1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SO SÁNH SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NẤM BÀO NGƯ (Pleurotus ostreatus (Jacq.ex.Fr) Kummer) TRÊN MỘT SỐ LOẠI GIÁ THỂ

81 134 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP SO SÁNH SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NẤM BÀO NGƯ Pleurotus ostreatus Jacq.ex.Fr Kummer TRÊN MỘT SỐ LOẠ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

SO SÁNH SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NẤM BÀO NGƯ

(Pleurotus ostreatus (Jacq.ex.Fr) Kummer)

TRÊN MỘT SỐ LOẠI GIÁ THỂ

Họ và tên sinh viên: HỒ THỊ MINH CHÂU

Tháng 6/2009

Trang 3

SO SÁNH SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NẤM BÀO NGƯ

( Pleurotus ostreatus (Jacq.ex.Fr) Kummer)

TRÊN MỘT SỐ LOẠI GIÁ THỂ

Trang 4

Xin chân thành cảm ơn:

- Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm

- Ban chủ nhiệm Khoa Nông học cùng quý thầy cô đã giảng dạy, truyền đạt kinh nghiệm quý báu cho tôi trong thời gian học tập tại trường

- Các anh chị ở Trung Tâm Nghiên Cứu Khoa Học và Chuyển Giao Công Nghệ tỉnh KonTum cùng bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ, động viên tôi trong thời gian học tập và thực hiên đề tài

Gia Lai, tháng 6 năm 2009

Trang 5

TÓM TẮT

Đề tài nghiên cứu: “So sánh sự phát triển của nấm bào ngư (Pleurotus

ostrearus (Jacq.ex.Fr) Kummer) trên một số loại giá thể” được tiến hành tại Trung

Tâm Ứng Dụng Khoa học và Chuyển Giao Công Nghệ Tỉnh KonTum, thời gian từ 02/2009 đến 6/2009 Thí nghiệm bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên đơn yếu tố, gồm 3 nghiệm thức, 3 lần lập lại

NT1: Giá thể mùn cưa + 1‰ NPK + 2% cám, bắp + 2% vôi

NT2 (Đối chứng): Giá thể rơm + 1‰ NPK + 2% cám, bắp + 2% vôi

NT3: Giá thể bã mía + 1‰ NPK + 2% cám, bắp + 2% vôi

Sau đợt thí nghiệm kết quả thu được như sau:

Các chỉ tiêu sinh trưởng giữa các nghiệm thức có sự khác biệt rất có ý nghĩa về mặt thống kê so với nghiệm thức đối chứng ở mức LSD0,01 như: Chiều dài tơ, ngày hình thành quả thể sau khi rạch bịch, chiều dài tai nấm, chiều rộng tai nấm Chỉ tiêu số quả thể trên chùm không có sự khác biệt về mặt thống kê so với nghiệm thức đối chứng và chỉ tiêu số chùm quả thể trên bịch có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê so với nghiệm thức đối chứng ở mức LSD0,05 Trong đó giá thể mùn cưa có ảnh hưởng tốt đến sinh trưởng, phát triển của nấm bào ngư hơn các giá thể còn lại

Các chỉ tiêu về năng suất của các nghiệm thức có sự khác biệt ý nghĩa về mặt thống kê so với nghiệm thức đối chứng ở mức LSD0,01 Năng suất trọng lượng trung bình trên bịch khi trồng trên giá thể mùn cưa đạt cao nhất (369,7 g), đạt thấp nhất ở giá thể bã mía (326,7 g) Năng suất ô thí nghiệm đạt cao nhất ở giá thể mùn cưa (9,13kg), đạt thấp nhất ở giá thể bã mía (7,77 kg) Dựa vào năng suất một ô thí nghiệm tính được năng suất thực thu trên 1000 bịch phôi Giá thể mùn cưa có năng suất thực thu cao nhất là 365,2 kg/1000 bịch, đạt thấp nhất ở giá thể bã mía 310,8 kg/1000 bịch

Trang 6

Hiệu quả kinh tế được xác định qua tổng lợi nhuận thu được Lợi nhuận tính trên

1000 bịch phôi và giá nấm bào ngư tính theo giá thị trường Hiệu quả kinh tế đạt cao nhất khi trồng trên giá thể mùn cưa là 3.763.200 đồng/1000 bịch phôi, thấp hơn ở giá thể rơm

rạ (NT đối chứng) là 3.698.000 đồng/1000 bịch phôi và thấp nhất ở giá thể bã mĩa là 2.884.000 đồng/1000 bịch phôi

Trong thời gian nấm sinh trưởng có sự xuất hiện nấm mốc xanh gây hại nhưng với

tỉ lệ thấp Biện pháp phòng trừ chủ yếu là loại bỏ bằng phương pháp thủ công, ngăn chặn kịp thời sự phát triển gây hại của chúng để không ảnh hưởng đến năng suất thu hoạch

Trang 7

MỤC LỤC

Trang tựa i

Lời cảm tạ ii

Tóm tắt iii

Mục lục v

Danh sách các từ viết tắt ix

Danh sách các bảng x

Danh sách các đồ thị và biểu đồ xi

Danh sách các hình xi

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu đề tài 2

1.3 Yêu cầu 2

1.4 Giới hạn đề tài 2

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Khái quát về nấm 3

2.1.1 Sơ lược về nấm 3

2.1.2 Giá trị dinh dưỡng của nấm 4

2.1.3 Giá trị kinh tế của việc trồng nấm 5

2.1.3.1 Đối với kinh tế 5

2.1.3.2 Đối với xã hội 6

Trang 8

2.1.4 Những thuận lợi và khó khăn của nghề trồng nấm 6

2.3 Giới thiệu về giá thể trồng nấm bào ngư 8

2.3.2.Ưu và nhược điểm của phương pháp trồng cây bằng giá thể 9

2.4 Ảnh hưởng của điều kiện bên ngoài đến việc phát triển của nấm bào ngư 12

Trang 9

2.5.1 Tình hình sản xuất nấm trên thế giới 13 2.5.2 Tình hình sản xuất nấm trong nước 17

Chương 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 20

3.2 Điều kiện khí hậu, thời tiết trong thời gian thí nghiệm 20

3.6 Phương pháp thu thập số liệu và các chỉ tiêu theo dõi 24

4.1.1 Kết quả theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng 26

Trang 10

4.1.1.4 Số chùm quả thể trên bịch 29

4.1.1.6 Chiều dài trung bình của tai nấm 30

4.2 Đánh giá tình hình sâu bệnh trong thời gian tiến hành thí nghiệm 34

Trang 11

Least Signficant Difference Test Ngày sau cấy

Nghiệm thức Đối chứng Năng suất ô thí nghiệm Năng suất thực thu

Trọng lượng trung bình một bịch

:

Trang 12

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.2: Hàm lượng vitamin và chất khoáng 5

Bảng 2.3: Thành phần axit amin (Amino acid in mg) 5

Bảng 2.4: Sản lượng nấm ăn trên thế giới 15

Bảng 4.3: Số ngày hình thành quả thể (ngày) 28

Bảng 4.4: Số chùm quả thể/bịch của các nghiệm thức (chùm) 29

Bảng 4.5: Động thái ra quả thể/chùm của các nghiệm thức (quả thể/chùm) 30 Bảng 4.6: Động thái tăng trưởng chiều dài tai nấm (cm) 31

Bảng 4.7: Động thái tăng trưởng chiều rộng tai nấm (cm) 32

Bảng 4.9: Tổng thu, tổng chi, lợi nhuận thu được ở các nghiệm thức 34

Bảng 4.10: Tình hình nhiễm nấm mốc xanh (Trichoderma spp.) 35

Trang 13

DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ VÀ BIỂU ĐỒ

Đồ thị 1: Động thái tăng trưởng chiều dài sợi tơ nấm của các nghiệm thức 46

Đồ thị 2: Tốc độ tăng trưởng chiều dài sợi tơ nấm của các nghiệm thức 46

Đồ thị 3: Động thái tăng trưởng chiều dài tai nấm của các nghiệm thức 47

Đồ thị 4: Động thái tăng trưởng chiều rộng tai nấm của các nghiệm thức 47

Biểu đồ 5: Năng suất của các nghiệm thức 48

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 4: Tai nấm 3 ngày sau hình thành quả thể 43

Hình 5: Tai nấm 4 ngày sau hình thành quả thể 44

Hình 6: Bịch phôi bị nhiễm nấm mốc xanh 45

Trang 15

loài, chúng đa dạng về hình dáng, màu sắc, gồm nhiều chủng loại sống khắp nơi

Nấm là loại thức ăn được đánh giá là loại thức ăn rất bổ dưỡng, giàu chất dinh dưỡng cần thiết cho đời sống con người Nấm bào ngư được đánh giá vừa là “thịt sạch” vừa là “rau sạch”, trong nấm có chứa nhiều Protein và các loại acid amin: không gây xơ cứng động mạch, không làm tăng lượng cholesterol trong máu Ngoài ra nấm còn có chứa nhiều loại vitamin như: B1, B2, PP và các chất calci, kali, sắt, magiê, photpho, lưu huỳnh (Việt Chương, 2005 )

Trong những năm gần đây, diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp để chuyển sang mục đích đô thị hóa, công nghiệp hóa ngày càng tăng, do đó nhà nước có chủ trương chuyển hướng sang các hình thức canh nông khác Theo thống kê sơ bộ của Bộ Tài nguyên Môi trường trong bảy năm qua (2001-2007) tổng diện tích đất bị thu hồi trên 500.000 ha (chiếm hơn 5% đất nông nghiệp đang sử dụng), đây là con số đáng lo ngại vì 75% dân số nước ta vẫn sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp (Trần Lưu, Văn Phúc, 2008) Đồng thời việc nuôi trồng nấm là một biện pháp nông sinh học tích cực và hữu hiệu, góp phần giải quyết vấn đề môi trường do phế liệu, phế thải gây ra Ở nước ta nghề nuôi trồng nấm đang được quan tâm và phát triển, nghề trồng nấm đã trở thành một

Trang 16

nghành trong nông nghiệp và nấm ăn là một trong những sản phẩm nông nghiệp được đánh giá cao trên thế giới

Việt Nam là một nước nông nghiệp có điều kiện tự nhiên và tiềm năng lao động ở nông thôn, cùng với nguồn phụ phế phẩm trong nông nghiệp sẵn có tại địa phương, việc nghiên cứu các giá thể trồng rau đang được các nhà nghiên cứu ngày càng chú trọng kết hợp Trong tự nhiên có rất nhiều vật liệu hữu cơ chưa được sử dụng hết tiềm năng của nguồn nguyên liệu này có sẵn trong tự nhiên cũng như các phụ phế phẩm trong nông nghiệp như: mùn cưa, bã mía, rơm rạ, thân cây bắp, lõi bắp….có thể sử dụng làm giá thể trồng rau, nấm để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và là nguồn tăng thu nhập đáng kể trong quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên, để tìm ra các loại giá thể thích hợp trong nuôi trồng nấm có thể đưa vào sản xuất và đem lại hiệu quả kinh tế cao nên chúng tôi đã tiến

hành thí nghiệm: “So sánh sự phát triển của nấm bào ngư (Pleurotus ostreatus

(Jacq.ex.Fr) Kummer) trên một số loại giá thể”

Do giới hạn về mặt thời gian, qui mô nhỏ nên thí nghiệm chỉ thực hiện trên giống

bào ngư (Pleurotus ostreatus (Jacq.ex.Fr) Kummer) và nuôi trồng tại Trung Tâm Ứng

