BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN CỦA CÁ RÔ PHI VẰN Oreochromis niloticus Họ và t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN
CỦA CÁ RÔ PHI VẰN (Oreochromis niloticus)
Họ và tên sinh viên: LÊ HỒNG NGỌC Ngành: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Chuyên ngành: NGƯ Y
Niên khóa: 2005-2009
Tháng 09/2009
Trang 2ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM BIO-MOS ® LÊN TĂNG TRƯỞNG, HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN CỦA
CÁ RÔ PHI VẰN (Oreochromis niloticus)
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Đầu tiên, chúng con thành kính khắc ghi công ơn ba mẹ đã sinh thành, dưỡng dục cũng như luôn quan tâm, lo lắng, chăm sóc, động viên và dõi theo chúng con từ lúc bé thơ đến lúc trưởng thành Xin cảm ơn anh chị, gia đình đã luôn ủng hộ, động viên, góp ý cho chúng con trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, cùng các quý thầy cô Khoa Thủy Sản đã hết lòng dạy
dỗ, truyền đạt kiến thức, cũng như tạo mọi điều kiện cho chúng em hoàn tất chương trình học ở trường
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Như Trí, người đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm, kiến thức quý báu cũng như luôn quan tâm, lo lắng cho em trong từng bước tiến hành cho đến lúc hoàn thành luận văn Xin chân thành cảm ơn công ty Alltech đã cung cấp chế phẩm Bio-Mos® để chúng tôi có thể thực hiện đề tài này
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn những người bạn đã chung vai sát cánh, giúp
đỡ và động viên tôi trong lúc học tập, đặc biệt trong quá trình làm luận văn
Thành Phố Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2009
Lê Hồng Ngọc
Trang 4
TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của chế phẩm Bio-Mos® lên tăng trưởng, tỷ lệ
sống và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus)” được tiến
hành tại trại thực nghiệm thủy sản trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh từ ngày 12/5 đến ngày 16/7/2009 Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên
Thí nghiệm được tiến hành nhằm đánh giá ảnh hưởng của Mannan oligosaccharide có trong chế phẩm Bio-Mos® lên sự tăng trưởng, tỷ lệ sống và hiệu quả sử dụng thức ăn trên cá rô phi vằn
Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức với các tỷ lệ bổ sung Bio-Mos® vào thức ăn khác nhau: 0, 1, 2 và 4 ppt trong thời gian 10 tuần Kết quả thu được như sau:
- Trọng lượng trung bình (TLTB): TLTB của cá rô phi lúc bố trí thí nghiệm là 6,4 gam TLTB của các nghiệm thức (NT) khi kết thúc thí nghiệm: NT đối chứng (không bổ sung Bio-Mos®) là 136,2 gam; NT I (bổ sung 1 ppt Bio-Mos®) là 126,5 gam; NT II (2 ppt Bio-Mos®) là 135,3 gam; NT III (4 ppt Bio-Mos®) là 131,3 gam Sai biệt về TLTB giữa các nghiệm thức không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05)
- Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR): FCR trung bình của các NT khi kết thúc thí nghiệm: NT đối chứng là 1,25; NT I là 1,36; NT II là 1,31; NT III là 1,33 Sai biệt về FCR giữa các nghiệm thức không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05)
- Tỷ lệ sống sau 10 tuần giao động từ 95 % - 100 % Sự khác biệt về tỷ lệ sống giữa các nghiệm thức không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05)
Trang 5
MỤC LỤC
Trang tựa i
Cảm tạ ii
Tóm tắt iii
Mục lục iv
Danh sách các bảng v
Danh sách các hình vi
Danh sách các biểu đồ vii
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu đề tài 1
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2
2.1 Đặc điểm sinh học cá rô phi vằn 2
2.1.1 Phân loại 2
2.1.2 Lịch sử và sự phân bố 2
2.1.3 Đặc điểm hình thái 4
2.1.4 Đặc điểm môi trường sống 5
2.1.4.1 Độ mặn 5
2.1.4.2 Nhiệt độ 5
2.1.4.3 pH 6
2.1.4.4 Oxygen hòa tan 6
2.1.4.5 Ammonia (NH3) và nitrite (NO2 −) 6
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng 6
2.1.6 Nhu cầu dinh dưỡng của cá rô phi 7
2.1.6.1 Nhu cầu về protein và các amino acid 7
2.1.6.2 Nhu cầu về lipid và các acid béo 9
2.1.6.3 Nhu cầu về carbohydrate 9
2.1.6.4 Nhu cầu về vitamin và khoáng chất 10
Trang 62.1.7 Đặc điểm sinh trưởng 10
2.1.8 Đặc điểm sinh sản 10
2.2 Tổng quan về prebiotic 11
2.3 Saccharomyces cerevisiae 12
2.4 Mannan oligosaccharide 14
2.4.1 Tác dụng kết dính mầm bệnh của mannan oligosaccharide 14
2.4.2 Ðiều chỉnh đáp ứng miễn dịch 15
2.4.3 Nâng cao hệ nhung mao đường ruột 15
2.5 Chế phẩm Bio-Mos® 16
2.5.1 Thành phần của Bio-Mos® 16
2.5.2 Tác dụng của Bio-Mos® 16
CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài 19
3.2 Nội dung nghiên cứu 19
3.3 Vật liệu 19
3.2.1 Đối tượng 19
3.3.2 Thức ăn khảo nghiệm 19
3.3.3 Dụng cụ và hóa chất sử dụng 19
3.4 Phương pháp nghiên cứu 20
3.4.1 Bố trí thí nghiệm 20
3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi 22
3.4.3 Xử lý số liệu 23
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 Các yếu tố môi trường trong thời gian tiến hành thí nghiệm 24
4.1.1 Hàm lượng oxy hòa tan 25
4.1.2 Độ pH 26
4.1.3 Nhiệt độ 27
4.1.4 Ammonia và nitrite 28
4.2 Ảnh hưởng của Bio-Mos® lên sự tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá rô phi vằn 29
4.2.1 Ảnh hưởng của Bio-Mos® lên tỷ lệ sống 29
Trang 74.2.2 Ảnh hưởng của Bio-Mos® lên trọng lượng trung bình 31
4.2.3 Ảnh hưởng của Bio-Mos® lên hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) 35
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 37
5.1 Kết luận 37
5.2 Đề nghị 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38 PHỤ LỤC
Trang 8DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Nhu cầu protein điển hình của cá rô phi 8 Bảng 2.2 Nhu cầu định lượng các AA thiết yếu của cá rô phi 8 Bảng 2.3 Nhu cầu vitamin cho tăng trưởng cá rô phi (mg/kg thức ăn) 10 Bảng 2.4 Thành phần dinh dưỡng trong vách tế bào của
Bảng 4.3 Trọng lượng trung bình của cá rô phi ở các nghiệm thức
trong quá trình thí nghiệm 31
Bảng 4.2 FCR của các nghiệm thức qua các tuần thí nghiệm 36
Trang 9DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1 Bản đồ vùng phân bố chính sản lượng cá rô phi vằn 3
Hình 2.2 Cá rô phi vằn 5
Hình 2.3 Nấm men Saccharomyces cerevisiae 12
Hình 2.4 Cấu trúc vách tế bào Saccharomyces cerevisiae 13
Hình 2.5 Cách thức kết dính mầm bệnh của Mannan Oligosaccharide 14
Hình 2.6 Mannan Oligosaccharide giúp đào thải mầm bệnh khỏi ruột 15
Hình 2.7 Chế phẩm Bio-Mos® 16
Hình 3.1 Các giai thí nghiệm được bố trí trong ao đất 10
Hình 3.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm trong ao đất 21
Hình 4.1 Cá rô phi lúc bố trí thí nghiệm 32
Hình 4.2 Cá rô phi sau 2 tuần thí nghiệm 33
Hình 4.3 Cá rô phi sau 4 tuần thí nghiệm 33
Hình 4.4 Cá rô phi sau 6 tuần thí nghiệm 34
Hình 4.5 Cá rô phi sau 8 tuần thí nghiệm 34
Hình 4.6 Cá rô phi sau 10 tuần thí nghiệm 35
Trang 10DANH SÁCH BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Sản lượng cá rô phi vằn từ 1950 đến 2007 3
Biểu đồ 4.1 Sự biến động của DO trong thời gian thí nghiệm 25
Biểu đồ 4.2 Sự biến động của pH trong thời gian thí nghiệm 27
Biểu đồ 4.3 Sự biến động của nhiệt độ trong thời gian thí nghiệm 28
Biểu đồ 4.4 Tỷ lệ sống của cá rô phi ở các nghiệm thức khi kết thúc thí nghiệm 30
Biểu đồ 4.5 Trọng lượng trung bình của cá rô phi ở các nghiệm thức qua các tuần thí nghiệm 31
Biểu đồ 4.6 FCR của cá rô phi ở các nghiệm thức khi kết thúc thí nghiệm 35
Trang 11Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Cá rô phi, đặc biệt là rô phi vằn (Oreochromis niloticus) đang được nuôi rộng
rãi trên thế giới, sản lượng hiện nay đã vượt lên trên 2 triệu tấn Ở Việt Nam, rô phi được nuôi phổ biến ở ba hình thức quảng canh, bán thâm canh và thâm canh Để đa dạng hóa sản phẩm thủy sản xuất khẩu, hình thức nuôi thâm canh mới được phát triển gần đây vì vậy nhu cầu đặt ra là phải cải thiện khả năng tăng trưởng, giảm chi phí thức
ăn đồng thời giảm tỷ lệ chết để người nuôi thu lợi nhuận cao
Trình độ thâm canh ngày càng cao, mặt khác xu hướng hiện nay là hạn chế sử dụng kháng sinh và hóa chất trong nuôi trồng thủy sản Vì vậy việc sử dụng các chế phẩm sinh học như các probiotic, prebiotic, chất chiết xuất từ thực vật… ngày càng được chú trọng Việc sử dụng probiotic đã trở nên phổ biến ở nước ta trong nhiều năm trở lại đây và mang lại hiệu quả tốt trong khi đó prebiotic vẫn còn mới mẻ, do đó hiệu quả sử dụng còn chưa được rõ ràng Việc thử nghiệm và đánh giá hiệu quả của việc bổ sung prebiotic vào thức ăn là rất cần thiết
Mannan oligosaccharide có trong chế phẩm Bio-Mos® là một loại prebiotic đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới và hiện nay đã có trên thị trường Việt Nam Xuất phát từ nhu cầu tăng năng suất cá rô phi nuôi thâm canh và kiểm nghiệm tác dụng của prebiotic hiện diện trong chế phẩm Bio-Mos® chúng tôi đã thực hiện đề tài “ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM BIO-MOS® LÊN TĂNG TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG VÀ
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN CỦA CÁ RÔ PHI VẰN (Oreochromis niloticus)”
1.2 Mục tiêu đề tài
Đánh giá tác dụng của chế phẩm Bio-Mos® ở các tỷ lệ bổ sung khác nhau lên sự tăng trưởng, tỷ lệ sống và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá rô phi vằn
Trang 12Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học cá rô phi vằn
Loài: Oreochromis niloticus
Tên Việt Nam: Cá rô phi vằn Tên tiếng Anh: Nile tilapia
2.1.2 Lịch sử và sự phân bố
Cá rô phi có nguồn gốc từ Châu Phi Cho đến năm 1964, người ta mới biết khoảng 30 loài cá rô phi, hiện nay con số đó khoảng 100 loài, trong đó khoảng 10 loài
có giá trị kinh tế Những loài được nuôi phổ biến là cá rô phi vằn, rô phi xanh, rô phi
đỏ và rô phi đen trong đó loài nuôi phổ biến nhất là cá rô phi vằn (Phạm Ngọc Tịnh,
2005)
Rô phi vằn là một trong những loài được nuôi đầu tiên của con người Việc nuôi cá rô phi vằn được tìm thấy dấu vết ở thời Ai Cập cổ đại Trên những tấm phù điêu cổ trong những hầm mộ của người Ai Cập cổ cho thấy chúng được nuôi cách đây khoảng 4000 năm (FAO, 2008)
Trong những thập niên 40 và 50 của thế kỷ 19 cá rô phi đã phân bố khắp thế
giới, chủ yếu là cá rô phi đen Oreochromis mossambicus, sau đó cá rô phi vằn mới
được phân bố rộng rãi trong những năm 1960 đến 1980 Cá rô phi vằn từ Nhật Bản được đưa vào Thái lan năm 1965, và từ Thái Lan chúng được gửi qua Philippine Năm
1971 chúng được đưa vào Braxin và từ Braxin chúng được gửi qua Mỹ 1974 Đến năm
1978 rô phi vằn được đưa vào Trung Quốc, nước dẫn đầu thế giới về cá rô phi nuôi
Trang 13với hơn một nửa sản lượng thế giới từ năm 1993 đến 2003 (FAO, 2008) Vùng phân
bố chính và sản lượng cá rô phi vằn của các quốc gia trên thế giới được trình bày trong hình 2.1 và biểu đồ 2.1
Hình 2.1 Bản đồ vùng phân bố chính sản lượng cá rô phi vằn
(Nguồn: FAO Fishery Statistics, 2006)
Biểu đồ 2.1 Sản lượng cá rô phi vằn từ 1950 đến 2007
(Nguồn: FAO Fishery Statistics, 2006) Việc không kiểm soát được sự sinh sản của cá rô phi trong ao nuôi, sự tạp lai đã dẫn tới sự thoái hóa giống, giảm tỉ lệ cá lớn trong đàn Vì vậy thị hiếu về cá rô phi giảm so với ban đầu Sự phát triển của kỹ thuật chuyển đổi giới tính trong thập kỷ
1970 thực sự là một sự đột phá, cho phép sản xuất cá rô phi toàn đực Nếu trong ao nuôi toàn cá đực thì toàn bộ năng lượng từ thức ăn đều dùng cho mục đích tăng trưởng, không dùng cho sinh sản nên cá lớn nhanh và đồng cỡ, tăng kích cỡ thương
Trang 14phẩm Từ đó các nghiên cứu về dinh dưỡng, hệ thống nuôi tăng theo cấp số cộng cùng với sự phát triển thương mại và phương pháp chế biến cá rô phi từ giữa thập niên 1980 (FAO, 2008) Cá rô phi được di nhập vào nước ta có rất nhiều dòng và thời gian du nhập khác nhau Cá rô phi vằn được nhập vào Việt Nam năm 1974 từ Đài Loan và trở thành loài nuôi phổ biến, tuy nhiên việc quản lý, lưu giữ giống thuần của các dòng cá khác nhau đã không được quan tâm đúng mức Việc tạp giao giữa cá rô phi đen và cá
rô phi vằn đã dẫn đến suy thoái chất lượng giống nghiêm trọng Từ 1993 đến 1997 thông qua các đề tài nghiên cứu khoa học và các chương trình hợp tác quốc tế, viện Nghiên cứu NTTS I đã nhập một số giống cá rô phi vằn chất lượng cao như cá rô phi vằn dòng Thái Lan, cá rô phi vằn dòng GIFT thế hệ thứ năm từ Philipine và cá rô phi
đỏ (Ngô Trọng Lư và Thái Bá Hồ, 2001) Để đa dạng hóa sản phẩm thủy sản xuất khẩu nên rô phi vằn đang được chú trọng phát triển, ngoài ra rô phi còn được xác định
là loài nuôi xóa đói giảm nghèo ở nước ta hiện nay
2.1.3 Đặc điểm hình thái
Cá rô phi vằn có thân cao, hình hơi bầu dục, dẹp bên Đầu ngắn, miệng rộng hướng ngang, rạch kéo dài đến đường thẳng đứng sau lỗ mũi một ít Hai hàm dài bằng nhau, môi trên dầy Lỗ mũi gần mắt hơn mõm Mắt tròn ở nửa trước và phía trên của đầu Khoảng cách hai mắt rộng, gáy lõm ở ngang lỗ mũi Khởi điểm vây lưng ngang với khởi điểm vây ngực, trước khởi điểm vây bụng Vây ngực nhọn, dài, mềm Vây bụng to cứng, kéo dài tới lỗ hậu môn Toàn thân phủ vảy, ở phần lưng có màu xám nhạt, phần bụng có màu trắng ngà hoặc xanh nhạt Trên thân có từ 7-9 vạch chạy từ phía lưng xuống bụng Các vạch đậm dọc theo vây đuôi ở từ phía lưng xuống bụng rất
rõ (Hình 2.2)
Trang 15Hình 2.2 Cá rô phi vằn
2.1.4 Đặc điểm môi trường sống
Rô phi vằn là loài cá nhiệt đới và thích sống ở những nơi có mực nước cạn Rô phi có khả năng chịu đựng tốt hơn so với các loài nuôi nước ngọt phổ biến khác về độ mặn, nhiệt độ cao, hàm lượng oxygen hòa tan thấp và nồng độ NH3 cao
2.1.4.1 Độ mặn
Tất cả các loài cá rô phi đều có khả năng sống được ở môi trường nước lợ Rô phi vằn là loài có khả năng chịu đựng độ mặn kém nhất so với các loài rô phi quan trọng khác Tuy nhiên rô phi vằn vẫn tăng trưởng tốt khi độ mặn lên đến 15 ‰ Trong khi đó, cá rô xanh phát triển tốt ở độ mặn nhỏ hơn 15 ‰, cá rô phi đen phát triển tốt ở
độ mặn bằng hay gần bằng độ mặn của nước biển Cá rô phi vằn và rô phi xanh có thể sinh sản ở độ mặn 15 ‰ nhưng tốt nhất là dưới 5 ‰, số lượng cá con giảm khi độ mặn vượt quá 10 ‰(Popma và Masser, 1999)
2.1.4.2 Nhiệt độ
Ngưỡng nhiệt độ thấp nhất và cao nhất gây chết cá rô phi là 11 – 12oC và 42oC Nhiệt độ tối ưu để phát triển là 31 đến 36oC Phần lớn các loài cá rô phi sẽ ngừng ăn hay sinh trưởng ở nhiệt độ dưới 16 - 17oC và không sinh sản ở nhiệt độ dưới 20oC Khoảng nhiệt độ tối ưu cho sự sinh sản của hầu hết các loài cá rô phi là từ 26 - 29oC (Popma và Masser, 1999)
Trang 162.1.4.3 pH
Nhìn chung cá rô phi có thể chịu đựng được pH từ 5 – 10 pH nhỏ hơn 5 tác động xấu đến sự kết hợp của oxygen vào máu, cá bỏ ăn Cá phát triển tốt nhất ở pH từ
6 – 9 (Popma và Masser, 1999)
2.1.4.4 Oxy hòa tan
Cá rô phi có thể chịu đựng được hàm lượng oxy hòa tan (DO) thấp, nhỏ hơn hoặc bằng 0,3 mg/L vào buổi sáng sớm Ngưỡng gây chết cá là 0,1 mg/L, cá phát triển tốt trong khoảng 2 – 5 mg/L Chúng có khả năng chịu đựng tốt hơn so với nhiều loài nuôi nước ngọt khác Hàm lượng oxy thấp nhất mà cá có thể tồn tại là 0,1 mg/L, được ghi nhận cho cả cá rô phi đen và cá rô phi vằn Theo một số nghiên cứu cho thấy cá phát triển tốt hơn nếu có sục khí để giữ DO ở trên mức 0,8 mg/L vào buổi sáng sớm (Popma và Masser, 1999) Mặc dù rô phi có thể chịu đựng được mức DO thấp trong nhiều giờ nhưng trong ao nuôi nên điều chỉnh DO luôn ở trên mức 1 mg/L để duy trì tốc độ phát triển và ngăn ngừa bệnh tật
2.1.4.5 Ammonia (NH 3 ) và nitrite (NO 2 - )
Ammonia rất độc cho cá Một lượng lớn cá sẽ chết trong thời gian ngắn khi hàm lượng ammonia tăng đột ngột lên 2 mg/L Tuy nhiên nếu hàm lượng ammonia tăng từ từ trong vòng 3 đến 4 ngày thì lượng cá chết sẽ giảm đi một nửa ở nồng độ
3 mg/L Hiện tượng cá chết có thể bắt đầu khi hàm lượng ammonia bằng 0,2 mg/L Hàm lượng ammonia bắt đầu gây bỏ ăn ở cá là rô phi là 0,08 mg/L (Popma và Masser, 1999)
Nitrite là chất độc đối với nhiều loài cá bởi vì nó làm giảm khả năng vận chuyển oxygen của hemoglobin Cá rô phi có khả năng chịu đựng tốt hơn các loài cá nước ngọt khác đối với nitrite (Popma và Masser, 1999) Trong hệ thống tuần hoàn cá
rô phi vằn có thể tồn tại 0,6 mg/L nitrite (Phạm Ngọc Tịnh, 2005)
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng
Rô phi vằn ăn tạp thiên về động vật Khi còn nhỏ, cá rô phi ăn sinh vật phù du (tảo và động vật nhỏ) là chủ yếu (cá 20 ngày tuổi, kích thước khoảng 18 mm) Khi cá trưởng thành ăn mùn bả hữu cơ lẫn xác tảo lắng ở đáy ao, ăn ấu trùng, côn trùng, thực vật thuỷ sinh, động vật không xương sống nhỏ Giá trị dinh dưỡng của thức ăn tự nhiên được cung cấp trong ao là rất quan trọng, đặc biệt là trong những môi trường
Trang 17không có sự thay nước Thức ăn tự nhiên có thể cung cấp 30 – 50% tổng dinh dưỡng cho sự phát triển của cá (Popma và Masser, 1999)
Ngoài ra, cá rô phi cũng có khả năng thích nghi cao đối với những loại thức ăn chế biến từ cá tạp, cua, ghẹ, ốc, bột cá khô, bột bắp, bột khoai mì, khoai lang, bột lúa, cám mịn, bã đậu nành, bã đậu phộng Trong nuôi thâm canh nên cho cá ăn thức ăn có hàm lượng đạm cao từ 25 – 40%
Mang cá rô phi không lọc thức ăn trong nước hiệu quả bằng các loài ăn lọc thật
sự như cá mè trắng, tuy nhiên chúng vẫn ăn được các phiêu sinh vật Mang cá rô phi tiết ra chất nhầy để bẫy phiêu sinh thực vật Những phiêu sinh thực vật bị dính vào chất nhầy tạo thành cục và được cá rô phi nuốt vào bụng Sự tiêu hóa thực vật xảy ra dọc theo chiều dài của ống tiêu hóa (thường mất ít nhất là 6 giờ để tiêu hóa hết thức ăn) (Popma và Masser, 1999) Cá rô phi đen có khả năng sử dụng phiêu sinh thực vật kém hiệu quả hơn so với cá rô phi vằn và cá rô phi xanh Hai cơ quan giúp cá rô phi tiêu hóa những mảnh vụn hữu cơ, tảo và những thủy sinh thực vật là hầu và dạ dày Thức ăn được cắt và nghiền ở giữa hai miếng hầu và những cái răng sắc, sau đó được đưa đến dạ dày, nơi có pH < 2 sẽ làm vỡ những tế bào thực vật (tảo lục được tiêu hóa tốt hơn những loài tảo khác) (Popma và Masser, 1999)
2.1.6 Nhu cầu dinh dưỡng của cá rô phi
2.1.6.1 Nhu cầu về protein và các amino acid
Nhu cầu protein là lượng protein tối thiểu có trong thức ăn nhằm thỏa mãn yêu cầu các amino acid để đạt tăng trưởng tối đa (NRC, 1993; trích bởi Lê thanh Hùng, 2008)
Protein là thành phần chính cấu tạo của các cơ quan và phần mềm cơ thể động vật Protein được hấp thụ, chuyển hóa thành các acid amin và được sử dụng bởi các
mô, cơ quan để đảm bảo sự tăng trưởng và thay thế các mô già Ngoài ra, protein còn được sử dụng để cung cấp nguồn năng lượng cho cơ thể cá hoạt động
Protein chiếm tỉ trọng lớn nhất trong các thành phần thức ăn Nhiều nghiên cứu
đã chỉ ra khẩu phần cho cá rô phi vằn khoảng 30% trong ao nuôi cá thịt và hơn 45% trong ao nuôi cá hương lên cá giống Ngoài ra, những cá trong thời kỳ sinh sản đòi hỏi một hàm lượng protein cao để tăng quá trình tái sản xuất có hiệu quả (Santiago và ctv, 1985; Chang và ctv, 1988; trích bởi Phạm Ngọc Tịnh, 2005)
Trang 18Bảng 2.1 Nhu cầu protein điển hình của cá rô phi
(Nguồn: Fitzsimmons, 2004; trích bởi Phạm Ngọc Tịnh, 2005)
Nhu cầu protein thật sự là nhu cầu về các acid amin Trong khoảng 20 acid
amin thì có 10 acid amin thiết yếu, là những acid amin không thể tự tổng hợp được hay
không thể tổng hợp đủ để đáp ứng nhu cầu của cá Cá rô phi cũng có nhu cầu về 10
acid amin như các loài khác (Bảng 2.2)
Bảng 2.2 Nhu cầu định lượng các AA thiết yếu của cá rô phi
Arginine 1,18 Histidine 0,48 Isoleucine 0,87 Leucine 0,95 Lysine 1,43
Threonine 1,05 Tryptophan 0,28 Valine 0,78
* Nhu cầu tính theo % vật chất khô thức ăn
a có cystein = 0,15% thức ăn
b có tyrosine = 0,5% thức ăn
(Nguồn: Lê Thanh Hùng, 2008)
Nhu cầu protein của cá phụ thuộc nhiều yếu tố như: năng lượng trong thức ăn,
chất lượng và loại thức ăn sử dụng, trạng thái sinh lý cá, môi trường nuôi dưỡng và
lượng thức ăn hằng ngày của cá Bột cá vẫn là nguồn protein động vật chủ yếu trong
thức ăn của cá rô phi, ngoài ra có thể lựa chọn các loại khác như thịt gia cầm, bột tôm,
Trang 19nhuyễn thể Những protein thực vật được sử dụng nhiều nhất trong thức ăn cá rô phi
là đỗ tương, lạc, hạt bông, hạt hướng dương, hạt cải dầu (Lê Thanh Hùng 2008)
Tuy nhiên, những protein động vật và thực vật trên chỉ có thể thay thế một phần bột cá trong thức ăn của cá rô phi Ðiều này có thể do sự thiếu cân bằng của các chất dinh dưỡng thiết yếu như các axit amin và các khoáng chất, do sự hiện diện của các nhân tố phi dinh dưỡng làm giảm tính hấp dẫn của thức ăn, giảm tính ổn định của thức
ăn trong nước và độ tiêu hoá thức ăn kém Ðối với chế độ ăn không có bột cá, để đạt được mức tăng trưởng so với chế độ ăn tiêu chuẩn, phải bổ sung thêm 3% đicanxi phosphat và 2% lipid (Lê Thanh Hùng 2008)
2.1.6.2 Nhu cầu về lipid và các acid béo
Lipid trong cơ thể sinh vật có hai chức năng chính: thứ nhất là cung cấp và dự trữ năng lượng; thứ hai là tham gia vào cấu trúc màng tế bào và giữa cho các màng cơ bản bền vững và ổn định Ngoài ra, lipid còn tham gia vào các biến dưỡng trung gian trong cơ thể sinh vật (Lê Thanh Hùng, 2008)
Các acid béo thiết yếu rất cần thiết cho động vật thủy sản Đây là những acid cơ thể sinh vật không tổng hợp được và phải lấy từ thức ăn Cá rô phi có nhu cầu 1% của 18:2n6 Thí nghiệm trên cá rô phi cho thấy khi thức ăn chỉ chứa oleic acid hay lauric acid (acid béo no), cá tăng trưởng thấp hơn đối chứng Cá tăng trưởng tốt nhất khi bổ sung 0,5 – 1% linoleic acid Có thể thấy ở cá rô phi, acid béo 18:2n6 tác động đến tăng trưởng nhiều hơn acid béo 18:3n3 Mặc dù cá rô phi cần cả acid béo loại n3 và n6, nhưng cần nhiều n6 hơn, với nhu cầu khoảng 0,5% (Lê Thanh Hùng, 2008)
Nhu cầu lipid của cá dưới 2 gam là khoảng 10% khẩu phần thức ăn và giảm còn
6 – 8% cho cá trọng lượng từ 2 gam đến giai đoạn cá giống Do cá rô phi sử dụng hiệu quả tinh bột để cung cấp năng lượng, mức lipid đề nghị tối đa cho cá rô phi khoảng 10%, với tỉ lệ cao dầu thực vật Nguồn chất béo từ dầu thực vật tỏ ra thích hợp hơn cá loại dầu động vật (Lê Thanh Hùng, 2008)
2.1.6.3 Nhu cầu về carbohydrate
Carbohydrate là nguồn cung cấp năng lượng thức ăn đáng kể cho các loài cá ăn tạp và ăn thực vật Carbohydrate không phải là thành phần dinh dưỡng cần thiết trong thức ăn thủy sản và động vật thủy sản không có nhu cầu carbohydrate trong thức ăn như acid amin hay acid béo thiết yếu Tuy nhiên, carbohydrate là nguồn thức ăn cung
Trang 20cấp năng lượng rẻ tiền Khi thiếu nguồn năng lượng này trong thức ăn, cá sẽ sử dụng
protein và lipid làm nguồn năng lượng (Lê Thanh Hùng, 2008) Tỉ lệ phần trăm tinh
bột sử dung tối đa trong thức ăn cho cá rô phi khoảng 35 – 40% (Guillaume, 1999;
trích bởi Lê Thanh Hùng, 2008)
2.1.6.4 Nhu cầu về vitamin và khoáng chất
Vitamin là nhóm chất hữu cơ hiện diện trong thức ăn với một lượng rất nhỏ mà
cơ thể sinh vật không tổng hợp được hay tổng hợp không đủ cho nhu cầu Chất hữu cơ
này không phải là các acid amin hay acid béo thiết yếu, chúng giữ một vai trò rất quan
trọng trong dinh dưỡng và sự thiếu hụt lâu dài các dưỡng chất này sẽ dẫn đến sự xuất
hiện các triệu chứng bệnh lý Hầu hết, các vitamin có vai trò như một coenzyme hay
tác nhân hỗ trợ các enzyme, thực hiện các phản ứng sinh hóa trong cơ thể sinh vật
Nhìn chung nhu cầu vitamin của cá rô phi gần giống những loài cá nước ngọt sống ở
vùng nhiệt đới Sau đây là nhu cầu định lượng một số vitamin của cá rô phi (Bảng 2.3)
Bảng 2.3 Nhu cầu vitamin cho tăng trưởng cá rô phi (mg/kg thức ăn)
(Nguồn: Shiau, 2002; trích bởi Lê Thanh Hùng, 2008)
Các khoáng chất cũng đóng vai trò quan trọng trong thành phần cơ thể của cá,
chẳng hạn như xương, vảy và răng, trong sự thẩm thấu, trong sự điều khiển các chức
năng và trong việc duy trì pH của máu Một vài khoáng chất còn lại là chất cấu thành
của các mô, ezyme, vitamin và hormone nhất là các nguyên tố khoáng như: calcium,
phosphorus, magnesium, sodium, potassium và chloride (Lê Thanh Hùng, 2008)
Trang 212.1.7 Đặc điểm sinh trưởng
Tốc độ sinh trưởng của cá rô phi thay đổi tùy thuộc vào nhiệt độ, thức ăn và mật độ thả Rô phi vằn có tốc độ tăng trưởng khá nhanh, có thể đạt trọng lượng trung bình 500 – 600 g trong 5 – 6 tháng nuôi
2.1.8 Đặc điểm sinh sản
Thời kỳ thành thục của cá rô phi phụ thuộc vào tuổi, kích thước và điều kiện
môi trường nuôi Ở các tỉnh phía Nam O.niloticus có thể sinh đẻ 11 - 12 lần/năm, còn
ở phía Bắc, cá chỉ đẻ 5 - 6 lần/năm Con đực làm tổ sẵn trên nền đáy ao (đường kính tổ
từ 20 – 30 cm) và chờ con cái đến đẻ Khi cá cái đẻ, cá đực tiết sẹ thụ tinh cho trứng Tuỳ theo cỡ cá, số lượng trứng giao động từ 200 - 500 trứng/1 cá mẹ/1 lần đẻ Sau khi
đẻ xong, cá mẹ hút trứng vào miệng và ấp trong miệng Trong suốt thời gian ấp trứng
cá mẹ không bắt mồi Ở nhiệt độ nước từ 25 - 30oC trứng nở sau 4 - 6 ngày Cá bột mới nở (có chiều dài 4-5 mm) vẫn được giữ trong miệng cá mẹ, sau 3 - 4 ngày tiêu hết noãn hoàng, chúng được thả ra khỏi miệng cá mẹ và bơi theo mẹ kiếm ăn (cá có chiều dài 8 mm) Mỗi khi gặp nguy hiểm (gặp cá lóc, rắn nước hoặc tiếng động lạ ) cá mẹ liền phát ra tín hiệu rồi há miệng thu cả đàn con vào miệng để bơi đi ẩn nấp Chỉ khi thật yên tĩnh và an toàn, cá mẹ mới há miệng cho đàn con bơi ra ngoài (Phạm Ngọc Tịnh, 2005)
2.2 Tổng quan về prebiotic
Prebiotic được định nghĩa là những thành phần thức ăn không tiêu hóa được nhưng có tác dụng kích thích sự phát triển hoặc tăng cường hoạt động của các vi khuẩn có ích trong đường ruột và từ đó cải thiện đường tiêu hóa của vật nuôi (Gibson
và Roberfroid, 1995; trích bởi Delbert Gatlin, 2008) Một số prebiotic thường gặp là Fructooligosaccharide (FOS), Mannanoligosaccharide (MOS), Transgalacto-oligosaccharide (TOS) và inulin (Vulevic Rastall và Gibson, 2004; trích bởi Gatlin, 2008)
Ở động vật trên cạn prebiotic có tác dụng: Kích thích vi khuẩn Lactobacillus spp và Bifidobacter spp.; Ngăn chặn sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh như
Salmonella, Listeria, Escherichia…; tăng cường dinh dưỡng và năng lượng trong khẩu
phần ăn Trên động vật thủy sản chúng có tác dụng cải thiện tốc độ tăng trưởng, tăng
Trang 22cường hệ thống miễn dịch không đặc hiệu, tăng khả năng phòng bệnh… (Mahious và ctv, 2006)
2.3 Saccharomyces cerevisiae
Saccharomyces cerevisiae là một trong những loài nấm quan trọng nhất trong
lịch sử loài người Chúng được dùng để sản xuất đồ uống có chứa cồn và bánh mì do
đó tên thông dụng của chúng là “men bia” hay “men bánh mỳ” Chúng là một trong những loài nấm được thương mại hóa nhiều nhất (Đoàn Thanh Tuyền và Nguyễn Trọng Nhân, 2008)
Hình 2.3 Nấm men Saccharomyces cerevisiae
Saccharomyces cerevisiae được dùng như một loại probiotic bổ sung vào để
tăng dinh dưỡng trong khẩu phần ăn cho cả người và động vật Chiết xuất từ nấm men rất giàu acid amin, vitamin và khoáng chất Đặc biệt chúng còn là một trong những nguồn cung cấp vitamin B lớn Thành phần dinh dưỡng trong vách tế bào của
Saccharomyces cerevisiae được trình bày trong bảng 2.4
Trang 23Bảng 2.4 Thành phần dinh dưỡng trong vách tế bào của Saccharomyces cerevisiae
Muối khoáng (mg/100g)
Calcium Magnesium Phosphorus Potassium Iron Sodium Zinc Copper Iodine Manganese Cobalt
<0.05 (Nguồn: http://www.nia.or.th)
Saccharomyces cerevisiae có một lớp vỏ carbohydrate bao bọc, chứa hầu hết là
β-glucan và mannan, là những cấu trúc đường đa giống tinh bột và cellulose (Hình
2.4)
Hình 2.4 Cấu trúc vách tế bào Saccharomyces cerevisiae
Trang 24Vách tế bào Saccharomyces cerevisiae có khả năng hấp thụ hoặc kết dính các
độc tố, các tác nhân kháng vitamin, virus, vi khuẩn có hại nên được chiết xuất để bảo
vệ môi trường đường ruột (Đoàn Thanh Tuyền và Nguyễn Trọng Nhân, 2008)
2.4 Mannan Oligosaccharide
Mannan oligosaccharide được chiết xuất từ tế bào Saccharomyces cerevisiae
bằng phương pháp ly tâm Những phương thức hoạt động chủ yếu của mannan oligosaccharide (MOS) đã được nghiên cứu trên gia súc và gia cầm là sự kết dính với những vi khuẩn gây bệnh, điều chỉnh đáp ứng miễn dịch của cơ thể ký chủ, tăng mật
độ và độ dài nhung mao đường ruột
2.4.1 Tác dụng kết dính mầm bệnh của mannan oligosaccharide
Tác dụng của MOS là sự kết dính vi khuẩn Lectins (protein liên kết carbonhydrate) kết dính phân tử carbonhydrate được bổ sung trên bề mặt của tế bào biểu mô của ký chủ và từ đó sẽ gắn kết với những tế bào vi khuẩn để thải bỏ ra ngoài
Ngoài ra, người ta ghi nhận rằng những mầm bệnh sẽ kết dính với những thụ thể tiếp nhận trên tế bào biểu mô bằng cách tạo ra các “đoạn mồi oligosaccharide” được biết như những tác nhân chống nhiễm trùng, trong khẩu phần thức ăn chủ yếu là manno và polymanno (Dawson và ctv, 2002) (Hình 2.5 và Hình 2.6)
Hình 2.5 Cách thức kết dính mầm bệnh của mannan oligosaccharide
Trang 25Hình 2.6 Mannan oligosaccharide giúp đào thải mầm bệnh khỏi ruột
2.4.2 Ðiều chỉnh đáp ứng miễn dịch
Nhiều nghiên cứu đã khảo sát ảnh hưởng của MOS đến đặc tính miễn dịch và tế bào miễn dịch trên động vật nuôi MOS có khả năng điều chỉnh miễn dịch như trong khẩu phần ăn có chứa MOS cho thấy cơ thể tăng cường lượng kháng thể IgG trong huyết tương và kháng thể IgA trong mật của gà con (Savage, 1996)
Một nghiên cứu khác, ở heo nái nuôi, ăn thức ăn có bổ sung MOS 14 ngày trước khi sinh và trong suốt thời gian nuôi con cho một lượng kháng thể IgG và IgM trong sữa đầu cao hơn so với những heo nái không bổ sung MOS (Savage, 1996)
2.4.3 Tăng mật độ và chiều dài của nhung mao đường ruột
Nghiên cứu ở gà tây, khi bổ sung hàm lượng 0,1 % MOS vào thức ăn của gà con trong suốt 8 tuần tuổi, cho thấy độ cao nhung mao ruột có sự khác nhau với lô không bổ sung MOS trên 3 đoạn ruột: đoạn giữa tá tràng, ruột thừa Meckel và van hồi manh tràng; sự tiết chất nhầy trong ruột non của gà con giữa các lô khác nhau rất có ý nghĩa (P < 0,01) (Savage, 1996)
Nghiên cứu khác cho thấy việc bổ sung MOS vào trong khẩu phần thức ăn của
gà con đã có ảnh hưởng lên sự tổng hợp và tiết chất nhầy trong ruột non như bổ sung
MOS vào thức ăn làm gia tăng kích thước của các tế bào hình ly, tăng sản xuất chất
nhầy và lớp chất nhầy dày hơn khi so sánh với khẩu phần đối chứng không có MOS
Trang 262.5 Chế phẩm Bio-Mos ®
2.5.1 Thành phần của Bio-Mos ®
Bio-Mos® là Mannan Oligosaccharide được chiết xuất từ tế bào nấm men
Saccharomyces cerevisiae Bio-Mos® là sản phẩm độc quyền do tập đoàn Alltech sản xuất Hiện nay, Bio-Mos® được nghiên cứu sử dụng cho động vật sống trên cạn tuy nhiên chỉ mới gần đây được áp dụng trong nuôi trồng thủy sản và đạt được kết quả nhất định Chế phẩm Bio-Mos® gồm 70 % men bia sấy khô và 30 % là dung dịch lên
men Saccharomyces cerevisiae sấy khô
Liều lượng và cách dùng: trộn 0,5 – 5 kg Bio-Mos® trong 1 tấn thức ăn cho cá tôm
Hình 2.7 Chế phẩm Bio-Mos®2.5.2 Tác dụng của Bio-Mos ®
Thí nghiệm của Võ Thị Thanh Bình (2006), cá tra (Pangasianodon
hypophthalmus) ăn thức ăn có bổ sung hàm lượng 0,4 % Bio-Mos tỷ lệ sống cao
99,4 %, còn với cá ăn thức ăn không có bổ sung tỷ lệ sống là 97,8 % Kết quả thí nghiệm cho thấy tỷ lệ sống của cá ở nghiệm thức đối chứng và nghiệm thức
Trang 270,4 % Bio-Mos® khác nhau có nghĩa về mặt thống kê (P < 0,05) Việc bổ sung Bio-Mos® vào thức ăn của cá tra giúp cải thiện tăng trọng, hệ số thức ăn và tỷ lệ sống
và tiết kiệm được thức ăn sử dụng
Trên cá chép (Cyprinus carpio), thức ăn có bổ sung 0,2 % Bio- Mos® có trọng lượng cá tăng 11,6 % so với đối chứng FCR và tỷ lệ chết giảm rất nhiều so với nghiệm thức đối chứng (P < 0,01) ( Staykov và ctv, 2005)
Theo Zhou và ctv (2005), nghiên cứu trên cá chép (Cyprinus carpio), thí
nghiệm được thực hiện tại Trung Quốc với hàm lượng bổ sung 2,4 g/Kg Bio-Mos® vào thức ăn, kết quả thí nghiệm cải thiện được tăng trọng, FCR, và các chỉ số miễn dịch
(P < 0,01)
Nghiên cứu ở trên cá da trơn Châu Âu (Silurus glanis) trong khẩu phần ăn có
bổ sung hàm lượng 0,2 % Bio-Mos®, kết quả tăng trọng trung bình khoảng 9,7 %, FCR giảm 11,6 %, tỷ lệ chết giảm xuống 16,67 % so với nghiệm thức đối chứng và khác biệt giữa các nghiệm thức có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,01) (Bogut và ctv, 2006)
Thí nghiệm trên cá hồi, bổ sung hàm lượng 0,2 % Bio-Mos® vào thức ăn cho thấy trọng lượng cá sau thí nghiệm so với cá không được cho ăn thức ăn có bổ sung Bio-Mos® tăng 13,7 %; FCR giảm từ 0,91 xuống 0,83; tỷ lệ chết giảm từ 1,68 % xuống 0,58 %, sai biệt giữa các nghiệm thức có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,01) Ngoài ra ở cá hồi trưởng thành, Bio-Mos®ảnh hưởng lên cả bên ngoài lẫn bên trong thành ruột với cấu trúc lông nhung dầy hơn và diện tích bề mặt rộng lớn để hấp thu dinh dưỡng (Staykov và ctv, 2005)
Nghiên cứu trên cá tầm (Acipenser oxyrinchus) ở chế độ ăn có bổ sung
Bio-Mos® giúp cho dạ dày ruột có van xoắn dài, lông nhung dài, rộng và mật độ dầy
so với chế độ ăn đối chứng (Newman, 1994)
Cá chẽm (Dicentrarchus labras) và cá tráp (Sparus aurata) nuôi lồng và trong
hệ thống ao nuôi dễ bị stress và bệnh Khi sử dụng Bio-Mos® trong khẩu phần ăn làm giảm stress, tăng khả năng miễn dịch cho cá chẽm, tăng trưởng cao hơn 10 % và còn kích thích cá ăn nhiều (Torrecillas và ctv, 2006; trích bởi Võ Thị Thanh Bình, 2008)
Việc sử dụng Bio-Mos® có vai trò rất quan trọng trong việc cải thiện sức khỏe động vật và nâng cao hiệu quả kinh tế:
Trang 28- Giảm bớt vi khuẩn gây bệnh trong đường ruột
- Nâng cao tỷ lệ sống
- Giảm stress cho vật nuôi
- Tăng lợi nhuận
- Sử dụng thức ăn hiệu quả và tăng trọng nhanh
- Tăng cường hoạt động hệ thống miễn dịch
- Bio-Mos còn ảnh hưởng đến cấu trúc và chức năng của ruột, tăng số lượng, chiều cao, làm giảm kích cỡ nhung mao ruột
Trang 29Chương 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài
Thời gian thực hiện từ ngày 12/5/2009 đến ngày 17/7/2009
Đề tài được thực hiện tại ao C18 của Trại Thực Nghiệm Thủy Sản trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
3.2 Nội dung nghiên cứu
Khảo sát ảnh hưởng của thức ăn có bổ sung Bio-Mos® lên sự tăng trưởng, tỷ lệ sống và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá rô phi vằn
3.3 Vật liệu
3.2.1 Đối tượng: Thực hiện trên cá rô phi vằn được mua về từ trại cá Phú Hữu, quận 9,
TP HCM Chọn cá cùng cỡ, khỏe mạnh để tiến hành bố trí thí nghiệm Trọng lượng cá trung bình từ 5 – 6 g
3.3.2 Thức ăn khảo nghiệm
Sử dụng loại thức ăn CV02 của công ty thức ăn gia súc Lái Thiêu với các chỉ tiêu dinh dưỡng như sau:
− Kích cỡ viên: 1,5 mm
− Độ ẩm tối đa: 11%
− Đạm tối thiểu: 35%
− Năng lượng tiêu hóa tối thiểu: 3.000 kcal/kg
− Béo tối thiểu: 6%
− Xơ tối đa: 5%
− Lysine tối thiểu: 1,6%
− Methionine tối thiểu: 0,9%
Chế phẩm Bio-Mos® được gửi lên nhà máy sản xuất thức ăn gia xúc Lái Thiêu
để phối trộn vào thức ăn
Trang 303.3.3 Dụng cụ và hóa chất sử dụng
− Cân điện tử, giấy kẻ ô ly
− Giai lưới có kích thước 1x1x1,3 m, cọc tre, thau nhựa, vợt
− Máy đo DO, nhiệt độ, máy đo pH
− Các hóa chất để đo hàm lượng NH3 và NO2 − trong ao
− Máy sục khí oxy
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với bốn nghiệm thức tương ứng với các
tỷ lệ khác nhau của Bio-Mos® trong khẩu phần thức ăn:
− Nghiệm thức đối chứng: Thức ăn không bổ sung Bio-Mos®
− Nghiệm thức I: Thức ăn bổ sung 0,1% Bio-Mos® (1 kg/tấn)
− Nghiệm thức II: Thức ăn bổ sung 0,2% Bio-Mos® (2 kg/tấn)
− Nghiệm thức III: Thức ăn bổ sung 0,4% Bio-Mos® (4 kg/tấn)
Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần
Thí nghiệm được tiến hành trên 12 giai, mỗi giai thả 40 con cá có trọng lượng trung bình là 6,4g.