưới nước cho cây dù thực hiện nhiều lần trong ngày nhưng cây có thể vẫn
héo, vì nước chưa kịp hấp thụ trong keo đất đã thoát ra ngoài
- Việc tưới nước làm vấy bẩn môi trường xung quanh
- Việc thiếu nước làm hạn chế quá trình trao đổi chất trong cây, dinh dưỡng không
hòa tan nên cây không thể hấp thu được dẫn đến cây vàng úa, rụng lá
Trang 28Kỹ thuật tưới nhỏ giọt ra đời được coi là phương pháp tưới khoa học và kinh tế
do tiết kiệm được lượng nước tưới và được áp dụng khá phổ biến ở một số nước Tưới nhỏ giọt là hệ thống tưới dùng để cung cấp nước dưới dạng các giọt nước nhỏ ra đều
và thấm từ từ vào đất đi ngay vào hệ thống rễ của cây
Israel là nước đi đầu áp dụng khá thành công mô hình tưới nhỏ giọt, với hơn
80 % sản phẩm xuất khẩu có áp dụng hệ thống tưới tiêu này Nhờ phương pháp tưới nhỏ giọt nông dân tiết kệm được 60 % lượng nước, tương ứng khoảng 12 tỉ USD/năm Nước sử dụng trong sinh hoạt Israel còn phải mua của một số nước láng giềng nhưng nước dùng trong nông nghiệp thì họ có thể tự túc hoàn toàn
2.6.2 Một số ưu – nhược điểm của hệ thống tưới nhỏ giọt
2.6.2.1 Ưu điểm
- Mức độ sử dụng nước thấp
- Kiểm soát được vùng tưới
- Sử dụng tốt cho các vùng đất chặt cứng, đất cát
- Bảo quản tốt lượng nước
- Tiết kiệm năng lượng
- Tăng năng suất, chất lượng nông phẩm
- Giảm đáng kể về chi phí lao động
- Giúp cho việc kiểm soát cây trồng tốt hơn
- Hệ thống có thể vận hành thường xuyên
- Lưu thông không khí rất tốt tại vùng rễ cây trong quá trình tưới
- Giảm sự rửa trôi hóa chất vào môi trường
- Độ ẩm đất đồng đều và tối ưu
- Đất vùng rễ tơi xốp tăng khả năng hô hấp của rễ
- Tăng hiệu quả hấp thu nước và dinh dưỡng
- Tăng khối lượng của những rễ tích cực
- Đảm bảo năng suất tưới, nâng cao năng suất lao động
- Tạo điều kiện cơ giới, tự động hóa
- Ngăn chặn sự xói mòn của đất
- Ngăn chặn sự phát triển độ mặn của đất trong vùng ướt
Trang 29- Ít phụ thuộc vào các yếu tố thiên nhiên: độ dốc địa hình, thành phần và cấu trúc đất tưới, mực nước ngầm ở nông hay sâu, ảnh hưởng của gió Giải quyết những khó khăn đối với việc canh tác trên ruộng bậc thang
- Ngăn chặn sự phát triển của cỏ dại quanh gốc cây và sâu bệnh
2.6.2.2 Nhược điểm
- Chi phí đầu tư ban đầu khá cao, khó ứng dụng ra sản xuất đại trà cho nông dân
- Các mao dẫn có thể bị tắc nghẽn do nguồn nước tưới chưa được lọc sạch Khi bị tắc, công tác bảo trì sẽ tốn kém
- Các ống dẫn lớn cũng bị đóng cặn, cản trở nước lưu thông đều khắp, gây ra tình trạng có những gốc cây không hề được tưới
- Chưa tưới tự động được hoàn toàn, vẫn cần người đóng mở van theo cách thủ công
2.6.3 Áp dụng phương pháp tưới nhỏ giọt cho một số cây trồng ở Việt Nam
Ở nước ta, phương pháp tưới nhỏ giọt mới được ứng dụng ở một số tỉnh trên một số cây trồng trong đó Bà Rịa – Vũng Tàu là một trong những địa phương đi đầu +) Gia đình anh Nguyễn Công Đổng, ở xã Hòa Bình, huyện Xuyên Mộc, tỉnh
Bà Rịa – Vũng Tàu có 5 sào tiêu với 850 gốc, sử dụng giếng nước sâu 14m Mấy năm trước cứ bước sang mùa khô vườn tiêu của anh thiếu nước triền miên, năng suất ngày càng giảm Năm 2003, anh đầu tư lắp đặt hệ thống tưới nhỏ giọt cho toàn bộ vườn tiêu đồng thời anh lắp thêm thùng tưới phân tự động hòa vào hệ thống đường nước Nhờ hệ thống tưới nhỏ giọt kết hợp bón phân tự động, anh Đổng đã tiết kiệm được 40% lượng phân bón và 50% lượng nước mà năng suất tiêu vẫn cao hơn so với trước Vụ vừa rồi anh thu hoạch được 1,2 tấn tiêu trên 2,2 sào đã cho thu hoạch năm thứ hai Số diện tích còn lại mới có trái vụ đầu nên năng suất chưa cao Ngoài lợi ích kể trên, từ ngày có mô hình tưới nhỏ giọt, vợ chồng anh còn có thêm nhiều thời gian để làm việc khác như buôn bán, làm đồ mộc kiếm thêm thu nhập
(Theo http://nongnghiepvamoitruong.blogspot.com/html.)