Dụng Khoa Học và Chuyển Giao Công Nghệ tỉnh KonTum

Trang 17

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Khái quát về nấm

2.1.1 Sơ lược vế nấm

Nấm khác với thực vật xanh khác là không có lục lạp, không có sự phân hoá thành

rễ, thân, lá và không có hoa Phần lớn không chứa cellulose trong thành tế bào, không có chu trình phát triển chung như thực vật Nấm chỉ có thể hấp thu chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể khác hay từ đất qua bề mặt của tế bào sợi nấm Chính vì thế, tất cả hệ thống phân loại sinh giới hiện nay đều coi nấm là một giới riêng (Fungi)

Nấm chủ yếu sống dị dưỡng lấy thức ăn từ các nguồn hữu cơ Hầu hết các loài nấm đều lấy dinh dưỡng qua màng tế bào hệ sợi Nhiều loài nấm có hệ men (enzym) phân giải tương đối mạnh, giúp chúng có thể sử dụng các dạng thức ăn phức tạp như: Chất xơ (cellulose, hemicellulose), chất đạm (protein), chất bột (amidon, amylose), chất gỗ (lignin) Với cấu trức sợi, tơ nấm len lõi sâu vào trong cơ chất (rơm rạ, mạt cưa, gỗ ) lấy thức ăn đem nuôi toàn bộ cơ thể nấm

Dựa theo cách dinh dưỡng của nấm, có thể chia nấm thành 3 nhóm:

Hoại sinh: Đặc tính chung của hầu hết các loài nấm, trong đó có nấm trồng Thức

ăn chủ yếu là xác bã thực vật hoặc động vật Nhóm nấm này có hệ men tiêu hoá tương đối mạnh, phân giải được nhiều cơ chất (thức ăn)

Ký sinh: Bao gồm chủ yếu các loài nấm gây bệnh Chúng sống bám vào cơ thể các sinh vật khác, thức ăn của chúng là các chất lấy từ cơ thể ký chủ, làm suy yếu hoặc tổn thương ký chủ Một số nấm ăn có thể sống trên cây còn tươi, nhưng đời sống thực sự vẫn

là hoại sinh

Trang 18

Cộng sinh: Đây là nhóm nấm đặc biêt, lấy thức ăn từ cơ thể vật chủ nhưng không

làm chết hoặc tổn thương ký chủ, ngược lại còn giúp chúng phát triển tốt hơn Vì vậy các

loài này đối với ký chủ có mối quan hệ mật thiết với nhau

2.1.2 Giá trị dinh dưỡng của nấm

Nấm ăn là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao Hàm lượng proyein chỉ sau

thịt, cá, rất giàu chất khoáng và các axit amin không thay thế, các vitamin A, B, C, D, E,

không có các độc tố Có thể coi nấm ăn như một loại “rau sạch” và “thịt sạch” Ngoài giá

trị dinh dưỡng, nấm ăn còn có nhiều đặt tính của biệt dược, có khả năng phòng và chữa

bệnh như: Hạ huyết áp, chống bệnh béo phì, chữa bệnh đường ruột, tẩy máu xấu…

Bảng 2.1: Tỉ lệ % so với chất khô

Tên nấm Độ ẩm (W) Protein Lipit

Trang 19

Bảng 2.2: Hàm lượng vitamin và chất khoáng

Đơn vị tính: mg/100g chất khô

Tên nấm Axit

nicotinic Riboflavin Thimin

Axit ascobic Iron Canxi

Phos- pho

Nguồn: Nguyễn Hữu Đống và ctv, 2002

Bảng 2.3: Thành phần axit amin (Amino acid in mg)

Đơn vị tính: mg trong 100g chất khô Tên nấm Lizin Histidin Arginin Theronin Valin Methionin Isoloxin Lơxin

Nguồn: Nguyễn Hữu Đống và ctv, 2002

2.1.3 Giá trị kinh tế của việc trồng nấm

2.1.3.1 Đối với kinh tế

Theo sổ tay nuôi trồng nấm ăn và nấm chữa bệnh (2004): Nấm là một trong những

loại cây trồng có hiệu quả kinh tế cao do các yếu tố:

Đầu tư thấp, chu kỳ nuôi trồng nấm thường ngắn, nấm rơm: 20 - 25 ngày; nấm bào

ngư, nấm mèo chu kỳ 2 - 2,5 tháng

Trang 20

Nguyên liệu rẻ, dồi dào: Nguyên liệu trồng nấm chủ yếu là phế liệu nông lâm nghiệp, thường rất nhiều ở các địa phương vừa giải quyết về mặt môi trường, đồng thời tạo nên sản phẩm mới, phế phẩm sau nuôi khi trồng nấm có thể sử dụng cho chăn nuôi và trồng trọt

Giá trị kinh tế cao: Nấm rơm, nấm mỡ giá bán trung bình 1.200 - 1.300 USD/tấn nấm muối, nấm mèo khoảng 3.500 - 4.300 USD/tấn nấm khô, nấm đông cô khoảng 12.000 - 20.000 USD/tấn nấm khô Như vậy, so với những loại nông sản khác nấm có giá trị cao hơn

2.1.3.2 Đối với xã hội

Giải quyết lao động: Trong tình hình chung của nước ta lao động, nhất là lao động nhàn rỗi nhiều trong khi đời sống còn khó khăn Trồng nấm thu hút lớn lao động, tạo công

ăn việc làm cho nhiều người, đồng thời mang lại nguồn thu nhập đáng kể

Giải quyết nguồn thực phẩm: Ngoài việc trồng nấm để bán, xuất khẩu, đây còn là nguồn thực phẩm quý không những bổ sung vào khẩu phần ăn hằng ngày của người dân

mà còn góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho mọi người

2.1.4 Những thuận lợi và khó khăn của nghề trồng nấm

2.1.4.1 Thuận lợi

Nước ta có nguồn nguyên liệu đồi dào

Thời tiết khí hậu thích hợp cho việc phát triển các loại nấm nhiệt đới

Trồng nấm có khả năng thu hồi vốn nhanh

Thị trường tiêu thụ rộng lớn, không chỉ tiêu thụ nội địa mà còn xuất khẩu sang các khác như: Mỹ, Nhật, Đài Loan

