1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC TÍNH TRÁI VÀ CHẤT LƯỢNG HẠT CỦA 32 DÒNG CA CAO (Theobroma cacao L.) TẠI VÙNG ĐẤT XÁM HUYỆN TRẢNG BOM ĐỒNG NAI

76 244 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 2,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong 32 dòng khảo sát tương ứng với mỗi chỉ tiêu có tỉ lệ khác nhau, trong đó dòng ICS1, MO81, TD64 là những dòng có triển vọng với trọng lượng trái, chiều dài, số hạt, trọng lượng hạt

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC TÍNH TRÁI VÀ CHẤT LƯỢNG HẠT

CỦA 32 DÒNG CA CAO (Theobroma cacao L.) TẠI VÙNG ĐẤT

XÁM HUYỆN TRẢNG BOM - ĐỒNG NAI

Họ và tên sinh viên: ĐINH THỊ THẮM

Ngành: NÔNG HỌC

Niên khóa: 2005- 2009

Tháng 08 năm 2009

Trang 2

KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC TÍNH TRÁI VÀ CHẤT LƯỢNG HẠT CỦA 32 DÒNG CA CAO (Theobroma cacao L.) TẠI VÙNG ĐẤT XÁM

HUYỆN TRẢNG BOM - ĐỒNG NAI

TP Hồ Chí Minh Tháng 08/2009

Trang 3

Chân thành cảm ơn: Ban Giám Hiệu Trường Đại học Nông Lâm TP HCM, Ban Chủ Nhiệm Khoa Nông học cùng toàn thể quý thầy cô Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM đã tận tình dạy dỗ, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập ở trường

Lời cảm ơn chân thành xin được gửi đến Anh Nguyễn Văn Hoàng và các cô chú công nhân đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Cảm ơn các anh chị, các bạn trong và ngoài lớp đã tận tình giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tp Hồ Chí Minh, 08/2009

Đinh Thị Thắm

Trang 4

TÓM TẮT

Đinh Thị Thắm, Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 08/2009 Khảo sát một số đặc tính trái và chất lượng hạt của 32 dòng ca cao (Theobroma cacao L.) tại vùng đất xám, huyện Trảng Bom - Đồng Nai

Giáo viên hướng dẫn: T.S Phạm Hồng Đức Phước

Th.S Nguyễn Đức Xuân Chương

Đề tài nghiên cứu được tiến hành tại vườn thực nghiệm ca cao trường ĐHNL tại xã Quảng Tiến, huyện Trảng Bom, Đồng Nai Thời gian thực hiện đề tài từ 02/03/2009 đến 31/05/2009 Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên (RCBD) đơn yếu tố với 3 lần lặp lại, 32 nghiệm thức

Đề tài đã nghiên cứu, khảo sát một số đặc tính trái và chất lượng hạt ca cao của

32 dòng ca cao nhập nội và tuyển chọn trong nước: TD52, TD53, TD56, TD57, TD60, TD62, TD63, TD64, TD68, TD69, TD70, TD71, TD76, TD77, TD78, AMAZ15-15, EET367, ICS1, ICS16, IMC53, IMC67, IMC 105, MO81, NA32, NA33, PA127, PA137, PA156, SCA6, SIAL339, SCA9, UIT1

Qua 32 dòng khảo sát ta thấy sự đa dạng về màu sắc, hình dạng quả, vỏ quả, hầu hết các dòng đều có trái chuyển biến màu vàng khi quả chín, riêng 5 dòng TD53, TD69, TD77, ICS1, ICS16 có dạng màu đỏ cam khi trái chuyển chín Dạng quả đều có quả dạng ống bầu dục thon dài, riêng TD53 và PA127, SIAL339 có dạng quả gần tròn

Vỏ quả hầu hết nhẵn, riêng TD60, TD63, TD68, EET367, NA32, NA33, SCA9, UIT1

- Dòng có đường kính lớn ICS16 (8,58 cm), SCA9 (8,54 cm), TD53 (8,54 cm), TD64 (8,44 cm) Trong khi đó TD71 (6,73cm), NA33 (6,52 cm) lại là những dòng có đường kính tương đối nhỏ

Trang 5

- Độ dày vỏ lớn nhất ở các dòng ICS1 (1,21cm), SCA9 (1,13 cm), IMC105 (1,01 cm), UIT1( 1,01 cm) Trong khi đó NA33 (0,61cm), TD71 (0,63 cm), TD52 (0,7 cm) là những dòng có độ dày vỏ mỏng.

- Các dòng IMC105 (51,9 hạt), UIT1 (47,4 hạt), có số lượng hạt trên trái lớn nhất Ngược lại TD71 (32,01 hạt), TD69 (32,40 hạt), TD52 (32,58 hạt), có số hạt trên trái ở mức thấp nhất

- Dòng có trọng lượng hạt tươi cao TD64 (134,7 g), MO81 (123 g) Trong khi

đó các dòng NA32 (73,7 g), TD70 (75 g), là những dòng có trọng lượng hạt tươi trung bình trên trái tương đối nhỏ

Trọng lượng trái các dòng MO81 (456,7 g), ICS1 (510 g), IMC53 (450 g), CSA9 (423,3 g) là những dòng có trọng lượng hạt tương đối vượt trội Trong khi đó NA33 (240 g), TD71 (296,7 g), là những dòng có trọng lượng trái trung bình rất nhỏ

Tỉ lệ trái bị sâu bệnh có tỉ lệ rất thấp và tăng dần từ tháng 3 đến tháng 5 Dòng TD70 có tỉ lệ bị sâu hại nặng với tỉ lệ 39,62 % (tháng 4) Dòng MO81 là dòng có tỉ lệ trái bị sâu hại ít nhất, với tỉ lệ bị hại 3 % (tháng 3) Sự chênh lệch tỉ lệ bệnh giữa các dòng không đáng kể, dòng có tỉ lệ trái bị nhiễm bệnh tương đối cao ở các dòng TD68, TD69, TD56 với tỉ lệ lần lượt 14,96 %; 14,70 %; 13,07 % (Tháng 5)

Chất lượng hạt trong 32 dòng khảo sát có 7 dòng được xếp loại vào nhóm hạt 1A, 9 dòng xếp loại 1B, 5 xếp loại 1C, còn lại 11 dòng không nằm trong loại hạt 1A, 1B, 1C do có số hạt trong 100g quá nhiều hoặc độ ẩm vượt quà 7,5 %

Trong 32 dòng khảo sát tương ứng với mỗi chỉ tiêu có tỉ lệ khác nhau, trong đó dòng ICS1, MO81, TD64 là những dòng có triển vọng với trọng lượng trái, chiều dài,

số hạt, trọng lượng hạt tương đối cao Ngược lại dòng TD70, TD71, TD68 là những dòng có trọng lượng trái, trọng lượng hạt, số hạt tương đối thấp đồng thời tỉ lệ bị sâu hại tương đối cao

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

TÓM TẮT ii

MỤC LỤC iv

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH SÁCH CÁC HÌNH vii

DANH SÁCH CÁC BẢNG viii

Chương 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu đề tài 2

1.3 Yêu cầu 2

1.4 Giới hạn đề tài 2

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Giới thiệu chung về cây ca cao 3

