TÓM TẮT Đề tài nghiên cứu “So sánh tám giống lúa có triển vọng trong vụ Đông Xuân 2008 – 2009 tại Ayun Hạ, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai” đã được tiến hành trên nền đất của Trại thực
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
SO SÁNH TÁM GIỐNG LÚA CÓ TRIỂN VỌNG TRONG VỤ
ĐÔNG XUÂN 2008 – 2009 TẠI AYUN HẠ, HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI
Họ và tên sinh viên: HUỲNH THỊ LIÊN
Ngành: NÔNG HỌC Niên khoá: 2005 – 2009
Tháng 08/2009
Trang 2SO SÁNH TÁM GIỐNG LÚA CÓ TRIỂN VỌNG TRONG VỤ ĐÔNG XUÂN
2008 – 2009 TẠI AYUN HẠ, HUYỆN PHÚ THIỆN,
TỈNH GIA LAI
Tác giả
HUỲNH THỊ LIÊN
Khoá luận được đề trình để đáp ứng yêu cầu
cấp bằng kỷ sư nông nghiệp ngành Nông học
Giáo viên hướng dẫn:
ThS CAO XUÂN TÀI
Tháng 08 năm 2009
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Để thực hiện được đề tài này ngoài sự nổ lực của bản thân còn là sự đóng góp giúp
đỡ của rất nhiều người Vì vậy, khi hoàn thành khoá luận này em xin chân thành cảm ơn đến:
Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
Ban chủ nhiệm khoa Nông Học đã quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập tại trường
Quý thầy cô khoa Nông Học đã tận tình giảng dạy những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập
Thầy cô phụ trách phân hiệu Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh tại Gia Lai
Em xin chân thành biết ơn sâu sắc:
Th.S Cao Xuân Tài, giảng viên môn học Cây lúa đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này với tất cả tinh thần trách nhiệm và lòng nhiệt tình
Ban lãnh đạo Trung tâm nghiên cứu giống cây trồng tỉnh Gia Lai đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt đề tài
Anh Thái Doãn Cần, trưởng trạm trại thực nghiệm giống cây trồng Ayun Hạ đã nhiệt tình giúp đỡ
Xin chân thành ghi khắc công ơn cha mẹ đã sinh thành và nuôi dạy tôi nên người,
sự động viên khích lệ của mọi người trong suốt thời gian qua
Xin cảm ơn tất cả các bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập
và thực hiện đề tài
Sinh viên thực hiện
Huỳnh Thị Liên
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “So sánh tám giống lúa có triển vọng trong vụ Đông Xuân 2008
– 2009 tại Ayun Hạ, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai” đã được tiến hành trên nền đất
của Trại thực nghiệm giống cây trồng Ayun Hạ, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia lai Thời gian tiến hành thí nghiệm được tiến hành từ 16/01/2008 đến 17/05/2009 Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẩu nhiên với 03 lần lập lại, 08 nghiệm thức với 24 ô thí nghiệm Gồm 08 giống lúa là: MT36, CH16, XT27, SH14, DT45, X26, X32, ML48 (giống đối chứng)
Kết quả thu được:
Thời gian sinh trưởng của các giống lúa từ 105 - 119 ngày theo phương thức cấy, giống có thời gian sing trưởng ngắn nhất là giống đối chứng ML48 (105 ngày) và giống
có thời gian sinh trưởng dài nhất là CH16 (119 ngày), phù hợp cho những vùng canh tác
2 vụ/năm
Các giống lúa có đặc điểm tốt: đều có dạng hình tương đối gọn, cứng cây, ít đổ ngã Có chiều cao trung bình từ 75,67 cm đến 98,89 cm Lá đòng thẳng và to, bông trổ thoát, chiều dài bông ngắn, đẻ nhánh mạnh
Các giống lúa có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt
Các giống lúa đều có chất lượng gạo khá, hạt gạo thuộc loại bán thon, thon Riêng giống XT27 có phẩm chất gạo tốt, hạt gạo thon dài
Năng suất: Giống có năng suất cao nhất là X26 (64,67 tạ/ha), SH14 (62,30 tạ/ha) Các giống có năng suất thấp hơn là CH16 (58,67 tạ/ha), X32 (56,00 tạ/ha), XT27 (55,00 tạ/ha), DT45 (54,83 tạ/ha), MT36 (54,00 tạ/ha) Giống đối chứng ML48 cho năng suất thấp nhất (50,00 tạ/ha)
Trang 5MỤC LỤC
Nội dung Trang
Trang tựa… i
Lời cảm tạ ii
Tóm tắt iii
Mục lục iv
Danh sách các chữ viết tắt vii
Danh sách các hình viii
Danh sách các bảng và biểu đồ ix
Danh sách các bảng………… .ix
Danh sách các biểu đồ ix
Chương 1 MỞ ĐẦU 1U 1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3U 2.1 Tầm quan trọng của cây lúa 3
2.2 Nguồn gốc và phân loại 3
2.2.1 Nguồn gốc 3
2.2.2 Phân loại 4
2.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên thế giới 4
2.3.1 Tình hình sản xuất 4
2.3.2 Tình hình nghiên cứu lúa 5
2.3.2.1.Cuộc Cách Mạng Xanh trong ngành trồng lúa 5
2.3.2.2.Nghiên cứu về lúa lai 7
2.3.2.3.Nghiên cứu về siêu lúa 7
2.3.2.4 Một số tiến bộ trong công nghệ sinh học lúa 8
Trang 62.4 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trong nước 9
2.4.1 Tình hình sản xuất 9
2.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 11
2.5 Tình hình sản xuất lúa ở tỉnh Gia Lai 13
Chương 3.VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15U 3.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 15
3.2 Đất đai thí nghiệm 15
3.3 Khí hậu thời tiết nơi thí nghiệm 16
3.4 Vật liệu thí nghiệm 17
3.5 Phương pháp nghiên cứu 17
3.5.1 Bố trí thí nghiệm 17
3.5.2 Quản lý và chăm sóc 19
3.5.2.1 Phân bón 19
3.5.2.2 Phương pháp canh tác 19
3.6 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 20
3.6.1 Các chỉ tiêu về hình thái 20
3.6.2 Các chỉ tiêu nông học 22
3.6.3 Chỉ tiêu sinh lý 22
3.6.3.1 Trọng lượng chất khô 22
3.6.4 Chỉ tiêu sâu bệnh hại 22
3.6.4.1 Rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal ) 23
3.6.4.2 Sâu cuốn lá (Cnaphalocrosis medinalis Guenee) 23
3.6.4.3 Sâu đục thân (Tryporyza incertulas W.) 23
3.6.4.4 Bệnh đạo ôn (Pyricularia oryzae Cav.et Shi.) 24
3.6.5 Các chỉ tiêu về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 24
3.6.6 Các chỉ tiêu về phẩm chất gạo: 25
3.7 Xử lý số liệu 26
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Đặc trưng về hình thái các giống lúa 27
Trang 74.1.1 Thân lúa 27
4.1.2 Lá lúa .28
4.1.3 Bông lúa 28
4.2 Các chỉ tiêu nông học 29
4.2.1 Thời gian sinh trưởng và phát dục 29
4.2.2 Động thái và tốc độ tăng trưởng chiều cao 30
4.2.3 Động thái và tốc độ đẻ nhánh 32
4.2.4 Khả năng đẻ nhánh và tỷ lệ nhánh hữu hiệu .33
4.3 Chỉ tiêu sinh lý 34
4.3.1 Động thái tích luỹ chất khô 34
4.4 Tính chống chịu sâu bệnh 35
4.5 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 36
4.5.1 Số bông/m2 37
4.5.2 Số hạt/bông 38
4.5.3 Số hạt chắc/bông 38
4.5.4 Tỷ lệ hạt lép 38
4.5.5 Trọng lượng 1000 hạt 38
4.5.6 Năng suất lý thuyết 39
4.5.7 Năng suất thực tế .39
4.6 Phẩm chất gạo thí nghiệm 39
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 41
5.1 Kết luận 41
5.2 Đề nghị 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
PHỤ LỤC 44
Trang 88 FAO Food and Agriculture Origanzation of the United Nations (Cơ quan Lương Nông Liên Hợp Quốc)
9 IRRI International Rice Research Institute (Viện Nghiên Cứu Lúa Gạo Quốc Tế)
14 p1000 hạt Trọng lượng 1000 hạt
15 Ha Hectare (mẫu tây)
16 IRC International Rice Commission (Ủy Ban Lúa Gạo Quốc Tế)
17 WTO Word Trade Organization
Trang 9DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình Trang
Hình 1: Toàn cảnh khu thí nghiệm giai đoạn chín 47
Hình 2: Giống MT 36 47
Hình 3: Giống CH 16 48
Hình 4: Giống XT 27 48
Hình 5: Giống SH 14 49
Hình 6: Giống DT 45 49
Hình 7: Giống X 26 50
Hình 8: Giống X 32 50
Hình 9: Giống ML 48 51
Hình 10: Lô bảo vệ 51
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
DANH SÁCH CÁC BẢNG Trang
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa ở các vùng và thế giới năm 2004 5
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa trung bình của Việt Nam qua các thời kỳ và các năm .10
Bảng 2.3: Biến động về diện tích - sản lượng lúa huyện Phú Thiện 14
Bảng 3.1: Đặc điểm đất đai khu thí nghiệm 15
Bảng 3.2: Số liệu khí tượng trong khu vực thí nghiệm từ tháng 1 – 5 năm 2009 16
Bảng 3.3: Bảng mã hoá nghiệm thức 17
Bảng 4.1: Đặc trưng hình thái các giống lúa thí nghiệm 27
Bảng 4.2: Thời gian sinh trưởng và phát dục của các giống lúa thí nghiệm 29
Bảng 4.3: Động thái tăng trưởng chiều cao cây (cm) 31
Bảng 4.4: Tốc độ tăng trưởng chiều cao của các giống lúa (cm/ngày) 31
Bảng 4.5: Động thái đẻ nhánh của các giống lúa (nhánh/bụi) 32
Bảng 4.6: Tốc độ đẻ nhánh của các giống lúa (nhánh/bụi/ngày) 33
Bảng 4.7: Khả năng đẻ nhánh và tỷ lệ nhánh hữu hiệu của các giống lúa 34
Bảng 4.8: Động thái tích luỹ chất khô (gram chất khô/bụi) 35
Bảng 4.9: Tính chống chịu sâu bệnh của các giống lúa thí nghiệm 35
Bảng 4.10: Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suât 37
Bảng 4.11: Phẩm chất gạo của các giống lúa thí nghiệm 39
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 4.1 Động thái tăng trưởng chiều cao của các giống lúa 44
Biểu đồ 4.2 Tốc độ tăng trưởng chiều cao của các giống lúa 44
Biểu đồ 4.3 Động thái đẻ nhánh của các giống lúa 45
Biểu đồ 4.4 Tốc độ đẻ nhánh của các giống lúa 45
Biểu đồ 4.5 Động thái tích lũy chất khô của các giống lúa 46
Biểu đồ 4.6 Năng suất thực tế và năng suất lý thuyết của các giống lúa 46
Trang 12Việt Nam là một trong những nước sản xuất lúa gạo lớn trên thế giới Những năm gần đây sản xuất lúa gạo Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể, năng suất, sản lượng và chất lượng lúa gạo ngày càng được nâng cao Gần đây, cùng với việc hội nhập WTO, Việt Nam đứng hàng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu lúa gạo đã góp phần nâng cao vị thế của nước trên trường quốc tế Đạt được thành tựu này là do chúng ta tập trung
áp dụng các biện pháp thâm canh, đầu tư cải tiến kỹ thuật Trong đó công nghệ về giống lúa đóng vai trò then chốt đã tạo điều kiện bố trí lại cơ cấu phù hợp với từng vùng, từng
vụ làm tăng năng suất và sản lượng, chất lượng có hiệu quả
Trong bối cảnh dân số ngày càng gia tăng, diện tích canh tác ngày càng thu hẹp, giá lúa giống và phân bón ngày càng gia tăng thì việc thâm canh tăng năng suất, đặc biệt
là tạo ra các giống lúa mới có năng suất cao, phẩm chất tốt, chín sớm, chống chịu sâu bệnh, chống chịu hạn, là nhu cầu rất cấp thiết để góp phần nâng cao đời sống của người nông dân
Huyện Phú Thiện thuộc tỉnh Gia Lai là huyện mới được tách ra từ thị xã Ayunpa
Do tập quán nông dân ở đây vẫn còn dùng giống cũ, phần lớn tự để giống và trao đổi giữa nông dân với nhau, chỉ có một số ít nông dân mua giống từ các cơ quan chuyên sản xuất giống Từ đó làm cho cơ cấu giống trong vùng đa số là không rõ nguồn gốc, năng suất thấp, phẩm chất kém, nhiều sâu bệnh Đứng trước thực trạng này, Trung tâm nghiên
Trang 13cứu giống cây trồng tỉnh đã triển khai các Trại trực thuộc tiến hành khảo nghiệm và so sánh các bộ giống lúa có triển vọng tại địa phương, nhằm tuyển chọn những giống lúa tốt
có năng suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu sâu bệnh khá, có khả năng thích ứng với điều kiện sinh thái và tập quán canh tác của nông dân để tiến hành nhân rộng và phổ biến sản xuất đại trà thay thế các giống lúa cũ đã thoái hoá cho năng suất thấp
Được sự đồng ý của Khoa Nông Học, Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, với sự giúp đỡ của Trung tâm nghiên cứu giống cây trồng tỉnh Gia Lai, đề tài “So sánh tám giống lúa có triển vọng trong vụ Đông Xuân 2008 - 2009 tại Ayun Hạ, huyện
Phú Thiện, tỉnh Gia Lai” được thực hiện
1.2.2 Yêu cầu
Theo dõi và đánh giá các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển, khả năng thích ứng, khả năng chống chịu sâu bệnh, điều kiện khí hậu bất lợi và khả năng cho năng suất, phẩm chất theo qui định khảo nghiệm giống lúa
Rút ra được ưu điểm, nhược điểm của các giống lúa tham gia thí nghiệm, từ đó đưa ra giống có triển vọng để bổ sung nguồn giống lúa cho địa phương
Trang 14Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tầm quan trọng của cây lúa
Lúa gạo giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp dinh dưỡng cho con người Hạt gạo chứa 80% tinh bột, 7,5% prôtêin, vitamin và các chất khoáng cần thiết cho con người Ngành sản xuất lúa gạo còn cung cấp công ăn việc làm cho hàng triệu người dân cả ở nông thôn lẫn thành thị, đồng thời nó còn đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị và xã hội ở những nước lấy lúa gạo là nguồn lương thực chính (Trần Văn Đạt, 2005)
Ở Việt Nam, lúa gạo trở thành một nét trong đời sống văn hoá và tinh thần của người dân Việt vì nước ta đã có một nền văn minh lúa nước từ lâu đời Cây lúa cũng là hình ảnh gắn liền với nhiều truyền thuyết, lễ hội, dân tộc (Bùi Huy Đáp, 1999) Ngày nay, lúa gạo không những là lương thực chính của người dân Việt Nam mà còn làm giàu cho nông dân và cho đất nước thông qua việc xuất khẩu lúa gạo
2.2 Nguồn gốc và phân loại
2.2.1 Nguồn gốc
Cây lúa có nguồn gốc lịch sử từ lâu đời, cho tới nay vẫn chưa biết chính xác thời gian và địa điểm phát sinh của nó Có nhiều giả thuyết khác nhau về nguồn gốc của cây lúa nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng cây lúa xuất phát từ Đông Nam
Á (Bài giảng cây lúa, 2008), cơ sở của ý kiến này là:
- Diện tích trồng lúa của thế giới chủ yếu tập trung ở Đông Nam Á
- Điều kiện khí hậu nóng và ẩm thích hợp cho cây lúa sinh trưởng và phát triển
- Về mặt lịch sử thực vật học, lúa trồng hiện nay là do lúa hoang dại qua quá trình chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo mà thành
Trang 15Cây lúa Việt Nam (Oryza sativa L) còn được gọi là lúa châu Á, vì nó đã được
thuần hoá từ lúa dại ở ba trung tâm đầu tiên ở Đông Nam Á, Assam (Ấn Độ), biên giới Thái Lan, Myanmar và Trung Du Tây Bắc Việt Nam (Nguyễn Văn Luật, 2001)
Lúa nước nguồn gốc từ châu Á và châu Phi được trồng tới 90% diện tích của châu
Á (FAO 2006), và đã được Alexandre đại đế nhập vào châu Âu vào thời điểm 300 năm trước Công Nguyên Lúa nước là loài cốc có năng suất cao nhất, có loại hạt dài (Indica), loại hạt bầu ngắn (Japonica)
Cây lúa có phạm vi phân bố rất rộng, từ vĩ độ 300B đến 400N, ở độ cao từ 0 đến
3000 m so với mặt biển Nhưng chủ yếu là tập trung sản xuất ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương
2.2.2 Phân loại
- Giới: Plantae (thực vật)
- Ngành: Angiospermes (thực vật hạt kín)
- Lớp: Monocotyledonae (lớp thực vật một lá mầm)
- Bộ: Poales (hòa thảo)
- Họ: Poaceae (hoà thảo)
- Chi: Oryza
Có 19 loài, có tổng nhiễm sắc thể từ 24 - 48 n (Cao Xuân Tài, 2008) Loài Oryza
sativa và Oryza glaberrima là hai loài lúa trồng, còn lại là lúa dại Trong đó, Oryza sativa
là lúa trồng phổ biến ở châu Á, còn loài Oryza glaberrima được trồng phổ biến ở châu Phi Riêng loài Oryza sativa có hai loài phụ là loài phụ Indica (lúa tiên), loài phụ Japonica
Trang 16Mặc dù có xu hướng tăng trong nhiều thập niên qua, tình trạng sản xuất lúa thế
giới vẫn còn thấy thất thường theo điều kiện khí hậu hàng năm vì hơn 40% diện tích lúa
trồng hiện nay còn lệ thuộc vào nước trời (Trần Văn Đạt, 2005) Sản lượng lúa của thế
giới giảm từ 611 triệu tấn năm 1999 xuống 598 triệu tấn năm 2001, 569 triệu tấn năm
2003 và tăng trở lại 605 triệu tấn năm 2004 và 618 triệu tấn năm 2005 (FAOSTAT,
2006) Châu Á luôn chiếm ưu thế sản lượng lúa gạo thế giới, với 90% sản lượng (546
triệu tấn) năm 2004, châu Phi 3%, châu Mỹ 6%, châu Âu và Baltics 0,5% (Bảng 2.1)
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa ở các vùng và thế giới năm 2004
Diện tích Năng suất Sản lượng Thị phần sản Vùng trồng lúa (ha) (tạ/ha) (triệu tấn) lượng(%)
(Nguồn: Faostat Citation, 2005)
2.3.2 Tình hình nghiên cứu lúa
2.3.2.1.Cuộc Cách Mạng Xanh trong ngành trồng lúa
Trước cuộc Cách Mạng Xanh, đã có những cuộc cách mạng trồng lúa âm thầm xảy
ra ở những nước đã phát triển Nhật Bản là nước dẫn đầu cuộc cách mạng âm thầm đó
Nhật và Đài Loan đã tiến một bước dài trong cơ cấu tạo giống lúa có năng suất bình quân
cao từ 4 - 6 tấn/ha Trong khi Việt Nam và các quốc gia khác ở châu Á không đạt được
những tiến bộ trong lĩnh vực làm tăng năng suất lúa (chỉ 1,2 tấn/ha) Các chuyên gia Nhật
Trang 17tạo hàng loạt các giống Japonica lùn, thân cứng, lá đâm thẳng, phản ứng đạm cao và có tiềm năng năng suất cao, nhưng gạo dẻo (Trần Văn Đạt, 2005)
Vào thập niên 1950, một số quốc gia đã thành công trong việc lai tạo được các giống lúa lùn hoặc nửa lùn như Jaya của Ấn Độ; H4, H5 của Sri Lanka; BPI - 76 của Philippines (1956), Taichung Native 1 của Đài Loan Giống Taichung Native 1, loại lúa
indica, thấp giàn, có năng suất cao từ 6 - 8 tấn/ha, được phổ biến vào năm 1956 và trở nên
thông dụng ở châu Á và châu Phi
Cũng vào thập niên 1950, Chương Trình Lai Giống Indica X Japonica của Ủy Ban
Lúa Gạo Quốc Tế (IRC), FAO được thực hiện với sự tham dự của nhiều quốc gia ở châu
Á Những nước này gởi các giống có năng suất cao của họ cho Viện Nghiên Cứu Lúa Gạo
ở Cuttack, Ấn Độ để lai tạo với giống lúa japonica Từ thế hệ thứ hai, F2, hạt giống được gởi đến các nước hội viên tiếp tục công việc tuyển lựa Trong chương trình này, các giống lúa ADT 27 tuyển lựa ở Tamil Nadu, Ấn Độ và giống lúa Malija và Mashuri tuyển lựa ở Malaysia được phổ biến rộng rãi (Trần Văn Đạt, 2005)
Cuộc Cách Mạng Xanh đã xảy ra trên thế giới, đặc biệt tại châu Á, châu Âu và châu Mỹ từ giữa thập niên 1960 đến 1990, nhờ vào việc tìm ra gen của cây lùn thấp để làm cho cây có thể hấp thu nhiều phân bón và sản xuất nhiều hạt thay vì nhiều lá và đổ ngã
Đồng thời IRRI, Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc tế được thành lập năm 1960 ở Los Banos, Philippine IRRI đã lai tạo ra giống lúa nửa lùn IR8 từ giống lúa Deo woo gen, thấp, ngắn ngày của Đài Loan với giống lúa Peta, cao giàn của Indonesia Lúa IR8, cây nửa lùn, nhiều chồi, lá thẳngđứng, xanh đậm, chống đỗ ngã, kháng sâu bệnh và phản ứng đạm cao đến 200 kgN/ha, có tiềm năng năng suất có thể đạt đến 11 tấn/ha trong điều kiện khí hậu nhiệt đới (Trần Văn Đạt, 2005)
Thành công của cuộc Cách Mạng Xanh đã làm sản lượng lúa thế giới tăng gần gấp
ba, đã giúp cho nhiều dân tộc trên thế giới thoát khỏi nạn đói, thay đổi cơ cấu trồng lúa và
xã hội nông thôn, mang đến lợi nhuận đáng kể cho nông dân
Trang 182.3.2.2.Nghiên cứu về lúa lai
Phương pháp tạo hạt giống lai và sản xuất đại trà chỉ được thành công đầu tiên ở Trung Quốc vào giữa thập niên 1970, ở Việt Nam và Ấn Độ vào giữa thập niên 1990 và Philippines vào những năm đầu thế kỷ XXI Trong vòng 20 năm (1976 - 1995), Trung Quốc gieo trồng 650 triệu ha lúa, trong đó có 190 - 200 triệu ha lúa lai, năng suất lúa cao hơn lúa thuần 2,02 tấn/ha Nhờ đó sản lượng lương thực tăng từ 19 đến 20 triệu tấn/năm Điều này đã giúp trung Quốc giải quyết thành công an ninh lương thực cho 1,3 tỷ người
Theo thử nghiệm tại các trung tâm nghiên cứu và ruộng của nông dân, lúa lai cho năng suất cao hơn lúa thương mại thông dụng từ 15 đến 20% nhờ tính chất ưu thế lai Đa
số lúa lai được trồng hiện nay là lúa 3 dòng: dòng bất dục đực (cytoplasmic male sterility), dòng duy trì (maintainer) và dòng phục hồi (restorer) Trung Quốc hiện đang trồng 15 triệu ha lúa lai mỗi năm Nhờ chương trình lúa lai này, Trung Quốc đã giảm diện tích trồng lúa toàn quốc gia trong hơn hai thập niên qua, nhưng vẫn đủ nuôi 1,25 tỷ dân và
đã chuyển đổi hàng triệu ha trồng lúa qua các hoa màu khác có giá trị cao hơn hoặc các ngành nghề khác có lợi nhuận lớn hơn
Lúa lai hai dòng không cần đến dòng phục hồi, nhưng phải nhờ đến dòng bất dục đực chịu nhiệt cảm TGMS (temperature - sensitive genetic male sterility) hoặc cảm quang PGMS (photoperiod - sensitive male sterility) Nếu nhiệt độ trên 280C hoặc thời gian chiếu sáng (hay ánh sáng ban ngày) trên 14 giờ, dòng này sẽ bất dục Năm 1983, dòng PGMS được tìm thấy ở tỉnh Hubei, Trung Quốc và năm 1987 gen tương hợp lúa dại giữa lúa Indica và Japonica được phát kiến ở Nhật Bản Trong thời gian qua có rất nhiều tiến
bộ trong kỹ thuật lúa lai 2 dòng, chủ yếu ở Trung Quốc
2.3.2.3.Nghiên cứu về siêu lúa
Viện nghiên cứu lúa gạo quốc tế tại Los Banos, Philippines đã bắt đầu nghiên cứu
về phương diện sinh lý cây lúa để tạo thành loại lúa siêu đẳng từ năm 1985 và bắt đầu lai giống lúa siêu đẳng từ năm 1989 Họ dùng chiến lược hai bậc: (1) trước hết tạo giống lúa giữa Indica Và Japonica nhiệt đới để có 12,5 tấn/ha và (2) sau đó dùng phương pháp lúa
ưu thế lai để tăng từ 12,5 tấn/ha lên 15 tấn/ha Họ hy vọng có được giống lúa siêu đẳng này để nông dân trồng vào năm 2005 Hiện nay, Viện đã tạo được những dòng có năng
Trang 19Để hoàn thành mục tiêu trên, lúa siêu đẳng cần hội đủ các tiêu chuẩn của cây lúa như sau: 3 - 4 chồi mỗi bụi lúa, 200 - 250 hạt trên mỗi bông, 90 - 100 cm chiều cao, thân cứng, lá dày, xanh đậm và thẳng đứng, hệ thống rễ mạnh, 100 - 130 ngày, kháng những sâu bệnh quan trọng và chất lượng cao Lúa siêu đẳng đã thành công ở các nước vùng ôn đới vì khí hậu các nơi này thuận lợi hơn trong đó thời gian ngậm sữa kéo dài hơn từ 40 -
50 ngày nhờ nhiệt độ thấp vào cuối vụ
2.3.2.4 Một số tiến bộ trong công nghệ sinh học lúa
• Gen có enzyme
Gen có enzyme ngăn cản thành lập protein và Alpha - amylase trong côn trùng được chú ý tới như là một thành phần trong hệ thống bảo vệ thiên nhiên đối với côn trùng Chuyên gia đã chuyển gen chống tạo thành chất trypsin của đậu rằn (Cpti) cho cây lúa để chống sâu đục thân 5 vạch và sâu đục thân màu hồng (Xu te al, 1996)
• Cải thiện tổng hợp sinh học chất tinh bột
ADP - glucose phyrophosphorylase (ADPGPP) là một loại enzyme quan trọng trong điều chỉnh tổng hợp chất tinh bột ở mô thực vật IRRI đã truyền gen glgc 16 (từ E.coli) của giống khoai tây qua cây lúa để làm tăng tổng hợp chất tinh bột vì gen này làm tăng tinh bột trong khoai tây (Khush, 1999)
• Cây lúa C4
Các nhà khoa học và trường Đại học tiểu bang Washington ở Mỹ đã sử dụng hệ thống Agrobacterium để đưa gen quang hợp C4 từ cây bắp vào cây lúa Japonica và làm tăng mức quang hợp của cây lúa này lên 30%, bằng cách biến đổi loài lúa C3 thành loài lúa C4, nhưng kết quả còn đang được đánh giá
Trang 202.4 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trong nước
2.4.1 Tình hình sản xuất
Việt Nam nằm trên kinh tuyến 15 và giữa vĩ tuyến 80 đến 230 vĩ bắc, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Do đó, khí hậu và đất đai tương đối thuận lợi cho ngành trồng lúa Trong 4 thập niên vừa qua, diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam tăng khá nhanh Diện tích trồng lúa tăng từ 4,805 triệu ha trong 1966 - 1970 lên 4,447 triệu ha trong 2001 - 2005 Năng suất bình quân từ 1,875 tấn/ha trong những năm 1966 - 1970 lên 2,979 tấn/ha trong 1986 - 1990 và đạt mức bình quân 34,7 triệu tấn trong giai đoạn 2001 -
2005 (bảng 2.2)
Trong 40 năm qua, ngành trồng lúa ở Việt Nam bị ảnh hưởng đậm nét qua các chính sách của nhà nước và cuộc Cách Mạng Xanh Trước năm 1975, Cách Mạng Xanh xảy ra ở cả hai miền Nam và Bắc Việt Nam, nhưng do chiến tranh nên không phát huy đúng mức Từ năm 1976 - 1986, nền nông nghiệp tổ chức theo hệ thống tập thể, đất đai
do Nhà nước quản lý nên sản xuất lúa trong giai đoạn này bị trì trệ Giai đoạn từ 1981 -
1987, Nhà nước đã có chính sách mới, bắt đầu có chế độ khoán trong sản xuất, nhưng hoạt động trong hợp tác xã Sản xuất trong nước tăng hơn nhưng vẫn không đáp ứng nhu cầu của cả nước và vẫn phải nhập khẩu gạo Giai đoạn từ 1988 về sau, Nhà nước đã áp dụng chính sách đổi mới thông qua một loạt các biện pháp và làm thay đổi hẳn bộ mặt sản xuất nông nghiệp Nhờ chính sách đổi mới, năm 1989 sản lượng lúa tăng hơn năm 1988 gần 2 triệu tấn và Việt Nam đã chuyển từ nước nhập khẩu lúa gạo trở thành nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai trên thế giới (Trần Văn Đạt, 2000)
Trang 21Bảng 2.2: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa trung bình của Việt Nam qua các thời kỳ
và các năm
Thời kỳ Diện tích
(triệu ha)
Năng suất (triệu tấn)
Sản lượng (triệu tấn)
- *: Tổng cục thống kê, 2005
- **: http/www.mofa.gov.vn, tra ngày 10/9/2008
Từ năm 2000 - 2007, mặc dù diện tích gieo trồng giảm dần nhưng năng suất lúa
của Việt Nam tăng từ 4,24 tấn/ha (năm 2000) lên 4,89 tấn/ha (năm 2006) và 4,95 tấn/ha
(năm 2007) nên sản lượng thóc tăng từ 32,53 triệu tấn năm 2000 lên 35,79 triệu tấn năm
2006 Năm 2007 do diện tích trồng lúa giảm mạnh, từ 7,32 triệu ha (năm 2006) xuống còn
7,18 triệu ha (năm 2007), nên sản lượng lúa năm 2007 thấp hơn so với năm 2006 là 0,25
triệu tấn
(Nguồn: http/www.vietfood.org.vn; tra ngày 10/9/2008)
Mục tiêu sản xuất lúa của Việt Nam đến năm 2010 là duy trì diện tích trồng lúa ở
mức 3,96 triệu ha và sản lượng đạt 40 triệu tấn, tăng 5,5 triệu tấn so với năm 2003 Để
tăng sản lượng lúa, khả năng mở rộng diện tích không nhiều và còn gây ảnh hưởng không
tốt đến hệ sinh thái; do đó, chủ yếu vẫn dựa vào năng suất Trong hệ thống các biện pháp
kỹ thuật thì giống là biện pháp quan trọng và có hiệu quả nhất Trong tương lai sản xuất
lúa gạo Việt Nam vẫn là ngành sản xuất hàng hoá, phát triển bền vững về năng suất, chất
Trang 22lượng và có sức cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế (Nguyễn Khắc Huỳnh và Ngô Thị Nhuận, 2006)
2.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Việt Nam là một trong những quốc gia được thừa hưởng thành tựu do cuộc Cách Mạng Xanh mang lại Ở miền Nam Việt Nam, cuộc Cách mạng Xanh xảy ra vào cuối thập niên 1960 do sự du nhập của các giống lúa cải tiến của viện lúa IRRI Vào đầu năm
1966, Việt nam là một trong những nước ở châu Á nhận một số mẫu giống IR8 của IRRI
để trồng thử ở các trại thí nghiệm Trung tâm thí nghiệm lúa Long Định (nay là Viện Cây
Ăn Quả Miền Nam) nhận 10 kg giống IR8 để trồng thí nghiệm, kết quả cho năng suất 4 tấn/ha cao hơn năng suất bình quân của giống lúa cổ truyền là 2 tấn/ha Sau đó, giống IR8 được quyết định phát triển đại trà Gần đây, những nghiên cứu và ứng dụng về lúa gạo đã góp phần rất nhiều cho sự phát triển của nền nông nghiệp Việt nam, nổi bật là một số nghiên cứu về giống
Kỹ thuật chọn dòng thuần có thể làm tăng năng suất lúa lên đến 2 - 2,5 tấn/ha Nhiều kết quả tăng năng suất khác cũng cho thấy tác dụng tăng năng suất của việc chọn dòng thuần lại những giống đã dùng lâu trong sản xuất, nhất là đối với những giống địa phương cổ truyền, có thể tăng năng suất lên đến 20% và cao hơn, như kết quả phục tráng giống của Đỗ Khắc Thịnh với giống Một bụi, Nàng Hương Lấy hạt giống của 5 dòng từ giống OMCS6 và OMCS7 có năng suất cao nhất, trộn dòng, nhân cho những nghiên cứu khác, và chuyển về địa phương sản xuất thử ở Ômôn và sản xuất đại trà tại Vĩnh Châu thuộc tỉnh Sóc Trăng, đã đạt kết quả cao 6 - 7 tấn/ha, thường chỉ đạt 2,5 - 4 tấn/ha, vì nhiễm rầy nâu và các loại bệnh khác (Mai Văn Quyền, 1996)
Nghiên cứu di truyền phân tử tính trạng kháng rầy nâu của cây lúa của Viện nghiên cứu lúa đồng bằng sông Cửu Long dùng phương pháp PCR chọn giống kháng rầy nâu có gen Bph-10 ở nhiễm sắc thể số 12 liên kết với marker RG457 (tổ hợp lai PTB33/TN1) và RM227 (IR 64/Hoa lài)
Nghiên cứu chọn giống lúa chống khô hạn của Viện cây lương thực thực phẩm với phương pháp thu thập nguồn vật liệu giống lúa cạn chịu hạn địa phương và các dòng lúa cải tiến nhập nội từ IRRI với phương pháp lai hữu tính kết hợp với gây đột biến để tạo ra
Trang 23các tổ hợp lai có khả năng chịu hạn khá và năng suất cao như CH2, CH3, CH133, CH5, trồng rộng rãi ở vùng Trung du miền núi phía Bắc, Trung bộ, Đông Nam bộ và Tây nguyên
Phân tích QTL (quantitative trait loci) tính trạng chống chịu mặn của cây lúa của Viện nghiên cứu lúa đồng bằng sông Cửu Long dùng phương pháp marker RFLP, microsatellite phân tích bản đồ di truyền của tổ hợp lai IR28/Đốc Phụng xác định marker RM223 liên kết với gen chống chịu mặn với khoảng cách di truyền 6,3cM trên nhiễm sắc thể số 8 ở giai đoạn mạ
Chọn giống lúa lai hai dòng Việt Lai 20 của Trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội với phương pháp cách ly toàn cá thể với nguồn gen dòng bất dục ĐH4 và dòng phục hồi từ các dòng nhập nội, dòng lai và các dòng phổ biến trong sản xuất đã chọn ra tổ hợp Việt Lai 20 có thời gian sinh trưởng 110 - 115 ngày, tiềm năng năng suất 8 - 10 tấn/ha, chất lượng dinh dưỡng cao, thích hợp cho hệ thống canh tác 3 - 4 vụ/năm ở các tỉnh phía Bắc
Nghiên cứu các giống lúa phẩm chất cao phục vụ đồng bằng sông Cửu Long của Viện nghiên cứu lúa đồng bằng sông Cửu Long với phương pháp ứng dụng công nghệ sinh học (marker phân tử, nuôi cấy túi phấn) kết hợp với khảo nghiệm đồng ruộng để chọn tạo giống lúa ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng gạo tốt, như OM1490, OM2517, OM3536, OM2717, OM2718, OM3405, OM4495, OM4498, OM2514, trồng rộng rãi ở vùng sản xuất ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long
Tuyển chọn và phát triển giống lúa cạn cải tiến LC93-1 phục vụ sản xuất lương thực ở vùng cao của Viện bảo vệ thực vật Từ Liêm, Hà Nội với phương pháp chọn lọc từ tập đoàn lúa cạn IRRI nhập nội năm 1993 đã chọn được giống LC93-1 có thời gian sinh trưởng 115 - 125 ngày, năng suất 3 - 4 tấn/ha, chịu hạn khá, chất lượng gạo tốt, thích hợp cho vùng đồng bào dân tộc nghèo ở vùng cao
Nghiên cứu chất kích kháng và khả năng ứng dụng trong quản lý tổng hợp bệnh cháy lá trên lúa ở đồng bằng sông Cửu Long của viện nghiên cứu lúa đồng bằng sông Cửu Long đã nghiên cứu sử dụng chất kích thích tính kháng đối với bệnh cháy lá lúa như dipotassium hydrogen phosphate (K2HPO4), oxalic acid (C2H2O4), natritetraborac
Trang 24(Na2BB 4O7) dùng sử lý hạt giống trước khi sạ hàng giúp giảm bệnh cháy lá, tăng cường lực
ma, tăng số hạt chắc và năng suất
Tất cả các nghiên cứu trên đã góp phần nâng cao năng suất, sản lượng, và chất lượng lúa Việt nam và khẳng định vị trí của Việt Nam trên thị trường lúa gạo thế giới
2.5 Tình hình sản xuất lúa ở tỉnh Gia Lai
Gia Lai là một tỉnh miền núi thuộc vùng Tây nguyên Việt Nam, có tọa độ địa lý từ
12058’20’’ đến 14036’36’’ vĩ độ Bắc, từ 107027’23’’ đến 108054’40’’ độ kinh Đông, phía Bắc giáp tỉnh Kon Tum, phía Nam giáp tỉnh Đăk Lăk, phía Tây giáp Campuchia với 90 km đường biên giới quốc gia, phía Đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên Diện tích tự nhiên tỉnh Gia Lai là 15.494,9 km2, trong đó diện tích lúa nước hàng năm của tỉnh là 67.580 ha, sản lượng lúa hàng năm đạt 279.198 tấn Bên cạnh đó diện tích đất lúa có xu hướng giảm xuống do tình trạng chuyển đổi cơ cấu cây trồng của nông dân Trước tình hình này trong những năm qua, tỉnh đã có chủ trương quy hoạch để hình thành vùng sản xuất lúa có chất lượng và giá trị cao nhằm từng bước cải thiện đời sống của nhân dân, xóa dần khoảng cách giữa nghề trồng lúa và các ngành nghề khác ở địa bàn nông thôn
Phú Thiện là huyện mới được tách ra từ thị xã Ayunpa Nông nghiệp là ngành sản xuất chính của huyện, giá trị nông nghiệp chiếm 52,2% tổng giá trị sản xuất toàn huyện, đất nông nghiệp: 44.431,28 ha; chiếm 88% tổng diện tích toàn huyện Phú Thiện được coi
là vựa lúa của tỉnh Gia lai với dải đồng bằng dọc theo sông Ayun và tưới nhờ hệ thống tưới của công trình thuỷ lợi hồ Ayun Hạ Trong những năm qua nhờ được đầu tư cải tạo nâng cấp thuỷ lợi, khai hoang - xây dựng đồng ruộng cấp đất cho đồng bào dân tộc, cung cấp giống mới và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nên sản xuất nông nghiệp đã tăng nhanh cả
về quy mô, năng suất và hiệu quả Tổng diện tích lúa của huyện hàng năm dao động từ 12.500 ha đến 13.000 ha, chiếm 16% - 17% diện tích lúa toàn tỉnh, sản lượng lúa của huyện thu được từ 73.500 - 75.000 tấn, chiếm 26 - 27% sản lượng lúa thu được toàn tỉnh
Giá trị sản lượng lúa hiện nay của huyện chiếm từ 60 - 65% cơ cấu giá trị sản lượng của ngành trồng trọt Điều đó chứng tỏ rằng lúa là cây trồng được xác định là mũi nhọn của huyện, vì vậy hướng phát triển trong những năm tới của huyện là xây dựng
Trang 25những vùng lúa có năng suất và chất lượng cao để cung cấp lương thực cho thị trường trong khi giá lúa gạo trên thế giới ngày càng tăng
Bảng 2.3: Biến động về diện tích - sản lượng lúa huyện Phú Thiện
sản lượng (tấn)
Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
2006 12.732 58,9 74.991 68.726 40,8 280.231 17,0 144,4 26,8
2007 12.625 58,4 73.709 67.580 41,3 279.198 17,1 141,3 26,4 Nguồn: Niên giám thống kê huyện Phú Thiện và tỉnh Gia Lai năm 2007
Năm 2007 diện tích cũng như sản lượng lúa toàn huyện có xu hướng giảm so với năm 2006 Nguyên nhân giảm là do năm 2007 thời tiết khô hạn kéo dài nên người dân đã chuyển đổi một phần diện tích lúa được tưới bấp bênh sang trồng ngô và các loại cây ngắn ngày khác
Thời gian gần đây nông dân huyện Phú Thiện gặp nhiều khó khăn trong sản xuất nhất là tình hình rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá gây hại ở nhiều nơi đã làm cho năng suất và sản lượng lúa giảm đáng kể Để khắc phục tình trạng này, Trung tâm giống cây trồng đã tiến hành khảo nghiệm, chọn ra những giống lúa tốt có khả năng chống chịu sâu bệnh khá, đặc biệt là khả năng kháng rầy và đưa vào sản xuất Đến nay, đã chọn được một
số giống lúa chống chịu được rầy nâu, năng suất cao như: Q5, PC10, TH205, TH85, ĐB6, ML49, HT1
Trang 26
Chương 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm
- Thời gian: Thí nghiệm được tiến hành trong vụ Đông Xuân từ 16/01/2009 đến 17/05/2009
- Địa điểm: Thí nghiệm được tiến hành trên nền đất phù sa cổ của Trại thực nghiệm giống cây trồng Ayun Hạ - huyện Phú Thiện - tỉnh Gia Lai
Trang 27thuộc trung bình và kali dễ tiêu thuộc trung bình kém
3.3 Khí hậu thời tiết nơi thí nghiệm
Bảng 3.2: Số liệu khí tượng trong khu vực thí nghiệm từ tháng 1 – 5 năm 2009
Tháng
Lượng mưa ( mm/tháng)
Ẩm độ trung bình (%)
Nhiệt độ trung bình (0C)
Số giờ nắng trung bình (giờ/ngày)
( Nguồn: Trạm khí tượng thủy văn Thị xã Ayunpa - Gia lai)
Qua kết quả bảng 3.2 cho thấy thời gian tiến hành thí nghiệm nằm gọn trong mùa khô, vào đầu mùa khô, lượng mưa tương đối thấp (4,9 mm trong tháng 1), tháng 2 thấp hơn tháng 1 còn 1,2 mm, sau đó lượng mưa tăng dần đến cuối vụ (154,7 mm trong tháng 5) Đó là do trong quá trình thí nghiệm đã gặp phải 2 đợt mưa kéo dài vào tháng 4 và tháng 5
Ẩm độ biến thiên từ 69,6% đến 80% thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng và phát triển Nhiệt độ biến thiên từ 24,90C đến 27,50C nên thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng và phát triển
Ẩm độ biến thiên từ 69,6% đến 80% thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng và phát triển
Số giờ nắng trung bình trong tháng 1 là 6,4 giờ/ngày Số giờ nắng tăng dần trong tháng 2, 3 và giảm dần trong tháng 4, 5 Số giờ nắng trung bình trong tháng 5 là 6,5 giờ/ngày
Tóm lại, trong suốt thời gian tiến hành thí nghiệm, lượng mưa ít, ẩm độ và nhiệt độ trung bình nên thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa Tuy nhiên tháng 5 lượng mưa cao điều này làm khó khăn trong việc thu hoạch
Trang 28Phân bón gồm: Urea (46% N), Lân supper (16% P2O5), KCl (60% K2O)
Vật dụng khác: Dây cấy, thước, tập, viết, bao đựng mẫu, cân
3.5 Phương pháp nghiên cứu
3.5.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm đơn yếu tố, được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẩu nhiên, 03 lần lập lại, 08 nghiệm thức là 08 giống lúa được mã hoá thành các số tự nhiên từ 1 đến 8 như dưới đây:
Bảng 3.3: Bảng mã hoá nghiệm thức
Mã hoá nghiệm thức Tên giống Cơ quan chọn tạo
8 ML 48 (đ/c) Trại giống lúa Ma Lâm
Ghi chú: Giống lúa ML48 (đ/c) được đưa về từ trại giống lúa Ma Lâm là giống được nông dân trồng nhiều và năng suất khá ổn định (năng suất từ 6,5 tấn/ha đến 7,5
Trang 29tấn/ha) Chúng tôi lấy làm đối chứng để nhằm có cơ sở khuyến cáo những giống có triển vọng của các giống lúa thí nghiệm
SƠ ĐỒ BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM
LLL1 LLL 2 LLL 3
Chiều biến thiên
Trang 30- Diện tích mỗi ô: 4 mx 5 m = 20 m2
- Khoảng cách giữa 2 khối: 0,4 m
- Khoảng cách giữa 2 ô trong 1 khối: 0,3 m
- Chiều rộng dãy bảo vệ: 1 m
- Đạm (N) 120 kg/ha tương đương 250 kg Urê/ha
- Lân (P205) 80 kg/ha tương đương 400 kg Super lân/ha
- Kali (K20) 90 kg/ha tương đương 150 kg KCl/ha
Chia làm 3 đợt bón:
- Bón lót trước khi cấy 2 ngày: 100% lân + 30% đạm
- Thúc 1: (15 ngày sau cấy): bón 40% đạm + 1/2 kali
- Thúc 2: (35 ngày sau cấy): bón 30% đạm + 1/2 kali
3.5.2.2 Phương pháp canh tác
¾ Làm dất
Đất được cày bừa kĩ, nhuyễn, đảm bảo mặt ruộng bằng phẳng, sạch cỏ, có rãnh thoát nước, sau đó phân lô
Trang 31¾ Chuẩn bị giống
Giống được thử tỷ lệ nảy mầm trước khi gieo, nếu tỷ lệ nảy mầm > 80% thì mới
đạt yêu cầu
¾ Làm mạ
Mỗi giống được chứa trong 1 túi lưới có ghi tên giống
Đem hạt giống phơi nhẹ dưới nắng 3 - 4 giờ (để tăng khả năng hút nước của hạt khi ngâm)
Loại bỏ các tạp chất trong hạt giống như: cỏ dại, hạt lép lửng
Ngâm hạt giống trong 24 giờ, sau đó vớt giống ra rửa sạch, để cho ráo nước rồi đem ủ 24-36 giờ, khi mầm dài khoảng 0,5 cm thì tiến hành sạ để lấy mạ
Mạ được gieo trên ô nhỏ với mật độ 200 gam/10 m2
¾ Cấy
Khi mạ được 26 ngày tuổi, mật độ cấy 33 bụi/m2 (15 cm x 20 cm), giăng dây, thẳng hàng, mạ nhổ xong cấy ngay trong ngày
Chăm sóc sau cấy: sau khi cấy 3 ngày thì tiến hành cấy dặm lại
¾ Phòng trừ sâu bệnh: có sự can thiệp của thuốc bảo vệ thực vật
+ Tính đổ ngã: được tính từ khi lúa vào chắc đến chín Chọn ngẫu nhiên 5 cây trên
ô, đo góc hợp bởi thân lúa với mặt đất, sau đó tính trung bình, chia thành 4 cấp như sau:
Trang 32Cấp 1: Gốc giữa mặt đất và thân lúa 500 - 900 : thẳng đứng
Cấp 3: Có 50% thân lúa nghiên góc 300 - 500 so với măt đất: ngã ít
Cấp 5: Có 50 - 70% thân lúa nghiên góc 150 - 300 so với mặt đất: ngã vừa
Cấp 7: Có > 70% thân lúa nghiên góc 00 - 150 so với mặt đất: ngã nhiều
+ Chiều dài bông: đo từ cổ bông đến chóp bông, chọn ngẫu nhiên 10 bông lúa/ô,
đo chiều dài rồi tính trung bình, đơn vị cm
Bông rất ngắn: chiều dài bông < 20 cm
Bông ngắn: chiều dài bông 20 - 25 cm
Bông trung bình: chiều dài bông 26 - 30 cm
Bông dài: chiều dài bông 31 - 35 cm
Bông rất dài: chiều dài bông > 35 cm
+ Độ thoát cổ bông: Ghi nhận vào giai đoạn chín sữa:
Trang 33• Hạt lúa
+ Chiều dài hạt
+ Màu sắc hạt
3.6.2 Các chỉ tiêu nông học
+ Thời gian sinh trưởng và phát dục: được tính từ lúc cấy đến lúc lúa chín 85%
- Ngày bén rễ hồi xanh
- Ngày bắt đầu đẻ nhánh
- Ngày đẻ nhánh tối đa
- Ngày trổ 10%, 50%, 80%
- Ngày chín (có > 85% số hạt/bông đã chuyển sang màu vàng)
+ Động thái và tốc độ tăng trưởng chiều cao: điều tra 5 cây trên ô cố định theo đường chéo góc Cách 10 ngày ghi nhận 1 lần đến khi lúa trổ đều
+ Động thái đẻ nhánh và tốc độ đẻ nhánh: đếm số nhánh kể cả thân chính khi đo chiều cao Tính từng lần lập lại và tính trung bình các lần lập lại
+ Khả năng đẻ nhánh và tỷ lệ nhánh hữu hiệu:
Tỷ lệ nhánh hữu hiệu = (số bông/bụi) * 100/ (số nhánh tối đa/bụi)
3.6.4 Chỉ tiêu sâu bệnh hại
Điều tra một số sâu bệnh hại phổ biến trên cây lúa như:
- Rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal)
- Sâu cuốn lá (Cnaphalocrosis medinalis Guenee)
- Sâu đục thân (Tryporyza incertulas W.)
Trang 34- Bệnh đạo ôn (Pyricularia oryzae Cav.et Shi )
3.6.4.1 Rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal)
Triệu chứng: chuyển vàng từng bộ phận hay toàn bộ, cây thấp dần, nếu trầm trọng cây sẽ chết trên đồng ruộng
- Điểm 0: Không bị hại
- Điểm 1: Hơi biến vàng trên một số cây
- Điểm 3: Lá biến vàng bộ phận chưa bị cháy rầy
- Điểm 5: Những lá vàng rõ, cây lùn hoặc héo, 10 - 25% số cây bị cháy rầy, cây còn lại lùn nặng
- Điểm 7: Hơn nửa số cây bị héo hoặc cháy rầy, cây còn lại lùn nghiêm trọng
- Điểm 9: Tất cả các cây chết
3.6.4.2 Sâu cuốn lá (Cnaphalocrosis medinalis Guenee)
Tính tỉ lệ cây bị sâu ăn phần xanh của lá hoặc lá bị cuốn thành ống ở thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng theo thang điểm sau đây:
- Điểm 0: Không có cây bị hại
- Điểm 1: 1 - 10% cây bị hại
- Điểm 3: 11 - 20% cây bị hại
- Điểm 5: 21 - 35% cây bị hại
- Điểm 7: 36 - 60% cây bị hại
- Điểm 9: 61 - 100% cây bị hại
3.6.4.3 Sâu đục thân (Tryporyza incertulas W.)
Theo dõi tỉ lệ chết ở giai đoạn đẻ nhánh - làm đòng và bông bạc ở giai đoạn vào chắc đến chín:
- Điểm 0: không bị hại
- Điểm 1: 1 -10% dảnh hoặc bông bị hại
- Điểm 3: 11 - 20% dảnh hoặc bông bị hại
- Điểm 5: 21 - 30% dảnh hoặc bông bị hại