1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT MỘT SỐ CÔNG THỨC PHÂN BÓN VÀ TÌM CÔNG THỨC PHÂN BÓN THÍCH HỢP CHO CAO SU KHAI THÁC TẠI PHƯỚC HÒA, DẦU TIẾNG, LỘC NINH

121 101 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 2,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHẢO SÁT MỘT SỐ CÔNG THỨC PHÂN BÓN VÀ TÌM CÔNG THỨC PHÂN BÓN THÍCH HỢP CHO CAO SU KHAI THÁC TẠI PHƯỚC HÒA, DẦU TIẾNG, LỘC NINH KHẢO SÁT MỘT SỐ CÔNG THỨC PHÂN BÓN VÀ TÌM CÔNG THỨC PHÂN BÓN THÍCH HỢP CHO CAO SU KHAI THÁC TẠI PHƯỚC HÒA, DẦU TIẾNG, LỘC NINH KHẢO SÁT MỘT SỐ CÔNG THỨC PHÂN BÓN VÀ TÌM CÔNG THỨC PHÂN BÓN THÍCH HỢP CHO CAO SU KHAI THÁC TẠI PHƯỚC HÒA, DẦU TIẾNG, LỘC NINH

Trang 1

KHẢO SÁT MỘT SỐ CÔNG THỨC PHÂN BÓN VÀ TÌM CÔNG THỨC PHÂN BÓN THÍCH HỢP CHO CAO SU KHAI THÁC TẠI

PHƯỚC HÒA, DẦU TIẾNG, LỘC NINH

Tác giả

LÊ QUÍ HÒA BÌNH

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu

cấp bằng kỹ sư ngành Nông Học

Hội đồng giảng viên hướng dẫn:

TS TỐNG VIẾT THỊNH ThS LÊ TRỌNG HIẾU

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 08 năm 2009

Trang 2

LỜI CẢM TẠ

Chân thành cảm tạ Ban giám hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố

Hồ Chí Minh, Ban chủ nhiệm Khoa Nông Học và quý thầy cô đã tận tình giảng dạy trong suốt quá trình học tập

Chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Viện Nghiên Cứu Cao Su Việt Nam, Bộ môn Nông hóa Thỗ nhưỡng đã tận tình hỗ trợ, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình thực tập

Chân thành cám ơn ban lãnh đạo và phòng kỹ thuật Công Ty cao su Phước Hòa, Dầu Tiếng và Lộc Ninh đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình công tác thực hiện đề tài

Chân thành cảm ơn Ts Tống Viết Thịnh, ThS Lê Trọng Hiếu đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình thực hiện đề tài này

Chân thành biết ơn KS Nguyễn Chí Thiết, KS Dương Quang Dũng, cử nhân Trần Văn Thành, TS Nguyễn Thanh Bình đã có những đóng góp cho đề tài

Chân thành cảm ơn các anh chị Bộ Nông hóa Thỗ nhưỡng, phòng phân tích – Viện Nghiên Cứu Cao Su Việt Nam đã giúp đỡ rất nhiều trong thu thập và xử

lý số liệu trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Lời cảm ơn cũng xin được gởi đến các bạn sinh viên lớp Nông Học 31 đã giúp

đỡ và động viên trong thời gian thực hiện đề tài

Lòng biết ơn chân thành con xin dành cho ba mẹ, đã có công sinh thành và dưỡng dục để con có được thành quả như ngày hôm nay

Tháng 08 năm 2009

Trang 3

TÓM TẮT

LÊ QUÍ HÒA BÌNH, Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, tháng 08 năm

2009 KHẢO SÁT MỘT SỐ CÔNG THỨC PHÂN BÓN VÀ TÌM CÔNG THỨC PHÂN BÓN THÍCH HỢP CHO CAO SU KHAI THÁC TẠI PHƯỚC HÒA, DẦU TIẾNG, LỘC NINH

Hội đồng giảng viên hướng dẫn:

TS Tống Viết Thịnh, Bộ môn NHTN, Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam ThS Lê Trọng Hiếu, giảng viên trường ĐH Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

Để tài nghiên cứu “Khảo sát một số công thức phân bón và tìm công thức phân bón thích hợp cho cao su khai thác tại Phước Hòa, Dầu Tiếng, Lộc Ninh” được tiến hành trên 3 nông trường: lô 9, Nông trường Bố Lá, công ty cao su Phước Hòa (huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương) Lô 54, nông trường Minh thạnh, công ty cao su Dầu Tiếng (huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương) và lô 347-348, nông trường I, công ty cao su Lộc Ninh (huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước), thời gian từ tháng 06 năm 2008 đến tháng 07 năm 2009 Thí nghiệm được bố trí theo kiểu thừa số phân mảnh, 1 lần nhắc lại, 3 khối thiếu, 27 nghiệm thức với các công thức phân [N(kg):P(kg):K(kg)]/năm khác nhau

Qua các đợt quan trắc từ tháng 02 năm 2009 đến tháng 06 năm 2009 và kết hợp với những số liệu đã theo dõi trước đây của Bộ môn Nông hóa Thổ nhưỡng, Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam đã thu được một số kết quả như sau: hàm lượng dinh dưỡng trong đất trước và sau thí nghiệm biến động không đáng kể Hàm lượng dinh dưỡng trong lá cao su tăng lên một cách rõ rệt, tuy trước thí nghiệm hàm lượng dinh dưỡng trong lá cao su cũng đã cao nhưng sau thí nghiệm thì đa số các chất dinh dưỡng trong lá như N, P, K đều đạt từ mức cao trở lên Ngoài ra giữa các chất dinh dưỡng trong đất và trong lá có một số chất có mối tương quan có ý nghĩa như hàm lượng K tổng số trong đất và hàm lượng K trao đổi trong lá Mối tương quan giữa dinh dưỡng trong đất với yếu tố sinh trưởng vanh thân cũng tìm thấy một tương quan có ý nghĩa giữa K tổng số với mức tăng vanh Hầu hết các yếu tố dinh dưỡng trong đất và lá cao su tương quan có ý nghĩa

Trang 4

với sản lượng ngoại trừ nguyên tố Ca trao đổi trong đất, P, K và Mg tổng số trong

lá Phân bón cũng ảnh hưởng đến mức tăng vanh cao su

Qua thí nghiệm nhận thấy sự tăng rõ rệt về năng suất nhưng vẫn chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức với nhau Bước đầu tìm được công thức phân tối ưu cho 3 vùng thí nghiệm như sau:

Lô 9, CTCS Phước Hòa: 67,96 kg N/ha + 32,79 kg P2O5 + 68,24 kg K2O/ha

Lô 54, CTCS Dầu Tiếng: 87,16 kg N/ha + 53,39 kg P2O5 + 79,28 kg K2O/ha

Lô 347 - 348, CTCS Lộc Ninh: 80 kg N/ha + 60 kg P2O5 + 80 kg K2O/ha

Trang 5

MỤC LỤC

Nội dung Trang

Trang tựa i

LỜI CẢM TẠ ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC v

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH SÁCH CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ ix

Chương 1: MỞ ĐẦU 1

1 1 Đặt vấn đề 1

1 2 Mục đích – yêu cầu – giới hạn 2

1 2 1 Mục đích 2

1 2 2 Yêu cầu 2

1 2 3 Giới hạn đề tài 2

Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2 1 Sơ lược về lịch sử phát triển cây cao su 3