2.1.1 Nguồn gốc 3

2.1.2 Các giống ca cao 3

2.1.3 Điều kiện ngoại cảnh thích hợp ra hoa và đậu quả 5

2.1.4 Đặc điểm hình thái của quả và hạt ca cao 6

2.1.5 Sâu bệnh hại trái ca cao 8

2.2 Kĩ thuật sơ lên men hạt ca cao 8

2.2.1 Tách hạt 8

2.2.2 Ủ lên men hạt 8

2.2.3 Làm khô hạt 10

2.3 Tình hình sản xuất tiêu thụ ca cao trên thế giới 11

2.3.1 Trên thế giới 11

2.2.2 Việt Nam 13

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 15

3.1.1 Thời gian nghiên cứu 15

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 15

3.1.3 Điều kiện khí hậu trong thời gian làm thí nghiệm 15

Trang 7

3.2 Vật liệu thí nghiệm 16

3.3 Phương pháp thí nghiệm 16

3.3.1 Bố trí thí nghiệm 16

3.3.2 Thu hoạch trái và lên men hạt 17

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi, mô tả 19

3.4.1 Trọng lượng trái tươi (kg) 19

3.4.2 Chiều dài trái (cm) 19

3.4.3 Đường kính trái (cm) 20

3.4.4 Độ dày vỏ (mm) 20

3.4.5 Số hạt trên trái 20

3.4.6 Các chỉ tiêu về hình dạng trái 20

3.4.7 Chỉ tiêu về sâu bệnh hại 21

3.4.7 Đánh giá chất lượng hạt 21

3.6 Thu thập và xử lí số liệu 22

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23

4.1 Đặc điểm hình thái trái 23

4.2 Kích thước trái của các dòng ca cao 25

4.3 Chỉ tiêu số hạt trên trái, trọng lượng hạt tươi trên trái, trọng lượng trái 29

4.4 Tình hình sâu hại 32

4.5 Tình hình bệnh hại 34

4.6 Chất lượng hạt ca cao 38

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 41

5.1 Kết luận 41

5.2 Đề nghị 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

PHỤ LỤC 44

Trang 8

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐHNL Đại học Nông Lâm

ICCO International Cocoa Organization

Prob Giá trị xác xuất (Probability)

RCBD Khối đầy đủ ngẫu nhiên (Random Complete Block Dezign) TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

Trang 9

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 2.1 Dạng quả ca cao giống Criollo 4

Hình 2.2 Dạng quả ca cao giống Forastero 4

Hình 2.3 Những biến đổi trong quá trình ủ hạt ca cao 9

Hình 3.1 Màu sắc quả ca cao chuyển biến khi chín 18

Hình 3.2 Hạt ca cao lên men trong thùng gỗ 18

Hình 3.3 Hạt được sấy sau khi ủ lên men 19

Hình 4.1 Các dòng có chiều dài trái vượt trội nhất TD69, IMC53, SCA6, UIT1 27

Hình 4.2 Dòng ca cao có chiều dài trái ngắn nhất NA33, TD71 28

Hình 4.3 Hình trái ca cao có hình dạng trái gần tròn PA137, TD53 28

Hình 4.4 Dòng ca cao có độ dày vỏ mỏng NA33, TD71 28

Hình 4.5 Dòng ca cao có độ dày vỏ lớn ICS1, SCA9 29

Hình 4.6 Dòng ca cao có nhiều hạt trên trái IMC53, UIT1 .31

Hình 4.7 Dòng ca cao số hạt trên trái thấp TD52, TD69, NA33, TD71 32

Bảng 4.4 Tỉ lệ trái bị sâu hại của 32 dòng khảo sát qua các tháng theo dõi (%) 33

Hình 4.8 Dòng ca cao có tỉ lệ trái bị sâu bệnh cao TD70, TD68 37

Hình 4.9 Dòng ca cao có tỉ lệ sâu hại trái thấp TD60, TD64 37

Hình 4.10 Dòng ca cao có tỉ lệ sâu hại trái thấp, MO81, PA137 38

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Những đặc cơ bản của 3 nhóm Criollo - Forastero - Trinitario 5

Bảng 2.2 Các thành phần của hạt ca cao tươi (%) 7

Bảng 2.3 Sản lượng ca cao trên thế giới (1000 tấn) 12

Bảng 2.4 Diện tích các nước trồng ca cao tiêu biểu trên thế giới 2001 (1000 ha) 13

Bảng 2.5 Diện tích trồng ca cao ở Việt Nam năm 2006 14

Bảng 3.1 Điều kiện thời tiết tại huyện Trảng Bom, Đồng Nai trong thời gian thí nghiệm .15

Bảng 3.2 Phân loại hạt ca cao theo TCVN 7519:2005 22

Bảng 4.1 Một số đặc tính hình thái trái của 32 dòng ca cao 24

Bảng 4.2 Chỉ tiêu về chiều dài trái (cm), đường kính trái (cm), độ dày vỏ trái (cm) 26

Bảng 4.3 Chỉ tiêu trọng lượng hạt tươi (g), trọng lượng trái (g), số hạt trên trái 30

Bảng 4.5 Tỉ lệ trái bị bệnh hại của 32 dòng khảo sát qua các thời diểm theo dõi (%) 35 Bảng 4.6 Chất lượng hạt của 32 dòng ca cao khảo sát .39

Trang 11

Chương 1

GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Cây ca cao (Theobroma cacao L.) là cây công nghiệp dài ngày được phát hiện

và tìm thấy đầu tiên ở lưu vực sông Amazon, có giá trị cao về mặt kinh tế và dinh dưỡng Ngay từ thế kỉ 16, cây ca cao được thuần hóa và phát triển rộng ở nhiều nước trên thế giới Sản phẩm chính thu được từ ca cao là hạt, hạt ca cao ngoài hàm lượng bột, protein, chất béo còn chứa cả các chất kích thích như Theobromin, caffein, tinh dầu tạo hương thơm và mùi vị hấp dẫn cho người sử dụng sau khi chế biến Với những

ưu việt về dinh dưỡng hạt ca cao mang lại hiệu quả kinh tế cao, được sử dụng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp thực phẩm, phổ biến là sản phẩm cao cấp như Sôcôla, bột ca cao, mỹ phẩm

Việt Nam, ca cao được du nhập vào rất sớm, theo chân các nhà truyền giáo phương Tây Với điều kiện đất đai và khí hậu thích hợp sẵn có ca cao nhanh chóng được trồng trên nhiều vùng sinh thái khác nhau Sản xuất ca cao Việt Nam phần lớn thu mua hạt xuất khẩu, sản phẩm ca cao xuất khẩu của Việt Nam được đánh giá có chất lượng hàng đầu châu Á

