TÓM TẮT Đề tài điều tra tình hình gây hại, diễn biến và đánh giá hiệu quả của một số phương pháp phòng trị bệnh mốc sương trên cây khoai tây tại Đà Lạt – Lâm Đồng, thời gian từ tháng 3 đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀOTẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
F G
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH GÂY HẠI VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MỘT SỐ THUỐC PHÒNG TRỊ BỆNH MỐC
SƯƠNG (Phytophthora infestans (Mont.) de Bary) TRÊN KHOAI TÂY (Solanum tuberosum L.)
Trang 2ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH GÂY HẠI VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MỘT SỐ
NÔNG DƯỢC PHÒNG TRỊ BỆNH MỐC SƯƠNG (Phytophthora infestans
(Mont.) de Bary) TRÊN KHOAI TÂY (Solanum tuberosum L.)
TẠI ĐÀ LẠT – LÂM ĐỒNG
Tác giả
ĐÀO THỊ TUYẾT NHUNG
Khóa luận được đệ trình để hoàn thành yêu cầu cấp bằng kỹ sư Nông nghiệp
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn :
Quý Thầy Cô giáo trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, khoa lâm nghiêp
đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và làm đề tài vừa qua
Chân thành cảm ơn thầy Lê Cao Lượng, Ts Phạm Xuân Tùng, Ks Hồ Ngọc Anh
đã tận tình trực tiếp hương dẫn tôi thực hiện tốt luân văn tốt nghiệp này
Xin bày tỏ lòng biết ơn đến ban lãnh đạo, các anh chị và cô chú của Trung Tâm Nghiên Cứu Khoai Tây Rau và Hoa Đà Lạt đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Cảm ơn bạn bè, gia đình đã động viên, khuyến khích và giúp đỡ tôi trong thới gian học tập cũng như thời gian làm đề tài
Sinh Viên
Đào Thị Tuyết Nhung
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài điều tra tình hình gây hại, diễn biến và đánh giá hiệu quả của một số phương pháp phòng trị bệnh mốc sương trên cây khoai tây tại Đà Lạt – Lâm Đồng, thời gian từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2009 Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy
đủ ngẫu nhiên (RCBD)
Kết quả thu được:
Về điều tra tình hình gây hại trên địa bàn phường 7, phường 8, phường 11, xã Xuân Thọ, huyện Lạc Dương và Huyện Đức Trọng trong đó phường 7 có tỷ lệ cây khoai tây nhiễm bệnh mốc sương cao nhất, huyện Đức Trọng có tỷ lệ khoai tây nhiễm bệnh mốc sương thấp nhất Nhận thấy giai đoạn từ 25-30 NST cây khoai tây bắt đầu bị bệnh mốc sương và bệnh nặng nhất vào cuối vụ khoảng 80 NST
Diễn biến của bệnh mốc sương trên 3 giống khoai tây Atlantic, PO3, TKC33 thì giống khoai tây Atlantic dễ bị nhiễm bệnh mốc sương và bị nhiễm bệnh nặng nhất so với 2 giống còn lại, đã đạt được đỉnh điểm của bệnh lên đến 100% Giống TKC33 bị nhiễm bệnh thấp nhất và đây là giống kháng bệnh mốc sương tốt hơn hai giống còn lại Thí nghiệm nghiên cứu hiệu quả một số nông dược phòng trừ bệnh mốc sương trên cây khoai tây cho kết quả về thí nghiệm thuốc kích kháng nhận thấy thuốc kích kháng SAT cho tỷ lệ bệnh thấp nhất và hiệu lực phòng trừ bệnh mốc sương cao nhất (16,33 – 24,19%) Thí nghiệm thuốc hóa học cho kết quả là thuốc Phytocide cho tỷ lệ cây bệnh, tỷ lệ lá bệnh và chỉ số bệnh thấp nhất và có hiệu lực cao nhất (23,59%-64,34%) so với 3 loại thuốc còn lại là Satromil, Norshield, Curzate và có khác biệt rất
có ý nghĩa về mặt thống kê so với NT đối chứng
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cảm tạ i
Tóm tắt ii
Mục lục iii
Danh sách các chữ viết tắt vi
Danh sách các bảng ix
Danh sách các hình x
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
1.3 Thời gian thực hiện 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Sơ lược về cây khoai tây 3
2.1.1 Nguồn gốc 3
2.1.2 Đặc điểm thực vật học 4
2.1.2.1 Rễ 4
2.1.2.2 Thân 5
2.1.2.3 Lá 6
2.1.2.4 Hoa- quả - hạt 6
2.1.3 Giống khoai tây Atlantic 7
2.1.4 Tình hình sản xuất khoai tây hiện nay 7
2.1.4.1 Sản xuất khoai tây trên thế giới 7
2.1.4.2 Sản xuất khoai tây tại Việt Nam 9
2.2 Bệnh mốc sương trên khoai tây (P infestans (Mont.) de Bary 10
2.2.1 Khái quát về bệnh mốc sương 10
Trang 62.2.2 Nguồn gốc của P infestans 10
2.2.3 Triệu chứng của bệnh 11
2.2.3.1 Triệu chứng bệnh trên lá 11
2.2.3.2 Triệu chứng bệnh trên thân 12
2.2.3.3 Triệu chứng bệnh trên củ 12
2.2.4 Nguyên nhân gây bệnh 13
2.2.4.1 Sinh sản hữu tính 14
2.2.4.2 Sinh sản vô tính 15
2.2.5 Đặc điểm phát sinh, phát triển của bệnh 17
2.2.5.1.Ảnh hưởng của thời tiết 17
2.2.5.2 Ảnh hưởng bởi giai đoạn sinh trưởng của cây 18
2.2.5.3 Ảnh hưởng của giống 18
2.2.5.4 Ảnh hưởng của phân bón 18
2.2.5.5 Ảnh hưởng của địa thế đất đai 19
2.3 Biện pháp phòng trừ bệnh mốc sương 19
2.3.1 Biện pháp canh tác 19
2.3.2 Phương pháp dự tính dự báo 20
2.3.3 Phòng trừ bằng thuốc hóa học 20
2.3.3.1 Việt Nam 20
2.3.3.2 Đà Lạt 21
2.3.3.3 Thế giới 21
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 23
3.2 Nội dung nghiên cứu 23
3.3 Phương pháp nghiên cứu 23
3.2.1 Điều tra thu thập thông tin về tình hình gây hại và diễn biến của
bệnh mốc sương trên cây khoai tây tại Đà Lạt 23
3.2.2 Thí nghiệm nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ bệnh mốc sương trên cây khoai tây .25
Trang 7mốc sương trên cây khoai tây 25
3.2.2.2 TN2: thí nghiệm một số loại thuốc trong phòng trừ bệnh mốc sương trên cây khoai tây 26
3.3 Phương pháp xử lý số liệu 29
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Tình hình gây hại của bệnh mốc sương trên cây khoai tây tại Đà Lạt 30
4.2 Diễn biến của bệnh mốc sương trên một số giống khoai tây tại Đà Lạt 33
4.3 Kết quả bố trí thí nghiệm bệnh mốc sương trên khoai tây ngoài đồng ruộng tại Đà Lạt … .36
4.3.1 Thí nghiệm nghiên cứu hiệu quả của một số chất kích kháng trong phòng trừ bệnh mốc sương trên cây khoai tây 36
4.3.2 Thí nghiệm nghiên cứu hiệu quả của một số loại thuốc hóa học trong phòng trừ bệnh mốc sương trên cây khoai tây 41
4.3.3 Đánh giá sinh trưởng của cây khoai tây 45