2 2 Tổng quan về cây cao su 5

2 2 1 Tên họ - nguồn gốc 5

2 2 2 Đặc điểm thực vật học cây cao su 5

2 2 3 Tình hình phân bố sản xuất cao su ở Việt Nam 7

2 3 Đặc điểm tổng quát của dòng vô tính PB 235 8

2 4 Điều kiện sinh thái đối với cây cao su 9

2 4 1 Khí hậu 9

2 4 2 Đất đai 10

2 5 Các nghiên cứu về chủng loại và liều lượng phân bón trên cao su khai thác 10

2 5 1 Các nghiên cứu về chủng loại phân bón trên cao su khai thác 11

2 5 2 Các nghiên cứu về liều lượng phân bón trên cao su khai thác 12

2 6 Hiệu quả của việc bón phân đa lượng N, P, K lên năng suất mủ 13

Chương 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

3 1 Nội dung thí nghiệm 14

Trang 6

3 2 Phương pháp nghiên cứu 14

3 2 1 Thông tin các lô thí nghiệm 14

3 2 2 Chăm sóc quản lý 15

3 2 3 Nội dung nghiệm thức 15

3 2 4 Bố trí thí nghiệm 16

3 2 5 Các chỉ tiêu nghiên cứu 17

3 2 5 1 Kiểm trắng thí nghiệm 17

3 2 5 2 Lấy mẫu và phân tích đất 17

3 5 2 3 Lấy mẫu và phân tích lá 18

3 2 5 4 Vanh thân cao su 18

3 2 5 5 Sản lượng mủ nước 18

3 2 5 7 Bệnh khô miệng cạo toàn phần 19

3 2 5 8 Các bệnh phấn trắng và nấm hồng 19

3 2 6 Xử lí số liệu 19

Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 20

4 1 Ảnh hưởng của phân bón đến tích lũy dinh dưỡng trong đất và trong lá cao su 20

4 1 1 Hàm lượng dinh dưỡng trong đất trước và sau thí nghiệm tại 3 địa điểm thí nghiệm 20

4 1 2 Hàm lượng dinh dưỡng trong lá trước và sau thí nghiệm tại 3 nơi thí nghiệm 27

4 1 3 Tương quan giữa các chất dinh dưỡng trong đất và trong lá cao su sau thí nghiệm 33

4 2 Ảnh hưởng của phân bón đến khả năng sinh trưởng cây cao su 38

4 3 Tình hình bệnh trên vườn cao su thí nghiệm 39

4 3 1 Bệnh phấn trắng và nấm hồng 39

Trang 7

5 1 Kết luận 60

5 2 Đề nghị 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

PHỤ LỤC 64

Trang 8

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

RRIV: Research Rubber Institute Việt Nam

RRIC: Research Rubber Institute Ceylon

PB: Prang Besar

TCT: Tổng Công ty Cao su Việt Nam

CTCS: Công ty cao su

NHTN: Nông hóa Thổ nhưỡng

VNCCSVN: Viện nghiên cứu Cao su Việt Nam

NT: Nông trường

CNCS: Công nghiệp cao su

DRC: Dry Rubber Content

SAS: Statistical Analysis System

Trang 10

Bảng 4.15: Hệ số tương quan, phương trình tuyến tính giữa các yếu tố dinh dưỡng

trong đất và sản lượng mủ cao su 47

Bảng 4.16: Hệ số tương quan, phương trình tuyến tính giữa các yếu tố dinh dưỡng trong lá và sản lượng mủ cao su 48

Bảng 4.17: Bề mặt đáp ứng phân bón N, P, K và ước lượng năng suất mủ tối ưu trên lô 9, CTCS Phước Hòa 51

Bảng 4.18: Bề mặt đáp ứng phân bón N, P, K và ước lượng năng suất mủ tối ưu trên lô 54, CTCS Dầu Tiếng 54

Bảng 4.19: Bề mặt đáp ứng phân bón N, P, K và ước lượng năng suất mủ tối ưu trên lô 347-348, CTCS Lộc Ninh 57

Biểu đồ……… Trang Biểu đồ 1: Tỷ lệ bệnh phấn trắng qua các đợt quan trắc……….39

Biểu đồ 2: Chỉ số bệnh phấn trắng qua các đợt quan trắc……… ……40

Biểu đồ 3: Tỷ lệ bệnh nấm hồng qua các đợt quan trắc……… ………40

Biểu đồ 4: Chỉ số bệnh nấm hồng qua các đợt quan trắc………41

Biểu đồ 5: Tỷ lệ bệnh trên 3 lô thí nghiệm qua các đợt quan trắc……… 44

Biểu đồ 6: Đáp ứng năng suất mủ cao su trên cao su khai thác trên lô 9, CTCS Phước Hòa……… 49

Biểu đồ 7: Đáp ứng năng suất mủ cao su trên cao su khai thác trên lô 54, CTCS Dầu Tiếng……… 52

Biểu đồ 8: Đáp ứng năng suất mủ cao su trên cao su khai thác trên lô 347-348, CTCS Lộc Ninh……… 56

Trang 11

Theo Lê Văn Căn, 1975: năng suất mủ cao su phụ thuộc vào giống, sức khỏe của cây, chế độ cạo mủ, thời tiết, chế độ dinh dưỡng của đất Tuy chất dinh dưỡng do

mủ lấy đi rất ít nhưng cây lại cần rất nhiều chất dinh dưỡng để tích lũy tạo mủ, do đó cần phải bón nhiều phân cho cao su, giúp cây nhanh lớn và cho mủ cao

Thông thường hàm lượng các chất dinh dưỡng tổng số trong đất khá cao, nhưng trong thực tế cây trồng chỉ có thể sử dụng rất ít dưới dạng dễ tiêu Phân bón, đặc biệt các loại phân vô cơ đa lượng là nguồn bổ sung dinh dưỡng lớn nhất cho cây trồng được cung cấp từ hoạt động sản xuất của con người Vì vậy việc cung cấp các yếu tố dinh dưỡng đa lượng trở thành kỹ thuật bắt buộc đối với cao su [10]

Theo các nghiên cứu trong và ngoài nước, hàm lượng dinh dưỡng trong đất ngày càng giảm mạnh do xói mòn, rữa trôi và một phần bón phân không hợp lí, từ đó kéo theo sự ảnh hưởng lên sinh trưởng và sản lượng mủ[8]

Trong giai đoạn hiện nay, chủ trương của nước ta đang mở rộng diện tích trồng cao su trên các vùng đất mới và việc bón phân cho cao su được áp dụng theo quy trình của Tổng Công Ty Cao Su Việt Nam, dựa vào tuổi cây, loại đất, mật độ trồng nhưng chưa đề cập đến nhu cầu dinh dưỡng của cây cao su Mặc khác, phân bón chiếm một tỉ lệ vốn đầu tư khá lớn trên vườn cây, do đó các phương pháp và công thức phân bón cho cao su phải được tính toán cụ thể dựa trên các nguyên tắc khoa học sao cho cây sinh trưởng phát triển tốt đồng thời đạt hiệu quả kinh tế

Trang 12

Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn nói trên, để xác định liều lượng phân thích hợp cho cây cao su trong thời kỳ khai thác trên vùng đất đỏ bazan Lộc Ninh, vùng đất xám phù sa cổ Phước Hòa và Dầu Tiếng Chúng tôi tiến hành thí nghiệm:

“Khảo sát một số công thức phân bón và tìm công thức phân bón thích hợp cho cao

su khai thác tại Phước Hòa, Dầu Tiếng, Lộc Ninh”

1.2 Mục đích – yêu cầu – giới hạn

1.2.1 Mục đích

Xác định liều lượng bón phân N, P, K thích hợp cho cao su khai thác trên các vùng đất nâu đỏ bazan ở Lộc Ninh và đất xám phù sa cổ tại Phước Hòa, Dầu Tiếng Xác định ảnh hưởng của các công thức bón phân khác nhau đến sự tích lũy hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất, lá cũng như khả năng sinh trưởng và năng suất mủ của cây cao su

1.2.2 Yêu cầu

Phân tích hàm lượng dinh dưỡng trong đất

Phân tích hàm lượng dinh dưỡng trong lá

Thu thập số liệu về vanh thân cao su

Quan trắc một số bệnh hại như phấn trắng, nấm hồng và khô miệng cạo

Thu thập số liệu sản lượng các lô thí nghiệm

1.2.3 Giới hạn đề tài

Do thí nghiệm đã được bố trí từ tháng 6 năm 2008, thời gian kéo dài trong nhiều năm nên các chỉ tiêu quan trắc trong đề tài này được kế thừa và tiếp tục theo