Với mục tiêu chuyển đổi cơ cấu câu trồng, mở rộng và nhân nhanh diện tích

ca cao, cũng như nâng cao năng suất, chất lượng ca cao, khẳng định thương hiệu ca cao Việt Nam trên thị trường thế giới thì công tác chọn giống là phục vụ thiết thực nhất Với nguồn giống qua lai tạo, đã xuất hiện các dòng ca cao mang đặc tính khác nhau, phù hợp với từng vùng sinh thái khác nhau Để phân biệt, cũng như xác định, đánh giá chất lượng hạt các dòng ca cao thì trái ca cao là một trong chỉ tiêu không kém phần quan trọng Xuất phát từ những yêu cầu thiết thực trên, được sự đồng ý của khoa Nông Học, đề tài “ Khảo sát một số đặc tính trái và chất lượng hạt của 32 dòng ca cao tại vùng đất xám huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai ” đã được tiến hành

Trang 12

- Theo dõi tỉ lệ trái bị sâu bệnh trên trái

- Đánh giá chất lượng hạt thông qua việc so sánh các chỉ tiêu về hạt ca cao khô với TCVN về chất lượng hạt ca cao

Trang 13

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Giới thiệu chung về cây ca cao

2.1.1 Nguồn gốc

Tên khoa học: Theobroma cacao L

Giới (regnum): Plantae

Ngành (divisio): Magnoliophyta

Lớp (class): Magnoliopsida

Bộ (ordo): Malvales

Họ (familia): Sterculiaceae

Chi (genus): Theobroma

Loài (species): T cacao

Chi Theobroma có 22 loài, trong đó chỉ có loài Theobroma ca cao được trồng rộng rãi còn các loài khác hoặc hoang dại hoặc rất ít được trồng

Ca cao có nguồn gốc ở lưu vực sông Amazon dưới các tầng cây thấp phủ đầy bóng mát và có độ ẩm cao Tuy nhiên, những cây ca cao hoang dại cũng được tìm thấy

ở khu vực Trung và Nam Mỹ Người Mayas của Yucatan và người Aztecs của Mexico

là những người đầu tiên trồng ca cao (Phạm Trí Thông, 1999) Hiện nay được phát triển rộng ra nhiều nước trên Thế Giới Ở Việt Nam ca cao bắt đầu du nhập vào Việt Nam năm 1878

Trang 14

sớm đạt hiệu quả (chỉ 2-3 ngày trong khi hạt) Cây Criollo lâu cho quả sau 4-5 năm trồng và mẫn cảm sâu bệnh

+ Forastero: quả xanh khi chín vàng, hình bầu dục, rãnh không sâu, vỏ dày và cứng Hạt màu tím thẫm, hơi dẹt Cung cấp hầu hết lượng ca cao trên thị trường

+ Trinitario: Giống lai giữa Criollo và Forastero Mang đặc tính trung gian của

2 giống bố, mẹ Nhưng phẩm chất có nhiều biến đổi giống như các tính chất của giống lai không đồng đều Vì vậy cần tiến hành chọn lọc và nhân giống vô tính để tìm ra giống mang đặc tính tốt, Trinitario cung cấp 10-15% sản lượng ca cao thế giới

Hình 2.1 Dạng quả ca cao giống Criollo

(Nguồn: http://www.fao.org/DOCREP/006/AD220E/AD220E00.htm#TOC

Hình 2.2 Dạng quả ca cao giống Forastero

(Nguồn: http://www.fao.org/DOCREP/006/AD220E/AD220E00.htm#TOC )

Trang 15

Bảng 2.1 Những đặc cơ bản của 3 nhóm Criollo - Forastero - Trinitario

Nhóm giốngĐặc tính

Trơn không có rãnh sâu

Kết cấu Mỏng, mềm, ít

mô gỗ

Cứng, dày, nhiều chất gỗ

Hoa Nhụy hồng vàng Nhụy màu tím

Ít khi trắng, thường là tím rất nhạt (Nguồn: Nguyễn Văn Uyển và Đặng Tài Sum, 1996)

2.1.3 Điều kiện ngoại cảnh thích hợp ra hoa và đậu quả

Cây ca cao thích hợp với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm mưa nhiều Thích hợp với

nhiệt độ trung bình 25oC đến 28oC, độ ẩm 85%, lượng mưa bình quân trên 1500

mm/năm Ca cao thích hợp với khí hậu có mùa khô không kéo dài quá 3 tháng, nhiệt

độ trung bình 25oC, không có gió mạnh thường xuyên Ca cao là cây ưa ánh sáng tán

Trang 16

xạ (50-60% cường độ ánh sáng tự nhiên) nên thích hợp trồng dưới tán cây ăn trái hoặc cây che bóng

Cây ca cao thích hợp với nhiều loại đất khác nhau: đất đỏ, đất xám, đất phù sa

cổ, song thích hợp nhất với đất có thành phần cơ giới trung bình đến nhẹ, pH từ 5,5 - 5,8, tầng canh tác dày 1-1,5 m, dễ thoát nước, có khả năng giữ nước cao, giàu chất hữu

cơ Tuy nhiên bằng biện pháp canh tác (bón vôi, bón phân hữu cơ) có thể giúp cây ca cao đạt năng suất cao trên vùng đất kém màu mỡ Ở nước ta, ca cao được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau từ Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Miền Đông Nam Bộ và Đồng Bằng Sông cửu Long

Thời vụ trồng ca cao: tùy theo điều kiện thời tiết khí hậu mà chọn thời vụ phù hợp, tốt nhất nên trồng vào đầu mùa mưa Trên đất tốt, dinh dưỡng cao mật độ trồng 3x3m, trên đất kém dinh dưỡng khoảng cánh trồng 3x2,5m Trước khi trồng nên chuẩn

bị hố có kích thước 50x50x50cm

Ca cao là cây công nghiệp lâu năm, tuổi thọ có thể kéo dài hơn 30 năm Sau khi trồng khoảng 14 - 20 tháng là cây ra hoa, kết trái, cây ghép hay cây giâm cành ra hoa sớm hơn từ 9 – 18 tháng Những nơi có đủ nước cây ra hoa quanh năm.nhưng vẫn

có cao điểm ra hoa rộ (Phạm Hồng Đức Phước, 2006)

2.1.4 Đặc điểm hình thái của quả và hạt ca cao

Sau khi được thụ phấn đầu quả ca cao tăng trưởng chậm trong khoảng 40 ngày sau đó nhanh dần và đạt kích thước lớn nhất sau 75 ngày Sau 85 ngày phôi hạt trong quả bắt đầu phát triển và lớn nhanh, đây là thời kì tích lũy chất béo và lớp cơm nhầy hình thành Sau khi thụ phấn khoảng 140 ngày phôi hạt tiêu thụ gần hết số chất nhầy để phát triển, đồng thời lúc này lượng chất béo trong quả rất lớn Quả bước vào giai đoạn chín khi phôi hạt ngừng phát triển Thời gian từ khi hoa bắt đầu thụ phấn đến khi quả chín kéo dài 5 - 6 tháng (Nguyễn Văn Uyển và Nguyễn Tài Sum, 1996)

Hiện tượng khô héo quả non khá phổ biến trong giai đoạn đầu phát triển Quả ở nhánh nhỏ khó phát triển hoàn chỉnh so với quả ở thân và cành Đây là hiện tượng sinh

lí đặc thù của ca cao nhằm đảm bảo số lượng quả chín phù hợp với giai đoạn đầu phát triển Thông thường số lượng quả non khô héo chiếm 20 %-90 % trên tổng số quả đã được thụ phấn, trong khoảng thời gian 50-70 ngày quả non có thể trở nên vàng và