+) Phương pháp canh tác tiết kiệm nước tưới cho cây bông vải được Viện nghiên cứu phát triển cây bông Nha Hố, tỉnh Ninh Thuận thử nghiệm thành công, mang lại hiệu quả cho người trồng bông trên vùng khô hạn Với cách làm này, lượng nước tưới hàng ngày đã giảm hơn 2/3 so với trước, nhưng vẫn đảm bảo khả năng sinh trưởng, phát
Trang 30mỗi vụ, 1 ha bông cần khoảng 7.000 - 8.000 m3 nước, trong khi đó nếu áp dụng cách tưới nhỏ giọt, lượng nước giảm xuống chỉ còn khoảng 2.000 - 3.000 m3
(Theo http://agriviet.com/home/showthread.php?)
+) Thực tế hiện nay, năng suất mía bình quân của nước ta còn rất thấp Nguyên nhân chủ yếu là do cây mía không được cung cấp đủ nước và phân bón Năng suất mía trên đất có độ phì thấp hiện nay chỉ đạt khoảng 50 tấn/ha Với sự ra đời của phương pháp tưới nhỏ giọt đã mở ra hướng thâm canh mới khắc phục hạn chế trên, giúp cung cấp đủ nước và phân cho cây có thể sẽ đưa năng suất mía lên gấp 2 lần
(Theo http://www.khuyennongvn.gov.vn/f1-nn-the-gioi)
+) Ở Ninh Thuận nhiều nông dân đã áp dụng phương pháp tưới nhỏ giọt đối với cây nho Trong khi phương pháp tưới truyền thống phải cần đến 9.072 m3 nước/ha/vụ để tưới cho nho, thì đối với mô hình tưới nhỏ giọt là 1.608 m3/ha, tức là chỉ bằng 17,8 %, giảm 82,2 % lượng nước tưới; lượng phân bón cho cây theo hệ thống tưới nhỏ giọt cũng giảm từ 20 – 25 %, các chỉ tiêu sinh học và năng suất của cây theo mô hình tưới nhỏ giọt không chênh lệch so với mô hình tưới theo truyền thống của nông dân
(Theo http://agriviet.com/home/showthread.php?)