Trang 13

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Sơ lượt về lịch sử phát triển cây cao su

Cây cao su trong tình trạng hoang dại là một loại cây rừng lớn, thân thẳng, cao từ 30 đến 50 m, vanh thân đôi khi đạt từ 5 đến 7 m, tán lá rộng và có thể sống trên 100 năm[5]

Lịch sử phát triển cây cao su có thể được chia làm ba giai đoạn:

Giai đoạn 1: từ năm 1500 đến 1870, đây là giai đoạn khai thác cao su hoang dại Trong giai đoạn này cao su được sản xuất tạo nên các sản phẩm dùng trong tôn giáo Thế kỷ 17, người Tây Ban Nha đã tạo nên áo choàng đi mưa, giày ống, mui xe ngựa, tuy nhiên còn rất hạn chế Từ 1800 - 1830 nhà máy chế tạo mủ cao

su thành vật dụng đầu tiên ra đời[6] Vào năm 1851 tại Luân Đôn và năm 1855 tại Paris đã trưng bày các sản phẩm của của phương pháp lưu hóa mới như vật dụng ebonit, áo quần làm bằng cao su không mùi, khung bằng nhựa dẻo, vỏ xe cao su, giày cao su, nệm hơi[5]

Giai đoạn 2: từ năm 1871 đến 1914, đây là giai đoạn cao su thiên nhiên được di nhập và nhân trồng Năm 1883 có 22 cây cao su sống tại vườn thực vật Ceylon được phân phối để nhân trồng trên thế giới Năm 1892 sản lượng từ những cây cao su nhân trồng tại Ceylon có chất lượng tốt và tiếp theo đó là 120 ha cao su đầu tiên được nhân trồng ở Malaysia[5] Trong giai đoạn 1871 đến 1914 ngoài loài

Hevea brasiliensis còn có 4 loài cây khác được trồng nhân giống thí nghiệm là: Ficuse elastica, Castilloa elastica, Manihot glaziovii và Funtumia elastica, tuy nhiên các cây này không thể cạnh tranh được với cây cao su Hevea brasiliensis do

năng suất kém, chất lượng mủ không tốt và phương thức chế biến phức tạp, vì thế cho đến nay các loài cây này vẫn chỉ được trồng trên một quy mô nhỏ[5] Diện tích cao su phát triển mạnh vào những năm đầu của thế kỷ 20, năm 1905 trên thế giới

có khoảng 52.000 ha, đến năm 1910 tăng lên 455.000 ha Các nước đi tiên phong

Trang 14

trong việc trồng cao su là Malaysia, Ấn Độ, các nước thuộc địa của Hà Lan, Srilanca Từ năm 1900, ngành kỹ nghệ sản xuất vỏ xe cao su phát triển mạnh, và mức tiêu thụ cao su thiên nhiên đã đạt trên 100.000 tấn/năm[5]

Giai đoạn 3: từ năm 1914 đến nay Khoảng thời gian từ 1914 đến 1945, mức sản xuất cao su thiên nhiên gia tăng rất nhanh từ 125.000 tấn năm 1914 lên 1.049.000 tấn năm 1934 và đến năm 1941 là 1.504.000 tấn Nhưng sau đó lại có

sự sụt giảm nghiêm trọng về mức sản xuất cao su thiên nhiên trong những năm từ

1942 đến 1945 cụ thể sản lượng cao su thế giới chỉ còn 650.000 tấn vào năm 1942 (chỉ đạt 43,2% so với một năm trước, năm 1942) Sản lượng cao su thiên nhiên lại tiếp tục sụt giảm mỗi năm từ 23% đến 31% so với sản lượng năm trước mà kết quả là đến năm 1945 sản lượng cao su thiên nhiên thế giới chỉ còn đạt 250.000 tấn (chỉ đạt 16,8% so với năm 1941), đây là giai đoạn cực kỳ khó khăn cho việc sản xuất cao su thiên nhiên Nguyên nhân dẫn đến sự sụt giảm sản lượng nghiêm trọng

đã nêu trên là do ảnh hưởng của cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 khiến hầu hết các diện tích trồng cao su ở Châu Á bị bỏ phế[5] Tương tự giai đoạn từ 1946 đến 1985 sản lượng cao su đã có bước phát triển trở lại, đến năm 1948 đạt 1.547.000 tấn (tăng 178% so với năm 1946 và đã vượt sản lượng năm 1941) Sau đó sản lượng tăng đều đặn qua các năm sau[5] Từ năm 1985 đến nay sản lượng cao su thế giới vẫn gia tăng đều đặn: năm 1985 đạt 4.335.000 tấn đến năm 2005 sản lượng đã đạt được 8.682.000 tấn (trong đó Châu Á sản xuất đến 8.214.000 tấn chiếm đến 94,6% tổng sản lượng thế giới)[5] Năm 2008 đạt gần 10 triệu tấn và tăng 3,1% so với năm 2007[1]

Tóm lại: cho đến nay, sau hơn 130 năm cây cao su được di nhập và nhân trồng, sản lượng cao su thế giới đã đạt được khoảng 10 triệu tấn, điều đó chứng tỏ

Trang 15

2.2 Tổng quan về cây cao su

Cây cao su được di nhập vào Việt Nam từ năm từ 1878 do Pierre đưa hạt giống vào trồng ở vườn Bách Thảo Sài Gòn nhưng không sống được cây nào Đến năm 1897, một dược sĩ hải quân Pháp mang hạt giống cao su từ vườn thực nghiệm Buitenzorg (Java) đem trồng đầu tiên tại trạm thí nghiệm Ông Yệm (Sông Bé) và tại trạm thí nghiệm của viện Pasteur tại Suối Dầu Nha Trang[5]

Như vậy, năm 1897 được công nhận là năm cây cao su di nhập vào Việt Nam Đánh dấu sự phát triển của cây cao su và bước khởi đầu của ngành công nghiệp chế biến mủ cao su ở nước ta

Nhận thấy giá trị lâu dài của sự phát triển cây cao su, chủ trương của nhà nước phát triển đến năm 2010 đưa diện tích cao su cả nước lên 700.000 ha và lên 1 triệu

ha trước năm 2015, với năng suất bình quân 2 tấn/ha, đồng thời mở rộng diện tích đầu tư ra nước ngoài tại Lào và Campuchia

2.2.2 Đặc điểm thực vật học cây cao su

Cây cao su là loài cây có thân gỗ lớn, thẳng, sinh trưởng mạnh, vỏ láng, có màu sáng và có chu kỳ sống tương đối dài (hơn 100 năm) Trong các đồn điền do việc cạo mủ đã làm giảm sinh trưởng của cây đồng thời cây thường được đốn hạ sau 25-30 năm sau trồng để tái canh trồng mới nên cây cao su không thể phát triển tự nhiên như trong rừng

Cao su có hai dạng thân: thân cây cao su thực sinh có vanh thân giãm dần khi lên cao tạo thành hình chóp Thân cây cao su ghép có vanh thân từ thấp lên cao khác biệt không cao như đối với cây thực sinh

Trang 16

Rễ: cao su cũng như các cây gỗ khác có hai loại rễ là rễ cọc và rễ bàng Rễ cọc mọc sâu vào trong đất, có thể sâu đến 10m khi cấu trúc đất tốt không có trở ngại như đá, sỏi Rễ cọc có nhiệm vụ hút nước và khoáng chất ở phía dưới lớp đất sâu và một nhiệm vụ quan trọng là chống đổ ngã, giúp cây đứng vững khi gặp thời tiết không thuận lợi Rễ bàng nằm chủ yếu ở phía lớp đất mặt, phân bố rộng, làm nhiệm vụ hút chất dinh dưỡng trên lớp đất mặt để nuôi dưỡng cây Theo Võ Thị Thu Hà, 1996: ở cây trưởng thành, toàn bộ hệ thống rễ chiếm khoảng 15% tổng sinh khối cây