2.1.4.2 Khó khăn

Các hộ trồng nấm chưa kiểm soát được chất lượng đầu vào của sản phảm như: giống, nguyên liệu trồng nấm, các sản phẩm bán trôi nổi trên thị trường mà chưa có một

Trang 21

tổ chức, các nhân nào đứng ra chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm Đặc biệt, khi trên thị trường khan hiếm sản phẩm, có nhiều cơ sở bán giống và nguyên liệu trồng nấm đã

đưa ra sản phẩm kém chất lượng, có nhiều tạp chất gây thiệt hại cho người sản xuất

Người sản xuất nấm phần lớn là những hộ nông dân thiếu vốn để đầu tư kỹ thuật

và mở rộng quy mô sản xuất

Ngoài ra, vấn đề cạnh tranh giá cả để tiêu thụ nhanh sản phẩm luôn diễn ra gây nhiều thiệt hại và những biến động bất lợi cho người sản xuất Đầu ra cho sản phẩm cũng chưa được ổn định

2.2 Sơ lược về nấm bào ngư

2.2.1 Phân loại

Tên khoa học: Pleurotus ostreatrus (Jacq.ex.Fr) Kummer

Tên tiếng anh: Oyster Mushroom

tử hữu tính, nẩy mầm cho hệ sợi tơ dinh dưỡng, kết thúc bằng việc hình thành cơ quan sinh sản là tai nấm

Nấm bào ngư có chu trình phát triển cũng như các loại nấm đảm khác, bắt đầu đảm bào tử hữu tính nảy mầm cho hệ sợi tơ dinh dưỡng (sơ cấp, thứ cấp) và kết thúc bằng việc

Trang 22

hình thành cơ quan sinh sản là tai nấm Tai nấm sinh ra đảm bào tử và chu trình lại tiếp tục (Lê Duy Thắng, 2001)

Quả thể nấm bào ngư phát triển qua nhiều giai đoạn dựa vào hình dạng tai nấm mà

có tên gọi cho từng giai đoạn như: dạng san hô, dạng dùi trống, dạng phễu, dạng bán cầu lệch, dạng lá lục bình:

Dạng san hô: Quả thể mới tạo thành, dạng sợi mảnh hình chùm

Dạng dùi trống: Mũ xuất hiện dưới dạng khối tròn, còn cuống phát triển cả về chiều ngang và chiều dài nên đường kính cuống và mũ không khác bao nhiêu

Dạng phễu: Mũ mở rộng trọng khi cuống còn ở giữa (giống cái phễu)

Dạng bán cầu lệch: Cuống lớn nhanh ở một bên và bắt đầu lệch so với vị trí trung tâm của mũ

Dạng lục bình: Cuống ngừng tăng trưởng nhưng mũ phát triển, bìa mép thẳng đến dợn sóng

Từ giai đoạn phễu → phễu lệch có sự thay đổi về chất (giá trị dinh dưỡng), còn từ giai đoạn phễu lệch → dạng lá có sự nhảy vọt về khối lượng (trọng lượng tăng) vì vậy thu hái nấm bào ngư nên chọn lúc tai nấm vừa chuyển sang dạng lá

Nấm bào ngư thuộc nhóm hoại gỗ, sống chủ yếu hoại sinh, mặc dù có đời sống ký

sinh như P.ostreatus, P.eryngii Phần lớn cơ chất dùng trồng nấm đều chứa nguồn

cellulose Tuy nhiên, đa số trường hợp lượng cellulose bao giờ cũng thấp hơn 50%, còn lại là lignin, hemicellulose và khoáng Nấm bào ngư là loài có khả năng sử dụng lignin mạnh, nhất là thời gian khởi đầu cho việc tạo quả thể nấm

2.3 Giới thiệu về giá thể trồng nấm bào ngư

2.3.1 Giới thiệu về giá thể trồng cây

Trồng cây trên giá thể là kỹ thuật trồng cây không cần đất mà trồng trên các loại nguyên liệu khác nhau Đây là mô hình canh tác tiên tiến trong nền sản xuất nông nghiệp hiện đại Với phương pháp này, các chất dinh dưỡng vẫn được bổ sung tương tự như

Trang 23

trong đất với tỉ lệ thích hợp cho từng loại cây Giá thể đưa vào trồng cây không gây hại cho môi trường và tạo ra các sản phẩm không ảnh hưởng đến sức khỏe con người Ngoài

ra, các giá thể sau khi trồng có thể sử dụng làm phân bón hữu cơ cho các loại cây trồng khác

2.3.2.Ưu và nhược điểm của phương pháp trồng cây bằng giá thể

1- Ưu điểm: Phương pháp trồng cây trên giá thể loại trừ được các loại sâu hại nấm, bệnh trong đất, hạn chế cỏ dại và sự thất thoát hạt giống, tiết kiệm công làm đất và quản

lý sâu bệnh và tận dụng được nguồn nguyên liệu phế thải trong nông nghiệp, giảm nguy hại đến sức khỏe con người lao động Đặt biệt, năng suất thu hoạch cao, chu kỳ ngắn vụ

và trồng được nhiều vụ trong năm

2- Nhược điểm: Chi phí đầu tư ban đầu cao, nguyên liệu phải được xử lý kĩ trước

khi sử dụng

2.3.3 Giá thể trồng nấm

Với nguồn phụ phế phẩm trong nông nghiệp giàu chất xơ (cellulose) và chất gỗ (lignin) được lựa chọn làm giá thể để nuôi trồng nấm Với nguồn nguyên liệu dễ tìm hoặc sẳn có tại địa phương, giá thành rẻ để tăng thêm thu nhập cho người dân

Nguồn nguyên liệu có những đặc tính sau: Dễ xay vụn, không có các chất độc hại,

vi sinh vật, côn trùng gây hại

Các giá thể sử dụng phổ biến hiện nay như: Rơm rạ, mùn cưa, bã mía, bông phế thải, cùi bắp…