Trang 17

ngừng sinh trưởng, đen lại nhưng vẫn dính trên cây, sau 95-100 ngày quả không còn hiện tượng héo sinh lí Hiện tượng héo đến sau thời gian trên thường do bệnh gây ra (Phạm Hồng Đức Phước, 2005)

Quả ca cao có kích thước, hình dáng, màu sắc rất đa dạng Kích thước có thể dài 10 - 30cm, hình dáng có thể gần tròn đến dài dạng ống, vỏ ngoài có thể tương đối nhẵn hoặc xù xì Màu sắc có thể xanh vàng đến tím thẫm hoặc hơi đỏ

Hạt chứa thành phần dinh dưỡng quan trọng, mỗi quả thường chứa 30-50 hạt ca cao Mỗi 1 hạt có lớp nhầy bao quanh Màng nhầy chứa nhiều dinh dưỡng có vị chua ngọt, thơm và là cơ chất cho quá trình chế biến ca cao

Hạt được xếp thành 5 dãy được bao bởi vỏ quả, kích thước hạt thay đổi tùy theo giống và mùa vụ Hạt dễ mất sức nảy mầm sau khi tách khỏi quả Tuy nhiên hạt ca cao

có thể giữ được từ 3 - 4 tuần sau khi tách bỏ lớp cơm nhầy và làm khô, giữ trong mùn

cưa hoặc than

Bảng 2.2 Các thành phần của hạt ca cao tươi (%)

10

- 0,6

-

-

- 0,7 0,8

9,4 13,8

46

-

-

- 3,8

18

-

- 0,8

- 8,2

35 3,2 4,5 4,9

- 1,1 31,3 8,4 2,4 0,8 5,2 0,6 2,6

(Nguồn: Nguyễn Văn Uyển và Đặng Tài Sum, 1999)

Trang 18

2.1.5 Sâu bệnh hại trái ca cao

Sâu, bệnh là nguyên nhân chính làm giảm năng suất và phẩm chất của cao Làm giảm 30 – 40 % tổng sản lượng ca cao trên toàn thế giới

Sâu hại: Gây hại chủ yếu là sâu đục trái, bọ xít muỗi và rệp sáp

+ Sâu đục vỏ trái (Cryptophlebia encarpa): Sâu đục quanh vỏ trái tạo các đường

rãnh Làm rụng trái non, giảm năng suất trái lớn Sâu phát triển và phá hoại chủ yếu ở phần vỏ quả, ít ảnh hưởng đến hạt

+ Bọ xít muỗi (Helopeltis spp.): Chích hút nhựa quả, chồi non, cành non Các vết

chích bị thâm đen, các quả non bị chích thường héo khô, trái lớn bị chích có nhiều vết thâm phát triển dị dạng, và nhiều nguy cơ bị nấm hại xâm nhập

+ Rệp sáp (Planococcus citri) : Sống bám vào cuốn lá, thân, quả non hay cổ rễ để

hút nhựa làm cây Làm quả chậm phát triển và còi cọc

Bệnh hại: Gây hại chủ yếu và nguy hiểm trên quả là bệnh thối quả

(Phytophthora palmivora) Bệnh phát triển vào mùa mưa, thời kì ẩm độ cao, nguồn

phát tán và lây lan chính là đất (nước mưa làm đất có mầm bệnh văng bám lên cây, lá, quả hoặc qua kiến và mối ) và quả ca cao mang mầm bệnh (bào tử phát tán nhờ nước mưa, côn trùng) (Phạm Hồng Đức Phước, 2006)

2.2 Kĩ thuật sơ lên men hạt ca cao

2.2.1 Tách hạt

Trái sau khi thu hoạch được đập bằng thanh gỗ hoặc những vật dụng ít làm tổn hại đến hạt bên trong đập theo chiều thẳng đứng để lấy hạt, loại bỏ xơ cùi trụ bám dính hạt

2.2.2 Ủ lên men hạt

Ủ hạt lên men đóng vai trò rất quan trọng trong phẩm chất của hạt ca cao Ủ không đúng cách hoặc chưa đạt tới đỉnh cao của lên men thì phẩm chất của hạt sút giảm rất nhiều Khi ủ nhiệt độ bên trong thùng ủ có thể lên đến 50oC, thường xuyên trộn đều thùng ủ và luôn giữ cho thùng ủ được nóng ẩm Nếu dùng dụng cụ ủ không

hợp sự lên men của hạt sẽ không đạt và có thể bị thối

Trang 19

Hình 2.3 Những biến đổi trong quá trình ủ hạt ca cao

nhiệt độ tăng lên

Không khí thâm nhập vào khối hạt ủ (thúc đẩy bằng cách đảo trộn)

Các vi khuẩn oxy hóa cồn thành acid acetic, nhiệt độ tăng lên

tán của các tế bào sắc tố

Phân hủy các sắc tố anthocyans

Phát triển hương và vị chocolate

Trang 20

Hạt ca cao ủ để giảm vị đắng, chát và hình thành những hương vị đặc trưng Ủ hay lên men là khoảng thời gian lấy hạt ra khỏi trái, dồn đống để các vi sinh vật phát triển Sự lên men bắt đầu khi nấm men phát triển trong lớp cơm bao quanh hạt Nấm men chuyển hoá đường trong lớp cơm hạt thành rượu Giai đoạn tiếp theo là vi khuẩn Oxy hoá rượu thành axít acetic và chuyển hoá tiếp tục đến cuối cùng là H2O và CO2 lớp cơm hạt bắt đầu phân tan vào ngày thứ 2 sau khi lên men Nhiệt độ khối hạt tăng nhanh trong quá trình ủ lên men Nhiệt độ khối ủ tăng lên 40 – 45oC sau khi ủ 48 giờ Đảo trộn hạt sẽ làm tăng độ thông thoáng giúp vi khuẩn háo khí lên men hoạt động mạnh Vào ngày thứ 2 sau khi ủ, nhiệt độ cao và axít acetic làm các tế hạt bị chết

Quá trình lên men hạt thường kéo dài khoảng 5-6 ngày, tùy thuộc vào nhiều yếu

tố khác nhau và hoạt dộng kế tiếp nhau của các vi sinh vật Quá trình lên men hạt có thể áp dụng bằng nhiều phương pháp Các phương pháp ủ hạt bao gồm: ủ thúng, ủ đống, ủ lá chuối, ủ thùng

2.2.3 Làm khô hạt

Hạt sau khi lên men phải làm khô bằng phơi hay sấy để độ ẩm từ 60 % trở xuống dưới 7,5 % Phơi sấy phải cẩn thận để tránh những mùi lạ phát triển Phơi sấy phải tiến hành từ từ Nếu làm hạt khô quá nhanh thì một số quá trình chuyển hoá hoá học sẽ không được hoàn thành, hạt sẽ chua có vị đắng Tuy nhiên nếu phơi sấy quá lâu nấm mốc và các mùi lạ sẽ phát triển Nhiệt độ trong quá trình phơi sấy không nên vượt quá 65oC Các cách làm khô hạt:

+ Phơi bằng ánh sáng nắng: Nơi có ánh sáng tốt Trong quá trình phơi phải đảo trộn hạt thường xuyên để đảm bảo hạt khô đồng đều Nếu ánh sáng đầy đủ, ít mưa thì

cần 4 ngày đến 7 ngày để hạt khô

+ Sấy: Nếu không có nắng, hạt sau khi lên men phải sấy Hạt sấy sẽ bị giảm chất lượng nếu bị nhiễm khói đốt tạo mùi lạ hoặc hạt khô quá nhanh Các máy sấy sử dụng cho ca cao phải dùng nhiệt gián tiếp thông qua thiết bị trao đổi nhiệt Hạt ca cao sau khi được phơi sấy khô cần được để nguội sau dồn vào bao đay và cất trữ nơi khô ráo, thoáng mát Cần kê khối hạt cao 20 - 25 cm, kiểm tra thường xuyên để

có thể phơi sấy lại tránh hư hỏng khi bảo quản Thiết bị sấy có thể sử dụng để sấy

ca cao như máy sấy tháp, máy sấy thùng quay hoặc máy sấy tầng sôi

Trang 21

2.3 Tình hình sản xuất tiêu thụ ca cao trên thế giới

2.3.1 Trên thế giới

Ca cao được sử dụng vào khoảng thế kỉ IV trước công nguyên bởi người Maya Đến thế kỉ 15 ca cao bắt đầu phát triển rộng khắp các nước trên thế giới, trước hết là Nam Mỹ và vùng Caribe như Venezuela, Jamaica, Haiti Đầu thế kỉ 19, các nước Nam Mỹ bắt đầu xuất khẩu ca cao với qui mô lớn Cuối thế kỉ 19, ca cao bắt đầu được trồng ở Tây Phi, trước tiên là ở Ghana, Nigeria Trong giai đoạn từ năm 1945-1985, năm quốc gia sản xuất ca cao đứng đầu là Braizil, (99 % sản lượng ca cao thế giới), Cameroon (6 %), Ghana (11 %), Bờ Biển Ngà (30 %), Nigeria (6 %) Từ 1985 trở lại đây, các nước Châu Á bắt đầu chú ý phát triển ca cao, trước hết là Malayisa, Indonesia, Ấn độ, Srilanka.(Trích dẫn bởi Nguyễn Hoàng Phúc, 2006)

Hiện nay sản lượng ca cao trên thế giới không ngừng gia tăng và dần hình thành 3 trung tâm sản xuất ca cao chính trên thế giới như Tây Phi, Nam Mỹ và khu vực Đông Nam Á Các nước tiêu biểu của 3 trung tâm này là: Bờ Biển Ngà, Camaroon, Ghana, Nigeria, Brazil, Ecuador, Indonesia, Malaysia Sản lượng ca cao trên thế giới và diện tích của các nước trồng ca cao tiêu biểu được trình bày ở bảng 2.3

và 2.4

Trong tương lai, với sự tăng cường đầu tư cho cây ca cao của các nước Châu

Á, đặc biệt khu vực Đông Nam Á Sản lượng và diện tích ca cao trên thế giới ngày càng có xu hướng mở rộng Ngành sản xuất ca cao có được sự tăng trưởng mạnh mẽ là nhờ có thị trường rộng lớn với sức tiêu thụ mạnh Theo số liệu thông kê 2001/2002 của ICCO, mức tiêu thụ trên thế giới là 0,53kg/người/g, đối với Châu Âu là 1,868 kg/người/năm, ở Châu Mỹ là 1,197 kg/ người/năm, Châu Phi là 0,134kg/người/năm, còn với Châu Á là 0,106 kg/người/năm Châu Âu và Châu Mỹ là hai thị trường tiêu thụ ca cao lớn nhất thế giới, hai thị trường này đã tiêu thụ hơn 60 % các sản phẩm làm

từ ca cao Mức tiêu thụ của các nước Châu Á khoảng 10 % nhưng theo các nhà phân tích thì đây là thị truờng rất có tiềm năng Với sự năng động về kinh tế, mức sống của người dân các nước Châu Á đang tăng nhanh, các sản phẩm từ ca cao trước đây được coi là mặt hàng của người giàu, thì đến nay ngày càng được tiêu thụ phổ biến hơn

Trang 22

Nhìn chung, việc sản xuất tiêu thụ ca cao đang theo chiều hướng tăng lên trên toàn thế giới.(Trích dẫn bởi Nguyễn Hoàng phúc, 2006)

Bảng 2.3 Sản lượng ca cao trên thế giới (1000 tấn)

Niên vụ Quốc gia 2004/05 2005/06 2006/07 2007/08 2008/09 Tây Phi

730

200

55 2.602

195 1.200

Trang 23

Bảng 2.4 Diện tích các nước trồng ca cao tiêu biểu trên thế giới 2001 (1000 ha)

Quốc gia Diện tích (1000 ha) Quốc gia Diện tích (1000 ha) Cameroon

683

305

591

69 (Nguồn: ICCO, 2001)

2.2.2 Việt Nam

Ca cao được người Pháp đưa vào Việt Nam khoảng nửa cuối thế kỉ XIX Đã được thử nghiệm gây trồng ở nhiều nơi trong các tỉnh phía nam Từ các tỉnh Tây Nguyên và miền trung trở vào Nam Bộ Năm 1878, Garnet một cha xứ người Pháp đã phổ biến kĩ thuật gieo trồng gây giống ca cao tại tỉnh Bến Tre.Tất cả đã trồng hơn

4000 gốc, khoảng trên 6 ha, phần lớn nằm gần Cái Mơn Năm 1900, tại Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, người Pháp tên là Kieffer đã phát hiện cây ca cao lớn mọc dưới tán cây xoài Ngoài ra, có nhiều chứng cứ cho thấy rằng cây ca cao đã được trồng từ khá sớm

ở các tỉnh Sa Đéc, Châu Đốc, Trà Vinh, Mỹ Tho, Thủ Dầu 1 (Bình Dương), Biên Hòa

Năm 1956, chính quyền miền Nam đã đưa giống ca cao vào thử nghiệm gieo trồng tại các tỉnh phía Nam Cây sinh trưởng tốt và cho năng suất cao nhưng chưa sản xuất đại trà và chưa tìm được thị trường tiêu thụ Vì vậy, không khuyến khích việc trồng ca cao ( Nguyễn Văn Uyển và Nguyễn Tài Sum, 1996)

Sau 1975, ca cao chỉ được trồng với qui mô nhỏ, chủ yếu là trồng thử nghiệm Đến 1996, nghành sản xuất ca cao ở Việt Nam được khởi sắc: Công ty cà phê ca cao Quảng Ngãi xây dựng phân xưởng sản xuất chocolate với công suất 1,5 tấn/ha và công

ty M& M hợp tác với Việt Nam thực hiện dự án mở rộng diện tích ca cao ở Việt Nam

Từ 2002, dự án Succes Alliance bắt đầu được triển khai ở Việt Nam Đây là chương trình do bộ nông nghiệp Mỹ hỗ trợ đào tạo về kĩ thuật giúp nông dân trồng ca cao đạt chất lượng xuất khẩu, đồng thời liên kết với các tổ chức thu mua, chế biến sản phẩm cho người nông dân Ngoài ra phát triển quốc tế Mỹ đã đồng ý tài trợ cho Việt Nam