Lá: lá cao su là lá kép gồm 3 lá chét với phiến lá nguyên, mọc cách Các lá chét có hình bầu dục, hơi dài hoặc hơi tròn Khi lá trưởng thành mặt trên có màu xanh đậm còn mặt dưới màu nhạt hơn Màu sắc lá thay đổi theo từng giống khác nhau Lá cao su tập trung thành từng tầng Ở Việt Nam, vào mùa mưa khoảng 1 tháng tạo được một tầng lá, còn mùa nắng thì phải mất 40-50 ngày Ở cao su non 1-2 tuổi, thì lúc chồi ngọn phát triển để tạo thành tầng lá mới thì các lá già ở tầng dưới tự rụng Đối với Việt Nam khi cây cao su đạt từ 3 tuổi trở lên thì đặc điểm rụng lá hằng năm là rụng đồng loạt vào một thời điểm tương đối cố định, toàn bộ

lá vàng rụng hết đi sau đó tạo lại tán lá non, giai đoạn này gọi là giai đoạn rụng lá qua đông và thường xảy ra vào dịp Tết Nguyên Đán (tháng 1-2 âm lịch)

Hoa: hoa cao su là hoa đơn tính đồng chu, khó tự thụ Hoa nhỏ, màu vàng, mọc thành chùm và mọc ở đầu cành Hoa cao su có hình chuông nhỏ, màu vàng nhạt Trong

tự nhiên, hoa cao su thụ phấn do các loại côn trùng và một phần nhờ gió Cây cao su ra hoa khi cây đạt từ 5 đến 6 tuổi và mỗi năm ra một lần khi các lá non đã ổn định

Quả, hạt: quả cao su là dạng quả nang gồm 3 ngăn, mỗi ngăn có một hạt Quả

có hình tròn hơi dẹp, đường kính khoảng 3-5 cm Khi còn non quả cao su có màu

Trang 17

2.2.3 Tình hình phân bố sản xuất cao su ở Việt Nam

Trước năm 1975, Việt Nam là một trong những nước có năng suất cao nhất thế giới, năng suất trên 3000 kg/ha[7], tuy nhiên việc trồng mới bị trì trệ trong một thời gian dài cũng như việc chăm sóc không được chú trọng vì chiến tranh nên năng suất của các lô cao su già đã giãm dần và chỉ tăng vào cuối những năm 50, nguyên nhân do áp dụng chế độ kích thích quá cao làm kiệt cây

Từ ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngành trồng cao su của nước ta

đã phát triển mạnh theo một hướng hoàn toàn mới Do vị trí địa lý, điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng và đội ngũ công nhân lành nghề với kinh nghiệm lâu năm, chính

vì thế ngành cao su ở nước ta phát triển thuận lợi hơn nhiều so với các nước Đông Nam Á khác

Đến năm 2006, theo số liệu thống kê bình quân mỗi ha cao su quốc doanh

đã đạt mức tổng thu khoảng 46 triệu đồng/ha và cao su tiểu điền là khoảng 27 triệu đồng/ha, riêng Tổng Công ty Cao su Việt Nam đạt mức bình quân hơn 50 triệu đồng/ha

Qua thống kê cho thấy: nhu cầu sử dụng cao su thiên nhiên trên thế giới đang tăng dần từ mức 30% năm 1980 lên 35% năm 1990 và lên 42/43% năm 2007/2008[16] Nhìn thấy lợi ích từ việc phát triển của cây cao su, chính phủ đã lên

kế hoạch mở rộng diện tích trồng cao su từ hơn 500.000 ha năm 2006 lên 1 triệu

ha trước năm 2015, với năng suất bình quân 2 tấn/ha, đầu tư phát triển 200.000 ha tại Lào và Campuchia Với kế hoạch tăng diện tích và sản lượng cao su, Việt Nam

hy vọng sẽ đạt 1,5 triệu tấn cao su thiên nhiên và hơn 1,5 triệu m3 gỗ cao su (gỗ tròn) trước năm 2020

Trang 18

Hiện nay, thống kê diện tích trồng cao su các vùng trồng bao gồm Tây Bắc, Đông Nam bộ, Tây nguyên và Miền Trung như sau:

Bảng 2.1: Phân bổ diện tích, sản lượng cao su toàn quốc và các vùng, 2000-2008

2.3 Đặc điểm tổng quát của dòng vô tính PB 235

Trong điều kiện thí nghiệm, chúng tôi thực hiện thí nghiệm trên dòng vô tính PB235, đây là dòng vô tính lai giữa PB3/51 và PB5/78 có xuất sứ từ trạm Prang Besar, công ty Golden Hope, Malaysia, được chọn lọc trên vườn cây lai năm 1955

Thân: dáng khỏe, thẳng, phần non xanh vàng, tròn đều, có chân voi nhưng không rõ Vỏ cây màu sáng, trơn láng, độ dày trung bình và tương đối dễ cạo Đặc biệt, sự tái sinh của vỏ rất tốt và ít phản ứng với vết cạo phạm

Lá, hoa: cuống lá dài, thẳng lõm, có phương ngang so với thân Lá mềm, trơn,

Trang 19

còn Tây Nguyên thì không được trồng vì cường độ gió mạnh, cây dễ bị đổ ngã Tuy nhiên chính vì xuất phát từ điều kiện thực tế, đề tài chọn DVT PB235 làm thí nghiệm

do DVT PB235 là DVT được trồng phổ biến tại vùng Đông Nam Bộ và đang hạn chế trồng nhưng diện tích trồng nói chung và diện tích cây đã vào độ tuổi khai thác nói riêng là rất lớn

2.4 Điều kiện sinh thái đối với cây cao su

2.4.1 Khí hậu

Trong tất cả các yếu tố sinh thái khí hậu là yếu tố quan trọng nhất đối với cây

cao su Hevea brasiliensis Cây cao su thích hợp nhất với vùng nhiệt đới ẩm: nhiệt độ

trung bình trong phạm vi 22-30oC (Ignatieff V., Page H J., 1962) và tốt nhất trong phạm vi 26-28oC (Jacob A., von Uexkull H., 1960), trên 40oC cây bị khô héo, khi dưới 10oC kéo dài thì nguy cơ cây bị héo, rụng lá, mầm chồi ngừng tăng trưởng Theo Nguyễn Thị Huệ (1997), thì nhiệt độ tối hảo cho năng suất cao nhất là 25oC Lượng mưa tối thiểu hàng năm là trên 1500 mm (tốt nhất trên 2000 mm) và phân bố đều Lượng mưa tuyệt đối không quan trọng bằng sự phân bố đều qua các tháng Ở miền trung Malaixia cây cao su phát triển rất tốt vì chủ yếu ở đây mỗi năm mưa khoảng

2500 mm và phân bố đều qua các tháng trong năm[12] Giờ chiếu sáng phải đạt 1600 giờ trên năm

Gió cũng là một yếu tố khí hậu gây nhiều thiệt hại cho cây cao su Khi gió nhẹ (1 - 2 m/s) sẽ giúp cho vườn cây thông thoáng, hạn chế được bệnh và giúp vỏ cây mau khô sau khi mưa Mặc khác, khi gió to lại sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây cao su Một số giống có tiềm năng năng suất cao (như dòng RRIM 501 của Malaixia) lại rất mẫn cảm với những thay đổi về tốc độ và hướng gió (Wycherley & cs, 1964) Kinh nghiệm tại Malaixia cho thấy: khi gió có tốc độ từ 8 - 13,8 m/s (cấp gió Beaufort 5 - 6) làm lá cao su non bị xoắn lại, lá bị rách, phiến lá dày lên và nhỏ lại có ảnh hường đến tăng trưởng Khi tốc

độ gió lớn hơn 17,2 m/s (cấp gió Beaufort = 8) thì cây cao su bị gãy thân cành [6] Vì thế khi dinh dưỡng đạm cao làm tán lá phát triển mạnh lại dễ bị thiệt hại vì gió Như vậy, cách lâu dài và tốt nhất để giải quyết vấn đề gió là tạo những dòng có tập tính ra cành tốt, có kiểu cây hợp lý[7]