1- Mùn cưa: Là sản phẩm khi cưa, xẽ gỗ sau đó được dùng để trộn và làm giá thể hay cắt nhỏ ra và sơ chế làm giá thể rất tốt Là những gỗ mềm, dễ xay nhuyễn, không có tinh dầu, dễ dàng tìm thấy ở nước ta Đặc tính của mùn cưa là giàu chất xơ và chất gỗ

2- Bã mía: Là sản phẩm khi xay, ép chỉ còn xác bã sau đó cắt nhỏ hay xay vụn để làm giá thể rất tốt Trong bã mía có cellulose chiếm tỉ lệ cao, trong bã mía bao giờ cũng

Trang 24

thừa đường dễ hấp dẫn các vi sinh vật khác Khi sử dụng cần phải phơi khô và ngâm nước vôi để nâng pH lên, giảm lượng đường và các acid hữu cơ khác

3- Rơm rạ: Là nguồn nguyên liệu dễ dàng tìm thấy cả các vùng trồng lúa Rơm rạ không bị mốc và phơi khô trước khi sử dụng

4- Cùi bắp: Trong cùi bắp cũng chứa nhiều đường, ngoài ra còn có kích thước lớn nên khó giữ nhiệt và giũ ẩm nên cầm phải đập nhỏ trước khi làm ẩm hoặc trộn với các nguyên liệu khác

5- Bông phế thải: Là nguyên liệu trồng nấm rất tốt, nhưng khi rút nước thường bị dính chặt nên phải tốn công xé nhỏ ra

2.3.4 Các phương pháp xử lý nguyên liệu trồng nấm

Tiệt trùng (thanh trùng): Là quá trình xử lý để loại bỏ các nguồn nhiễm tự nhiên có sẵn trong nguyên liệu hoặc dụng cụ, dùng để nuôi trồng nấm Nguồn nhiễm chủ yếu là các vi sinh vật bất lợi cho nấm, nó cạnh tranh về thức ăn, biến đổi môi trường sống và có tốc độ sinh sản nhanh hơn nấm Có nhiều phương pháp tiệt trùng:

1- Phương pháp vật lý: Dùng tia (tử ngoại, cực ngắn, tia X ), sóng siêu âm, nhiệt (sấy, đốt), đun sôi, hơi nước

Phương pháp 1: Ủ nguyên liệu thành đống với khối lượng đủ lớn để tăng nhiệt độ trong đống ủ đạt 60 – 70oC, thời gian kéo dài từ 6 - 7 ngày Trung bình đống ủ đảm bảo

có khối lượng tối thiểu từ 300 kg khô trở lên

Phương pháp 2: Các nguyên liệu sau khi vào bịch thì tiến hành khử trùng các bịch nguyên liệu trong hơi nước ở nhiệt độ 100 – 125oC kéo dài từ 90-180 phút để giảm bớt các vi sinh vật hoạt động Hiện nay người ta thường sử dụng lò hấp để hấp nguyên liệu 2- Phương pháp hoá học: Dạng dung dịch CuSO4, HgCl2, Javel, cồn Dạng khí: Formol, Sulfur (SO2) để xông hơi

Trang 25

2.3.5 Các phương pháp đặt bịch và rạch bịch nấm

2.3.5.1 Cách đặt bịch

Bịch được đưa vào nhà trồng có thể xếp lên kệ hoặc treo trên giàn:

1- Xếp kệ: Bịch ít bị va chạm, độ ẩm cao nhưng đòi hỏi đầu tư giàn kệ choáng

nhiều diện tích, khó dọn vệ sinh và xử lý trại sau mỗi đợt thu hoạch Có hai cách đặt bịch:

đặt bịch đứng và đặt bịch nằm

Đặt bịch đứng cách nhau 20 cm để có khoảng trống cho quả thể nấm hình thành

Đặt bịch nằm: Các bịch chồng lên nhau thành 4 - 5 lớp trên một khung

2- Treo giàn: Đang được sử dụng phổ biến vì không phải đầu tư nhiều Có nhiều

cách treo bịch: xỏ xâu hoặc mắc võng

Xỏ xâu: Dùng kẽm dài kéo theo sợi dây treo xỏ xuyên qua đáy bịch lên tới miệng

và ra ngoài, dây xâu bịch nên dùng dây nilon đôi cho chắc Mỗi xâu trung bình 4 - 5 bịch

và các bịch cách nhau 10 cm

Kiểu mắc võng: Dùng 3 - 4 sợi nilon chụm lại, thắt gút từng khoảng để lọt bịch vào

trong Trung bình một xâu khoảng 4 - 6 bịch

2.3.5.2 Các cách rạch bịch

Kiểu rạch xiên: Đường rạch chạy vòng theo thành bịch, nhưng là những đoạn

ngắn Cách này thường dễ bị nhiễm

Kiểu rạch dọc: Mỗi bịch rạch khoảng 6 - 12 đường, mỗi đường dài khoảng

3 - 4cm và phân bố đều khắp bịch Các đường rạch so le với nhau, phân bố đều ở phía

trên và phía dưới

Ngoài ra còn có nhiều cách rạch khác như: Chữ thập (+), quả thị (*), tam giác…

Nhưng những cách này ít sử dụng vì nấm phát triển không đều, năng suất thấp

Trang 26

2.3.5.3 Chăm sóc và thu hái

Tưới nước: Khi bịch đã rạch sau một thời gian quả thể nấm sẽ hình thành, tiến hành tưới nước bên ngoài bịch Tuỳ theo lượng nấm ra nhiều hay ít, to hay nhỏ, độ ẩm không khí cao hay thấp để điều chỉnh số lần tưới và lượng nước tưới trong ngày Theo nguyên tắc tưới nước dưới dạng phun sương, lượng nước ít nhưng kéo dài thời gian tưới trong một lần sao cho nhìn bề mặt mũ nấm lúc nào cũng có một lớp nước đọng trên mũ nấm Trung bình một ngày tưới 4 - 6 lần Sau khi thu hái hết một đợt ngừng việc tưới lên bịch khoảng 5 - 7 ngày sau nấm lại ra tiếp các đợt tiếp theo