800 ngàn USD để giúp Việt Nam trở thành 1 nước cung cấp hạt ca cao đã lên men chất lượng cao Thêm vào đó chương trình PSON của chính phủ Hà Lan cũng đã được triển

Trang 24

khai nhằm giúp Việt Nam trở thành nhà sản xuất hạt ca cao đạt tiêu chuẩn chất lượng Với những sự hỗ trợ to lớn đó, ngành ca cao Việt Nam đang đứng trước cơ hội phát triển rất thuận lợi Đến cuối 2006, diện tích trồng ca cao trên cả nước đạt hơn 7300 ha, chủ yếu tập trung ở các tỉnh Bến Tre, Tiền Giang, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đắc Lắc, Đắc Nông, Bình Phước (Neil Hollywood và Ctv, 2008)

Bảng 2.5 Diện tích trồng ca cao ở Việt Nam năm 2006

Địa phương Tổng DT

(ha)

DT trồng mới (ha)

DT hoạch (ha)

Năng suất (tấn/ha)

Ước sản lượng (tấn)

Trang 25

Chương 3

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

3.1.1 Thời gian nghiên cứu

Thí nghiệm được tiến hành từ ngày 01/03/2009 đến ngày 31/05/2008

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Thí nghiệm được tiến hành tại Vườn thực nghiệm ca cao, xã Quảng Tiến, huyện

Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

3.1.3 Điều kiện khí hậu trong thời gian làm thí nghiệm

Bảng 3.1 Điều kiện thời tiết tại huyện Trảng Bom, Đồng Nai trong thời gian thí

nghiệm

Tháng Nhiệt độ TB (oC)

Tổng lượng mưa (mm)

Độ ẩm TB (%)

Tổng số giờ nắng (giờ)

trung bình từ 27 – 28 oC Lượng mưa rất thấp, đặc biệt tháng 3 lượng mưa thấp chỉ

22mm, độ ẩm trung bình 75 – 85 %, số giờ nắng trung bình cao từ 6 – 9 giờ trên ngày

Với điều kiện thời tiết trong 3 tháng cho thấy sâu, bệnh hại trái ít phát triển nhưng tình

trạng khô hạn, lượng nước nước làm giảm phẩm chất hạt, hạt dễ lép

Trang 26

3.2 Vật liệu thí nghiệm

32 dòng ca cao nhập nội và tuyển chọn trong nước: TD52, TD53, TD56, TD57, TD60, TD62, TD63, TD64, TD68, TD69, TD70, TD71, TD76, TD77, TD78, AMAZ15-15, EET367, ICS1, ICS16, IMC53, IMC67, IMC 105, MO81, NA32, NA33, PA127, PA137, PA156, SCA6, SIAL339, SCA9, UIT1

Trang 27

Bảng mã hóa các dòng trong sơ đồ bố trí thí nghiệm

đỏ hoặc đỏ cam

Tách hạt ra khỏi trái bằng khúc gỗ trơn, đập theo chiều thẳng đứng của trái, tiến hành tách hạt loại bỏ xơ cùi trụ dính hạt, hạt sau tách được ủ lên men

Trang 28

Hình 3.1 Màu sắc quả ca cao chuyển biến khi chín 3.3.2.2 Ủ lên men hạt

Hạt sau khi thu hoạch tiến hành lấy mẫu theo từng dòng, trung bình mỗi mẫu khoảng 300 g hạt tươi, đặt mẫu hạt vào giữa khối lên men trong thùng hạt, thùng được

ủ kín bằng lá chuối xung quanh thùng Định kì 2 ngày tiến hành đảo khối hạt 1 lần Sau bảy ngày, hạt hóa nâu, lên men hoàn toàn tiến hành sấy hạt

Hình 3.2 Hạt ca cao lên men trong thùng gỗ A: Hạt ca cao sau khi tách khỏi trái, B: Hạt ca cao sau 5 ngày lên men hạt

3.3.2.3 Sấy hạt

Sấy hạt bằng máy sấy năng lượng mặt trời, sau thời gian khoảng 6 ngày, hạt khô đến mức bảo quản được, tiến hành phân loại và xác định độ ẩm hạt

A B

Trang 29

Hình 3.3 Hạt được sấy sau khi ủ lên men A: Hạt sấy bằng máy sấy năng lượng mặt trời, B: Mẫu hạt sau khi sấy khô

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi, mô tả

Các chỉ tiêu được đo đếm trên mỗi nghiệm thức 4 cây ở thời điểm thu hoạch,

lấy trung bình 14 ngày tiến hành thu hoạch và tổng hợp số liệu

3.4.1 Trọng lượng trái tươi (kg)

Cân trọng lượng trung bình trái/cây, một ô cơ sở cân trọng lượng trái trung bình trên 4 cây, Trọng lượng trái trung bình của một dòng như sau :

M= (m1 + m2 + m3 + m4)/4

Trong đó : M là trọng lượng trái trung bình của 1 dòng

m1, m2, m3, m4 lần lượt là trọng lượng trái trung bình của 4 cây theo dõi Trong đó trọng lượng trái trung bình của cây theo dõi được lấy trọng lượng trung bình số trái có được trên cây

3.4.2 Chiều dài trái (cm)

Dùng thước kẹp đo chiều dài 3 trái chín ngẫu nhiên/cây, lấy trung bình, đo từ cuống trái tới chóp trái khi trái chín hoàn toàn Mỗi ô thí nghiệm đo trên 4 cây Chiều dài trái trung bình được tính theo công thức sau:

L = (l1+l2+l3+l4)/4

Trong đó : L là chiều dài trung bình trái của 1 ô ; l 1 , l 2 , l 3 , l 4 lần lượt là chiều dài trung bình trái của 4 cây cùng theo dõi trong nghiệm thức

Trang 30

3.4.3 Đường kính trái (cm)

Sử dụng thước kẹp đo đường kính trái ở vị trí lớn nhất của 3 trái ngẫu nhiên/cây Tính đường kính trái trung bình của 1 ô cơ sở Đường kính trái tính theo công thức:

D = (d1 + d2 + d3 + d4)/4

Trong đó : D là đường kính trung bình trái của 1 ô, d 1 , d 2 , d 3 , d 4 lần lượt là đường kính trung bình trái của 4 cây cùng theo dõi trong nghiệm thức

3.4.4 Độ dày vỏ (mm)

Cắt trái ở vị trí lớn nhất theo chiều ngang, dùng thước kẹp đo độ dày ở rãnh vỏ

và sống vỏ Độ dày vỏ được tính trung bình từ rãnh vỏ và sống vỏ Mỗi ô thí nghiệm

đo trên 4 cây Độ dày vỏ trái ca cao được tính theo công thức:

n1, n2, n3, n4 lần lượt là số hạt/trái trung bình của 1 cây

Số hạt trung bình trên trái : ni = na + nb + nc

ni là số hạt trung bình trên trái của 1 cây theo dõi

na, nb, nc lần lượt là số hạt trên trái

3.4.6 Các chỉ tiêu về hình dạng trái

- Màu sắc trái: Mô tả theo màu sắc biểu hiện trên vỏ trái khi trái chín hoàn toàn