+) Hoa hồng là loại cây trồng thế mạnh của người dân Đà lạt từ nhiều thập niên qua
Để đảm bảo mục tiêu sản xuất ra những cành hoa hồng vừa đảm bảo tính thẩm mỹ, vừa đạt hiệu quả kinh tế cao, thời gian gần đây người dân đã đầu tư rất nhiều cho loại hoa dài ngày này, trong đó việc tưới nước, bón phân áp dụng theo hệ thống tưới nhỏ giọt Sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt sẽ giúp người trồng hoa nâng cao mật độ canh tác, năng suất tăng gần gấp 2 lần, và quan trọng hơn là chất lượng hoa luôn đảm bảo (Theo http://www.dalat.gov.vn/ptth/detail.asp?id=102)
Trên cây ăn trái, rau an toàn cũng đang bước đầu giải quyết vấn đề nước tưới đặc biệt vào mùa khô bằng phương pháp tưới nhỏ giọt
Trang 31Chương 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Bố trí thí nghiệm
3.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành tại: huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
3.1.2 Thời gian nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành từ tháng 2/2009 đến tháng 6/2009
3.2 Điều kiện khí tượng
Bảng 3.1: Điều kiện khí tượng trong thời gian thí nghiệm
Nhiệt độ Lượng mưa ẩm Độ Bốc hơi Nắng Thời tiết dặc biệt Tháng
Ttb: Nhiệt độ không khí trung bình (0C)
Txtb: Nhiệt độ không khí tối cao trung bình tháng (0C)
Tx: Nhiệt độ không khí tối cao tuyệt đối (0C)
Tmtb: Nhiệt độ không khí tối thấp trung bình tháng (0C)
Tm: Nhiệt độ không khí tối thấp tuyệt đối (0C)
R: Tổng lượng mưa tháng (mm)
Rx: Lượng mưa ngày cao nhất trong tháng (mm)
N: Số ngày có mưa (ngày)
Trang 32E: Tổng lựong bốc hơi (mm)
S: Số giờ nắng (giờ nắng)
GL: Số ngày có gió tây khô nóng (ngày)
Giông: Số ngày có giông (ngày)
Trong thời gian thí nghiệm nhiệt độ tối thấp trung bình từ 24,6 0C đến 27,1 0C, nhiệt độ tối cao trung bình từ 30,3 0C đến 32,9 0C , và nhiêt độ trung bình từ 26,7 0C đến 29,3 0C Độ ẩm từ 75 % - 84 % Điều kiện về nhiệt độ, độ ẩm tương đối thích hợp đối với sự sinh truởng, phát triển của cây cacao
Tuy nhiên trong thời gian đầu thí nghiệm (tháng 2, tháng 3) có số ngày mưa, lượng mưa thấp, số giờ nắng và lượng bốc hơi lại khá cao không thuận lợi cho sự sinh trưởng, phát triển của cây cacao đang trong giai đoạn nuôi trái
Trong thời gian từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2009 điều kiện khí hậu, thời tiết không có biến động đặc biệt, tương đối thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của cây ca cao
5 mm dẫn nước từ ống phụ tới cây), van điều chỉnh, bộ phận nhỏ giọt
Hệ thống tưới xả (máy bơm, ống cứng đường kính 60 mm, ống mềm đường kính 40 mm, van.)
Kéo cắt trái ca cao, cân 5 kg và 100 kg, thước dây, thúng lên men hạt, túi lưới ủ hạt, liếp phơi hạt ca cao
3.4 Phương pháp thí nghiệm
Thí nghiệm bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại của 1 yếu
tố Có 6 NT/LLL, mỗi NT có 10 cây Chiều biến thiên theo hướng dốc của vườn
Trang 33Trong đó:
NT1: 66,7 (g) Urea + 133,4 (g) KCl/lần/gốc, rải vào gốc, 1 năm bón 3 lần
NT2: 50 (g) Urea + 100 (g) KCl/lần/gốc, rải vào gốc, 1 năm bón 4 lần
NT3: 40 (g) Urea + 80 (g) KCl/lần/gốc, rải vào gốc, 1 năm bón 5 lần
NT4: 27 (g) Urea + 54 (g) KCl/lần/NT, qua hệ thống tưới nhỏ giọt, 5 ngày/lần
