1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BẢY GIỐNG LÚA TRONG VỤ ĐÔNG XUÂN 2008 2009 TẠI HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI

80 158 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ cấu giống lúa hiện nay của vùng gồm các giống: Xi23, Khang dân….các giống lúa được trồng trong thời gian rất dài nên hiện nay đang có hiện tượng thoái hóa giống làm cho năng suất và p

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐÁNH GIÁ SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BẢY

GIỐNG LÚA TRONG VỤ ĐÔNG XUÂN 2008 - 2009 TẠI

HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI

Sinh viên thực hiện: BÙI THỊ HÀ Ngành: Nông Học

Niên khoá: 2005 - 2009

Tháng 6 / 2009

Trang 2

ĐÁNH GIÁ SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BẢY GIỐNG LÚA TRONG VỤ ĐÔNG XUÂN 2008 - 2009 TẠI

HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngoài những nỗ lực phấn đấu, vươn lên của bản thân, tôi luôn nhận được sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự ủng hộ động viên giúp đỡ của gia đình, bạn bè

Trong trang đầu của khóa luận này, tôi xin tỏ lòng biết ơn

Thầy giáo ThS Cao Xuân Tài đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp vừa qua

Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh Ban chủ nhiệm khoa Nông học và Phân hiệu trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh tại Gia Lai, cùng quý thầy cô trong trường đã tận tình giảng dạy và truyền thụ kiến thức cơ bản cho tôi suốt 4 năm học

Ban lãnh đạo Trung tâm thực nghiệm giống cây trồng AYun Hạ - huyện Phú Thiện - tỉnh Gia Lai đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành tốt đề tài

Kĩ sư Nguyễn Văn Long - Viện nghiên cứu Nông lâm nghiệp Tây Nguyên đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc sự giúp đỡ quí báu trên và nguyện học tập, làm việc thật tốt để không phụ lòng mong mỏi của gia đình, thầy cô và các bạn dành cho tôi trong suốt thời gian qua

Pleiku, tháng 6 năm 2009

Sinh viên thực hiện

Bùi Thị Hà

Trang 4

TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Đề tài nghiên cứu “Đánh giá sự sinh trưởng và phát triển của bảy giống lúa

trong vụ Đông xuân 2008 - 2009 tại huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai”

Mục tiêu của đề tài là đánh giá và tuyển chọn một số giống lúa cho năng suất cao, phẩm chất tốt và chống chịu sâu bệnh khá, thích hợp với điều kiện sinh thái huyện Phú Thiện - tỉnh Gia Lai

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) với

7 nghiệm thức, 3 lần lặp lại Các nghiệm thức là 7 giống lúa bao gồm: KD18, Q5, ĐT36, QR1, ML202, ML214, ML48 (Đ/C)

Các chỉ tiêu theo dõi gồm: đặc trưng hình thái, các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển, tổng thời gian sinh trưởng, đặc tính đẻ nhánh, động thái tăng trưởng chiều cao tính chống chịu sâu bệnh hại, năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất

Qua thí nghiệm thực tế trên đồng ruộng cho thấy một số kết quả như sau:

Tổng thời gian sinh trưởng của các giống từ 105 - 118 ngày, trong đó Q5 có thời gian sinh trưởng dài nhất là 118 ngày, thấp nhất là QR1: 105 ngày và đối chứng có tổng thời gian sinh trưởng bằng là 107 ngày

Các giống có chiều cao cây trung bình từ 75,01 - 97,09 cm, trong đó QR1 có chiều cao thấp nhất là 72,94 cm, cao nhất ĐT36 (97,09 cm) và đối chứng ML48 là 75,01 cm

Động thái tăng trưởng chiều cao ở các giống đều có xu hướng tăng dần và tăng nhanh ở giai đoạn kết thúc đẻ nhánh đến bắt đầu trổ Và tốc độ tăng trưởng chiều cao ở giống KD18 thấp nhất so với các giống còn lại

Các giống có khả năng đẻ nhánh trung bình, thời gian đẻ nhánh tập trung, trong

đó giống có khả năng đẻ nhánh tập trung nhất là ML214, giống QR1 có thời gian đẻ nhánh dài nhất

Trang 5

Mức độ nhiễm sâu bệnh hại của các giống ở mức độ nhẹ không gây ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây lúa và năng suất Nhìn chung các giống

có khả năng chống chịu sâu bệnh khá

Năng suất thực thu dao động từ 4,67 - 7,07 tấn/ha, cao nhất là ĐT36 (7,07 tấn/ha), thấp nhất ML214 (4,67 tấn/ha) và đối chứng là 5,27 tấn/ha

Các giống lúa trong thí nghiệm có phẩm chất gạo tương đối tốt, có độ bạc bụng thấp từ 0 - 3 điểm và hầu hết các giống đều có dạng hạt thon, duy chỉ có Q5 có dạng hạt bán tròn, ML202 có dạng hạt bán thon và QR1 có dạng hạt thon dài

Như vậy qua kết quả nghiên cứu chúng ta nhận thấy 3 giống ĐT36, ML202 và Q5 có những ưu điểm vượt trội so với giống đối chứng và các giống khác

Trang 6

Dang sách các bảng x

1.1 Đặt vấn đề 1 1.2 Mục tiêu và yêu cầu 2

1.2.2 Yêu cầu 2

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trên Thế giới và Việt Nam 5

2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trên Thế giới 5

2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trong nước 7

2.3 Tình hình nghiên cứu lúa trên Thế giới và Việt Nam 10

2.3.1 Tình hình nghiên cứu lúa trên Thế giới 10

Trang 7

2.3.2 Tình hình nghiên cứu về giống trong nước 11

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

3.1.4 Tình hình khí hậu tại vùng thí nghiệm 15

3.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 18

3.3.2 Các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển 18

Trang 9

4.7.6 Năng suất lý thuyết 40

Trang 10

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT

NSTT: Năng suất thực thu

NSLT: Năng suất lý thuyết

P 1000 hạt: Trọng lượng một ngàn hạt

Đ/C: Đối chứng

NSC: Ngày sau cấy

TGST: Thời gian sinh trưởng

IRRI: International Rice Research Institute

ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long

RCBD: Randomized Complete Block Design

WTO: Word Trade Organization

FAO: Food and Agriculture Organization

Trang 11

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Diện tích và sản lượng lúa ở Việt Nam từ năm 1990 đến 2007 8

Bảng 3.2 Điều kiện thời tiết khí hậu từ tháng 1 - 5/2009 15

Bảng 4.1 Đặc trưng hình thái của các giống 23 Bảng 4.2 Thời gian sinh trưởng của các giống 27 Bảng 4.3 Động thái tăng trưởng chiều cao của các giống lúa 29

Bảng 4.4 Động thái đẻ nhánh của các giống lúa 31

Bảng 4.5 Khả năng đẻ nhánh của các giống lúa 34

Bảng 4.7 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 38

Bảng 4.8 Chỉ tiêu về phẩm chất các giống lúa 42

Trang 12

DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ VÀ HÌNH

Đồ thị 4.1 Động thái tăng trưởng chiều cao cây các giống lúa 30

Đồ thị 4.2 Động thái để nhánh của các giống lúa 32

Đồ thị 4.3 Động thái tích lũy chất khô 37

Trang 13

Lúa gạo là một loại lương thực chính và cung cấp lương thực cho hơn một nữa dân số thế giới Về mặt lý thuyết, cây lúa có khả năng cho sản lượng cao hơn nếu điều kiện canh tác như hệ thống tưới tiêu, chất lượng đất, biện pháp thâm canh và giống được cải thiện Trong các yếu tố đó việc chọn tạo giống đóng vai trò rất quan trọng Thành công trong những nghiên cứu về giống đã mở ra một triển vọng mới giúp thế giới có một cái nhìn lạc quan hơn về vấn đề lương thực trong tương lai

Ở Việt Nam ngành sản xuất Nông nghiệp từ xưa tới ngày nay căn bản dựa vào công việc sản xuất lúa gạo, do đó: Cây lúa là cây lương thực chính và đóng vai trò rất

quan trọng trong sự phát triển kinh tế đất nước Vì vậy, lúa được trồng và phân bố

khắp nơi trên toàn bộ lãnh thổ của nước ta Nền sản xuất lúa của nước ta đã và đang phát triển vược bậc Từ một nước thiếu lương thực trong thập niên 70 và những năm

80, phải nhập khẩu khoảng 700.000 tấn đến 1,5 triệu tấn lương thực, thì đến sau năm

1990 lượng gạo xuất khẩu đã tăng và đến năm 2000 lượng gạo xuất khẩu đạt 4,5 triệu tấn (Cao Xuân Tài, 2002), đứng thứ hai thế giới sau Thái Lan Do đó để đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu, ngoài các biện pháp tăng cường đầu tư thâm canh, thì phải đặc biệt chú trọng đến vấn đề giống

Gia Lai là một tỉnh miền núi nằm trên cao nguyên Nam Trung Bộ, có điều kiện

Trang 14

địa phương và tiến tới sản xuất lúa gạo hàng hoá ở các vùng sản xuất lúa tập trung của các huyện trong tỉnh như: AyunPa, Phú Thiện, Đăk Đoa và một số tiểu vùng khác Cơ cấu giống lúa hiện nay của vùng gồm các giống: Xi23, Khang dân….các giống lúa được trồng trong thời gian rất dài nên hiện nay đang có hiện tượng thoái hóa giống làm cho năng suất và phẩm chất giảm và sâu bệnh tăng…Trong thời gian qua, các nhà chọn tạo giống Việt Nam đã chọn tạo thành công nhiều bộ giống lúa mới trong đó có

bộ giống có năng suất và chất lượng khá, đã được gieo trồng trên một diện tích lớn ở các tỉnh phía Bắc và vùng Duyên hải Nam Trung Bộ

Để tìm kiếm một số giống lúa mới có năng suất và chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện tự nhiên và xã hội của tỉnh Gia Lai chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Đánh giá sự sinh trưởng và phát triển của bảy giống lúa trong vụ Đông Xuân

2008 - 2009 tại huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu:

1.2.1 Mục tiêu

Xác định và tuyển chọn một vài giống lúa có năng suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu khá với sâu bệnh, thích hợp với điều kiện sinh thái vùng Ayun Hạ huyện Phú Thiện - tỉnh Gia Lai, từ đó làm cơ sở xác định cơ cấu giống lúa phù hợp với sinh thái của địa phương

1.2.2 Yêu cầu

Theo dõi và đánh giá các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển, khả năng thích nghi, khả năng chống chịu và năng suất đúng theo qui định khảo nghiệm giống lúa của Bộ Nông nghiệp Rút ra được ưu, nhược điểm của các giống lúa tham gia thí nghiệm, và đề nghị giống có triển vọng cho địa phương để đưa vào sản xuất

Trang 15

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Nguồn gốc và vai trò của lúa gạo

2.1.1 Nguồn gốc của cây lúa

Về nguồn gốc cây lúa có nhiều tác giả trên thế giới đề cập đến nhưng cho đến nay vẫn chưa có tài liệu thống nhất nào nhưng phần lớn các nhà khoa học đều có ý

kiến thống nhất là tổ tiên của lúa trồng Oryza sativa là loài lúa dại Oryza fatua nơi phát sinh của Oryza fatua là vùng Đông Nam Á Đông Nam Á chính là nơi đã thuần

hoá, chọn lọc và tạo ra được lúa gạo đầu tiên và trở thành quê hương của cây lúa và nghề trồng lúa (Bùi Huy Đáp, 1980) Ở nước ta theo các tài liệu khỏa cổ học thì trong thời kỳ tiền sử khoảng năm 4.000 - 3.000 trước Công nguyên cũng đã tìm thấy những

di tích chứng tỏ người ta đã biết đến cây lúa như một số đồ dùng để nghiền hạt, chày

và cối đá Hiện nay ở Đông Nam Á, Ấn Độ, Trung Quốc có nhiều giống lúa

Về phương diện thực vật học lúa trồng hiện nay là do lúa dại qua chọn lọc tự

nhiên và chọn lọc nhân tạo lâu đời hình thành Cây lúa gạo có tên khoa học là Oryza sativa L thuộc họ Hoà Thảo Graminea Cây lúa được trồng trong những điều kiện

sinh thái rất khác nhau, trải dài từ vĩ tuyến 350 Nam đến vĩ tuyến 530 Bắc Được trồng

từ vùng đất thấp ven biển đến các vùng có độ cao trên 3.000 m thuộc dãy Himalaya,

từ những vùng ngập nước sâu 3 - 4 m đến những vùng khô hạn chỉ mưa 9 - 13 mm (Bùi Huy Đáp, 1980) Khả năng cho năng suất của lúa cao ở nhiều nước trên các vĩ độ khác nhau Năng suất giữa các châu chênh lệch nhau khá nhiều

2.1.2 Yêu cầu sinh thái của cây lúa

Điều kiện sinh thái khí hậu của cây lúa: điều kiện sinh thái là những vấn đề

Trang 16

lúa Năng suất, chất lượng lúa không những được quyết định bởi đặc tính của giống (kiểu gen) mà còn chịu tác động mạnh của yếu tố môi trường

Ảnh hưởng của nhiệt độ tới cây lúa: ở mỗi thời kỳ sinh trưởng và phát triển của cây lúa cần một nhiệt độ thích hợp khác nhau Ở thời kỳ nảy mầm cây lúa cần nhiệt độ từ 30 - 350C, ở giai đoạn sinh trưởng thân lá, giai đoạn tích luỹ chất yêu cầu nhiệt độ từ 21 - 260C, thời kỳ trổ bông yêu cầu nhiệt độ 300C và thời kỳ hạt chắc đến chín yêu cầu nhiệt độ từ 29 - 300C Tổng tích ôn của cây lúa từ nảy mầm đến chín từ 3.500 - 4.5000C Đối với các giống lúa ngắn ngày tổng tích ôn khoảng 2.500 - 3.0000C Nhiệt độ cao quá hay thấp quá đều ảnh hưởng không tốt tới sinh trưởng của cây lúa, ở điều kiện Việt Nam thì tác hại của nhiệt độ thấp đối với cây lúa nghiêm trọng hơn, nhiệt độ dưới 130C cây lúa ngừng sinh trưởng, nếu nhiệt độ thấp kéo dài cây lúa có thể bị chết rét

Lúa có nguồn gốc nhiệt đới ưa sáng mạnh, ánh sáng thích hợp cho cây lúa từ 8.000 - 12.000 lux

Nước là yếu tố sinh thái quan trọng bậc nhất đối với cây lúa, ở những vùng không chủ động nước tưới người ta lấy lượng mưa, sự phân bố mưa theo mùa để phân vùng trồng lúa và sắp xếp vụ mùa trồng lúa, những nơi có lượng mưa 1.000 mm/năm

có thể trồng được 1 vụ lúa nước/năm, lượng mưa trên 1.500 mm/năm có thể trồng được hai vụ lúa Tuy nhiên không có sự tương quan giữa lượng mưa và năng suất lúa Trên thế giới, các nước trồng lúa ở vĩ độ cao Bắc và Nam bán cầu (Italia, Australia, Nhật) được tưới hoàn toàn chủ động có năng suất cao hơn nhiều so với vùng trồng lúa nhiệt đới mưa nhiều Để làm ra một gam chất khô cây lúa cần 710 gam nước, ngô là

360 gam, bông là 464 gam, vậy cây lúa cần nhiều nước hơn so với nhiều loại cây trồng khác

2.1.3 Vai trò của cây lúa

Trên thế giới có khoảng 840 triệu người đang trải qua nạn đói kinh niên, hơn một nửa số này sống ở những vùng phụ thuộc vào trồng lúa làm lương thực và tạo thu nhập Nhằm gây sự tập trung, chú ý của quốc gia và toàn nhân loại vào loại lương

Trang 17

thực hàng đầu của con người Tổ chức lương nông Liên Hiêp Quốc (FAO) đã chọn năm 2004 là năm quốc tế lúa gạo với khẩu hiệu “Lúa gạo là sự sống”

Rõ ràng lúa gạo là thực phẩm hàng đầu có vai trò đặc biệt quan trọng trong vấn

đề an ninh lương thực, sức khoẻ con người Trong hạt gạo chứa nhiều chất dinh dưỡng: tinh bột 70 - 80%, protein 7,5%, chất béo 0,5%, vitamin B1, B12, PP…và các chất khoáng cần thiết cho con người (Nguyễn Văn Luật, 2001) Ngoài việc sử dụng làm lương thực còn dùng làm nguyên liệu cho nhà máy bánh kẹo, nhà máy giấy, thức

ăn gia súc, sản xuất nấm…và đặc biệt là mặt hàng xuất khẩu có giá trị thu ngoại tệ làm giàu cho người nông dân và đất nước (Cao Xuân Tài, 2002)

Lúa gạo không chỉ mang lại sự no đủ mà còn trở thành nét đẹp trong đời sống tinh thần của người dân việt Nam Cây lúa, hạt gạo trở nên thân thuộc và gần gũi từ bao đời nay, người dân Việt Nam coi đó là phần không thể thiếu trong cuộc sống Bên cạnh đó, lúa gạo còn có giá trị lịch sử bởi lịch sử phát triển của nó gắn liền với lịch sử phát triển của dân tộc ta, in dấu trong từng thời kỳ thăng trầm của đất nước

2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trên Thế giới và Việt Nam

2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trên Thế giới

Lúa gạo là một trong ba cây lương thực quan trọng bậc nhất của loài người Hơn nửa dân số sống nhờ lúa gạo, đặc biệt châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh Năm

2005 cả thế giới có khoảng 112 nước trồng lúa, với diện tích trên 150 triệu ha, năng suất bình quân khoảng 4 tấn/ha (Nguyễn Văn Hoan, 1999)

Lúa là cây lương thực chính của nhiều quốc gia trên thế giới, trong thực tế cây lúa có phạm vi phân bố tương đối rộng từ 350 Nam ở châu Úc đến 530 Bắc ở Trung Quốc, cây lúa cũng đã được trồng ở độ cao 2.000 m như ở Kasơmia Ấn Độ và Nêpan (Bùi Huy Đáp, 1999)

Hiện nay trên thế giới có khoảng 114 nước trồng lúa và phân bố ở tất cả các châu lục Diện tích trồng lúa trên thế giới chiếm 1/5 diện tích trồng trọt nhưng phân

bố không đều, trên 90% diện tích lúa tập trung ở châu Á, các châu lục khác như châu

Mỹ, châu Phi, châu Âu, châu Đại Dương có trồng lúa nhưng với diện tích không

Trang 18

Năng suất lúa ở các châu lục khác nhau rất xa Châu Úc có năng suất đứng đầu thế giới (81,70 tạ/ha) sau đó là châu Âu 55,9 tạ/ha rồi đến Bắc Mỹ Những khu vực có năng suất cao nhất có thể giải thích như sau: Đây là những nơi có đất đai, khí hậu thích hợp cho việc trồng lúa nước Hầu hết các khu vực này có nền công nghiệp phát triển đã hỗ trợ mạnh mẽ cho nông nghiệp, hơn nữa diện tích trồng lúa không lớn nên buộc họ phải thâm canh để có đủ sản lượng lương thực đáp ứng nhu cầu trong khu vực, mặt khác trình độ dân trí, trình độ canh tác cao, các tiến bộ kỹ thuật được đáp ứng đầy đủ nên năng suất ở những khu vực này cao hơn Châu Mỹ Latinh, châu Phi

có năng suất lúa thấp nhất thế giới Năng suất lúa châu Á được xếp vào hàng thứ 4 sau châu Úc, châu Âu và Bắc Mỹ Nhưng năng suất lúa ở châu Á vẫn cao hơn năng suất bình quân của thế giới

Chiếm trên 90% diện tích và sản lượng lúa gạo toàn cầu, châu Á có ảnh hưởng tới tình hình lúa gạo của cả thế giới trong quá khứ hiện tại và cả tương lai Các dự đoán của FAO cho rằng sản lượng lúa gạo của châu Á có thể tăng khoảng 0,9% mỗi năm để đạt đến 720 triệu tấn vào năm 2030

Sản xuất gạo toàn cầu đã tăng lên đều đặn từ khoảng 200 triệu tấn vào năm

1960 tới 605 triệu tấn vào năm 2004 Hiện nay có 3 quốc gia sản xuất lúa gạo hàng đầu là Trung Quốc (31% sản lượng thế giới) Ấn Độ (20%) Indonesia (9%) Ba nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới là: Thái Lan (26% sản lượng gạo xuất khẩu), Việt Nam (15%) và Hoa Kỳ (11%) và những nước nhập khẩu gạo nhiều là: Indonesia (14%), Bangladesh (4%), Brazil (3%)

Mặc dù có xu hướng tăng trong nhiều năm qua, tình trạng sản xuất lúa thế giới vẫn còn biến động theo điều kiện khí hậu hàng năm vì hơn 40% diện tích lúa trồng hiện nay còn lệ thuộc vào nước trời (Trần Văn Đạt, 2002) Sản lượng thế giới giảm từ

611 triệu tấn năm 1999 xuống 598 triệu tấn năm 2001, 569 triệu tấn năm 2003 và tăng trở lại 605 triệu tấn năm 2004 và 618 triệu tấn năm 2005 Châu Á chiếm ưu thế sản lượng lúa gạo thế giới, với 90% sản lượng (559 triệu tấn) năm 2005 (Cao Xuân Tài, 2002)

Trang 19

Trong những năm gần đây, diện tích trồng lúa ở một số nước đang có xu hướng giảm dần Đây cũng là một xu hướng tất yếu, nhất là ở các nước phát triển Do việc thay đổ cơ cấu cây trồng cho phù hợp với nhu cầu của con người, bên cạnh đó là tiến trình đô thị hoá ở các nước đang phát triển

2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trong nước

Việt Nam là đất nước có truyền thống trồng lúa nước từ lâu đời, cây lúa Việt Nam là một cây bản địa và Việt Nam nằm trong cái nôi lớn, sinh ra nghề trồng lúa của loài người Sản xuất lúa gạo ở nước ta tập trung chủ yếu ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng, khoảng 80% hộ gia đình nông thôn trong cả nước tham gia vào sản xuất lúa gạo (Trần Văn Đạt, 2002)

Xuất khẩu gạo hằng năm đã mang lại nguồn ngoại tệ đáng kể cho ngân sách nhà nước, năm 2003 sản xuất lúa gạo chiếm gần 50% GDP nông nghiệp (không kể lâm nghiệp và ngư nghiệp) trong giai đoạn 1991 - 2002, sản lượng lúa tăng bình quân khoảng 4,9% năm, năng suất lúa tăng 3% năm trong khi đó diện tích chỉ tăng 1,8% năm Năm 1998 năng suất lúa trung bình của nước ta đạt 39,6 tạ/ha, đến năm 2002 tăng lên 45,14 tạ/ha (bình quân mỗi năm tăng hơn 1 tạ/ha) Rõ ràng trong những năm gần đây nông dân Việt Nam đã đạt mức tăng kỹ lục về năng suất, sản lượng lúa và lợi nhuận tính theo hecta song hầu hết nông dân đều trồng lúa trên diện tích nhỏ nên không thể thoát nghèo nếu chỉ trồng lúa

Vựa lúa lớn nhất của nước ta hiện nay là Đồng bằng sông Cửu Long, cung cấp trên 50% sản lượng lúa gạo cho toàn quốc và xấp xỉ 80% luợng lúa gạo xuất khẩu của

cả nước Hiện nay diện tích trồng lúa của Đồng bằng sông Cửu Long khoảng hơn 2 triệu ha và có thể mở rộng ra hơn 400 ha nữa Do những ưu đãi về khí hậu, đất đai năng suất lúa của ĐBSCL luôn ở trong nhóm cao nhất cả nước Tính đến năm 2004 vùng này đạt sản lượng lúa 18,5 triệu tấn với năng suất bình quân 4,86 triệu tấn/ha (Bùi Huy Đáp, 2002)

Là cái nôi của nền văn minh lúa nước Việt Nam, đồng bằng sông Hồng có truyền thống thâm canh lúa nước từ rất lâu đời và được đầu tư nhiều hơn về cơ sở hạ

Trang 20

tích sản xuất lúa của mỗi hộ nông dân nhỏ hẹp, manh mún, sản lượng lúa gạo chủ yếu đáp ứng nhu cầu lương thực của vùng

Bảng 2.1 Diện tích và sản lượng lúa ở Việt Nam từ năm 1990 đến 2007

(triệu ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Mục tiêu của Việt Nam trong những năm tới là tiếp tục coi trọng an ninh lương thực mà chủ yếu là dựa vào sản xuất lúa, tiếp tục sản xuất những giống lúa cho năng suất cao ở những vùng đặc biệt khó khăn về lương thực nhưng trên phạm vi cả nước phải đẩy mạnh sang sản xuất lúa gạo có chất lượng cao, tạo ra những sản phẩm gạo có chất lượng tốt nhằm nâng cao thu nhập của người trồng lúa vì vậy, phải thực hiện đồng bộ việc áp dụng các tiến bộ về giống và kỹ thuật trồng trọt nâng cao năng suất và chất lượng lúa gạo

Trong lịch sử Việt Nam đã xuất khẩu gạo từ cuối thế kỷ XIX Năm 1884 miền

Bắc xuất khẩu 5.376 tấn gạo Năm 1890 cả nước xuất khẩu 957.000 tấn gạo, năm 1907

Trang 21

xuất khẩu 2 triệu tấn gạo và 1926 - 1936 xuất khẩu được 8,1 triệu tấn gạo (Bùi Huy Đáp, 2002)

Trong khoảng thời gian 1968 - 1975 cuộc Cách Mạng Xanh xảy ra cả 2 miền Nam và Bắc Việt Nam nhờ thành tựu về hệ thống tưới tiêu, phân bón và đặc biệt về giống đã làm cho sản lượng lúa tăng 8,8 triệu tấn trong năm 1967 - 1969 lên 11 triệu tấn trong năm 1974 - 1975 Tuy nhiên do chiến tranh và áp dụng các biện pháp kinh tế không hữu hiệu, trong giai đoạn 1962 - 1988 nước ta phải nhập khẩu gạo từ Trung Quốc, Thái Lan, Mỹ…Số lượng nhập khẩu cao nhất là 1.260.000 tấn vào năm 1970 Năm 1989 đến nay nhờ cơ chế chính sách của Nhà nước thay đổi từ sản xuất theo hình thức tập thể sang cơ chế khoán rồi trực tiếp giao đất cho người dân chủ động sản xuất Việt Nam đã chuyển vị trí từ nước nhập khẩu thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới

Từ đó đến nay sản lượng lúa của Việt Nam không ngừng tăng lên trong 10 năm từ 1990 - 2000 tăng từ 19,23 triệu tấn lên 32,7 triệu tấn, trong khi đó trong 15 năm 1975 - 1990 chỉ tăng 9,1 triệu tấn Lượng xuất khẩu của nước ta ngày dần tăng lên năm 2000 là 4,50 triệu tấn Đây là một bước tiến vượt bậc đã làm nhiều nước kinh ngạc Sự phát triển này đạt được là nhờ vào sự tiến bộ trong công tác giống của nước

ta Từ những giống địa phương năng suất thấp, dài ngày, chống chịu kém… được thay bằng những giống lúa mới từ những nguồn khác nhau như nhập nội hay chọn tạo trong nước đã đưa năng suất lúa lên cao 31,9 tạ/ha năm 1990 đến năm 2000 đạt 42,6 tạ/ha Thành công này cũng có sự đóng góp một phần của thành tựu sản xuất lúa lai Trong những năm gần đây, từ năm 2000 đến nay diện tích trồng lúa của nước ta

có xu hướng giảm dần Do việc thay đổi cơ cấu cây trồng cho phù hợp với từng vùng, từng loại đất để tăng hiệu quả kinh tế và do tốc độ đô thị hoá ngày càng nhanh chóng nên đất đai nông nghiệp bị giảm nhanh Nhưng sản lượng lúa của nước ta không giảm mà còn tăng lên trong năm 2000 diện tích 7,76 triệu ha lên 7,2 triệu ha năm 2007, năng suất từ 4,24 tấn/ha lên 4,98 tấn/ha.và sản lượng từ 32,52 triệu tấn lên 35,86 triệu tấn năm 2007 Lượng gạo xuất khẩu ra thế giới ngày càng tăng, trong giai đoạn 2000 - 2007 năm 2005

là năm đầu tiên xuất khẩu vượt con số 5 triệu tấn, mức giá xuất khẩu khá cao 245 - 275

Trang 22

USD/tấn Theo Hiệp hội lương thực Việt Nam 4 tháng đầu năm 2009 nước ta xuất khẩu gạo đạt 2.285 triệu tấn - tăng 64,5% so với cùng kỳ năm 2008

Thị trường xuất khẩu gạo ngày càng được mở rộng và uy tín gạo Việt Nam được cải thiện khi nước ta gia nhập WTO Tuy nhiên gạo Việt Nam cũng chịu sức ép cạnh tranh gay gắt ngay trên sân nhà, trong khi cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ sản xuất còn yếu kém Gạo Thái Lan, Trung Quốc, Mỹ… có chất lượng cao, giá rẻ tràn vào thị trường Việt Nam với thuế nhập khẩu không đáng kể Mặc dù phải đối mặt với những khó khăn và thách thức đó, nhưng mặt hàng gạo vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất 23,8%, tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2007 đạt 1.455 triệu USD, tăng 16,7% giá gạo bình quân 300 USD Điều đó thể hiện chất lượng gạo Việt Nam đã được nâng cao rõ nét, đáp ứng yêu cầu khắt khe của một số thị trường khó tính: EU, Nhật Bản, Mỹ…

2.3 Tình hình nghiên cứu lúa trên Thế giới và Việt Nam

2.3.1 Tình hình nghiên cứu lúa trên Thế giới

Hiện nay trên thế giới đang diễn ra cuộc khủng hoảng lương thực, đặc biệt là gạo trên thế giới đang diễn ra hết sức nhanh chóng Vì vậy để tăng sản lượng lúa gạo nhằm đáp ứng nhu cầu lương thực thực phẩm thì biện pháp tốt nhất là tăng năng suất, giống là yếu tố quan trọng hàng đầu, giúp tăng năng suất 15 - 30% (Trần Văn Đạt, 2002)

Do vậy công tác nghiên cứu, cải tạo về lúa được tiến hành từ lâu và có nhiều thành tựu to lớn trong việc chọn tạo ra những giống lúa tốt cho năng suất, chất lượng cao, chống chịu với sâu bệnh, khả năng thích ứng rộng với điều kiện sinh thái, canh tác ở từng vùng cụ thể

Thập niên 1950 Ủy ban lúa gạo quốc tế của FAO đã cộng tác với các thành viên để thi hành một chương trình lai các giống thuộc nhóm indica với các giống thuộc nhóm japonica để tạo ra giống lúa cho các nước ở vùng có khí hậu nhiệt đới ở Châu Á như: ADT ở Tamil, Ấn Độ; Malinga, Mashuri ở Malaysia; BP-76 ở Philippin; H- 4, H-5 ở Srilanka (Nguyễn Văn Ngưu, 2007)

Trang 23

Đến năm 1960 cuộc Cách Mạng Xanh ra đời đã cho ra những giống lúa có năng suất cao, chống đổ ngã, chống chịu sâu bệnh, chịu phèn khá, thời gian sinh trưởng ngắn 3 - 4 tháng được mở rộng khắp thế giới (Nguyễn Văn Luật, 2001)

Cùng thời gian đó Viện nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) được thành lập vào năm 1960 tại Philippin Các chuyên gia của IRRI đã lai giống lúa Deowoo thấp, ngắn ngày của Đài Loan với giống Pete cao giàn của Indonesia tạo ra giống IR8 triển vọng góp phần vào sự thành công của cuộc Cách Mạng Xanh trên thế giới Trong những năm 1970, IRRI đã tạo được những giống lúa mới có năng suất cao kết hợp được tính chống bệnh đạo ôn, bọ rầy xanh, hạt trong và có hương thơm như các dòng IR159, IR22… (Nguyễn Văn Luật, 2001)

Ấn Độ là nước nghiên cứu giống lúa cúng khá sớm mục đích tạo ra những giống năng suất cao, thấp cây, có khả năng chống đổ, phản ứng với quang chu kỳ để

có thể trồng được những vụ khác nhau Nhờ phương pháp lai và đột biến đã tạo ra nhiều tổ hợp giống lúa: Yet 355, CR 1006, CR 2002…

Hiện nay khoa học công nghệ đã đạt đến đỉnh cao, đặc biệt là công nghệ sinh học Những thành tựu khoa học này được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau Trong công tác chọn tạo giống lúa người ta đã tạo ra những giống mới bằng cách lai, chuyển đổi gen, gây đột biến,… nhằm tạo ra những giống mới có năng suất và chất lượng cao Như các giống lúa chuyển gen có hàm lượng dinh dưỡng cao: Protein, vi lượng Fe, Zn, vitamin A, B1, hay các giống lúa có khả năng chống chịu hạn hán, ngập lụt, chống chịu sâu đục thân, sâu cuôn lá (Trần Văn Đạt, 2002)

2.3.2 Tình hình nghiên cứu về giống trong nước

Những giống lúa trồng ở nước ta ngày nay là kết quả của công trình dài của các công việc thuần hoá, lựa chọn và cải thiện do nông dân và các nhà nghiên cứu khoa học (Nguyễn Văn Ngưu, 2007)

Hiện nay có nhiều Viện, Trung tâm và trường Đại học tham gia vào chương trình khảo cứu lúa gạo tại Việt Nam

Trang 24

Tại miền Bắc: Viện khoa học kĩ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Trung tâm nghiên cứu lúa lai, Viện cây lương thực và thực phẩm, Viện di truyền, Viện sinh học, Trường đại học Nông nghiệp I…

Miền Nam: Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long, Đại học Huế, Đại học Nông lâm Hồ Chí Minh, Đại học Cần Thơ…( Trần Văn Đạt, 2002)

Cuộc Cách Mạng Xanh ở Việt Nam bắt đầu cuối thập niên 60 do việc nhập nội

từ Viện nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) những giống lúa có năng suất cao, phẩm chất tốt, thời gian sinh trưởng ngắn: IR8, IR20, IR22, IR26, IR30, TN73-1, TN73-2…và những giống lúa có khả năng kháng rầy nâu: NN6A, NN7A, NN8A, OM3, IR36…(Nguyễn Văn Luật, 2001)

Sau khi thành lập vào năm 1961, Viện nghiên cứu lúa Đồng bằng sông Cửu Long (CRRI) đã nghiên cứu và tạo ra nhiều giống lúa năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh,…và có thời gian sinh trưởng thích hợp cơ cấu mùa vụ ở từng vùng miền Như một số giống: OM723, OM916, OM922, TDB…(Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long, 1997) có thời gian sinh trưởng trung ngày rất thích hợp cho việc chuyển đổi cơ cấu ba vụ ngắn ngày bấp bênh sang hai vụ trung ngày ăn chắc ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên

Viện khoa học kĩ thuật Việt Nam kết hợp Viện Cây lương thực thực phẩm và Viện Bảo vệ thực vật Đã nghiên cứu lai tạo ra nhiều giống địa phương với IR có khả năng chống bệnh cháy lá, bạc lá, rầy nâu, sâu đục thân: U7, C10, C15, C37, X2, X3… (Trần Văn Đạt, 2002)

2.4 Tổng quan vùng nghiên cứu

Gia Lai là một tỉnh miền núi thuộc vùng Tây Nguyên Việt Nam với diện tích 15.494,9 km², trải dài từ 15°58'20" đến 14°36'36" vĩ Bắc, từ 107°27'23" đến 108°94'40" kinh Đông Dân số tỉnh Gia Lai gần 1,1 triệu người (năm 2004) bao gồm nhiều cộng đồng dân tộc cùng sinh sống

Gia Lai có khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên một năm có hai mùa mưa và mùa nắng Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa nắng bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Phần lớn điện tích trên địa bàn tỉnh là đất đỏ Bazal nên rất thích

Trang 25

hợp cho trồng cây công nghiệp dài ngày, cây lương thực… Tổng diện tích lúa nước trên địa bàn tỉnh là 36.000ha, diện tích lúa rẫy 10.000ha

Phú Thiện là huyện mới tách ra từ thị xã Ayun Pa Nằm ở vị trí Đông Nam của tỉnh, trên quốc lộ 25 nối từ thị trấn Chư Sê đi Tuy Hoà - Phú Yên Phía Đông giáp huyện Ia Pa, phía Bắc và phía Tây giáp huyện Chư Sê, phía Nam giáp thị xã Ayun Pa Huyện Phú Thiện có diện tích 50.191 ha và 64.558 nhân khẩu, hơn 80% dân số sinh sống bằng cây lúa Ở vùng có khí hậu ôn hoà, với nhiệt độ trung bình 250 - 260 C, lượng mưa trung bình 1.000 - 1.300 mm Vì vậy điều kiện đất đai, khí hậu rất thuận lợi cho các loại cây trồng phát triển đặc biệt là cây lúa

Đây được coi là vựa lúa lớn nhất của tỉnh Gia Lai Với diện tích lúa nước khoảng 6.000 ha, năng suất bình quân 65 - 70 tạ/ha/vụ, sản lượng bình quân 80.000 tấn lúa Để đạt được thành tựu đó, là nhờ có công trình đập Ayun Hạ cung cấp nguồn nước tưới, áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh Đặc biệt là chương trình mở rộng diện tích gieo trồng từ một vụ thành hai vụ lúa trong năm

Tuy nhiên nông dân ở đây vẫn chưa giàu vì hạt lúa chưa có thương hiệu, chất lượng gạo chưa cao nên giá bán ra thị truờng không cao Do vậy đề tài này được tiến hành khảo nghiệm Nhằm tìm ra một số giống có năng suất cao, phẩm chất tốt và có thời gian sinh trưởng thích hợp với cơ cấu mùa vụ, kĩ thuật canh tác của người dân để đưa vào sản xuất ở địa phương Góp phần cải thiện đời sống của người dân và phát triển kinh tế tại huyện Phú Thiện

Trang 26

Chương 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Nội dung nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Các giống khảo nghiệm gồm 7 giống: QR1, ĐT36, Q5, ML202, ML214, KD18, ML48 (Đ/C) được mã hóa theo thứ tự từ 1 đến 7

Trại giống Ma Lâm - Bình Thuận Trại giống Ma Lâm - Bình Thận Trại giống Ma Lâm - Bình Thuận

3.1.2 Thời gian và địa điểm thí nghiệm

Thời gian: Thí nghiệm được tiến hành trong vụ Đông Xuân, ngày gieo

16/1/2009 và ngày cấy 12/2/2009

Địa điểm: Tại Trại thực nghiệm giống cây trồng AYun Hạ - huyện Phú Thiện

- tỉnh Gia Lai

Trang 27

3.1.3 Đất đai thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí trên nền đất trồng lúa truyền thống, đất thuộc loại đất thịt pha cát, địa hình bằng phẳng, hàm lượng dinh dưỡng trong đất ở mức độ trung bình

3.1.4 Tình hình khí hậu tại vùng thí nghiệm

Bảng 3.2: Diễn biến thời tiết khí hậu từ tháng 1 - 15/5/2009

Tổng giờ nắng

ở nhiệt độ thích hợp từ 25 - 330C, ở mỗi thời kỳ sinh trưởng phát triển cây lúa có một khoảng nhiệt độ thích hợp khác nhau Bên cạnh nhiệt độ, nước là yếu tố quyết định đến cả quá trình sinh trưởng, phát triển và khả năng cho năng suất sau này Trong thời

kỳ phân hoá đòng, trổ bông, phơi mầu và vào chắc nếu gặp nhiệt độ dưới 200C sẽ làm cho hoa thoái hoá, hạt phấn phát dục không đầy đủ, quá trình thụ tinh gặp trở ngại dẫn đến tỷ lệ vào chắc kém Ở những nơi có nhiệt độ cao nếu không có nước dưới chân ruộng dẫn đến quá trình tích luỹ tinh bột không được liên tục gây ra hiện tượng bạc lưng bạc bụng, bạc (Lê Thiếu Kỳ, 1995) Ngoài ra, ánh sáng cũng tác động đến quá trình sinh trưởng của cây lúa giúp cho cây lúa đẻ khoẻ, tập trung Khi lúa trổ rất cần

Trang 28

trong ngày Tuỳ theo giống, thường những giống có phản ứng với chu kỳ quang thì yêu cầu ánh sáng nhiều hơn để quang hợp và tích luỹ chất khô

Qua bảng 3.3 ta thấy diễn biến thời tiết từ tháng 1 - 5:

Nhiệt độ: Nhiệt độ từ tháng 1 đến tháng 5 biến động không đáng kể (24,9 27,50C) đây là điều kiện rất thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng, phát triển Đặc biệt vào giai đoạn thụ phấn thụ tinh và giai đoạn chín, là yếu tố quan trọng ghóp phần tăng năng suất

-Ánh sáng: Số giờ nắng/ngày biến động từ 6,4 giờ/ngày (tháng 1) đến 7,6 giờ/ngày (tháng 2) Nhìn chung số giờ nắng/ngày giữa các tháng chênh lệch nhau không đáng kể Số giờ nắng thuận lợi cho quá trình phát dục của cây lúa: quá trình trổ, phơi màu vào chắt và chín của cây lúa

Lượng mưa: Từ tháng 1 - 5 là các tháng mùa khô của Tây Nguyên nói chung

và Gia Lai nói riêng Nên lượng mưa không đáng kể Tuy nhiên, tại vùng nghiên cứu

có hệ thống thủy lợi đảm bảo cung cấp đủ nước nên lượng mưa tuy thấp nhưng không ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng cũng như phát triển của cây lúa

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẩu nhiên RCBD (Randomized Complete Block Design), 7 nghiệm thức, 3 lần lặp lại Sử dụng giống đối chứng ML48

Diện tích 1 ô thí nghiệm: 4 m x 5 m = 20 m2

Tổng diện tích của ô thí nghiệm: 420 m2

Chiều rộng dãy bảo vệ: 1m

Tổng diện tích của lô thí nghiệm: 600 m2

Ngăn cách giữa các ô thí nghiệm: Có bờ ngăn cách, chiều rộng 0,4 m

Ngăn cách giữa các khối thí nghiệm: Có bờ ngăn cách, chiều rộng 0,5 m

Giống làm đai bảo vệ là giống: ML48

Trang 29

Ghi chú: - I , II, III: Số lần lặp lại

Các số 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 được kí hiệu tương ứng với 7 giống lúa: KD18, Q5, ĐT36, QR1, ML202, ML214, ML48 (Đ/C)

3.2.2 Quy trình chăm sóc

- Làm đất: Đất được cày bừa kĩ, nhuyễn 10 ngày trước khi gieo, đảm bảo mặt

ruộng bằng phẳng, sạch cỏ, thoát nước tốt, sau đó đắp bờ phân lô

- Xử lý hạt: Trước khi ngâm hạt chúng tôi tiến hành phân loại, lựa chọn hạt

giống có chất lượng tốt ( không lẩn tạp, sâu bệnh, tróc vỏ…) Sau đó tiến hành ngâm nước ấm khoảng 540C ( 3 sôi 2 lạnh), mục đích tiêu diệt mầm mống sâu bệnh và kích thích hạt nẩy mầm Sau 12h vớt ra rửa sạch, tiếp tục ngâm 24h sau đó rửa sạch để ráo nước rồi đem ủ ở nhiệt độ 35 - 370C (tủ định ôn) sau 2 ngày hạt nảy mầm thì tiến hành gieo Mạ được gieo trên ô nhỏ với mật độ 200 gam /10m2

- Cấy: Khi mạ được 26 ngày tuổi tiến hành cấy, mạ nhổ xong cấy ngay trong

ngày Mật độ cấy: 45 bụi/m2 (1 - 2 cây/bụi) Khoảng cách cấy: (15 cm x 15 cm)

Trang 30

- Bón phân:

+ Lượng phân bón cho 420m2 ô thí nghiệm:

Bảng 3.3 Lượng phân bón cho 420 m2 ô thí nghiệm

Loại phân Lượng bón (kg) Bón lót

Thúc lần 1 (Bắt đầu đẻ nhánh)

Thúc lần 2 (Bắt đầu làm đòng)

- Quản lý và chăm sóc: Các chế độ chăm sóc, làm cỏ tương tự như quy trình

của Trung tâm giống

- Thu hoạch: Thu hoạch khi ruộng lúa chín 85% trở lên

3.3 Các chỉ tiêu và phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp theo dõi

Tiến hành cắm cọc, chọn ngẫu nhiên 5 cây/công thức/lần lặp, theo năm điểm

của 2 đường chéo góc, 10 ngày theo dõi 1 lần

3.3.2 Các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển

- Ngày bén rễ hồi xanh

- Ngày bắt đầu đẻ nhánh

- Ngày đẻ nhánh tối đa

- Ngày bắt đầu trổ (10%), ngày trổ 50%, ngày trổ hoàn toàn (80%)

- Ngày chín hoàn toàn: có > 85% số hạt/bông đã chuyển sang màu vàng

- Động thái tăng trưởng chiều cao

- Động thái đẻ nhánh

Trang 31

- Tỷ lệ đẻ nhánh hữu hiệu

Tỷ lệ nhánh hữu hiệu = (số bông/bụi)*100/(số nhánh tối đa/bụi)

3.3.3 Các chỉ tiêu về hình thái

- Chiều cao cây: Đo từ mặt đất đến đỉnh cao nhất của cây lúa Chiều cao cuối

cùng của cây: đo trước lúc thu hoạch 3 ngày

- Tính đổ ngã: Được ghi nhận từ giai đoạn lúa vào chắc đến chín, và được chia

làm 5 cấp

+ Cấp 1: Cứng: Cây không bị đổ

+ Cấp 3: Cứng vừa: Hầu hết cây bị nghiêng nhẹ

+ Cấp 5: Trung bình: Hầu hết cây bị nghiêng

+ Cấp 7: Yếu: Hầu hết cây bị đổ rạp

- Tổng số nhánh, số nhánh hữu hiệu, số nhánh vô hiệu

- Diện tích lá đòng: Đo lúc lúa trổ đo chiều dài và chiều rộng rồi tính theo công

thức: Diện tích lá đòng = chiều dài x chiều rộng x 0,8

- Chiều dài bông: Đo lúc lúa chín, đo từ cổ bông đến hết bông

- Độ thoát cổ bông: Quan sát khả năng trổ, thoát cổ bông của các nghiệm thức

từ giai đoạn chín sữa đến chín hoàn toàn, và được chia 5 cấp

Trang 32

3.3.4 Chỉ tiêu trọng lượng chất khô

Thời gian lấy mẫu cân tương ứng với 4 giai đoạn: giai đoạn đẻ nhánh, làm đòng, trổ, và giai đoạn chín

Lấy ngẫu nhiên 3 bụi trên ô, mang để chỗ mát cho khô rồi đem sấy ở nhiệt độ

800C trong vòng 24 h cho đến khi trọng lượng không đổi rồi đem cân, tính trung bình của 3 lần lặp lại, đơn vị gram

3.3.5 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất

- Năng suất lý thuyết:

NSLT (tấn/ha) = [Số bông/m2 * Số hạt chắc/bông * P1000 hạt ] / (1000*100) Trong đó: 1000: Là hệ số chuyển đổi từ trọng lượng 1000 hạt thành trọng lượng

1 hạt

100: là hệ số chuyển đổi từ gram ra tấn, m2 ra ha

- Năng suất thực tế: Năng suất thực tế thu được trên từng ô thí nghiệm, sau đó phơi riêng từng nghiệm thức cho đến khi hạt lúa khô và đạt độ ẩm 14%, loại bỏ hạt lép, rồi đem cân từng nghiệm thức với 3 lần lặp lại, sau đó tính trung bình cho mỗi nghiệm thức

3.3.6 Chỉ tiêu sâu bệnh hại

Chỉ tiêu sâu hại:

- Loại sâu

- Thời kỳ xuất hiện

Trang 35

Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Đặc trưng hình thái

Đặc trưng về hình thái của cây là tập hợp của nhiều kiểu hình giữa các tính

trạng của thân, lá, bông…do kiểu gen quy định Cùng một kiểu gen nhưng ở những

điều kiện khác nhau sẽ có đặc trưng hình thái khác nhau Vì nó chịu sự tác động của

các yếu tố ngoại cảnh: mật độ, khí hậu, ẩm độ, chế độ canh tác…

Đặc trưng hình thái được coi là một chỉ tiêu chọn giống, vì nó biểu hiện những

đặc tính của giống: khả năng cho năng suất, khả năng chống chịu sâu bệnh Mỗi

giống lúa khác nhau thì có đặc trưng hình thái khác nhau giúp ta có thể phân biệt được

Chiều dài (cm)

Chiều rộng (cm)

Diện tích

Chiều dài bông (cm)

Độ thoát

cổ bông (cấp) KD18

1,30 1,40 1,63 1,10 1,40 1,30 1,23

27,32 32,78 37,09 23,14 30,58 26,97 26,00

18,70 20,66 22,34 20,19 21,49 21,73 20,08

Trang 36

4.1.1 Thân

4.1.1.1 Chiều cao cây

Chiều cao cây là do đặc tính di truyền của giống quy định Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng sinh trưởng, khả năng thích ứng của cây trong những điều kiện khí hậu, đất đai khác nhau và còn chi phối trực tiếp tính

kháng đổ ngã của các giống lúa

Chiều cao cây được tính từ cổ rễ đến đầu mút lá cao nhất (trong giai đoạn trước trỗ bông), nó là tính trạng số lượng, phụ thuộc vào bản chất giống, thời vụ và điều kiện canh tác của từng vùng Chiều cao cây lúa không chỉ có ý nghĩa trong thâm canh, liên quan đến khả năng chống đổ của cây mà sự đồng đều về chiều cao cây còn phản ánh mức độ thuần của một giống, đặc biệt quyết định đến giá trị gieo trồng của một giống

Qua bảng 4.1: Cho chúng ta thấy rằng chiều cao của các giống biến động từ 72,94 - 97,09 cm Trong đó hầu hết các giống đều có chiều cao cao hơn giống đối chứng và giống ĐT36 có chiều cao cao nhất là 97,09 cm Các giống Q5, KD18, ML202, ML214 đều có chiều cao cao hơn so với đối chứng và tương ứng là 93,51 cm; 81,84 cm; 80,37 cm; 75,9 cm Giống có chiều cao thấp nhất QR1 là 72,94 cm

4.1.1.2 Tính đổ ngã

Đây là một đặc tính di truyền của giống và cũng là một trong những nguyên nhân làm thất thoát, giảm năng suất lúa Cây lúa đổ ngã sẽ làm cho quá trình vận chuyến dinh dưỡng, nước kém, quang hợp yếu dẫn đến hạt lép nhiều và năng suất sẽ thấp Qua bảng 4.1 cho thấy hầu hết các giống lúa có thân thẳng đứng, kháng đổ ngã tốt ở cấp 1

4.1.2 Lá đòng

Lá đòng là lá cuối cùng của cây lúa, sát bông lúa, thường ngắn và rộng hơn hai

lá trước nó Có tác dụng quan trọng đến việc nuôi bông lúa làm hạt sau khi trổ Bón phân nuôi hạt, trước hay sau khi lúa trổ, sẽ làm cho lá đòng xanh lâu, quang hợp tốt, bông có nhiều hạt mẩy

Trang 37

Qua bảng 4.1 thấy chiều dài lá đòng dao động khoảng 25,93 - 29,27 cm, trong

đó cao nhất là Q5 (29,27 cm), thấp nhất là ML214 (25,93 cm) và đối chứng ML48 (27,08 cm)

Chiều rộng lá đòng từ 1,10- 1,63cm, ĐT36 có chiều rộng lá đòng cao nhất là 1,63m và thấp nhất QR1 là 1,10cm, đối chứng ML48 1,23cm

Diện tích lá đòng được tính theo công thức:

DT lá đòng = Chiều dài lá đòng * chiều rộng lá đòng * 0,8

Diện tích lá đòng phụ thuộc vào chiều dài và chiều rộng của lá Giống có chiều dài và chiều rộng của lá lớn thì diện tích lá đòng sẽ lớn và ngược lại Từ bảng 4.1 cho

ta thấy diện tích lá đòng của các giống dao động trong khoảng 23,14 - 37,09 cm2 Trong đó ĐT36 có diện tích lá đòng lớn nhất là 37,09 cm2 và giống QR1 có diện tích

lá đòng thấp nhất là 23,14 cm2 Và các giống còn lại lần lượt đều có diện tích lá đòng: Q5 là 32,78 cm2; ML202: 30,58 cm2; KD18: 27,32 cm2; ML214: 26,97 cm2, và đối chứng ML48: 26,00 cm2

4.1.3 Bông lúa

4.1.3.1 Chiều dài bông

Đây cũng là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa vì bông dài, mật độ đóng hạt dày thì số hạt trên bông lớn và khả năng cho năng suất sẽ cao Chiều dài bông do đặc tính di truyền quy định, nhưng nó cũng chịu ảnh hưởng bởi điều kiện

ngoại cảnh

Qua bảng 4.1 cho thấy chiều dài bông của các giống có chiều dài bông trung bình từ 18,70 cm - 22,34 cm Với chiều dài cao nhất là ĐT36, thấp nhất là ML202, đối chứng ML48 (20,08 cm)

4.1.3.2 Độ thoát cổ bông

Độ thoát cổ bông là một đặc tính di truyền của giống, tuy nhiên cũng chịu tác động của yếu tố môi trường Nếu gặp điều kiện môi trường bất lợi như: nhiệt độ thấp,

Trang 38

Qua bảng 4.1 ta thấy các giống lúa thí nghiệm có độ thoát cổ bông ở mức tốt (cấp 1) là KD18, Q5, ĐT36 và các giống còn lại (QR1, ML202, ML214 và ML48) có

độ thoát cổ bông mức trung bình (cấp 3)

4.2 Thời gian sinh trưởng của các giống

Quá trình sinh trưởng của các giống lúa đều gồm có hai giai đoạn: Giai đoạn sinh trưỏng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực Tuy nhiên, mỗi giống lúa khác nhau thì sẽ có thời gian sinh trưởng và phát triển khác nhau, và chịu ảnh hưởng rất lớn của các yếu tố ngoại cảnh: nhiệt độ, cường độ chiếu sáng, thời gian chiếu sáng Mỗi giai đoạn có một khoảng thời gian sinh trưởng khác nhau và tuân theo một quy luật nhất định Dựa vào quy luật này mà người ta có thể phân chia thời gian sinh trưởng của các giống là ngắn ngày hay dài ngày Thời gian sinh trưởng là một đặc trưng riêng của mỗi giống và chịu tác động của yếu tố ngoại cảnh mà chủ yếu đó là nhiệt độ và ánh sáng Trong sản xuất người ta dựa vào thời gian sinh trưởng các giống để xác định thời vụ cho hợp lý Để xác định cơ cấu cây trồng cho thích hợp với thời vụ của từng vùng sinh thái khác nhau, thì ta căn cứ vào thời gian sinh trưởng của các giống

Qua theo dõi thời gian sinh trưởng qua các giai đoạn của các giống chúng tôi thu được một số kết quả thể hiện ở bảng 4.2

4.2.1 Thời gian bén rễ hồi xanh

Đây chính là giai đoạn cây lúa hồi phục lại sau cấy Cây lúa lúc này dễ mẫn cảm với điều kiện môi trường: nhiệt độ, ánh sáng…Nhìn chung các giống đều có thời gian bén rễ hồi xanh tương đối nhanh 3 ngày sau cấy Điều này được lý giải do điều kiện thời tiết thuận lợi nên các giống bén rễ hồi xanh sớm

4.2.2 Thời gian đẻ nhánh

Đây là thời kỳ quan trọng vì đây là giai đoạn quyết định đến số bông/cây Cây

đẻ nhánh mạnh thì số bông tăng Mỗi giống khác nhau có thời gian đẻ nhánh cũng khác nhau, khoảng thời gian đẻ nhánh có ảnh hưởng rất lớn đến số nhánh sau này của các giống Giống có thời gian đẻ nhánh sớm và tập trung thì số nhánh nhiều, khả năng

đẻ nhánh hữu hiệu càng cao

Trang 39

Bảng 4.2 Thời gian sinh trưởng của các giống lúa

Ngày sau cấy

Giống Ngày

bén rễ hồi xanh

Ngày bắt đầu

đẻ nhánh

Ngày

đẻ nhánh tối đa

Ngày trổ 10%

Ngày trổ 50%

Ngày trổ 85%

Ngày chín hoàn toàn

Cũng từ bảng 4.2 ta thấy các giống đều có thời gian đẻ nhánh tương đối dài từ

20 - 30 ngày (bắt đầu đẻ nhánh đến đẻ nhánh tối đa) Trong đó ML202 và ML214 có thời gian đẻ nhánh ngắn nhất là: 24 và 21 ngày, các giống còn lại đều có thời gian dài Q5 là 29 ngày, KD18 và ĐT36 là 30 ngày, QR1 là 31 ngày và đối chứng ML48 là 27 ngày Nhìn chung trong giai đoạn này thời gian đẻ nhánh tập trung giữa các giống khác nhau là do đặc tính di truyền của tường giống, các yếu tối môi trường ít ảnh hưởng đến quá trình đẻ nhánh

Trang 40

4.2.3 Thời gian trổ bông

Là một chỉ tiêu có ý nghĩa rất quan trọng, vì nó liên quan trực tiếp đến năng suất sau này của các giống Thời gian trổ càng ngắn, tập trung thì càng tránh được những bất lợi của điều kiện ngoại cảnh đến quá trình thụ phấn thụ tinh và năng suất sau này Thời gian trổ cũng là chỉ tiêu để xác định thời kỳ trổ cho lúa rơi vào thời điểm thích hợp

Từ bảng 4.2 cho thấy các giống khác nhau có thời gian trổ bông khác nhau Thời gian trổ bông giữa các giống cách nhau đến 10 ngày Giống KD18, Q5, ĐT36 có thời gian trổ bông muộn hơn các giống khác Sau 3 - 7 ngày các giống đã trổ hoàn toàn Trong giai đoạn này thời tiết tốt nên các giống trổ bông phơi màu được thuận lợi

4.2.4 Thời gian chín hoàn toàn

Đây là giai đoạn kết thúc quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa Qua bảng 4.2 cho thấy thời gian chín của các giống không giống nhau Có 3 giống có thời gian chín muộn hơn so với đối chứng (ML214) 5 - 8 ngày: Q5 (92 NSC), ĐT36 (90 NSC), KD18 (89 NSC) Giống QR1 có thời gian chín sớm hơn giống Đ/C 6 ngày, các giống còn lại có thời gian chín chênh lệch nhau không đáng kể so với đối chứng

4.2.5 Tổng thời gian sinh trưởng

Mỗi giống khác nhau thì sẽ có thời gian sinh trưởng khác nhau Đây cũng là

tính trạng do di truyền quy định, ngoài ra tổng thời gian sinh trưởng cũng phụ thuộc vào điều kiện môi trường, đặc biệt là nhiệt độ

Qua bảng 4.2 cho ta thấy thời gian sinh trưởng của các giống lúa biến động từ

105 - 118 ngày Ba giống Q5, ĐT36, KD18 có thời gian sinh trưởng dài hơn so với giống đối chứng từ 8 - 11 ngày; các giống còn lại có thời gian sinh trưởng chênh lệch

so với đối chứng không đáng kể Giống có tổng thời gian sinh trưởng dài nhất là giống Q5 (118 ngày) tiếp theo là ĐT36 (116 ngày), KD18 (115 ngày), giống QR1 có thời gian sinh trưởng ngắn nhất 105 ngày

Ngày đăng: 17/09/2018, 17:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w