- Hình dạng trái: Mô tả quả dài, tròn, bầu dục

- Rãnh vỏ: rãnh sâu, rãnh nôn

- Vỏ quả : nhẵn hay sần xùi

Trang 31

3.4.7 Chỉ tiêu về sâu bệnh hại

3.4.7.1 Tỉ lệ trái bị bệnh (%)

Tỉ lệ trái bị bệnh trên tổng số trái khảo sát trên 4 cây của cùng 1 nghiệm thức,

14 ngày theo dõi 1 lần Công thức tính tỉ lệ trái bệnh/cây:

k= (Si/S) x 100%

k: Tỉ lệ trái bị bệnh của cây

S: Tổng số trái trên 1cây

Si: Số trái bị nhiễm bệnh trên cây

Công thức tính tỉ lệ trái bị bệnh của 1 ô: K= (k1 + k2 + k3 + k4)/4

K là tỉ lệ trái bi bệnh của 1 ô

k1, k2, k3, k4 lần lượt là tỉ lệ trái bị bệnh của mỗi cây trong ô

3.4.7.2 Tỉ lệ trái bị sâu hại

Tỉ lệ trái bị sâu hại trên tổng số trái khảo sát trên 4 cây của cùng 1 nghiệm thức,

14 ngày theo dõi 1 lần Công thức tính tỉ lệ sâu hại trên 1 cây:

I = (Ni/N) x 100%

i: Tỉ lệ sâu hại của trái/cây

Ni: Số trái bị sâu hại trên 1 cây

N: Số trái khảo sát trên 1 cây

Tỉ lệ sâu hại trên 1 ô: I = (i1 + i2 + i3 + i4)/4

I là tỉ lệ sâu hại trên 1 ô

i1, i2, i3, i4 lần lượt là tỉ lệ sâu hại trái trên 1 cây

3.4.7 Đánh giá chất lượng hạt

Mỗi dòng lấy 300 g hạt tươi, ủ trong 6 ngày, sau đó tiến hành sấy hạt bằng máy sấy năng lượng mặt trời Hạt sau khi sấy khô, tiến hành đánh giá chất lượng hạt theo TCVN

Hạt sau khi được sấy khô, đếm số và phân loại hạt theo mức độ hạt 1A, 1B, 1C trên 100 g hạt

Xác định tỉ lệ hạt chắc/ hạt lép sau khi sấy của 32 dòng: đếm và tính tỉ lệ hạt lép (hạt có lá mầm quá mỏng, bị lép sau khi sấy khô) trong 100 hạt khô

Trang 32

Xác định độ ẩm hạt: cân trọng lượng 100g hạt, tiến hành sấy hạt đến độ ẩm khô

kiệt 0%, ở nhiệt độ 70oC trong vòng 48 giờ, xác định độ ẩm của hạt :

Độ ẩm hạt (%) = [(m1 – m2)/m1] *100%

Trong đó: m 1 : Khối lượng hạt trước sấy; m 2: Khối lượng hạt sau sấy

Bảng 3.2 Phân loại hạt ca cao theo TCVN 7519:2005

Số lượng trong 100 g <100 <110 <120

Độ ẩm Tối đa 7,5% Tối đa 7,5% Tối đa 7,5%

Hạt xám màu Tối đa 3,0% Tối đa 3,0% Tối đa 3,0%

Hạt mốc Tối đa 3,0% Tối đa 3,0% Tối đa 3,0%

Hạt bị hư hại do côn trùng,

hạt nảy mầm Tối đa 2,5% Tối đa 2,5% Tối đa 2,5%

Tạp chất (rác thải) Tối đa 2,0% Tối đa 2,0% Tối đa 2,0%

3.6 Thu thập và xử lí số liệu

Thời gian thu thập số liệu: Bắt đầu từ 01/03/2009 đến ngày 31/05/2009

Tất cả số liệu được tính toán bằng phần mềm Microsoft of Excel và xử lí thống

kê bằng phần mềm MSTATC

Trang 33

Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Đặc điểm hình thái trái

Để dễ dàng phân biệt giữa các dòng, chọn tạo các dòng ca cao theo mong muốn thì chỉ tiêu hình thái của trái ca cao thể hiện rõ nhất Với những đặc tính về hình thái quả của 32 dòng ca cao đã khảo sát, mỗi dòng đều có dạng quả đặc trưng riêng về màu sắc trái, sự chuyển biến màu sắc trái trước và sau khi chín, mức độ nhẵn hay sần của

vỏ quả, chóp quả và cuốn quả

Quá trình khảo sát, đánh giá về mặt hình thái của 32 dòng ca cao kết quả về hình thái quả như : màu sắc, hình dạng quả, vỏ quả của 32 dòng ca cao được tổng hợp

Các dòng đều có rãnh quả tương đối điều, riêng MO81 có rãnh không đều, rãnh lớn nhỏ khác nhau, khoảng cách giữa các rãnh không đều Bề mặt vỏ của các dòng đa phần nhẵn, riêng các dòng như TD60, TD63, EET367, NA33, NA32 có dạng rãnh vỏ sần sùi

Các dòng ca cao đều có hình dạng đặc trưng, chủ yếu là các dạng hình elip, tròn, bầu dục Tuy nhiên mỗi dòng có đặc trưng riêng về vỏ quả, rãnh và tùy vào chóp quả, cuống quả có dạng đặc trưng khác nhau

Trang 34

Bảng 4.1 Một số đặc tính hình thái trái của 32 dòng ca cao

Đặc tính trái Dòng Màu sắc quả

TD52 Xanh vàng Tròn bầu dục Nhẵn, rãnh đều

TD60 Xanh vàng Thon dài, chóp thẳng Sấn, rãnh đều

TD62 Vàng mốc Elip tròn, cuốn thắt Vừa, rãnh đều

TD63 Xanh vàng Dài cong, chóp nhọn Sần, rãnh đều

TD69 Đỏ cam Thon dài, mũi nhọn, Nhẵn vừa, rãnh đều TD70 Xanh vàng Elip, chóp thẳng Nhẵn vừa, rãnh đều TD71 Vàng cam Elip nhỏ, quả cong Nhẵn vừa, rãnh đều

TD77 Đỏ cam Elip, quả nhỏ cong Nhẵn vừa, rãnh đều TD78 Xanh vàng Quả dài, chóp nhọn Nhẵn vừa, rãnh đều AMZL15-15 Xanh vàng Elip tròn Nhẵn vừa, rãnh đều EET367 Vàng cam Dài, thẳng, mũi nhọn Sần, rãnh đều

ICS1 Đỏ cam Elip tròn, đầu dài Nhẵn vừa, rãnh đều ICS16 Đỏ cam Quả dài, mũi thẳng Nhẵn vừa, rãnh đều IMC53 Xanh vàng Elip, chóp ngắn Nhẵn, rãnh đều