NT5: 54 (g) Urea + 108 (g) KCl/lần/NT, qua hệ thống tưới nhỏ giọt, 10 ngày/lần
NT6: 81 (g) Urea + 162 (g) KCl/lần/NT, qua hệ thống tưới nhỏ giọt, 15 ngày/lần
Thông qua hệ thống tưới nhỏ giọt, phân được hoà tan trong nước để bón cho cây
Cách tính lượng phân bón cho ca cao:
Với năng suất trung bình 2000 kg hạt khô/ha/năm, từ bảng 2.3 ta có:
Nhu cầu về N là 71,6 kg/ha/năm suy ra lượng phân Urea cần dùng: 155,65 kg/ha/năm Do đó cần 140,099 g Urea/gốc/năm
Nhu cầu về K là 145 kg/ha/năm suy ra lượng phân KCl cần dùng: 291,24 kg/ha/năm Do đó cần 262,14 g KCl/gốc/năm
Ngoài lượng phân bón cung cấp đủ cho nhu cầu để cây nuôi trái, nuôi hạt còn nhiều yếu tố ảnh hưởng làm hao hụt lượng phân bón cho cây, do đó cần bổ sung thêm lượng phân bón cho mỗi cây
Chọn bón (200 g Urea + 400 g KCl)/gốc/năm Từ đó tùy theo số lần bón trong năm để tính ra lượng phân mỗi lần bón cho cây
3.5 Các chỉ tiêu theo dõi
Chỉ tiêu theo dõi: Chu vi thân, tỷ lệ cơi đọt, các chỉ tiêu về năng suất (TLTB/trái tươi, TLTB hạt tươi/trái, TLTB hạt khô/trái, TL trái tươi/TL hạt khô, cỡ hạt)
3.5.1 Chu vi thân
Đo chu vi thân cây: dùng thước dây đo vòng thân cây cách mặt đất 10 cm
Sự tăng trưởng của thân cây chậm nên tiến hành theo dõi 2 lần: trước lúc bón phân, và khi kết thúc thí nghiệm
3.5.2 Tỷ lệ ra cơi đọt
Theo dõi số cây ra cơi đọt ở mỗi nghiệm thức
Sự ra cơi đọt hàng tháng thể hiện tình trạng sinh trưởng, phát triển của cây, nếu cây sinh trưởng, phát triển tốt cây sẽ ra đọt non vào mỗi tháng Theo dõi tỷ lệ ra
Trang 343.5.3 Các chỉ tiêu về năng suất:
Thu trái chín ở các NT, đập vỏ, tách hạt, ủ lên men và phơi khô hạt Tiến hành thu thập
số liệu của các chỉ tiêu:
+ TLTB/trái (g): cân trái chín thu được ở mỗi NT và lấy TLTB cho 1 trái
+ TLTB hạt tươi/trái (g): Sau khi đập trái tách hạt cân số hạt tươi của NT và lấy TLTB hạt tươi cho 1 trái
+ TLTB hạt khô/trái (g): Số hạt tươi đem ủ, phơi khô, quạt sạch bụi, hạt lép, cân
TL hạt khô của NT và lấy trung bình TL hạt tươi cho 1 trái
+ Cỡ hạt: Đếm số hạt có trong 100 g hạt ca cao khô
3.5.4 Tỷ lệ TL trái/TL hạt khô: Lấy tỷ lệ giữa TL trái tươi/TL hạt khô
3.6 Phương pháp xử lý số liệu
Xử lý số liệu trên phần mềm EXCEL và phần mềm MSTATC
Trang 35**: Sự khác biệt giữa các giá trị rất có ý nghĩa thống kê ở mức 0,01
Qua bảng 4.1 nhận thấy sự tăng trưởng chu vi thân của các NT bón phân theo
hệ thống tưới nhỏ giọt cao hơn đồng thời sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê so với các NT bón phân kiểu truyền thống Sự tăng trưởng chu vi thân của NT5 cao nhất (2,007 cm), thấp nhất ở NT3 (1,462 cm)
Phương pháp tưới nước nhỏ giọt kết hợp với bón phân cho ca cao có tác động tới sự tăng trưởng chu vi thân cao hơn so với phương pháp tưới truyền thống
Trang 36NT1 NT2 NT3 NT4 NT5 NT6
NT
Trang 37**: Sự khác biệt giữa các giá trị rất có ý nghĩa thống kê ở mức 0,01
TBNT4: Giá trị trung bình các NT của Tháng 3, Tháng 4, Tháng 5, Tháng 6
Từ bảng 4.2 ta thấy:
- Tháng 2 và tháng 3 tỷ lệ ra đọt non của các NT không có sự khác biệt về mặt thống
kê Tỷ lệ ra đọt non của tháng 2 rất thấp (10 – 23,33 %), tháng 3 tỷ lệ ra đọt non của các NT cao hơn (60 – 73 %.) Điều đó cho thấy ở mùa khô tỷ lệ ra đọt non rất thấp, khi bắt đầu bón phân theo các NT đều có tỷ lệ ra đọt non tăng lên
- Tháng 4, tháng 5 tỷ lệ ra đọt non của các NT bón phân theo hệ thống nhỏ giọt cao hơn đồng thời khác biệt rất có ý nghĩa thống kê so với các NT bón phân kiểu truyền thống Tháng 4 tỷ lệ ra đọt non ở NT4 cao nhất (86,67 %), NT3 thấp nhất (46,67%) Tháng 5 tỷ lệ ra đọt non cao nhất ở NT5 (93,33 %), thấp nhất ở NT3 (26,67 %)
Các NT bón phân theo hệ thống nhỏ giọt được cung cấp phân thường xuyên do
đó tỷ lệ ra đọt cao hơn so với các NT bón phân truyền thống được bón phân từ tháng 2, đến tháng 5 lượng phân bón đã cạn do đó tỷ lệ ra đọt có xu hướng giảm xuống
Trang 38- Tháng 6 tỷ lệ ra đọt của NT1 thấp (26,67 %), khác biệt rất có ý nghĩa với các NT còn lại Các NT bón phân theo hệ thống nhỏ giọt có tỷ lệ ra đọt non rất cao (90 – 100 %)
Tỷ lệ ra đọt non của NT4 (100 %) và NT5 (96,67 %)
Sang mùa mưa lại được cung cấp phân bón đầy đủ do đó ở các NT bón phân theo hệ thống nhỏ giọt có tỷ lệ ra đọt rất cao; NT2, NT3 được bón phân vào tháng 5 nên tỷ lệ ra đọt tăng lên, riêng NT1 không được bón phân do đó tỷ lệ ra đọt thấp nhất
Nhìn chung tỷ lệ ra đọt non trung bình các NT bón phân theo hệ thống nhỏ giọt rất cao (từ sau khi bón phân 3 tháng), cao nhất là NT4 (86,59 %) và khác biệt rất
có ý nghĩa thống kê so với các NT bón phân kiểu truyền thống (tỷ lệ ra đọt non hàng tháng thấp) Điều đó cho thấy phân bón có ảnh hưởng rất lớn tới tỷ lệ ra đọt hàng tháng của ca cao Biện pháp bón phân theo hệ thống nhỏ giọt cung cấp đầy đủ phân bón, đảm bảo sự sinh trưởng, phát triển của cây nên tỷ lệ ra đọt hàng tháng cao hơn phương pháp bón phân kiểu truyền thống
Biểu đồ 4.3: Ảnh hưởng của phân bón tới tỷ lệ ra cơi đọt
0 10
Trang 39*: Sự khác biệt giữa các giá trị có ý nghĩa thống kê ở mức 0,05
**: Sự khác biệt giữa các giá trị rất có ý nghĩa thống kê ở mức 0,01
Từ kết quả bảng 4.3 nhận thấy:
- Từ 8/3 - 15/3: TLTB/trái giữa các NT không có sự khác biệt về mặt thống kê
- Từ 22/3 - 5/4: NT4 có TLTB/trái tăng lên, đồng thời cao hơn và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các NT bón phân kiểu truyền thống, nhưng sự khác biệt không
có ý nghĩa thống kê so với NT5, NT6 TLTB trái của NT4 cao nhất (350,32g), NT1 thấp nhất (282,95 g)
Các NT đều có TLTB/trái tăng lên nhưng ở các NT bón phân theo hệ thống nhỏ giọt tăng cao hơn
- Từ 12/4 – 14/6: TLTB/trái của các NT bón phân theo hệ thống nhỏ giọt cao hơn và
sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê so với các NT bón phân kiểu truyền thống TLTB/trái của NT5 cao nhất, NT3 thấp nhất
Các NT bón phân theo hệ thống nhỏ giọt có TLTB/trái có xu hướng tăng lên
Trang 40Tóm lại TLTB/trái ở các NT trong 2 lần bón phân đầu không có sự khác biệt về mặt thống kê Sau thời gian bón phân ta thấy các NT bón phân theo hệ thống nhỏ giọt
có TLTB/trái tăng cao hơn đồng thời sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê so với các
NT bón phân kiểu truyền thống, TLTB/trái của NT4 cao nhất (352,94 g), tương đương với TLTB/trái của NT5 (351,74 g) và TLTB/trái ở NT1 thấp nhất (281,77 g)
Qua hệ thống tưới nhỏ giọt phân bón cung cấp thường xuyên cho cây nuôi trái tốt hơn, trọng lượng trái cao hơn so với các NT bón phân kiểu truyền thống
NT1 NT2 NT3 NT4 NT5 NT6
NT