Trang 20

2.4.2 Đất đai

Cây cao su được trồng tập trung ở vùng nhiệt đới ẩm, đặc biệt là Đông Nam

Á Khác với những cây cà phê, ca cao, họ dầu, cây cao su có thể mọc được trên những loại đất nghèo dinh dưỡng nhưng phải có đặc tính vật lý tốt: tầng đất mặt sâu, thoáng khí, đủ ẩm Nếu đáp ứng được những đặc tính vật lý đó thì cây cao su có thể trồng trên bất cứ loại đất nào ở vùng nhiệt đới ẩm từ những loại đất cát nhẹ đến đất sét phù xa nặng Cây cao su thích hợp với các vùng đất có độ cao tương đối thấp Theo Djikman ((1946) thì mức sản xuất của cao su ở độ cao 500m thì tốt hơn 250m Kết quả tại Malaixia cho thấy, cứ lên cao thêm 200m thì thời gian kiến thiết cơ bản của cây cao su kéo dài thêm 3 - 6 tháng (Webster, 1989) Độ dốc có ảnh hưởng lớn đến độ phì của đất, đất càng dốc thì xói mòn càng mạnh, lượng dinh dưỡng sẽ mất đi nhanh chóng Vì thế khi trồng cao su trên vùng đất dốc cần chú ý đến công tác chống xói mòn như: lập đê bao, mương, đường đồng mức

Cây cao su là loài cây ưa đất hơi chua, độ pH thích hợp cho cao su từ 4,5-5,5 Theo Edgar, 1960, Ignatiff V., Page H, J., 1962, Jacob A Và von Uexkull H., 1960 thì cây cao su có thể mọc tốt trong phạm vi pH từ 3,5 đến 7,5 Về hóa tính thì cây cao

su đòi hỏi không khắc khe vì có thể cải thiện được nhưng về lý tính thì bắt buộc phải tốt và tầng canh tác là một yếu tố cần xem xét trước khi trồng cao su Đất trồng cao

su lý tưởng phải có tầng canh canh tác sâu 2,0 m và không có tầng cản trở sự sinh trưởng của bộ rễ như đá tảng, mực thủy cấp treo Tuy nhiên, trên thực tế đất có tầng canh tác sâu khoảng 1,0 m là đạt yêu cầu

2.5 Các nghiên cứu về chủng loại và liều lượng phân bón trên cao su khai thác

Cây cao su (Hevea brasiliensis) là cây công nghiệp dài ngày, có nhu cầu dinh

Trang 21

Vì vậy, cho đến ngày nay việc nghiên cứu về chủng loại và liều lượng phân cho cao su vẫn đang được quan tâm và là một trong những biện pháp kỹ thuật quan trọng nhằm giải quyết vấn đề chất lượng, năng suất của vườn cây và hiệu quả đầu tư

2.5.1 Các nghiên cứu về chủng loại phân bón trên cao su khai thác

Nhu cầu dinh dưỡng của tất cả các cây trồng trên thế giới đều được chia thành 3 nhóm chính: phân đa lượng (N, P, K), phân trung lượng (Mg, Ca, S) và phân vi lượng (Fe, Mn, Cu, Zn, Mo, B và Cl)

Đối với phân đa lượng, dạng phổ biến của phân đạm (N) dành cho cao su là urea, phân lân (P) là quặng lân tự nhiên, lân nung chảy hoặc supper lân và phân kali (K) là kali clorua Theo Tống Viết Thịnh và cs (2007): quyết định chọn các loại phân trên là có cơ sở khoa học, đối với phân urea giúp cao su tạo cho cây sinh trưởng và cho năng suất mủ tốt hơn so với các dạng phân khác như: nitrat amon, sunphat amon Đối với phân kali (K), kali clorua giúp cây cho tăng trưởng chu vi

và năng suất mủ tốt hơn các loại phân kali khác như: sunphat kali, nitrat kali Đối với phân lân (P), theo những nghiên cứu trước đây, năng suất mủ và khả năng tăng trưởng của cao su ít có sự khác biệt giữa tác dụng của các loại phân lân khác nhau, tuy nhiên phân lân nung chảy có chứa thêm 16% MgO nên được lựa chọn nhiều nhất, lân nung chảy giúp tăng thêm hàm lượng Mg trên những vùng đất nghèo Mg[12], [11]

Đối với phân trung lượng (Ca, Mg, S) và phân vi lượng (Fe, Mn, Cu, Zn,

Mo, B và Cl), chỉ bón khi kết quả phân tích chuẩn đoán dinh dưỡng trong đất, trong lá cao su thấp Trên điều kiện thực tế ở cao su trưởng thành hiện tượng thiếu phân vi lượng ít khi xảy ra, chỉ có một số công trình nghiên cứu trên cao su non hoặc một số công trình mang tính khảo sát Mặc khác nếu bón thừa phân trung lượng hoặc vi lượng cũng làm ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và dòng chảy của mủ cao su [11], [12] Vì thế cần có sự phân tích, chẩn đoán dinh dưỡng chính xác trước khi quyết định bón phân trung và vi lượng cho cao su

Theo Watson (1962) cho biết: Bón quá nhiều N và P có thể kích thích mạnh sinh trưởng của cây trồng cũng có thể gây hại vì hình thành thế mất cân bằng giữa

Trang 22

các nguyên tố Chính vì vậy cây cao su trong giai đoạn kinh doanh cũng như trong giai đoạn KTCB đều yêu cầu đầy đủ dinh dưỡng khoáng N, P, K nếu đơn thuần 1 hoặc kết hợp hai yếu tố dinh dưỡng khoáng này đều làm cho sự tích lũy trong đất,

lá không được tốt, gây mất cân đối ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng và sản lượng mủ của cây cao su [9]

Theo Ngô Thị Hồng Vân và cs (2004), đối với phân hữu cơ vi sinh, trên cao

su khai thác sau 4 năm bón phức hợp phân hữu cơ vi sinh Fitohoocmon kết hợp với phân vô cơ NPK theo tỉ lệ 3-1-8 theo phương pháp chuẩn đoán dinh dưỡng thì cho năng suất mủ trên vườn cao su cao hơn so với bón phân thuần túy là 8%[16]

2.5.2 Các nghiên cứu về liều lượng phân bón trên cao su khai thác

Trên thực tế các nước trồng cao su khác nhau thì đưa ra công thức phân khuyến cáo khác nhau như: Viện NCCS Ấn Độ,1992 khuyến cáo lượng phân trên cao su khai thác là 30 kg N, 30 kg P2O5, 30 kg K2O[9] trên một ha Viện NCCS Sri Lanka, 1996 khuyến cáo lượng phân trên đất nhóm II là 100 g N/cây/năm, 100 g

P2O5/cây/năm, 100 g K2O/cây/năm[11] Theo Nguyễn Tử Siêm và cs trích dẫn từ IFA (International Fertilizer Association) năm 1992 đã khuyến cáo lượng phân trên cao su khai thác trên vùng núi đồi là 60 kg N/ha, 60 kg P2O5/ha, 180 kg

Trang 23

2.6 Hiệu quả của việc bón phân đa lượng N, P, K lên năng suất mủ

Theo Sethura, 1981: các yếu tố cấu thành năng suất mủ cao su bao gồm tốc độ dòng chảy ban đầu (F), chiều dài miệng cạo (l), hàm lượng cao su khô (Cr), chỉ số bít mạch mủ (p) và quan hệ với năng suất Y theo hệ thức: Y= F.l.Cr/p Biến thiên năng suất phụ thuộc vào những điều kiện khách quan bên ngoài như nhiệt độ, ánh sáng, hàm lượng dinh dưỡng trong đất, điều kiện khách quan bên trong như hệ thống mạch

mủ, thành phần hóa học của mủ nước, hàm lượng dinh dưỡng trong lá Trên thế giới hiện nay, qua những kết quả nghiên cứu về hiệu lực của phân bón trên cao su được công bố, xuất hiện hai trường phái: nhóm kết quả cho thấy phân bón có tác động rõ rệt lên năng suất mủ, nhóm còn lại không cho thấy kết quả rõ rệt của phân bón lên năng suất mủ