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Đề nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
PHỤ LỤC 51
Trang 8DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Số thứ tự
1 CIP : Center Internation Potato
2 FAO : Food and Agriculture Organization
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Các vùng sản xuất khoai tây trên thế giới năm 2007 8
Bảng 2.2 Tình hình sản xuất khoai tây trên thế giới từ 1991-2007 8
Bảng 2.3 Các nước sản xuất khoai tây lớn trên thế giới năm 2007 9
Bảng 2.4 Một số loại thuốc phòng trừ bệnh mốc sương được sử dụng ở châu Âu và hiệu quả của thuốc 22
Bảng 3.1.Danh sách thuốc kích kháng sử dụng ở thí nghiệm 1 25
Bảng 3.2.Danh sách các thuốc hóa học sử dụng trong thí nghiệm 2 27
Bảng 4.1 Tình hình gây hại của bệnh mốc sương trên cây khoai tây tại các điểm điều tra 30
Bảng 4.2 Tình hình gây hại của bệnh mốc sương ở các giai đoạn phát triển của cây khoai tây 32
Bảng 4.3 Tỷ lệ cây bệnh ở thí nghiệm chất kích kháng 37
Bảng 4.4 Tỷ lệ lá bệnh ở thí nghiệm chất kích kháng 38
Bảng 4.5 Chỉ số bệnh ở thí nghiệm chất kích kháng 39
Bảng 4.6 Hiệu lực của các loại thuốc kích kháng 40
Bảng 4.7 Tỷ lệ cây bệnh ở thí nghiệm thuốc hóa học 41
Bảng 4.8 Tỷ lệ lá bệnh ở thí nghiệm thuốc hóa học 43
Bảng 4.9 Chỉ số bệnh ở thí nghiệm thuốc hóa học 44
Bảng 4.10 Hiệu lực của các loại thuốc hóa học 45
Bảng 4.11 So sánh chiều cao các nghiệm thức ở thí nghiệm thuốc kích kháng 46
Bảng 4.12 So sánh chiều cao các nghiệm thức ở thí nghiệm thuốc hóa học 46
Trang 10DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Chu trình sinh sản hữu tính và sinh sản vô tính của nấm P infestans 16
Hình 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 26
Hình 3.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 28
Hình 4.1 Vết bệnh mốc sương trên lá cây khoai tây 31
Hình 4.2 Vết bệnh mốc sương trên thân cây khoai tây 32
Hình 4.3 Ruộng khoai tây theo dõi diễn biến của bệnh mốc sương 33
Biểu đồ 4.1 Diễn biến tỷ lệ cây bệnh của 3 giống khoai tây Atlantic, PO3, TKC33 34
Biểu đồ 4.2 Diễn biến tỷ lệ lá bệnh của 3 giống khoai tây Atlantic, PO3, TKC33 35
Biểu đồ 4.3 Diễn biến chỉ số bệnh của 3 giống khoai tây Atlantic, PO3, TKC33 35
Hình 4.4 Ruộng khoai tây giống Atlantic đã bị chết rụi 36
Hình 4.5 Cây khoai tây bị héo xanh phải nhổ bỏ 40
Hình 4.6 Ruộng khoai tây thí nghiệm thuốc hóa học 42
Hình 4.7 Xử lý thuốc thí nghiệm ngoài đồng ruộng 42
Trang 11CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Khoai tây (Solanum tuberosum L.) là loại cây công nghiệp ngắn ngày, trồng lấy
củ Trong củ khoai tây chứa hàm lượng tinh bột cao và nhiều chất dinh dưỡng quan trọng như: protein, đường, lipit, các loại vitamin và chất khoáng cần thiết cho con người Bên cạnh đó, khoai tây còn chứa những vi chất dinh dưỡng giá trị, đặc biệt là các vitamin (trong 100 g củ khoai tây đã bóc vỏ chứa 77 g nước và 23 g chất khô Trong 23 g chất khô gồm có 1,87 g protein, 0,1 g chất béo, 1,8 g chất xơ, 20,13 g carbohydrate, 5 mg Ca, 0,31 mg Fe, 44 mg P, 379 mg K, 13 mg vitamin C, 0,02 mg vitamin B2, 0,106 mg sinh tố B, 1,44 mg niacin và năng lượng 87 kcal) Chính vì vậy,
ở nhiều nước khoai tây được sử dụng làm lương thực chính Hiện nay, trên thế giới khoai tây được xếp là cây lương thực quan trọng, đứng hàng thứ tư sau lúa mì, lúa và ngô (Thomas và Sansometti, 2008)
Bệnh mốc sương ở khoai tây (potato late blight) do một loại nấm Phytopthora
infestans gây ra, là một loại bệnh nguy hại nhất ở cây khoai tây trên thế giới Chỉ tính
riêng ở các nước đang phát triển, loại bệnh này ảnh hưởng tới 3 triệu ha đất trồng khoai tây và mức thiệt hại ước tính khoảng 2,75 triệu đôla/năm Những nỗ lực nhằm chống lại loại bệnh mốc sương cũng mất rất nhiều tiền của – tại phía Bắc Ecuador, nông dân đã tốn khoảng 120 đôla/ha để mua thuốc trị nấm, chiếm khoảng 10 % tổng chi phí sản xuất (Theo FAO do Chu An trích dẫn, 2007)
Theo Bjorn Andersson (2007) bệnh mốc sương khoai tây là bệnh gây hại nặng đến cây trồng trên toàn thế giới Nó trở thành dịch hại và khó quản lý ở Thụy Điển năm
1845, vùng phía nam và tây nam Mối hiểm hoạ này ảnh hưởng tới anh ninh lương thực rõ nét nhất được minh hoạ bởi "nạn đói khoai tây" tại Ai-len giữa thế kỷ 19: bệnh L.B đã phá huỷ hầu hết diện tích trồng khoai tây trên toàn lãnh thổ Ailen, dẫn tới cái chết của khoảng 1 triệu người và sự di cư của hàng triệu người khác
Trang 12Theo Trung tâm Nông nghiệp Đà Lạt, năm 2008 thành phố Đà Lạt có khoảng 86/100 ha khoai tây đang canh tác tập trung ở các phường 7, 8, 11 và xã Xuân Thọ bị nhiễm bệnh mốc sương với tỷ lệ hại từ 27-71%, trong đó 14 ha bị nặng rất có nguy cơ mất trắng
Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Điều tra tình hình gây
hại và đánh giá hiệu quả của một số thuốc phòng trừ bệnh mốc sương
(Phytophthora infestans (Mont.) de Bary) trên cây khoai tây (Solanum tuberosum L.) tại Đà Lạt – Lâm Đồng”
Ảnh hưởng của một số thuốc đến sinh trưởng và phát triển của cây khoai tây
1.3 Thời gian thực hiện
Đề tài được tiến hành từ tháng 02/2009 đến tháng 07/2009, tại Đà Lạt
Trang 13CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Sơ lược về cây khoai tây
2.1.1 Nguồn gốc
Khoảng 8000 năm trước, gần hồ Titicaca, ở độ cao 3800 m so với mặt nước biển ở dãy núi Andes thuộc Nam Mỹ, nằm giữa Bolivia và Peru Ở đây, những nghiên cứu chỉ ra rằng những cộng đồng người đi săn và hái lượm sống ở vùng Nam Mỹ này 7000 năm trước đã tìm tấy cây khoai tây và đã trồng quanh hồ (Thomas và Sansometti, 2008)
Theo Spooner (2005) hiện tại người ta cho rằng khoai tây đã được du nhập vào châu Âu vào khoảng thập niên 1570 (khoảng 8 năm sau chuyến hành trình đầu tiên của Columbus vào năm 1492) và sau đó nó đã được những người đi biển châu Âu đưa đến các lãnh thổ và các cảng trên khắp thế giới khi chế độ thực dân Châu Âu mở rộng vào thế kỷ XVII và XVIII Có hàng ngàn giống (bậc phân loại dưới loài) khoai tây được tìm thấy ở vùng Andes, nơi đó người ta có thể tìm thấy hơn một trăm thứ khoai tây ở một thung lũng, mỗi hộ nông dân có thể tích trữ tới hơn mười giống khoai tây (trích dẫn bởi Cao Thị Làn, 2005)
Ở Việt Nam khoai tây được trồng từ năm 1890 do người Pháp mang đến Năm
1991 khoai tây được trồng ở Tú Sơn (Hải Phòng), năm 1907 khoai tây được đưa đến Trà Lĩnh (Cao Bằng) và năm 1917 khoai tây được trồng ở Thường Tín (Hà Tây) (Tạ Thu Cúc, 2005)
Trang 14Loài: Solanum tuberosum
Theo Thomas và Sansometti (2008) cây khoai tây thuộc họ cà (Solanaceae) là cây hàng năm, thân thảo Khoai tây trồng chủ yếu bằng củ giống (trồng bằng phương pháp
vô tính) cũng có thể trồng bằng hạt (để giống bằng phương pháp hữu tính) nhưng ít phổ biến Tổng thời gian sinh trưởng của khoai tây được tính từ khi trồng củ mầm cho đến khi thu hoạch củ mới hoặc từ cây con gieo hạt đến thu hoạch trung bình khoảng 90 ngày tùy thuộc vào điều kiện khí hậu, ở Bắc Âu thời gian sinh trưởng và phát triển của cây khoai tây có thể lên đến 150 ngày
Khoai tây hiện nay được tách ra làm hai loại: Andigenum, sinh trưởng dưới điều kiện ngày ngắn và là cây trồng chính ở vùng Andes; Chilotanum, cây được trồng trên khắp thế giới (Thomas and Sansometti, 2008)
2.1.2.1 Rễ
Khoai tây mọc từ hạt có rễ chính, trong quá trình sinh trưởng trên rễ chính hình thành rễ phụ Rễ sinh ra từ thân củ là rễ chùm Khi mắt củ bắt đầu nẩy mầm, phần gốc mầm xuất hiện những chấm nhỏ, đây chính là mầm mống của rễ Rễ liên tục xuất hiện suốt cả quá trình sinh trưởng và phát triển của cây Chúng sắp thành từng nhóm 4-5 cái xen kẽ với thân ngầm (Tạ Thu Cúc, 2005)
Ở thân ngầm dưới mặt đất (còn gọi là tia củ) cũng có khả năng ra rễ, nhưng rễ ngắn
Trang 15dinh dưỡng để nuôi cây và thân củ Rễ sẽ xuất hiện tập trung sau trồng 25–30 ngày và phân bố chủ yếu trên tầng đất cày 0-40 cm Hệ rễ phát triển mạnh nhất khi cây xuất hiện tia củ và thân củ phình to (Tạ Thu Cúc, 2005)
Thân trên mặt đất thường mọc thẳng đứng hay dích dắc, tiết diện của thân có 3–4 cạnh hoặc tròn Trên thân có lông tơ cứng, khi già lông rụng Chiều cao thân thể hiện đặc trưng hình thái của giống, thay đổi từ 3-150 cm Trung bình có 3–8 thân/bụi Sự phân cành có thân xác định hình dạng của bụi khoai tây (Tạ Thu Cúc, 2005)
+ Phần thân dưới mặt đất (thân củ)
Hệ thống thân dưới mặt đất gồm có tia củ và củ Củ là do sự phình to và rút ngắn của tia củ Đây là cơ quan cất giữ sản phẩm của quá trình quang hợp (Tạ Thu Cúc, 2005)
Tia củ còn gọi là thân ngầm hay thân địa sinh bởi vì thân phát triển trong điều kiện bóng tối Tia củ cũng giống như một thân trên mặt đất có đốt, trên đốt có lông hút, khoảng cách giữa các đốt rút ngắn về phía đầu mút tia củ Các mắt củ là vết tích của những gốc cuống lá (Tạ Thu Cúc, 2005) Và theo Graeme Thomas and Guilio Sansometti (2008) củ khoai tây cung cấp dinh dưỡng cho phép cây sống sót qua mùa
Trang 16lạnh và có thể phát triển lại nếu cây bị chết nhờ vào mắt mầm trên củ Củ thường có từ 2-10 mắt mầm, mắt củ hình thành trong điều kiện bóng tối và sắp xếp theo dạng xoắn
ốc xung quanh củ Các mắt mầm sẽ mọc ra cây con khi điều kiện môi trường thuận lợi
Củ khoai tây từ vài đến 20 củ trên 1 bụi, củ chủ yếu nằm ở gần mặt đất và bò lan ra bốn phía Củ có hình dạng và kích thước thay đổi, trọng lượng củ trung bình 300 g Củ khoai tây hình thành khi điều kiện nhiệt độ 10-300C, tốt nhất là 18-200C (Thomas và Sansometti, 2008)
2.1.2.3 Lá
Lá hình thành và hoàn thiện theo sự tăng trưởng của cây: lá đầu tiên mọc từ thân củ hoặc hạt là lá nhỏ, đơn, mép nguyên Dần dần hình thành lá kép lông chim lẻ chưa hoàn chỉnh và cuối cùng là các lá hoàn chỉnh Số lá chét thay đổi theo giống và tuổi lá
Số lượng, kích thước và sự sắp xếp của lá trên thân thể hiện đặc điểm của giống và quyết định đến khả năng hấp thu ánh sáng của lá Mặt lá có thể phẳng mượt hoặc gợn sóng Các lá ở tầng giữa có khả năng quang hợp mạnh nhất Gốc độ giữa lá và thân lớn, lá gần như song song với mặt đất (Tạ Thu Cúc, 2005)
Khi diện tích che phủ đạt từ 3,8–4 m2 lá/m2 đất khả năng quang hợp là lớn nhất và tiềm năng năng suất đạt cao nhất Do đó, nếu diện tích lá giảm đi một nửa năng suất giảm tối thiểu 30% (Tạ Thu Cúc, 2005)
2.1.2.4 Hoa – quả- hạt
Hoa: hoa khoai tây có cấu tạo là một sim đơn giản hoặc phức tạp Số lượng hoa trên một sim trung bình từ 5–6 cái, hoa thường có 5 lá đài và 5 cánh hợp, hình bánh xe hoặc ngôi sao Màu sắc cánh hoa thay đổi theo giống: trắng, tím, hồng, vàng Thuộc loại hoa lưỡng tính, có 4–6 nhị đực Hoa không có mật nên không dẫn dụ côn trùng, gió là tác nhân chính truyền phấn hoa (Tạ Thu Cúc, 2005)
Trang 17Quả: là loại quả mọng hình tròn hoặc trái xoan, màu xanh lục, có 2-3 noãn tạo 2–3 ngăn chứa hạt rất nhỏ (Tạ Thu Cúc, 2005)
Hạt: dạng tròn dẹt, màu xanh đen, trọng lượng 1000 hạt là 0,5 g Hạt có thời gian ngủ nghỉ dài như củ giống (Tạ Thu Cúc, 2005)
2.1.3 Giống khoai tây Atlantic
Atlantic là giống khoai tây được nhập nội từ Mỹ, có nhiều đặc tính nông học tốt như tiềm năng năng suất cao, chín sớm, chịu nhiệt, chất lượng rất tốt; đặc biệt là các tiêu chuẩn chất lượng và qui cách phù hợp với yêu cầu chế biến công nghiệp (hàm lượng chất khô cao, đường thử thấp, củ đồng đều, mắt củ nông, màu sắc lát chiên đẹp) hấp dẫn với hầu hết người tiêu dùng mà các giống khoai tây khác khó đạt được (Lê Nam Sơn, 2006)
Giống khoai tây Atlantic là giống khoai tây được trồng rộng rãi trên thế giới để cung cấp nguyên liệu cho chế biến khoai tây chiên lát (chips, crisps) Nhược điểm của
giống Atlantic là mẫn cảm với bệnh mốc sương do nấm Phytophthora infestans gây ra
trong điều kiện ẩm độ không khí cao do mưa nhiều hoặc nhiều sương mù, nhiệt độ thấp dưới 20oC Nếu điều kiện thuận lợi cho bệnh kéo dài liên tục vài ngày, có thể bị hại nặng, khó khắc phục, thậm chí bị thất thu ( Lê Nam Sơn, 2006)