Thu hái nấm: Nấm bào ngư mọc tập trụng thành cụm nên khi nấm đủ lớn cần hái

cả cụm Hái nấm đúng độ tuổi sẽ đạt năng suất, chất lượng cao nhất Nếu hái nấm quá già

ăn sẽ không ngon Hái đúng độ tuổi là hái trước lúc bào tử phát tán Hái nấm không được

để sót phần gốc trên bịch nấm và thường thu hái vào buổi sáng là tốt nhất

2.4 Ảnh hưởng của điều kiện bên ngoài đến việc phát triển của nấm bào ngư

Trang 27

2.4.3 pH

pH cũng là một trong những yếu tố quan trọng chi phối sự tăng trưởng và phát triển của nấm Nấm bào ngư có khả năng chịu được sự giao động pH tương đối tốt, pH môi trường có thể giảm xuống 4,4 hoặc tăng lên 9 tơ nấm vẫn mọc được Tuy nhiên, pH thích hợp đối với hầu hết các loài nấm bào ngư trong khoảng 5,0 - 7,0, pH thấp làm quả thể không hình thành và ngược lại pH quá kiềm tai nấm bị dị hình

2.4.4 Ánh sáng

Ánh sáng không cần thiết trong giai đoạn nuôi tơ Ánh sáng cần thiết cho việc tạo

nụ nấm Ánh sáng tốt nhất là khoảng 2000 lux, cường độ ánh sáng quá mạnh sẽ ngăn cản việc hình thành nụ nấm, còn ánh sáng yếu làm chân nấm dài ra, mũ hẹp

2.4.5 Độ thông thoáng

Nấm bào ngư cần thoáng khí để dễ dàng hấp thụ Oxy (O2) và thải khí Carbonic (CO2) để phát triển vì vậy nhà trồng nấm cần có độ thông thoáng vừa phải, nhưng tránh gió lùa trực tiếp

2.4.6 Dinh dưỡng

Sử dụng trực tiếp nguồn cellulose của nguyên liệu, có bổ sung thêm các phụ gia giàu chất đạm, vitamin trong giai đoạn xử lý nguyên liệu

2.5 Tình hình sản xuất nấm trong nước và trên thế giới

2.5.1 Tình hình sản xuất nấm trên thế giới

Trên thế giới một số loại nấm ăn đã được nuôi trồng có truyền thống lâu đời như nấm mỡ hay nấm trắng ở Châu Âu, Châu Mỹ và một số nước ở Châu Á Hiện nay nghề nuôi trồng nấm không những phát triển ở các nước nông nghiệp mà còn phát triển sang các nước công nghiệp Ở Châu Âu trồng nấm đã trở thành một nghành công nghiệp lớn và dần đang cơ giới hoá hoàn toàn nên năng suất và số lượng rất cao

Trang 28

Nhật Bản là nước có sản lượng nấm lớn nhất thế giới, chủ yếu là nấm đông cô,

nấm kim châm, nấm trân châu, và một số loại nấm nấm khác (Lê Duy Thắng, 2006)

Các nước Mỹ, Đức, Đan Mạch, Bỉ và nhiều nước khác ở Châu Âu là những nước

nhập khẩu nấm nhiều nhất (Việt Chương, 2001)

Các nước trên thế giới hiện nay tập trung nghiên cứu và sản xuất nấm mỡ, nấm hương, nấm sò, nấm rơm là chủ yếu Khu vực Bắc Mỹ và Châu Âu trồng nấm theo phương pháp công nghiệp, khu vực Châu Á sản xuất nấm theo mô hình trang trại vừa và nhỏ, đặt biệt là Trung Quốc (Nguyễn Hữu Đống và ctv, 2002)

Các dạng nấm xuất khẩu: Nấm đóng hộp, nấm đông lạnh, nấm tươi, nấm muối, nấm sấy khô, các thực phẩm chế biến từ nấm…

Nấm bào ngư được nuôi trồng rộng rãi trên thế giới ở Châu Âu, nấm bào ngư được trồng ở Hungary, Đức, Pháp, Ý, Hà Lan Ở Châu Á nấm bào ngư được trồng ở Trung Quốc với sản lượng rất cao (khoảng 12 nghìn tấn mỗi năm) Ngoài Trung Quốc, nấm này còn được trồng ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ (Nguyễn Lân Dũng, 2002)

Trang 29

Bảng 2.4: Sản lượng nấm ăn trên thế giới

Nấm đông cô, nấm hương

Trang 30

Tên nấm Năm Sản lượng

Nguồn: Lê Duy Thắng, 2006

Trang 31

Trung Quốc nghề trồng nấm ngày càng phát triển và có năng xuất cao đạt sản lượng cao nhất thế giới chiếm 90% sản lượng và doanh thu 25 - 30 tỷ USD/năm, một nữa

là xuất khẩu Đặt biệt tại Trung Quốc có hơn 10 viện và cơ sở nghiên cứu nấm ở những vùng trọng điểm (SGGP online, 2007)

Các nhà khoa học Trung Quốc đã tìm được trên 720 loài nấm ăn và trong số này có tới trên 30 loài đã được trồng nhân tạo một cách có hiệu quả ở các quy mô khác nhau (Nguyễn Lân Dũng, 2008)

2.5.2 Tình hình sản xuất nấm trong nước

Việc nguyên cứu và phát triển nấm ăn ở Việt Nam bắt đầu từ những năm 70

Theo Nguyễn Hữu Đống và ctv, 2002:

Năm 1984 thành lập trung tâm nguyên cứu nấm ăn thuộc Đại học Tổng Hợp Hà Nội

Năm 1986 tổ chức FAO tài trợ Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội quyết định thành lập trung tâm sản xuất giống nấm Tương Mai- Hà Nội (nay đổi tên thành công ty sản xuất giống)

Năm 1986, tổ chức FAO tài trợ Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định thành lập xí nghiệp nấm thành phố Hồ Chí Minh