Theo Tống Viết Thịnh và cs (2007), biến động tăng giảm năng suất mủ có ý nghĩa thường xuyên xuất hiện đối với K, kế đến là N và P Như vậy cũng xác định sơ

bộ vai trò của K quan trọng hơn nhiều so với vai trò của N và P lên năng suất mủ cao

su Theo nhận định của Javaratnam (1969) đã được trích dẫn trong “Cây cao su” của Nguyễn Thị Huệ, 1997: bón N, P, K trong suốt thời gian cây cao su KTCB và tiếp tục bón tiếp đến 7,5 năm sau khi cạo đã giúp cây tăng sản lượng 49% và cây phát triển nhanh hơn 30% Theo Samarappuli, với sức sinh trưởng mạnh và nguồn dự trữ dinh dưỡng lớn trong cành, nhánh, lá cây khi trả về đất thông qua tàn dư thực vật, dưỡng chất mất đi do khai thác mủ là rất ít so với một số cây công nghiệp khác[11]

Từ vấn đề trên đã có những cơ sở khoa học được đưa ra để chứng minh tác động âm tính của phân bón lên năng suất mủ Vì vậy cần cân nhắc việc bón phân cho cao su khai thác hiện nay, có thể việc bón phân quá mức trong khi lượng dinh dưỡng

mà cây cao su trả về là rất lớn đã gây nên hiện tượng mất cân đối dinh dưỡng và hiện tượng âm tính của phân bón lên năng suất mủ Từ các kết quả nghiên cứu trên đã mở

ra một triển vọng lớn về việc giảm lượng phân bón cho cao su khai thác nhờ sự luân chuyển dinh dưỡng hữu hiệu khép kín Đây chính là cơ sở khoa học mấu chốt để thực hiện việc bón phân cân đối trên vườn cao su khai thác đã được quản lí dinh dưỡng ngay từ ban đầu

Trang 24

Chương 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Nội dung thí nghiệm

Khảo sát một số công thức phân bón kết hợp N, P, K cho cây cao su trong thời kỳ khai thác trên vùng đất đỏ bazan Lộc Ninh, vùng đất xám phù sa cổ Phước Hòa và Dầu Tiếng nhằm tìm ra được công thức phân thích hợp cho các vùng đất trên, đồng thời đưa ra khuyến cáo liều lượng phân bón phù hợp cho các đơn vị và người trồng cao su tại những vùng có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng tương tự

vùng thí nghiệm

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Thông tin các lô thí nghiệm

Trang 25

3.2.2 Chăm sóc quản lý

Các khâu chăm sóc, quản lý vườn cây thí nghiệm đều được thực hiện theo Quy trình 2004 của Tổng Công ty Cao su Việt Nam (nay là Tập đoàn công nghiệp

CS VN), ngoại trừ việc bón phân theo mục đích thí nghiệm

3.2.3 Nội dung nghiệm thức

Trên mỗi địa điểm bố trí 1 thí nghiệm 3 yếu tố với 3 mức nghiên cứu liều lượng phân đạm, lân, kali (kg/ha/năm):

Phân bổ lượng phân: tất cả các nghiệm thức đều bón một năm 2 lần vào đầu mùa mưa (tháng 5 - 6) và gần cuối mùa mưa (tháng 9 - 10)

Cách bón: lượng phân của mỗi phần cạo (ô cơ sở) được chia đều trên các rõng trên phần cạo đó ngoại trừ rõng giáp ranh của hai phần cạo liền kề thì không bón phân

Trang 26

: rõng giáp ranh của hai phần cạo liền kề - không bón phân

3.2.4 Bố trí thí nghiệm

Kiểu bố trí: thí nghiệm bố trí theo kiểu thừa số phân mảnh (Fractional factorial design) một lần nhắc lại, với 3 khối thiếu, mỗi khối thiếu có 9 nghiệm thức, 1 ô cơ sở là 1 phần cạo

Mỗi thí nghiệm bố trí trên 1 lô cao su, bố trí các ô cơ sở (phần cạo) liền

Trang 27

Kiểu sơ đồ thí nghiệm được bố trí như sau:

3.2.5 Các chỉ tiêu nghiên cứu

3.2.5.1 Kiểm trắng thí nghiệm

Thời gian: thực hiện vào tháng 6/2008

Chỉ tiêu kiểm trắng: kiểm trắng vanh cách mặt đất 1,6 m theo sơ đồ điểm của tất cả các cây cạo (kể cả cây khô miệng cạo), cây khô miệng cạo toàn phần, cây thực sinh, cây không hiệu quả (cây gãy, nhỏ không thể mở miệng cạo) và hố trống

3.2.5.2 Lấy mẫu và phân tích đất

Thời gian: trước thí nghiệm và tháng 05/2009 trước bón phân đợt I hàng năm Cách thực hiện: Tại mỗi nông trường lấy mẫu trên khối 1, tổng cộng có 9 mẫu đất/nông trường Mỗi nghiệm thức lấy 1 mẫu, mỗi mẫu là tập hợp của 10 mũi khoan theo 2 đường chéo góc của nghiệm thức đó Vị trí lấy mẫu: lấy mẫu trên rõng cao su, tại vị trí bón phân vào tháng 9 - 10 năm trước

Dọn sạch rác, cỏ tại vị trí lấy mẫu đất, sau đó dùng khoan khoan đến độ sâu 15cm, rút nhẹ khoan lên dùng tay gỡ sạch đất bám trong rãnh xoắn cho vào bao nylon, tiếp tục khoan tại vị trí cũ đến độ sâu 30 cm và lấy đất trong rãnh xoắn như trên Đất ở 2 độ sâu 0 - 15 cm và 15 - 30 cm được bỏ chung vào một bao nylon đựng mẫu Mỗi mẫu lấy khoảng 1 kg đất

Chỉ tiêu phân tích: pHH2O, pHKCl; các chất tổng số: C, N, P, K; P dễ tiêu; các chất trao đổi: K, Mg, Ca và độ no base V%

Trang 28

3.5.2.3 Lấy mẫu và phân tích lá

Thời gian: trước thí nghiệm và tháng 05/2009

Cách thực hiện:

Tại mỗi nông trường lấy mẫu trên khối I, tổng cộng có 9 mẫu lá/nông trường

Lá được lấy ở cành dưới thấp, trong bóng mát, mỗi cây lấy 2 lá kép ở tầng lá cuối cùng của cành Lá phải đạt 120 ngày tuổi Mỗi nghiệm thức lấy 1 mẫu, mỗi mẫu chọn 20 cây rãi đều trên nghiệm thức theo 2 đường chéo góc của nghiệm thức (mỗi mẫu có 120 lá đơn) Cây lấy mẫu là cây sinh trưởng bình thường, lá lành lặn, không khuyết tật

Các chỉ tiêu phân tích: N, P, K, Ca và Mg

3.2.5.4 Vanh thân cao su

Thời gian: trước thí nghiệm, tháng 12/2008 và tháng 05/2009

Cách thực hiện: quan trắc theo sơ đồ điểm trên tất cả các cây đánh dấu (không đánh dấu cây thực sinh, cây lẫn giống, cây bệnh, cây bị tổn thương, cây quá nhỏ so với trung bình của toàn vườn cây), dùng thước dây đo chu vi thân cây cách mặt đất

1,6 m tại vị trí đánh dấu, đơn vị đo là cm, có một số lẻ thập phân

3.2.5.5 Sản lượng mủ nước

Thời gian: quan trắc theo từng tháng trên từng phần cạo

Cách thực hiện: quan trắc trên từng phần cạo, quan trắc sản lượng mủ nước bằng thùng đong mủ trên tất cả các cây cạo của ô cơ sở

Cách tính sản lượng quy khô:

Trang 29

3.2.5.7 Bệnh khô miệng cạo toàn phần

Thời gian: trước thí nghiệm, tháng 12/2008, tháng 4, 5 và 6/2009

Cách thực hiện: quan trắc khô miệng cạo trên tất cả cây theo dõi theo sơ đồ điểm trên toàn bộ phần cạo Tỷ lệ khô miệng cạo (%) = (Số cây khô miệng cạo)/(tổng

số cây quan trắc)*100

3.2.5.8 Các bệnh phấn trắng và nấm hồng

Thời gian: trước thí nghiệm, tháng 12/2008, tháng 4, 5 và 6/2009

Quan trắc theo 5 điểm chéo góc trên từng phần cạo, bệnh nấm hồng, phấn trắng mỗi điểm 10 cây, loét sọc miệng cạo thì mỗi điểm 20 cây, phân cấp bệnh và tính chỉ số bệnh theo Qui trình kỹ thuật TCT CS 2004 (Phụ lục 20)

Xử lý thống kê bằng phần mềm Excel, SAS (Statistical Analysis System)

Trang 30

Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Ảnh hưởng của phân bón đến tích lũy dinh dưỡng trong đất và trong lá cao su 4.1.1 Hàm lượng dinh dưỡng trong đất trước và sau thí nghiệm tại 3 địa điểm thí nghiệm

Qua bảng 4.1: hàm lượng dinh dưỡng đất trước và sau thí nghiệm lô 9, nông trường Bố Lá, CTCS Phước Hòa nhận thấy: trước thí nghiệm độ pHH20 đạt giá trị từ thấp đến trung bình Hàm lượng chất C tổng số biến động trong khoảng từ 0,492% (thấp) đến 0,757% (trung bình), giá trị trung bình đạt 0,57% và nằm ở mức thấp Hàm lượng N cũng tương tự, nằm từ mức rất thấp đến thấp Hàm lượng P tổng số và

P dễ tiêu cũng nằm từ mức thấp đến trung bình Tương tự cho K tổng số và K trao đổi Riêng hàm lượng Mg nằm ở mức rất thấp trên tất cả các nghiệm thức

Tóm lại: qua bảng phân tích hàm lượng dinh dưỡng đất trước thí nghiệm tại lô

9, nông trường Bố Lá, CTCS Phước Hòa nhận thấy tình trạng đất nghèo dinh dưỡng, nguyên nhân xảy ra tình trạng trên có thể do lượng phân bón thấp trước thí nghiệm và quá trình rữa trôi, trực di tại lô thí nghiệm Mặc khác, nền đất trên lô 9 là đất xám, khả năng giữ chất dinh dưỡng kém vì thế một phần ảnh hưởng đến quá trình bón phân, phân bón bị trực di sau mỗi lần bón làm ảnh hưởng đến sự tồn lưu phân trong đất và khả năng hấp thụ dinh dưỡng trong cây Một nguyên nhân nữa là do hàm lượng mùn trong đất quá thấp (thể hiện ở hàm lượng C), từ đó dẫn đến tình trạng thiếu keo đất và giảm khả năng giữ chất dinh dưỡng trong đất

Trang 31

Bảng 4.1: Hàm lượng dinh dưỡng đất trước và sau thí nghiệm lô 9, nông trường Bố Lá, CTCS Phước Hòa

Trang 32

Sau 1 năm thí nghiệm phần nào đã cải thiện được tình trạng thiếu dinh dưỡng tại lô thí nghiệm Độ pHH20 đã tăng lên hầu hết các nghiệm thức đạt được mức trung bình, ngoại trừ nghiệm thức 1 và nghiệm thức 7 vẫn còn ở mức thấp Sự tăng độ

pHH20 là do bón phân lân nung chảy trong đó có chứa CaO và MgO, và từ đó dẫn đến hàm lượng Ca và Mg cũng đã tăng lên trên lô thí nghiệm, hàm lượng Ca sau thí

nghiệm biến động trong khoảng 0,189 lđl/100g đến 0,595 lđl/100g và giá trị trung

bình là 0,31 lđl/100g tăng 2,39 lần so với trước thí nghiệm

Hàm lượng Mg ở các nghiệm thức đã đạt được mức trung bình ngoại trừ nghiệm thức 4 và hàm lượng Mg đã tăng đáng kể trên các nghiệm thức Sự gia tăng của hàm lượng Ca và Mg do hàm lượng Ca và Mg có trong phân lân nung chảy và một yếu tố quan trọng giúp cho sự tăng lên của hàm lượng Ca và Mg chính là sự tăng lên không đáng kể của hàm lượng K tổng số trong đất (K/Ca và K/Mg là các cặp nguyên tố đối kháng) Hàm lượng P dễ tiêu sau thí nghiệm tăng 0.716 mg/100g so với trước thí nghiệm Các nguyên tố còn lại có sự tăng giãm tuy nhiên sự tăng giãm

đó không đáng kể

Trang 33

Bảng 4.2: Hàm lượng dinh dưỡng đất trước và sau thí nghiệm lô 54, nông trường Minh Thạnh, CTCS Dầu Tiếng

Trang 34

Phân tích hàm lượng dinh dưỡng trong đất tại lô 54, nông trường cao su Minh Thạnh, công ty cao su Dầu Tiếng (Bảng 4.2) nhận thấy rõ ràng trước thí nghiệm độ

pHH20 và hàm lượng C tổng số ở mức trung bình, các chất tổng số còn lại như N, P, K tổng số đều ở mức thấp ở tất cả các nghiệm thức, P dễ tiêu, K trao đổi cũng ở mức thấp, ngoài ra Mg còn ở mức rất thấp Nhìn chung hàm lượng dinh dưỡng trong đất trước thí nghiệm tương đối nghèo

Sau thí nghiệm, đã có sự thay đổi về nồng độ các chất dinh dưỡng Tuy nhiên, chỉ có sự tăng giãm hàm lượng các chất dinh dưỡng ở mức độ rất nhỏ C tổng số vẫn nằm ở mức trung bình, các chất tổng số còn lại như N, P, K tổng số vẫn ở mức thấp,

K đạt được mức trung bình nhưng vẫn còn 5 nghiệm thức 2, 3, 5, 6 và 7 nằm ở mức thấp Riêng hàm lượng P dễ tiêu đã có sự gia tăng đột biến so với trước thí nghiệm, sau thí nghiệm tất cả các nghiệm thức đều đạt mức cao thay vì là mức thấp trước thí nghiệm, hàm lượng P dễ tiêu đã tăng hơn 6,7 lần so với trước thí nghiệm Hàm lượng

Mg cũng tăng và đạt được mức thấp thay vì là mức rất thấp trước thí nghiệm, ngoại trừ nghiệm thức 1 và 2 vẫn nằm ở mức rất thấp

Tóm lại, sau thí nghiệm hầu như các chất tổng số không thay đổi so với trước thí nghiệm, tất cả chỉ nằm ở mức thấp đến trung bình Nguyên nhân có thể là do thời gian khá lâu sau khi bón phân (8 tháng) nên các chất dinh dưỡng đã được cây hấp thụ

và một phần bị trực di Các chất trao đổi thì có sự gia tăng nhiều hơn như hàm lượng

K đã tăng 1,89 lần so với trước thí nghiệm và hàm lượng Mg đã tăng 4,63 lần so với trước thí nghiệm nhưng chỉ đạt được mức thấp Riêng hàm lượng P dễ tiêu thì có sự gia tăng một cách đáng kể, hàm lượng P dễ tiêu sau thí nghiệm đã tăng trung bình là 4,321 mg/100g (gấp 6,7 lần) trên một nghiệm thức và giúp cho hàm lượng P dễ tiêu trong đất đạt mức cao ở tất cả các nghiệm thức Sự gia tăng hàm lượng các chất trao

Trang 35

Bảng 4.3: Hàm lượng dinh dưỡng đất trước và sau thí nghiệm lô 347, nông trường 1, CTCS Lộc Ninh

Trang 36

Qua bảng 4.3: phân tích hàm lượng dinh dưỡng trước và sau thí nghiệm tại lô

347, nông trường 1, CTCS Lộc Ninh và so sánh với bảng đánh giá tình trạng dinh dưỡng đất trồng cao su (phụ lục 8) nhận thấy: độ pHH20 đạt mức trung bình và sau thí nghiệm có giãm so với trước thí nghiệm, nguyên nhân là do hàm lượng Ca và Mg sau thí nghiệm cũng giãm xuống so với trước thí nghiệm, từ đó kéo theo sự tụt giãm của