2.1.4 Tình hình sản xuất khoai tây hiện nay
2.1.4.1 Sản xuất khoai tây trên thế giới
Trung Quốc là nước sản xuất khoai tây lớn nhất thế giới với 72 triệu tấn năm 2007, chiếm 20% tổng sản xuất của toàn thế giới Ấn Độ đứng thứ 2, Năm 2007, toàn thế giới sản xuất khoai tây 325 triệu tấn Sản xuất khoai tây ở Châu Phi, Châu Á, Châu Mỹ Latinh trung bình 15 tấn/ha (Potato World, 2008)
Đầu những năm 1990 khoai tây chủ yếu được trồng và tiêu thụ ở Châu Âu, Bắc Mỹ
và những nước thuộc liên bang Xô Viết Sau đó, khoai tây được trồng ở Châu Á, Châu
Trang 18Phi và Châu Mỹ Latinh, từ 1960 sản xuất được 30 triệu tấn đến năm 2007 sản xuất được 165 triệu tấn (Potato World, 2008)
Năm 2005, FAO đã chỉ ra rằng sự phát triển của sản xuất khoai tây thế giới đã vượt qua sự phát triển của thế giới Châu Á và Châu Âu chiếm 80% trong tổng sản xuất khoai tây trên thế giới năm 2007 Và Bắc Mỹ dẫn đầu về năng suất 40 tấn/ha (Potato World, 2008)
Bảng 2.1 Các vùng sản xuất khoai tây trên thế giới năm 2007
Khu vực Diện tích (ha) Tổng sản xuất (Tấn) Năng suất (Tấn/ha)
Nguồn: theo FAOSTAT (trích dẫn bởi Potato World, 2008)
Bảng 2.2 Tình hình sản xuất khoai tây trên thế giới từ 1991-2007
1991 1993 1995 1997 1999 2001 2003 2005 2007 Quốc gia
Trang 19Bảng 2.3 Các nước sản xuất khoai tây lớn trên thế giới năm 2007
Nguồn: theo FAOSTAT (trích dẫn bởi Potato World, 2008)
2.1.4.2 Sản xuất khoai tây ở Việt Nam
Vào đầu thập kỷ 70, với việc sử dụng một số giống lúa xuân ngắn ngày có năng suất cao thay thế cho lúa chiêm thì khoai tây trở thành cây trồng quan trọng trong công thức luân canh: lúa xuân – lúa mùa sớm – khoai tây Diện tích khoai tây ở thời kỳ này tăng lên đáng kể và đạt 104.602 ha vào năm 1979, đến năm 1980 thì giảm xuống còn 90.602 ha và đến 1990 thì chỉ còn khoản 36.200 ha Trong suốt thập kỷ 90 diện tích khoai tây hàng năm giảm dần và giao động trong khoảng 30.000 ha Trong thập kỷ qua diện tích khoai tây có xu hướng tăng lên và đạt 34.968 ha vào niên vụ 2002–2003 Sự tăng diện tích khoai tây trong thời gian qua chủ yếu là do nhu cầu thị trường tăng lên
và do tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất khoai tây làm cho năng suất và hiệu quả tăng lên (Tạ Thu Cúc, 2005)
Trang 20Năng suất khoai tây trong giai đoạn từ 1979–1985 rất thấp, dao động trong khoảng
từ 6,56–8,73 tấn/ha Giai đoạn từ 1990–1998 năng suất khoai tây có tăng lên khoảng
10 tấn/ha và đạt 11–12 tấn/ha vào những năm 1999–2002 Sự tăng lên về năng suất chủ yếu là do sự thay đổi giống mới có năng suất cao, áp dụng công nghệ mới về giống như trồng cây nuôi cấy mô, sản xuất củ giống sạch bệnh, sản xuất bằng hạt lai…
và quản lý cây trồng tốt hơn Vụ Đông ở đồng bằng sông Hồng và Đà Lạt có năng suất khoai tây cao hơn hẳn các vùng khác là do trình độ thâm canh của người dân ở nơi đây cao hơn và điều kiện khí hậu phù hợp hơn (Tạ Thu Cúc, 2005)
2.2 Bệnh mốc sương trên khoai tây (Phytophthora infestans (Mont.) de Bary)
2.2.1 Khái quát về bệnh mốc sương
Bệnh mốc sương có nơi còn gọi là bệnh sương mai, bệnh rám sương, bệnh dịch muộn… hại chủ yếu trên họ cà như cà chua và khoai tây Nguyên nhân gây bệnh là
nấm P infestans (Mont.) de Bary, thuộc lớp nấm trứng (Omycetes), bộ nấm sương mai
(Peronosporales) (Bjorn Andersson, 2007) Theo Dick (1995) Bệnh mốc sương là bệnh phát triển có chu kỳ (trích dẫn bởi Bonierbale, 2007)
Bệnh mốc sương khoai tây là bệnh gây hại nặng đến cây trồng trên toàn thế giới
Nó trở thành dịch hại và khó quản lý ở Thụy Điển năm 1845, vùng phía nam và tây nam và nạn đói khoai tây ở Ái Nhĩ Lan (Bjorn Andersson, 2007) Theo Bermard (1993) Bệnh mốc sương gây hại nặng ở Canada
Ở nước ta bệnh mốc sương phổ biến ở tất cả các vùng trồng khoai tây và gây tác hại lớn nhất so với các loại bệnh nấm hại khác nhau trên cây khoai tây (Vũ Triệu Mân
và ctv, 2007)
2.2.2 Nguồn gốc của P infestans
Nấm P infestans có nguồn gốc từ vùng cao nguyên Mexico Có hai chủng A1 và A2 và cả 2 chủng đều được tìm thấy với tỷ lệ 1:1 Mật độ của P infestans được tìm
Trang 21thấy rất khác nhau, cả kiểu hình và kiểu gen (Goowin và Drenth, 1997, Gritinward và ctv, 2001) do phần lớn cây cùng họ cà được tìm thấy ở vùng trung tâm Mexico kháng
được một số chủng của nấm P infestans chứng tỏ nấm P infestans có nguồn gốc ở đây (Neiderhauser, 1991) Tuy nhiên, qua nghiên cứu tế bào của nấm P infestans chứng minh được rằng P infestans có nguồn gốc ở vùng Andes thuộc Nam Mỹ (trích
dẫn bởiBjorn Anderssen, 2007)
Sau một thời gian dài từ khi phát hiện được nấm P infestans thì mật độ của nó tăng
lên nhanh chóng, theo một báo cáo năm 1984 về chủng A2 ở Châu Âu phát triển rất mạnh mẽ làm cho mầm bệnh tăng lên cao (Hohl và Iselin, 1984) Những phân tích về
sự phân tán của nấm P infestans chỉ ra rằng sự tồn tại, không giới hạn ở châu Âu, mà
là trên toàn thế giới (trích dẫn bởi Bonierble, 2008)
Chủng A2 đã được tìm thấy ở Nhật (Mosa và ctv, 1989), Hàn Quốc (Koh và ctv, 1994), Ấn Độ (Singh và ctv, 1994), Indonesia, Thai Lan and Trung Quốc (Nishimura, 1999; Gotoh và ctv, 2005), Nepal (Ghimire và ctv, 2001) (trích dẫn bởi Arne Hermansen, 2008)
2.2.3.1 Triệu chứng của bệnh trên lá:
Theo Bonierbale (2007), vết bệnh màu xanh xám không đều, hầu hết ở gần chóp lá
và rìa mép lá Vết bệnh nhanh chóng chuyển thành màu nâu và có những điểm chết hoại màu đen hơi đỏ Lớp phấn trắng đặc biệt thấy rõ ở quanh rìa của những điểm chết hoại Còn theo Vũ Triệu Mân và ctv (2007), bệnh xuất hiện đầu tiên ở mép chóp lá tạo
Trang 22vết xám xanh nhạt sau đó lan rộng vào phiến lá, phần giữa vết bệnh chuyển màu nâu đen
Ở ngay vết bệnh, phía bên dưới mặt lá có một lớp lông trắng mịn xuất hiện khi ẩm
độ cao hay buổi sáng có sương Lớp phấn trắng là các bào tử có thể lây lan qua cây khác do mưa và gió (Bermard, 2007)
Theo Bonierbale (2007), triệu chứng của bệnh có thể thay đổi, phụ thuộc vào giai đoạn của bệnh, từ thời điểm điều kiện môi trường thuận lợi đến thời điểm khi mô tế bào của cây ký chủ bị nhiễm Những vết bệnh mới thì nhỏ 2-10 mm và hình dạng không đều, và có thể có một đường viền màu vàng sáng xung quanh vết bệnh Những vết bệnh đã phát triển, chúng thường không có hình dạng xác định và những vết bệnh
cũ được bao quanh bởi một đường úa vàng
2.2.3.2 Triệu chứng của bệnh trên thân
Khi bệnh mốc sương tấn công vào thân cây, nó gây bệnh trên lớp vỏ quanh thân và toàn bộ lá ở phần trên sẽ bị héo Những vết bệnh trên thân, cành có màu nâu sáng đến nâu tối và bao quanh thân cành Thân, cành sẽ giòn và dễ gẫy ở chổ vết bệnh (Bonierbale, 2007)
Trên thân, cành nhánh, vết bệnh hình bầu dục nhỏ hoặc bất định hình, về sau lan rộng ra bao quanh, kéo dài dọc một đoạn làm mô bệnh tóp lại, lõm vào, màu nâu đen, ủng nước thối hỏng, dễ gẫy gục (Vũ triệu Mân và ctv, 2007)
2.2.3.3 Triệu chứng của bệnh trên củ
Trên củ, vết bệnh to lan rộng trên bề mặt củ, trên núm củ… màu nâu đen, lõm xuống, khô hoặc thối ướt, lan sâu vào trong thịt củ khoai tây Bên trong củ hoặc trên mặt củ có thể mọc ra lớp mốc trắng mịn (Vũ triệu Mân và ctv, 1998)
Những củ ở gần hoặc ở trên mặt đất sẽ bị bệnh, có những vùng thương tổn bị lõm vào, thường bị ở mắt mầm Mô tế bào bị ảnh hưởng xuất hiện những hột nhỏ và hơi
Trang 23Theo Bonierbale (2007), củ nhiễm bệnh lúc đầu thì cứng và khô nhưng có thể do xâm nhập của các mầm bệnh khác, chủ yếu là vi khuẩn, tiếp đến là củ sẽ bị mềm và mục nát Củ có một mùi hăng, do sự phân hủy bởi vi sinh vật tạo ra mùi thường xuất hiện khi bệnh nặng Đây là nguyên nhân chính làm cho mô tế bào của củ bị chết, nó không là nguyên nhân trực tiếp do bệnh mốc sương
Còn theo Vũ Triệu Mân và ctv (2007), củ khoai tây cũng bị nấm gây hại nhưng chuẩn đoán bệnh ở củ thường nhầm lẫn với một số bệnh thối củ cùng gây ra Khi chuẩn đoán cắt ngang củ, bệnh do nấm mốc sương có vết nâu xám ở phần vỏ củ, đôi khi còn xen kẽ với các vết nâu ăn sâu vào trong ruột củ Trường hợp có một số vết tương tự khó phân biệt được là bệnh gì thì tiến hành ủ bệnh ở nhiệt độ 20 0C và ẩm độ bão hòa, vết bệnh mốc sương sẽ hình thành lớp nấm mỏng trắng xốp
2.2.4 Nguyên nhân gây bệnh
Theo Dick (1995), Bệnh mốc sương là bệnh phát triển có chu kỳ Phân loại nấm P
infestans hiện nay trên cơ sở cấp phân tử, dựa vào phân tích gen srRNA Loài Phytophthora thuộc lớp nấm trứng, với đặc điểm tiêu biểu là động bào tử di chuyển
bằng 2 roi và thành tế bào của chúng là cenlulo (trích dẫn bởi Bonierbale, 2007)
Nấm gây bệnh được Anton de Bary xác định là P infestans (Mont.) de Bary (Vũ Triệu Mân, 2007) P infestans thuộc bộ nấm sương mai (Peronosporales), lớp nấm
trứng (Oomycetes) gây ra (Vũ Triệu Mân, 1998) Nấm có chu kỳ phát triển hoàn toàn bao gồm giai đoạn sợi nấm, sinh sản vô tính (bào tử phân sinh – bào tử bọc – bào tử động) và giai đoạn hữu tính tạo ra bào tử trứng (Vũ Triệu Mân và ctv, 2007)
Cành bào tử phân sinh của P infestans không thể tồn tại nếu không ở trong tế bào
của cây ký chủ nhưng ngược lại túi bào tử của nó có thể tồn tại vài ngày hoặc vài tuần
trong đất Sinh sản vô tính của P infestans về cơ bản là nó bắt buộc phải ký sinh, phụ
thuộc vào sự sống của cây ký chủ (tàn dư hoặc các loài cỏ dại thuộc họ cà) để có thể sống sót qua thời gian dài nhưng không tồn tại qua được một mùa đông hoặc một vụ mùa (Bonierble, 2007)
Trang 24Sự lây nhiễm và phát triển bệnh phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện ẩm độ và nhiệt
độ Trong điều kiện ẩm độ cao trên 76%, lá ẩm ướt mà nhiệt độ lại thấp (12–200C) thì bọc bào tử vô tính nẩy mầm gián tiếp sinh ra 6–16 bào tử động có 2 lông roi Trái lại, khi ẩm độ thấp mà nhiệt độ tương đối cao hơn (22–240C) thì bọc bào tử vô tính nẩy mầm trực tiếp ra ống mầm, phát triển thành sợi nấm (Vũ Triệu Mân và ctv, 1998)
2.2.4.1 Sinh sản hữu tính của nấm P infestans
Giai đoạn hữu tính tạo ra bào tử trứng chưa gặp trong điều kiện nhiệt đới ở nước ta
mà chỉ thấy có ở Mehico và một số nước khác trên thế giới (Vũ Triệu Mân và ctv,
1998) Nấm P infestans có sự sinh sản hữu tính tạo ra những bào tử trứng có thể tồn
tại được vài tháng hoặc vài năm mà không cần tới cây ký chủ (Bonierble, 2007)
Qua nghiên cứu bởi Bary trên bộ Nấm sương chỉ ra rằng đây là họ nấm tạo ra bào
tử hữu tính, gọi là bào tử trứng Bary và cộng sự đã cố tìm ra bào tử trứng của P
infestans ở những lá và củ bị bệnh nhưng không thành công (de Bary, 1876; Large,
1946, Tauner, 2005; trích dẫn bởi Bjorn Andersson, 2007)
Có những quan sát trên những loài nấm trứng khác nhưng chúng không thật sự
tạo ra bào tử trứng như việc tạo ra bào tử trứng của P infestans (Bjorn Andersson,
2007)
Theo Bonierbale (2007) sự cùng tồn cả 2 chủng A1 và A2 có thể tạo ra bào tử
trứng ngoài đồng ruộng và tính đa dạng trong kiểu gen của P infestans là do sự sinh
sản hữu tính Còn theo Bjorn Andersson (2007) việc không thể khống chế được bệnh
mốc sương là do sự sinh sản hữu tính của nấm P infestans
Sinh sản hữu tính tạo ra sự đa dạng cho bộ gen và có thể cho phép chọn được những cá thể tiêu biểu không giống như sinh sản vô tính tạo ra túi bào tử Điều này cho phép sinh sản hữu tính có thể kết hợp những cá thể riêng biệt mang những đột biến
có lợi tạo nên những thế hệ sau mang bộ gen nổi trội Còn sinh sản vô tính sẽ duy trì
và nhân lên kiểu di truyền Sự kết hợp sinh sản hữu tính (kiểu di truyền mới) và sinh
sản vô tính (duy trì và phân tán kiểu di truyền) sẽ làm tăng sự tiến hóa của P infestans
Trang 252.2.4.2 Sinh sản vô tính của nấm P infestans
Bào tử phân sinh có khả năng hình thành bào tử thứ sinh trong điều kiện nhiệt độ cao trên 280C, bào tử động chuyển động được nhờ 2 lông roi có chiều dài khác nhau Nhiệt độ thích hợp nhất đề bào tử nẩy mầm hình thành bào tử động là 12-140C, còn ở nhiệt độ cao hơn 20-280C, bào tử nẩy mầm thành ống mầm Trên 28 0C hoặc dưới 40C bào tử không nẩy mầm Trong giọt nước bào tử nẩy mầm sau 15 phút, và sau 1 giờ tỷ
lệ nẩy mầm đạt 25-75% (Vũ Triệu Mân và ctv, 2007)
Sau khi xâm nhập vào lá, sợi nấm sinh trưởng lan rộng ở gian bào và sinh ra các vòi hút chọc sâu vào trong từng tế bào, ký sinh trong một khoảng thời gian ngắn 3–11 ngày để hoàn thành xong giai đoạn tiềm dục của bệnh Các sợ nấm hình thành các cơ quan sinh sản vô tính là các cành bào tử đâm nhánh đơn, chui qua lỗ khí khổng ra ngoài tạo thành một lớp mốc trắng như sương muối ở mặt dưới lá (nên gọi là bệnh
mốc sương) (Vũ Triệu Mân và ctv, 1998) Sợi nấm P infestans đơn bào, hình thành
vòi hút hình trụ hoặc hình cầu trong quá trình ký sinh trong tế bào cây (Vũ Triệu Mân
và ctv, 2007)
Theo Black (2007) nhiều cành bào tử phân sinh xuất hiện xuyên qua những khí khổng của lá và tạo ra túi bào tử hình quả chanh và nẩy mầm trực tiếp ra cành bào tử hoặc gián tiếp tạo ra động bào tử Cành bào tử phân sinh trong suốt, phân cành vô hạn
Vũ Triệu Mân và ctv (2007) cho biết sinh sản vô tính của nấm P infestans tạo ra
cành bào tử phân sinh, cành bào tử phân sinh lộ ra trên bề mặt vết bệnh Cành bào tử không màu, phân nhiều nhánh so le với nhau, trên mỗi nhánh có nhiều vết lồi lõm, đây
là đặc điểm riêng biệt của cành bào tử nấm P infestans so với các loài nấm
Phytophthora khác Bào tử phân sinh hình trứng hoặc hình quả chanh yên có núm nhỏ
phía đỉnh của bào tử Kích thước trung bình của bào tử phân sinh là 22-32 x 16-24 nm Khi trên mặt lá của cây ký chủ có đọng nước thì túi bào tử lập tức giải phóng 5-10 bào tử động xâm nhập gây hại cây ký chủ (Bjorn Adersson, 2007)
Bào tử được hình thành trong điều kiện thích hợp, nhiệt độ dưới 180C, độ ẩm cao thì càng có khả năng nẩy mầm lớn Tuổi bào tử càng non thỉ tỷ lệ nẩy mầm càng cao
Trang 26Độ chua thích hợp để nẩy mầm là pH 5-5,5 Nấm xâm nhập vào cây qua lỗ khí hoặc trực tiếp qua biểu bì (Vũ Triệu Mân và ctv, 2007)
Lớp mốc trắng dưới mặt lá thường xuất hiện vào buổi sáng, sau một đêm có sương,
lá ẩm ướt… sản sinh ra rất nhiều bào tử hình quả chanh, không màu, có sức sống ngắn nhưng là nguồn nấm bệnh lây lan trên đồng ruộng rất nhanh chóng trong thời kỳ cây sinh trưởng Các bào tử vô tính này cũng có thể nhờ nước mưa, nước tưới, thấm sâu vào trong đất từ 6–10 cm để lây nhiễm trên củ khoai tây; cho nên củ càng gần mặt đất càng dễ nhiễm bệnh Cần vun luống cao để cho củ nằm sâu dưới 10 cm có thể hạn chế bệnh (Vũ Triệu Mẫn và ctv, 1998)
Nguồn bệnh bảo tồn truyền từ vụ này sang vụ khác là bào tử trứng và dạng sợi nấm tiềm tàng trên tàn dư cây bệnh trên mặt đất sau khi thu hoạch, hoặc tiềm tàng trong củ giống (Vũ Triệu Mẫn và ctv, 1998)
Hình 2.1 Chu trình sinh sản hữu tính và sinh sản vô tính của nấm P infestans
(Hình của Leontine Colon, 2008)
Trang 272.2.5 Đặc điểm phát sinh, phát triển bệnh
Trong suốt thời kỳ dịch bệnh nấm P infestans lan truyền trong không khí và gây
hại cho cây trồng Với điều kiện thời tiết khoảng 200C, ẩm độ không khí cao (lớn hơn 90%) Bào tử phát tán nhờ gió, thường xuất hiện vào buổi sáng sớm (Bjorn Adersson, 2007)
Có nhiều điều kiện ảnh hưởng đến sự phát sinh phát triển của bệnh ngoài đồng ruộng Trong đó thời tiết có tác dụng quyết định nhưng các yếu tố kỹ thuật canh tác cũng có ý nghĩa rất quan trọng (Vũ Triệu Mẫn và ctv, 2007)
2.2.5.1 Ảnh hưởng của thời tiết
Theo Vũ Hoan (1973) độ ẩm, lượng mưa, nhiệt độ và độ chiếu sáng hằng ngày (sương mù) có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát sinh phát triển của bệnh Cao điểm của bệnh xuất hiện trong các tháng 12, 1, 2 và tháng 3 thường có nhiều đợt vì trong thời gian này độ ẩm không khí có nhiều lúc đạt từ 75-100%, nhiệt độ 13,6-22,90C, độ chiếu sáng hằng ngày 1,1-5,6 giờ/ngày, nhiều ngày có sương mù và sương đêm ở lá (trích dẫn bởi Vũ Triệu Mân và ctv, 2007)
Ẩm độ và lượng mưa có tác dụng rất lớn đến bệnh, vì chỉ cần lượng mưa 120 mm trở lên đã tạo điều kiện tốt cho bệnh phát sinh, trong đó vụ đông xuân mưa phùn kéo dài làm cho bệnh phát sinh phát triển mạnh (Vũ Triệu Mân và ctv, 2007)
Theo Theo Bermard (1993) Bệnh mốc sương phát triển mạnh trong điều kiện ẩm
độ cao, nhiệt độ tương đối thấp 12–250C Đối với sự phát triển của sợi nấm thì nhiệt độ thích hợp là 220C, tối đa 300C, tối thiểu 130C, nhiệt độ gây chết là 35–400C
Nếu ẩm độ môi trường cao mà nhiệt độ nhỏ hơn 100C hoặc lớn hơn 280C thì bệnh cũng không phát triển Ẩm độ thích hợp cho bào tử nẩy mầm và xâm nhập vào cây phải đạt mức độ bão hòa, ẩm độ thích hợp cho sự phát triển của bệnh là 76% Thời gian tiềm dục của bệnh là 2-11 ngày tùy theo điều kiện nhiệt độ và ẩm độ Trong điều kiện thuận lợi, ban ngày trời ấm, mát, đêm lạnh, trời râm, mưa ấm kéo dài, lá ướt có giọt nước, giọt sương đọng là những yếu tố thúc đẩy bệnh phát triển mạnh, nhanh, bào
Trang 28tử sinh ra nhiều, lây lan dễ dàng thì cây có thể bị tàn lụi toàn bọ trong vòng từ 7-10 ngày (Vũ Triệu Mân và ctv, 2007)
2.2.5.2 Ảnh hưởng bởi giai đoạn sinh trưởng của cây
Giai đoạn sinh trưởng của cây cũng ảnh hưởng đến sự phát sinh phát triển của bệnh Thời kỳ cây con có tính chống chịu bệnh cao nhất, thời kỳ cây giao tán đều hình thành củ là giai đoạn cây dễ bị nhiễm bệnh (Vũ Triệu Mẫn và ctv, 2007)
2.2.5.3 Ảnh hưởng của giống
Mức độ phát sinh phát triển của bệnh có liên quan nhiều tới đặc tính của giống khoai tây Nói chung các giống khoai tây đều bị nhiễm bệnh chỉ khác nhau ở mức độ Một số giống khoai tây Đức nhập nội như Cardia; giống khoai tây Pháp Ackesergen, giống Thường Tín… đều là những giống nhiễm bệnh nặng Một số giống khoai tây nhập nội từ Trung tâm Khoai tây Quốc tế (CIP) bao gồm LBR 1.2, LBR 1.5, LBR 1.9, LBR 1.12, LBR 1.13, LBR 1.14 là những giống chống chịu bệnh mốc sương (Vũ Triệu Mân và ctv, 2007)
Giống có dạng tán cây gọn, thân đứng, lá nhiều lông, có gen kháng tạo ra nhiều phytoalexin: solanin, lubimin… là những giống chống chịu bệnh cao đối với các chủng, các nòi sinh học có tính độc, tính gây bệnh khác nhau của quần thể ký sinh trên đồng ruộng (Vũ Triệu Mân và ctv, 1998)
2.2.5.4 Ảnh hưởng của phân bón
Sự phát triển của bệnh còn chịu ảnh hưởng của phân bón, đặc biệt là phân hóa học Phân đạm làm tăng mức nhiễm bệnh, phân kali có tác dụng tăng tính chống bệnh của cây Nếu tỷ lệ phân kali bằng hoặc cao hơn phân đạm thì sức chống bệnh càng tăng lên
rõ rệt, nhất là giai đoạn đầu chớm bệnh Tuy nhiên, nếu bệnh đang ở cao điểm thì việc
Trang 29tăng lượng phân bón kali lên cũng sẽ không thấy được tác dụng chống bệnh rõ ràng (Vũ Triệu Mân và ctv, 2007)
2.2.5.5 Ảnh hưởng của địa thế đất đai
Địa thế và tính chất đất có ảnh hưởng đến mức độ bệnh vì nó quan hệ nhiều đến chế độ nước, chế độ dinh dưỡng của cây và nguồn nấm bệnh Ở nơi đất thịt, đất thấp, nơi đất xấu, trũng và tầng canh tác mỏng đều tạo điều kiện cho khoai tây nhiễm bệnh nặng (Vũ Triệu Mân và ctv, 2007)
Tóm lại, yếu tố thời tiết, nhất là yếu tố nhiệt độ và ẩm độ có ảnh hưởng lớn tới quá trình xâm nhiễm, quá trình phát triển bệnh nặng hay nhẹ, quá trình hình thành bào tử,
sự nẩy mầm, xâm nhập của bào tử và thời kỳ tiềm dục kéo dài Do đó, người ta đã căn
cứ vào nhiệt độ, ẩm độ hàng ngày để lập ra một biểu đồ xác định thời điểm tiến hành các biện pháp phòng chống, phun thuốc cho kịp thời, hợp lý (Vũ Triệu Mân và ctv, 2007)
2.3 Biện pháp phòng trừ bệnh mốc sương
Ở nước ta vụ khoai tây nằm trọn trong điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của bệnh Mặt khác do đặc điểm của nấm lây lan gây hại nhanh nên biện pháp phòng bệnh đặc biệt được coi trọng Kỹ thuật phòng bệnh được tiến hành phối hợp các biện pháp canh tác – hóa học – giống kháng bệnh (Vũ Triệu Mân và ctv, 2007)
2.3.1 Biện pháp canh tác
Chọn đất tốt thích hợp với sinh trưởng của cây, luống trồng cao dễ thoát nước, số lượng thân trên một bụi từ 4-6 Bón phân cân đối, bón lót là chính, bón thúc sớm, có thể tăng thêm tro và kali ở những nơi đất xấu và bệnh thường xảy ra (Vũ Triệu Mân và ctv, 2007)
Trang 30Theo Black (2007) trồng cây giống kháng bệnh Chọn lọc, sử dụng củ giống khỏe, sạch bệnh, có chất lượng tốt Ngoài ra chọn củ khỏe để trồng, cắt bỏ thân, lá 5-7 ngày trước khi thu hoạch để hạn chế nấm xâm nhập vào củ Không trồng ruộng cà chua gần ruộng khoai tây Vệ sinh, thu đốt tàn dư thân lá ở ruộng bị bệnh, luân canh
Theo Bermard (1993) loại bỏ những củ giống bị bệnh, sử dụng củ giống sạch bệnh Trước khi trồng xử lý củ giống bắng thuốc trừ nấm Sử dụng các giống Branch,
Kennebec, Nook-sack có thể kháng được bệnh
Thu hoạch kịp thời, trời khô ráo, hông khô củ khoai tây và chọn lọc củ nguyên vẹn, không sây sát, giập vỡ để bảo quản làm giống cho vụ sau (Vũ Triệu Mân và ctv, 1998)
2.3.2 Phương pháp dự tính dự báo
Cần phải có ruộng dự tính dự báo, theo dõi nhiệt độ, độ ẩm, mưa, giọt sương đêm
và sương mù Dự tính dự báo bệnh từ 1-2 tuần lễ để kịp thời phòng trừ bệnh Vào các tháng này khi có nhiệt độ xuống thấp 14–200C, biên độ nhiệt ngày đêm 4-80C, có giọt sương đêm, sương mù và lượng mưa nhỏ là báo hiệu bệnh có thể xuất hiện (Vũ Triệu Mân và ctv, 2007)
Cần thường xuyên kiểm tra phát hiện bệnh kịp thời ngoài đồng ruộng, khi thấy phát sinh các ổ bệnh đầu tiên cần phải phân loại ruộng để có kế hoạch ngăn chặn kịp thời bệnh lây lan theo dõi cụ thể diễn biến của các yếu tố thời tiết, tiến hành dự tính,
dự báo chính xác (Vũ Triệu Mân và ctv, 2007)
Trang 31Trường hợp bệnh đã phát sinh gây hại, và điều kiện thời tiết thuận lợi cho bệnh phát triển mạnh, cần sử dụng một số loại thuốc như Dithane, Rhidomil hoặc Alliete để phun diệt trừ nấm bệnh Trong quá trình sử dụng thuốc phải tuân thủ đúng nồng độ và liều lượng như hướng dẫn mới có tác dụng (Vũ Triệu Mân và ctv, 2007)
2.3.3.2 Đà Lạt
Nếu mưa hoặc sương mù nhiều, trời lạnh, nhiệt độ thấp dưới 220C cần chú ý phòng trừ bằng các loại thuốc trừ nấm nội hấp Nếu thời tiết khô ráo, chỉ cần phun các loại thuốc có tác dụng tiếp xúc, phòng ngừa như Macozeb, Zineb, Dithane M45 7-10 ngày/lần Khi xuất hiện một vài triệu chứng bệnh mới phun dày hơn (5-7 ngày/lần) với các loại thuốc có tác dụng nội hấp, lưu dẫn như Curzate M8, Melody, Acrobat (Lê Nam Sơn, 2006)
Gặp trời mưa lai rai vài ngày liên tục nên phun từ 3-5 ngày/lần Có thể trộn thêm Mancozeb và Acrobat, Melody (20-30 g/bình 8 lít) để phun kết hợp với việc thực hiện đồng bộ các biện pháp khác trong qui trình phòng trừ tổng hợp như dùng củ sạch bệnh, luân canh, vệ sinh đồng ruộng (Lê Nam Sơn, 2006)
2.3.3.3.Thế giới
Theo Bermard (1993) sử dụng thuốc trừ nấm có thể phòng trừ bệnh nhưng phải theo đúng mức khuyến cáo Sử dụng biểu đồ dự báo bệnh và thường xuyên kiểm tra phát hiện bệnh kịp thời, tránh tạo điều kiện môi trường quá ẩm ướt cho bệnh phát triển
Trang 32Bảng 2.4 Một số loại thuốc phòng trừ bệnh mốc sương được sử dụng ở châu
Âu và hiệu quả của thuốc
mại
Bệnh trên lá
Bệnh trên thân
Bệnh trên củ
Benthiavalicarb + Mancozeb Valbon + + + + (+) + (+)
Cymoxanil + mancozeb Curzate M + + (+) + (+) 0
Dimethomorph + Mancozeb Acrobat WG + + (+) + (+) + +
Fenamidon + Mancozeb Sereno + + (+) + + +
Metalaxyl + Mancozeb Ridomil + + + + + N/A
Propamocarb-HCI +
Fenomidone hoặc Mancozeb
Tyfon hoặc Taltoo + + (+) + + + + Fluopicolide +
Ghi chú: 0: không hiệu quả
+: hiệu quả trung bình
++: hiệu quả tốt
+++: hiệu quả rất tốt
NA: không thích hợp, không áp dụng được
(Theo Nordic Association of Agricultural, 2006)
Trang 33CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1.Thời gian và đia điểm nghiêm cứu
Thời gian: từ tháng 02/2009 đến tháng 07/2009
Địa điểm: Trung tâm Nghiên cứu Khoai tây, Rau và Hoa – Tp Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng và các khu vực phụ cận
3.2 Nội dung nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được được chia làm 2 nội dung chính:
- Nội dung 1: Điều tra thu thập thông tin tình hình gây hại và diễn biến của bệnh mốc sương trên cây khoai tây tại Đà Lạt
- Nội dung 2: Khảo sát và bố trí thí nghiệm đồng ruộng: gồm 2 thí nghiệm
+ Thí nghiệm thuốc kích kháng trong phòng trừ bệnh mốc sương trên cây khoai tây
+ Thí nghiệm thuốc hóa học trong phòng trừ bệnh mốc sương trên cây khoai tây
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Nội dung 1: Điều tra thu thập thông tin về tình hình gây hại và diễn biến của bệnh mốc sương trên cây khoai tây tại tp Đà Lạt
- Lập phiếu điều tra, tiến hành điều tra ngẫu nhiên 20 hộ trồng khoai tây tại tp
Đà Lạt Điều tra gồm thu thập mẫu và phỏng vấn trực tiếp
Trang 34- Phỏng vấn điền vào phiếu điều tra Sau khi điều tra số liệu được tổng hợp phân tích và đánh giá
-Phương pháp thu thập mẫu: tiến hành lấy mẫu theo 5 điểm chéo góc trên ruộng điều tra Mỗi điểm có diện tích là 1m2, tiến hành đo các chỉ tiêu về tỷ lệ cây bị bệnh, tỷ
Trong đó: A – Số lượng cá thể bị bệnh (cây, lá, củ)
Trang 35n: cấp bệnh cao nhất theo bảng phân cấp
3.3.2 Nội dung 2: Bố trí thí nghiệm ngoài đồng ruộng
3.3.2.1 Thí nghiệm 1: thí nghiệm một số chất kích kháng trong phòng trừ bệnh mốc
sương trên cây khoai tây
Thí nghiệm nhầm đánh giá các loại thuốc kích kháng có đạt hiệu quả khi kết hợp
với sử dụng kết hợp một số loại thuốc hóa học trong phòng trừ bệnh mốc sương trên
cây khoai tây
+ Vật liệu thí nghiệm
Dụng cụ: bình xịt thuốc dung tích 16 lít, xô nước, cân điện, giấy, viết, máy chụp
hình
Bảng 3.1 Danh sách thuốc kích kháng sử dụng trong thí nghiệm 1
Tên thuốc Hoạt chất Liều lượng (g) Lượng nước (l)
Curzate-M8 72 WP, Meloidy duo 66.75WP phòng trừ bệnh mốc sương
Tập Kỳ phòng trừ ruồi đục lá, sâu ăn lá
Trang 36Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí ngoài đồng theo phương pháp khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên một yếu tố (RCBD) với 3 lần lặp Diện tích mỗi lần lặp là 22,8 m2, các biện pháp canh tác và thuốc phòng trừ nấm bệnh được thực hiện theo quy trình của Trung tâm Nghiên cứu Khoai tây, Rau và Hoa -Đà Lạt
Các nghiệm thức sử dụng thuốc kích kháng được xử lý ở giai đoạn cây khoai tây khoảng 30 NST
Các nghiệm thức thí nghiệm được bố trí như sau:
+ Nghiệm thức 1: sử dụng thuốc Biogreen (hoạt chất Chitosan)
+ Nghiệm thức 2: sử dụng thuốc Exin (hoạt chất: Acid salicylic)
+ Nghiệm thức 3: sử dụng thuốc SAT (hoạt chất: Cytosinpeptidemycin)
+ Nghiệm thức 4: đối chứng- không sử dụng thuốc kích kháng
Hình 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 LLL1 LLL2 LLL3
3.2.2.2.Thí nghiệm 2: thí nghiệm một số loại thuốc trong phòng trừ bệnh mốc sưong trên cây khoai tây
Thí nghiệm nhầm đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc hóa học trong phòng trừ bệnh mốc sương trên cây khoai tây
Trang 37Bảng 3.2 Danh sách thuốc hóa học dùng trong thí nghiệm 2
Tên thuốc Hoạt chất- nồng
độ Liều lượng (g) Lượng nước (l)
Staromil Cuprous oxide 60%
Thí nghiệm được bố trí ngoài đồng theo phương pháp khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu
nhiên một yếu tố (RCBD) với 4 lần lặp lại Diện tích mỗi lần lặp là 39,26 m2, các biện
pháp canh tác, và thuốc phòng trừ nấm bệnh được thực hiện theo quy trình của Trung
tâm Nghiên cứu Khoai tây, Rau và Hoa -Đà Lạt
Các nghiệm thức được bố trí như sau:
- Nghiệm thức 1: sử dụng thuốc Staromil 72WP
- Nghiệm thức 2: sử dụng thuốc Norshield 86,2WP
- Nghiệm thức 3: sử dụng thuốc Phytocide 50WP
- Nghiệm thức 4: sử dụng thuốc Curzate -M8 72 WP (sử dụng phổ biến ở địa
phương)
- Nghiệm thức 5: đối chứng – không phun thuốc, chỉ phun nuớc lã
Các nghiệm thức đuợc phun thuốc khi tỷ lệ bệnh trên cây từ 3-5 % Phun 2 lần
cách nhau 7 ngày
Trang 38Các chỉ tiêu theo dõi:
Các chỉ tiêu theo dõi được thu thập trước khi xử lý thuốc 1 ngày và sau khi sử lý thuốc 1, 3, 5, 7 ngày Mỗi ô thí nghiệm của mỗi nghiệm thức, 20 cây khoai tây được chọn ngẫu nhiên để thu thập số liệu
- Tỷ lệ cây bệnh
- Tỷ lệ lá bệnh
- Chỉ số bệnh
Tính hiệu lực của thuốc
Công thức tính hiệu lực thuốc theo công thức của Herdersen Tiltle
ĐHH (%) = ( 1 – TaCb/TbCa) x 100 Trong đó:
Ta: Mức độ gây hại của bệnh ở công thức xử lý thuốc sau thí nghiệm
Tb: Mức độ gây hại của bệnh ở công thức xử lý thuốc trước thí nghiệm
Ca: Mức độ gây hại của bệnh ở công thức đối chứng sau thí nghiệm
Cb: Mức độ gây hại của bệnh ở công thức đối chứng trước thí nghiệm
Trang 393.4 Phương pháp xử lý số liệu
Các dữ liệu thu thập từ kết quả điều tra được phân tích theo phương pháp liệt kê phân nhóm và so sánh
Đồ thị được vẽ bằng chương trình EXCEL
Kết quả khảo sát thí nghiệm được được thu thập và xử lý thống kê ANOVA-2 bằng phần mềm MSTATC
Trang 40CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Cây khoai tây là một loại cây được trồng khá phổ biến tại Đà Lạt, với khoảng
100 ha được trồng tập trung tại phường 8, phường 7, phường 11 và xã Xuân Thọ Trên cây khoai tây có rất nhiều bệnh hại như bệnh mốc sương, bệnh héo xanh, bệnh ghẻ… Trong đó bệnh mốc sương vẫn là loại bệnh phổ biến và gây hại nặng nhất đến cây khoai tây ở tp Đà Lạt ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng sản phẩm
4.1 Tình hình gây hại của bệnh mốc sương trên cây khoai tây tại Đà Lạt
Qua điều tra về tình hình gây hại của bệnh mốc sương trên cây khoai tây tại các địa điểm phường 7, phường 8, phường 11, xã Xuân Thọ thuộc Đà Lạt và thêm hai điểm điều tra là huyện Đức Trọng và huyện Lạc Dương thuộc tỉnh Lâm Đồng thu được kết quả sau:
Bảng 4.1 : Tình hình gây hại của bệnh mốc sương trên cây khoai tây tại các
điểm điều tra
Địa điểm Tỷ lệ cây bệnh (%) Tỷ lệ lá bệnh (%) Chỉ số bệnh (%)