Năm 2002, cả nước sản xuất được 100.000 tấn nấm thực phẩm thì đến nay đã đạt 150.000 tấn/ năm (Tin tức niên giám nông nghiệp - lâm nghiệp - thực phẩm, 2008)

Năm 2003, Việt Nam xuất khẩu khoảng 50.000 tấn nấm, đạt kim ngạch 50 triệu USD (Tuấn Vương, 2004)

Trang 32

“Phát triển giống nấm chất lượng cao” giai đoạn II năm 2006 - 2010 (AGI, online)

Năm 2009, huyện Yên Khánh sẽ sử dụng khoảng 3.450 tấn nguyên liệu để sản xuất các loại nấm chủ lực là nấm sò, nấm mỡ, nấm mộc nhĩ để có nguồn thu nhập khoảng 11 tỉ đồng (Tin kinh tế, online)

Việt Nam là nước đứng thứ 3 thế giới về xuất khẩu nhưng hiện sản xuất nấm của nước ta còn nhỏ lẻ, manh mún và phải bán qua tay người khác Việt Nam có rất nhiều tiềm năng để phát triển nghề trồng nấm, riêng lượng rơm rạ 20 - 30 triệu tấn/ năm để sản xuất ra 2 triệu tấn nấm tươi (Trần Nga, 2009)

Dự kiến đến năm 2010 sản lượng nấm nước ta đạt trên 1 triệu tấn/năm sử dụng khoảng 6 triệu tấn phế phụ phẩm trong nông nghiệp cho nuôi trồng nấm, chế biến được

Trang 33

trên 50% tổng sản lượng nấm sản xuất ra dưới dạng nấm muối, nấm sấy, nấm hộp Tổng giá trị sản phẩm đạt 7.000 tỉ đồng/năm, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 200 triệu USD mỗi năm (Trung tâm thông tin khoa học và công nghệ quốc gia, 2004)

2.6 Sơ lược về tỉnh KonTum

Tỉnh KonTum là tỉnh miền núi vùng cao biên giới, nằm ở phía bắc Tây Nguyên

Tỉnh KonTum có diện tích khoảng 9.676,5 km2 chiếm 3,1% diện tích toàn quốc, phía Bắc giáp Quảng Nam, phía nam giáp tỉnh Gia Lai, phía đông giáp Quãng Ngãi và phía tây giáp 2 nước Lào, Campuchia

Khí hậu: Khí hậu cao nguyên nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 hằng năm Nhiệt độ trung bình trong năm dao động trong khoảng 22 – 23oC, biên độ nhiệt dao động trong ngày từ

8 – 9oC Ẩm độ trung bình hằng năm dao động trong khoảng 78 - 87%

Dân số của tỉnh KonTum năm 2007 khoảng 389.745 người, có 22 dân tộc cùng chung sống

Diện tích đất nông nghiệp là 92,352 ha chiếm 9,6 % Với một số loại cây trồng chủ yếu như: lúa, ngô, mía, cà phê, cao su…

Theo thống kê năm 2002 tỉ lệ đói nghèo vẫn còn cao khoảng 25,03% có sự chênh lệch về mức thu nhập khá lớn giữa các vùng, và mức sống dân cư còn thấp

Hiện nay, tại tỉnh KonTum có rải rác vài hộ trồng nấm mang tính chất tự phát, qui

mô nhỏ lẽ, kỹ thuật trồng không đồng nhất và thường sử dụng các loại nguyên liệu khác nhau nên năng suất vẫn còn thấp và không ổn định

Xuất phát từ thực tiễn trên nên chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: "So sánh

sự phát triển của nấm bào ngư (Pleurotus ostreatus) trên một số loại giá thể" nhằm

tận dụng nguồn phụ phế phẩm trong nông nghiệp và tìm ra loại giá thể thích hợp cho việc nuôi trồng nấm và mang lại hiệu quả kinh tế

Trang 34

Chương 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian tiến hành thí nghiệm: Từ 16/02/2009 đến 16/06/2009

Điạ điểm: Thí nghiệm tiến hành tại Trung Tâm Ứng Dụng Khoa Học và Chuyển Giao Công Nghệ tỉnh KonTum

3.2 Điều kiện khí hậu, thời tiết trong thời gian thí nghiệm

Các yếu tố khí hậu, thời tiết chi phối không nhỏ đến quá trình sinh trưởng phát triển của cây trồng, tuỳ theo từng mùa vụ mà cho năng suất và chất lượng nấm thu hoạch khác nhau

Bảng 3.1: Các yếu tố khí hậu, thời tiết trong thời gian tiến hành thí nghiệm

24

19,8 225,3 356,2

từ 24oC - 25,6oC, cao nhất ở tháng 4 (25,6oC) và thấp nhất ở tháng 6 (24oC) Lượng mưa trung bình giữa các tháng có sự biến động lớn từ 19,8 - 356,2 mm, lượng mưa tháng 5 cao

Trang 35

nhất (356,2 mm), thấp nhất là tháng 3 (19,8 mm) Ẩm độ trung bình của tháng tăng dần từ

và biến động từ 71 - 85%, ẩm độ thấp nhất ở tháng 3 là 71%, ẩm độ cao nhất ở tháng 5 là 85% Nhìn chung, điều kiện khí hậu thời tiết trong thời gian tiến hành thí nghiệm phù hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của nấm bào ngư

3.3 Nội dung thí nghiệm

3.3.1 Giống

Giống nấm bào ngư (Pleurotus ostreatrus) của Trung Tâm Ứng Dụng Khoa Học

và Chuyển Giao Công Nghệ Tỉnh KonTum hiện đang được bán trên tỉnh KonTum

3.3.2 Giá thể trồng nấm bào ngư

Thí nghiệm được thực hiện trên các loại giá thể sau:

Các nghiệm thức thí nghiệm gồm: 3 nghiệm thức

- NT1: Giá thể mùn cưa + 1‰ NPK + 2% cám, bắp + 2% vôi

- NT2 (đối chứng): Giá thể rơm rạ + 1‰ NPK + 2% cám, bắp + 2% vôi

- NT3: Giá thể bã mía + 1‰ NPK + 2% cám, bắp + 2% vôi

Cách bố trí thí nghiệm: thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên đơn yếu tố, gồm 3 nghiệm thức với 3 lần lập lại

Trang 36

- Số bịch phôi trên ô thí nghiêm: 25 bịch phôi

- Tổng số bịch phôi của thí nghiệm: 225 bịch phôi

- Khoảng cách giữa các bịch trên cùng một xâu là 2 - 3 cm, khoảng cách giữa các hàng treo là 10cm

Trang 37

3.5 Qui trình kĩ thuật

Bảng 3.2 Qui trình kỹ thuật canh tác thí nghiệm

Chuẩn bị giá thể Giá thể gồm: mùn cưa, bã mía, rơm rạ Đem phơi

khô các loại giá thể

Ủ nguyên liệu Ủ nguyên liệu theo từng loại giá thể Mỗi loại giá

thể mà có thời gian ủ khác nhau: rơm rạ và mùn cưa ủ khoảng 7 ngày, còn bã mía thì ủ khoảng 12-14 ngày Trong khi ủ cứ 2-3 ngày đảo đống một lần theo nguyên tắc từ ngoài vào trong và từ trong ra ngoài

Chuẩn bị bì PB, vào bịch và

hấp nguyên liệu

Vào bịch khoảng 1,2-1,4 kg, sau khi vào bịch đem đi hấp các bịch nguyên liệu trước khi cấy giống

Cấy giống vào các bịch

nguyên liệu đã hấp và để

nguội sau khoảng 2 ngày

Các bịch sau khi hấp để nguội khoảng 2 ngày rồi cấy giống

0 - 25 Theo dõi sự phát triển của

chiều dài tơ Đo chiều dài tơ

và theo dõi tình hình nấm

bệnh

Đặt bịch vào trong phòng tối để cho tơ phát triển

25 - 30 Treo bịch trên giàn và rạch

bịch

Rạch bịch khi tơ đã ăn kín bịch

30 - 45 Tưới nước, theo dõi ngày ra

quả thể, theo dõi sâu bệnh

Loại bỏ các bịch bị bệnh hại

45 - kết

thúc đề

tài

Tưới nước, theo dõi các chỉ

tiêu sinh trưởng và thu hoạch

Đo, đếm, cân, phân loại các chỉ tiêu

Trang 38

3.6 Phương pháp thu thập số liệu và các chỉ tiêu theo dõi

3.6.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng

Chỉ tiêu sinh trưởng được xác định sau khi cấy giống nấm vào bịch nguyên liệu đã thanh trùng, mỗi ô nghiệm thức chọn ngẫu nhiên 5 bịch phôi để theo dõi theo vị trí đường chéo gốc đánh dấu và theo dõi cố định, thời gian theo dõi trong giai đoạn nuôi tơ là 5 ngày/ lần, giai đoạn nấm ra quả thể thì theo dõi 1 ngày/lần

Chiều dài tơ (cm): Đo từ chỗ cấy giống đến tơ dài nhất của bịch phôi Mỗi bịch đo

3 chỗ ngẫu nhiên và được đánh dấu

Số ngày hình thành quả thể: Theo dõi 5 bịch ra quả thể đầu tiên ở các ô thí nghiệm

Số chùm quả thể: Đếm tất cả số chùm của 5 bịch phôi

Số quả thể /chùm: Đếm tất cả số quả thể của từng chùm/5 bịch phôi

Kích thước tai nấm: Chọn tai nấm lớn nhất trong chùm để theo dõi và đo chiều dài, chiều rộng tai nấm

3.6.2 Chỉ tiêu năng suất

Năng suất trọng lượng quả thể trung bình của bịch (g/bịch) là năng suất trọng lượng của các bịch theo dõi qua các lần thu hoạch

Năng suất ô thí nghiệm (kg/25bịch) = Tổng khối lượng quả thể thu được trên mỗi

ô thí nghiệm qua các lần thu hoạch

Năng suất thực thu = (Năng suất ô thí nghiệm/số bịch phôi) x 1000 (kg/1000 bịch) Năng suất lý thuyết = (Trọng lượng quả thể/bịch) x 1000 (kg/1000 bịch)

3.6.3 Hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế trên 1000 bịch phôi

Tổng thu nhập = Tổng khối lượng nấm thu hoạch x giá bán 1kg

Lợi nhuận = Tổng thu nhập - Tổng chi phí

Trang 39

(Trong đó: các dụng cụ cố định được tính khấu hao theo từng vụ)

3.7 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thu thập được xử lý thống kê bằng phần mềm MSTATC (trắc nghiệm ANOVA-1), sử dụng chương trình Microsoft Excel tính năng suất thu hoạch, hiệu quả kinh tế

Trang 40

Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Kết quả của thí nghiệm

Các bịch nguyên liệu sau khi tiến hành cấy giống vào bịch thì ta tiến hành theo dõi

các chỉ tiêu sinh trưởng của nấm

4.1.1 Kết quả theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng

4.1.1.1 Chiều dài tơ

Sự tăng trưởng của chiều dài tơ của nấm là do đặc tính di truyền qui định Đây là

một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng tăng trưởng, khả năng thích

nghi của sợi tơ nấm trong những điều kiện khí hậu, giá thể khác nhau Đồng thời, chiều

dài tơ cũng là một trong những yếu tố quan trong của việc hình thành quả thể sau này

Bảng 4.1: Động thái tăng trưởng chiều dài sợi tơ của các nghiệm thức (cm)

Ngày sau cấy Nghiệm thức

12,1 a 10,8 a 6,7 b

23,3 a 13,8 b 11,4 c

29,9 a 18,3 b 15,5 c

3,92 2,516

Ghi chú: Trong cùng một cột hay cùng một hàng có các mẫu kí tự khác nhau thì có sự

khác biệt về mặt thống kê

Ngày đăng: 18/09/2018, 06:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w