độ pH trong đất Đặc biệt nhận thấy hàm lượng C tổng số đạt mức cao kể cả trước và sau thí nghiệm, điều đó chứng tỏ hàm lượng mùn trong đất thí nghiệm cao, ngoài ra các chất tổng số và trao đổi còn lại cũng đạt từ trung bình đến rất cao ngoại trừ hàm lượng K tổng số đạt giá trị thấp Nhìn chung, so với trước thí nghiệm thì hàm lượng các chất dinh dưỡng sau thí nghiệm có sự tăng giãm nhưng không đáng kể

Tóm lại, so với các nghiệm thức bố trí tại lô 9, CTCS Phước Hòa và lô 54, CTCS Dầu Tiếng thì các nghiệm thức bố trí trên lô 347, CTCS Lộc Ninh có hàm lượng dinh dưỡng cao hơn, nguyên nhân có thể khẳng định là các nghiệm thức trên lô

347 được bố trí trên nền đất đỏ bazan, với hàm lượng mùn cao hơn đất xám tại 2 lô thí nghiệm kia, vì thế hàm lượng dinh dưỡng ban đầu cao hơn các lô khác, với tác dụng của keo đất giúp làm giãm khả năng trực di của phân bón và giảm thất thoát, giúp cho đất giữ được hàm lượng dinh dưỡng sau khi bón phân trong một thời gian dài

Trang 37

4.1.2 Hàm lượng dinh dưỡng trong lá trước và sau thí nghiệm tại 3 nơi thí nghiệm

Bảng 4.4: Hàm lượng dinh dưỡng trong lá cao su trước và sau thí nghiệm lô 9, nông

trường Bố Lá, CTCS Phước Hòa

Trang 38

Hàm lượng P thì đạt mức từ hơi cao (nghiệm thức 3, 4) đến rất cao (nghiệm thức 2, 6, 7, 8), giá trị trung bình là 0,28% (đạt mức cao)

Tương tự hàm lượng K cũng nằm trong khoảng từ 0,99% ở nghiệm thức 1 đến 1,34% ở nghiệm thức 8 và giá trị trung bình là 1,15 đạt mức cao

Ca đạt thấp nhất ở nghiệm thức 5 (0,85%) và cao nhất ở nghiệm thức 3 (1,08%) Riêng hàm lượng Mg đạt mức thấp so với bảng thang đánh giá hàm lượng dinh dưỡng trong lá cao su, giá trị trung bình đạt 0,33% Nhìn chung, hàm lượng các chất dinh dưỡng trong lá cao su trước thí nghiệm lô 9 tương đối cao, có độ đồng đều giữa các nghiệm thức và độ biến động dinh dưỡng nhỏ, riêng hàm lượng Mg hơi thấp

Sau 1 năm thí nghiệm, hàm lượng dinh dưỡng trong lá cao su đã có phần tăng lên, cụ thể là hàm lượng N ở tất cả các nghiệm thức đều tăng và vẫn đạt ở mức rất cao (>3,74%), riêng nghiệm thức 3 và 8 có sự sụt giãm không đáng kể Hàm lượng P và K cũng tương tự, tất cả các nghiệm thức đều đạt ở mức rất cao Hàm lượng P tăng từ 0,01% đến 0,08%, còn hàm lượng K tăng từ 0,1% đến 0,44%

Hàm lượng Ca thì giãm so với trước thí nghiệm ở tất cả các nghiệm thức ngoại trừ nghiệm thức nghiệm thức 5 tăng 0,01% Hàm lượng Mg đã vượt mức thấp và đạt mức trung bình, giá trị trung bình hàm lượng Mg ở các nghiệm thức là 0,36%

Tóm lại: sau thí nghiệm hàm lượng N, P, K đã tăng lên nhờ việc bón phân đầy đủ, tuy nhiên sự gia tăng đó không cao bởi vì trước đó hàm lượng N,

P trong lá cao su đã cao nên khả năng thiếu hụt các hàm lượng trên là không nhiều, vì thế khi bón phân thì sự hấp thu này là không đáng kể Riêng hàm lượng K trước thí nghiệm đạt mức từ hơi cao đến cao và trong quá trình thí

Trang 39

Bảng 4.5: Hàm lượng dinh dưỡng trong lá cao su trước và sau thí nghiệm lô 54, nông

trường Minh Thạnh, CTCS Dầu Tiếng

số biến động từ trên trung bình (>3,23%) đến hơi cao (>3,40%), hàm lượng P đạt

từ hơi cao (0,23%) đến rất cao (0,28%), hàm lượng K biến động rộng trong khoảng từ hơi thấp ở nghiệm thức 1 đến hơi cao ở nghiệm thức 5, 8 và 9 Hàm lượng Ca nằm trong khoảng từ 0.56% đến 1,84%, với giá trị trung bình là 1% Riêng hàm lượng Mg biến động rất rộng trong khoảng từ rất thấp ở nghiệm thức

3, 4 và 5 đến rất cao ở nghiệm thức 1, giá trị trung bình đạt hơi thấp (0,34%)

Trang 40

Sau 1 năm thí nghiệm, hàm lượng tích lũy dưỡng chất trong lá tăng lên một cách đáng kể, hàm lượng N đã tăng lên rõ rệt tất cả các nghiệm thức sau thí nghiệm đều tăng, thấp nhất là ở nghiệm thức 1 đạt 3,54% (hơi cao) tăng so với trước thí nghiệm 0,23% và cao nhất là hàm lượng N ở nghiệm thức 3 đạt 3,92% (rất cao) tăng

so với trước thí nghiệm 0,51% Hàm lượng P cũng tăng mạnh, tất cả các nghiệm thức đều đạt mức rất cao, giá trị trung bình đạt 0,31% (rất cao) Hàm lượng K biến động trong khoảng 1% (hơi cao) ở nghiệm thức 3 đến 1,25% (rất cao) ở nghiệm thức 5 Các nghiệm thức còn lại đều tăng và giá trị trung bình đạt 1,15% (cao) tăng so với trước thí nghiệm 0,24% Riêng hàm lượng Mg có sự tăng giảm giữa các nghiệm thức, trong đó sự sụt giãm Mg xảy ra ở các nghiệm thức 1 (giãm 0,13%), nghiệm thức 2 (giãm 0,02%), các nghiệm thức còn lại tăng không đáng kể trong đó hàm lượng Mg tăng cao nhất ở nghiệm thức 4 và 8 (tăng 0,05%) Hàm lượng Ca của một số nghiệm thức sau 1 năm thí nghiệm bị sụt giãm so với trước thí nghiệm, cụ thể là nghiệm thức

1 giãm mạnh nhất với mức giãm là 0,87%, nghiệm thức 4 giãm thấp nhất với 0,05% Trong đó các nghiệm thức có sự tích lũy hàm lượng Ca lại tăng lên không đáng kể

Từ sự tăng lên không đáng kể nhưng sự sụt giãm xảy ra mạnh đã làm cho hàm lượng

Ca tích lũy trong lá cao su sau 1 năm thí nghiệm với giá trị trung bình là 0,88% giãm 0,12% so với trước thí nghiệm

Tóm lại: sau 1 năm thí nghiệm hàm hàm lượng các chất dinh dưỡng tích lũy trong lá thay đổi một cách rõ rệt, đã có những nguyên tố tăng lên và cũng có những nguyên tố giãm xuống, hàm lượng N, P, K đã được bổ sung đáng kể và đạt được mức cao đến rất cao khi so với bảng đánh giá hàm lượng dinh dưỡng trong lá cao su Tuy nhiên chưa bổ sung được hàm lượng Mg, vẫn nằm ở mức hơi thấp, riêng hàm lượng

Ca lại bị sụt giãm, nguyên nhân một phần có thể khẳng định sự sụt giảm của nguyên

Ngày đăng: 18/09/2018, 07:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w