IMC67 Mốc vàng Elip, chóp cong Nhẵn, rãnh đều

IMC105 Vàng xanh Elip dài, đầu nhọn Nhẵn, rãnh đều

NA32 Vàng đều Elip, chóp nhọn Sần, rãnh đều

NA33 Vàng xanh Thon dài, nhỏ Sần, rãnh đều

PA127 Xanh vàng Dài, chóp nhọn Sần, rãnh đều

PA156 Xanh vàng Nhỏ, thon dài Nhẵn, rãnh đều SCA6 Xanh vàng Elip, chóp thẳng Nhẵn, rãnh đêu

SIAL339 Xanh vàng Tròn oval Sần, rãnh đều

SCA9 Xanh vàng Elip dài thẳng Sần, rãnh đều

UIT1 Xanh vàng Elip, chóp thẳng, nhọn Sần, rãnh đều

Trang 35

4.2 Kích thước trái của các dòng ca cao

Độ dày vỏ trái, chiều dài trái, đường kính trái của mỗi dòng ca cao đều có sự khác nhau, tùy vào đặc tính dòng mà độ dày vỏ trái dày hay mỏng, trái có chiều dài, đường kính cao hay thấp Tỉ lệ giữa chiều dài trái trên đường kính thể hiện được hình dạng trái của dòng, tỉ lệ càng cao trái càng dài Trái ngắn, tròn khi tỉ lệ thấp Kết quả

về các chỉ tiêu độ dày vỏ trái, chiều dài trái, đường kính trái của 32 dòng ca cao được tổng hợp và trình bày ở bảng 4.2

Qua bảng 4.2 cho thấy chỉ tiêu độ dày vỏ, chiều dài, đường kính trái có sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê (0,01) Theo kết quả phân hạng độ dày vỏ lớn nhất ở các dòng ICS1 (1,21cm), SCA9 (1,13 cm), IMC105 (1,01 cm), UIT1 (1,01 cm), trong đó ICS1 (1,21cm), có sự khác biệt rất có ý nghĩa với các dòng còn lại, độ dày vỏ được xếp vào dòng dày nhất Trong khi đó NA33 (0,61cm), TD71 (0,63 cm), TD52 (0,7 cm)

là những dòng có độ dày của vỏ tương đối mỏng và có sự khác biệt với các dòng còn lại, NA33 (0,61cm) độ dày vỏ mỏng

Dòng UIT1 (22,56 cm), TD69 (21,48 cm), SCA6 (21,43 cm), IMC105 (21,01 cm) là những dòng có chiều dài trái vượt trội Chiều dài trái ngắn ở các dòng NA33 (15,81 cm), NA32 (16,22 cm), PA137 (16,67 cm), TD71 (16,8 cm)

Dòng có đường kính lớn ICS16 (8,58 cm), SCA9 (8,54 cm), TD53 (8,54 cm), TD64 (8,44 cm) Trong khi đó TD71 (6,73cm), NA33 (6,52 cm) lại là những dòng có đường kính tương đối nhỏ

Tỉ lệ giữa chiều dài và đường kính trái giữa các dòng không có sự chênh lệch nhau nhiều Với tỉ lệ giữa chiều dài trên đường kính trái đánh giá được hình dạng của quả ca cao theo từng dòng Tỉ lệ càng lớn thể hiện trái dạng ống thon dài, ngược lại dạng quả có hình dạng gần tròn khi tỉ lệ càng nhỏ Dòng có tỉ lệ chiều dài trên đường kính cao TD76 (2,95) Tỉ lệ này thấp nhất ở dòng PA137 (2,01), TD53 (2,12)

Dòng ICS1, SCA9 là 2 dòng có chiều dài trái và đường kính trái vượt trội, tỉ lệ chiều dài trên đường kính ở mức trung bình, chứng tỏ ICS1, SCA9 là những dòng có quả to dài, đều Dòng TD71, NA33 là 2 dòng có chiều dài và đường kính nhỏ tuy nhiên tỉ lệ giữa chiều dài trái trên đường kính trái vẫn ở mức trung bình, chứng tỏ dòng TD71, NA33 là những dòng có dạng trái nhỏ, thon dài

Trang 36

Bảng 4.2 Chỉ tiêu về chiều dài trái (cm), đường kính trái (cm), độ dày vỏ trái (cm)

TD70 17,75 ghijkl 7,17 def 0,96 abcd 2,48 TD71 16,8 ijkl 6,73 ef 0,63 de 2,50

TD76 20,87 abcde 7,08 abcd 0,87 bcde 2,95

TD77 17,35 hijkl 7,25 cdef 0,96 abcd 2,39 TD78 20,27 abcdefg 7,63 abcdef 0,88 abcde 2,66 AMZL15-15 16,84 ijkl 7,37 abcdef 0,73 cde 2,28 EET367 20,72 abcdef 7,36 abcdef 0,88 abcde 2,82 ICS1 19,30 bcdefghij 8,34 abcd 1,21 a 2,31 ICS16 19,65 bcdefgh 8,58 a 0,99 abc 2,29 IMC53 19,03 bcdefghij 8,27 abcd 0,96 abcd 2,30 IMC67 18,49 defghijk 7,42 abcdef 0,76 cde 2,49

MO81 19,21 bcdefghij 8,03 abcd 0,76 cde 2,39 NA32 16,22 kl 7,33 abcdef 0,84 bcde 2,21 NA33 15,81 l 6,52 f 0,61 e 2,42 PA127 18,81 cdefghijk 7,45 abcdef 0,90 abcde 2,52 PA137 16,67 jkl 8,30 abcd 0,87 bcde 2,01

PA156 18,30 efghijkl 7,61 abcdef 0,76 cde 2,40 SCA6 21,43 abc 7,60 abcdef 0,95 abcde 2,82 SIAL339 18,15 eghijkl 7,98 abcd 0,83 bcde 2,27

0,000 6,16%

0,0000 15,06%

Ghi chú: giá trị có cùng kí tự theo sau trên cùng một cột thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (α = 0.01)

Trang 37

Tóm lại cả 3 chỉ tiêu về độ dày vỏ, chiều dài trái, đường kính trái của 32 dòng

ca cao đều có sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê Trong 32 dòng khảo sát nhận thấy dòng ICS1, SCA9 có sự khác biệt rất có ý nghĩa với các dòng còn lại, là 2 dòng nổi trội với chiều dài, đường kính và độ dày vỏ tương đối cao, quả to, dài Trong khi đó dòng NA33, TD71 là dòng có chiều dài trái và đường kính nhỏ, vỏ mỏng, trái nhỏ thuôn ngắn Dòng PA137, TD53 lại là dòng có tỉ lệ chiều dài trái trên đường kính trái thấp nhất trong 32 dòng khảo sát, cho thấy được dòng PA137, TD53 có dạng trái gần tròn

Hình 4.1 Các dòng có chiều dài trái vượt trội nhất TD69, IMC53, SCA6, UIT1

Trang 38

Hình 4.2 Dòng ca cao có chiều dài trái ngắn nhất NA33, TD71

Hình 4.3 Hình trái ca cao có hình dạng trái gần tròn PA137, TD53

Hình 4.4 Dòng ca cao có độ dày vỏ mỏng NA33, TD71

Ngày đăng: 17/09/2018, 17:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm