1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG ALLZYME LÊN SỰ TĂNG TRƯỞNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN CỦA CÁ BASA (Pangasius bocourti)

53 226 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 768,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ii “Ảnh hưởng của việc bổ sung Allzyme lên sự tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá basa Pangasius bocourti” Allzyme SSF hay còn gọi là SSF phytase là hỗn hợp gồm sáu enzyme ph

Trang 1

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG ALLZYME LÊN SỰ TĂNG TRƯỞNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN CỦA CÁ BASA

Trang 2

THỨC ĂN CỦA CÁ BASA (Pangasius bocourti)

thực hiện bởi

Lê Thị Tố Nga

Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Thủy Sản

Giáo viên hướng dẫn : Lê Thanh Hùng

Trần Ngọc Thiên Kim

Thành phố Hồ Chí Minh

2006

Trang 3

ii

“Ảnh hưởng của việc bổ sung Allzyme lên sự tăng trưởng và hiệu quả sử dụng

thức ăn của cá basa (Pangasius bocourti)”

Allzyme SSF hay còn gọi là SSF phytase là hỗn hợp gồm sáu enzyme (phytase, α-amylase, β-glucanase, protease, xylanase và cellulase) được sản xuất theo phương pháp lên men trạng thái rắn

Nhằm thấy rõ tác dụng của Allzyme, thí nghiệm được bố trí thực nghiệm ở hai nồng độ enzyme (0,02 và 0,05 g/Kg thức ăn) và hai loại thức ăn: loại S (15% bột cá) và loại H (5% bột cá)

Sau 08 tuần thí nghiệm cho thấy việc bổ sung Allzyme vào thức ăn có chỉ số tăng trưởng (WG, SGR, PWG) và hiệu quả sử dụng thức ăn (FCR, PER) của cá basa sử dụng 0,05 g và 0,02 g Allzyme/kg thức ăn cho hiệu quả như nhau và cao hơn cá basa không sử dụng Allzyme Và đặc biệt từ kết quả nghiên cứu cho thấy thức ăn chứa tỉ lệ cao và thấp bột cá chứa cùng lượng Alllzyme thì cho kết quả tăng trưởng như nhau

Dựa trên kết quả đạt được chúng tôi cho rằng: việc bổ sung Allzyme làm gia tăng sự tăng trưởng một cách rõ rệt thông qua việc cải thiện khả năng tiêu hóa protein thực vật Allzyme hỗ trợ tiêu hóa thức ăn có nhiều protein thực vật do đó giúp giảm chi phí và tăng lợi nhuận cho sử dụng Qua thínghiệm cũng cho thấy rằng nồng độ Allzyme được bổ sung 0,02 g/kg thức ăn là đủ

Trang 4

iii

“The effect of Allzyme SSF supplementation on growth and feed efficiency

in basa catfish (Pangasius bocourti)”

Allzyme SFF (or SSF phytase) is the mixture of six enzymes includes microbial phytase, α-amylase, β-glucanase, protease, xylanase and cellulase is produced by solid - state fermentation (SSF) method

In order to show the effect of Allzyme SSF, the trial has two enzyme levels (0,02 and 0,05 gram per kilogram feed) and two types of feed: S (15% fishmeal) and

H (5% fishmeal)

After 8 weeks of the experiment, it showed that the addition of Allzyme SSF resulted in better growth performances (WG, SGR, PWG) and the feed efficiency (FCR, PER) of basa catfish than the control treatment In addition, the high and low fishmeal diets having the same Allzyme SSF have the same growth rate

Based on obtained data, we state that Allzyme addition obviously increases growth performance by improving the absorption and utilization of minerals and plant protein Allzyme helps digesting feed containing high plant protein so that it will decrease the cost and increase the profit From the experiment, it shows that Allzyme SSF at 0,02 g/kg feed is enough to operate

Trang 5

iv

Chúng tôi xin chân thành gửi lời cảm tạ đến:

Ban chủ nhiệm cùng toàn thể quý thầy cô khoa Thủy Sản đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt khóa học

Thầy Lê Thanh Hùng đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này

Đồng thời tôi cũng xin cảm ơn cô Trần Ngọc Thiên Kim, gia đình và các bạn sinh viên trong lớp đã động viên, giúp đỡ chúng tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Do chúng tôi lần đầu tiên làm quen với công việc nghiên cứu, kiến thức còn hạn chế và trong thời gian ngắn nên chắc chắn không tránh khỏi những sai sót Chúng tôi rất mong nhận được những đóng góp ý kiến quý báu từ quý thầy cô và các bạn để luận văn ngày càng hoàn thiện hơn

Trang 6

v

DANH SÁCH ĐỒ THỊ VÀ HÌNH ẢNH viii

II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Một Số Đặc Điểm Sinh Học Cá basa 3

2.2 Xu Hướng Thay Đổi Trong Việc Sử Dụng Protein 5

2.3.1 Địnhnghĩa 6

III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

3.1 Thời Gian và Địa Điểm Nghiên Cứu 13

Trang 7

vi

3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi môi trường 19 3.3.3 Phương pháp thu thập số liệu 19 3.4 Phương Pháp Phân Tích và Xử Lý Số Liệu 20

IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 21

4.1 Các thông số môi trường thí nghiệm 21

4.2 Thành phần sinh hóa các nghiệm thức thức ăn 22 4.3 Tăng trưởng của cá thí nghiệm 23

4.3.1 Tỉ lệ sống 23

4.3.2 Tăng trưởng của cá thí nghiệm 23

4.4 Hiệu quả sử dụng thức ăn của cá thí nghiệm 26

4.4.1 Hệ số biến đổi thức ăn FCR 26

4.4.2 Hiệu quả sử dụng protein PER 27

V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 29

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Kết quả thí nghiệm

Phụ lục 2: Kết quả xử lý thống kê

Trang 8

vii

BẢNG NỘI DUNG TRANG

Bảng 3.1 Thành phần sinh hóa của các loạinguyên liệu 16 Bảng 3.2 Công thức tổ hợp hai loại thức ăn (%) 17

Bảng 3.3 Thành phần dinh dưỡng tính toán 18 Bảng 4.1 Các thông số môi trường 21 Bảng 4.2 Thành phần sinh hóa các công thức thí nghiệm 22 Bảng 4.3 Tăng trưởng của cá thí nghiệm 23 Bảng 4.4 Hiệu quả sử dụng thức ăn của cá thí nghiệm 26

Trang 9

viii

HÌNH NỘI DUNG TRANG

Hình 2.1 Hình dạng ngoài cá basa 3

Hình 2.2 Cấu trúc vòng xoắn Alpha - beta của 7

phytase được thiết kế bởi Jaffor (1997) Hình 2.3 Sự liên kết phytin với các chất dinh dưỡng khác 7

Hình 2.4 Phytase tác động giải phóng Phospho và các 8

dưỡng chất Hình 2.5 Bón phân có nhiều P đẩy mạnh sự 9

phát triển nhanh chóng của tảo trong ao Hình 2.6 α - amylase 9

Hình 2.7 Protease phân cắt polypeptide thành protein 10

Hình 3.1 Máy ép viên thức ăn 14

Hình 3.2 Máy sấy thức ăn 15

Hình 3.3 Thức ăn thành phẩm 16

Hình 3.4 Dãy bể ciment dùng trong thí nghiệm 19

Hình 4.1 Cá basa của 06 nghiệm thức sau 56 ngày nuôi 24

ĐỒ THỊ NỘI DUNG TRANG Đồ thị 4.1 Tăng trưởng của cá thí nghiệm 25

Đồ thị 4.2 Hệ số biến đổi thức ăn FCR 27

Đồ thị 4.3 Hiệu quả sử dụng Protein 28

Trang 10

I GIỚI THIỆU

1.1 Đặt Vấn Đề

Từ lâu cá đã trở thành món ăn quen thuộc trong bữa cơm của từng gia đình Việt Nam Tuy giá cả thấp nhưng cá lại cung cấp được lượng đạm cao, hàm lượng cholesterol trong mỡ thấp và đặc biệt là cá chứa Omega - 3 giúp ích cho sự phát triển não ở trẻ em Điển hình như bụng cá basa lớn chứa nhiều mỡ, thịt ngon Cá basa có buồng mỡ chiếm 25% khối lượng cá, nóng chảy ở nhiệt độ 30 - 36oC Mỡ cá có gần

50 các axít béo (đủ các axít béo cơ bản có trong các dầu mỡ thực phẩm), 75% là axít béo không no Hàm lượng Cholesterol trong mỡ cá basa (85 mg%) thấp hơn so với mỡ lợn tiêu chuẩn (126 mg%), một số loài cá biển (100 mg%), ngoài ra còn có các vitamin A (Ngô Trọng Lư-Thái Bá Hồ, 2001)

Ngày nay, nhu cầu tiêu thụ cá trong nước và trên thế giới ngày càng tăng đã mở ra một tiềm năng mới cho ngành thủy sản Trong khi đó nguồn lợi thủy sản khai thác từ tự nhiên lại ngày càng cạn kiệt do đó mở rộng nuôi trồng thủy sản là một giải pháp tất yếu

Khi tiến hành nuôi thủy sản thì lợi nhuận là yếu tố được xem xét hàng đầu Trước đây bột cá có giá thành thấp nên được sử dụng phổ biến trong thức ăn cho động vật thủy sản Nhưng gần đây lượng cá tạp trở nên khan hiếm khiến cho giá bột cá tăng cao gây khó khăn cho người nuôi cá Do đó nhiều biện pháp đã được đưa ra nhằm giảm chi phí sản xuất và tăng lợi nhuận cho người nuôi Trong đó biện pháp sử dụng các sản phẩm từ thực vật như bánh dầu đậu nành, cám gạo được xem là giải pháp tối ưu Nhưng vấn đề trở ngại lớn nhất khi sử dụng protein thực vật là khả năng tiêu hóa và hấp thụ các chất dinh dưỡng của động vật thủy sản đối với protein thực vật

Trong protein thực vật như bánh dầu đậu nành, bánh dầu đậu phôïng có khá nhiều phosphorus ở dạng không tiêu hóa, bên cạnh đó là sự hiện diện của cacù yếu tố kháng dinh dưỡng ức chế họat động tiêu hóa của enzyme pepsine, trypsine… ở động vật Điển hình như phytic acid có nhiều trong cám gạo liên kết chặt chẽ Zn2+ tạo phức hợp phytinate-Zn gây bệnh lý thiếu kẽm trên vật nuôi

Một trong những giải pháp là sử dụng Allzyme SSF, một phức hợp gồm sáu enzyme (phytase, α-amylase, protease, β-glucanase, cellulase, xylanase) có thể cải thiện sự sử dụng Phospho, cải thiện độï tiêu hóa carbohydrate và protein (Filer, 2001) Một số nghiên cứu cho thấy rằng khi sử dụng Allzyme cho nuôi trồng thủy sản thì gia tăng hoạt lực sinh học Phospho, gia tăng tốc độ tăng trưởng (Park và ctv, 2003ab) Thêm vào đó là sử dụng phytase góp phần cải thiện việc sử dụng Phospho và giảm sự bài tiết Phospho (Lei và ctv, 1993; Cromwell và ctv, 1995; O’Quinn và ctv, 1997)

Trang 11

nên hạn chế được việc gây ô nhiễm môi trường nước do lượng Phospho thừa quá nhiều trong phân Đây sẽ là một giải pháp mang tính chiến lược trong tương lai vì nó vừa có tác dụng tích cực với vật nuôi vừa bảo vệ được môi trường sinh thái

Xuất phát từ thực tế trên, đề tài nghiên cứu: ”Ảnh hưởng của việc bổ sung

Allzyme lên sự tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá basa (Pangasius

bocourti)” được chúng tôi tiến hành ở khoa Thủy Sản trường Đại học Nông Lâm

TP.HCM

1.2 Mục tiêu đề tài

- Khảo sát tác động của Allzyme lên sự tăng trưởng của cá basa với các khẩu phần thức ăn khác nhau

-Xác định nồng độ Allzyme thích hợp bổ sung trong thức ăn để tăng độ tiêu hóa cho cá basa góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng protein thực vật

Trang 12

II TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Một Số Đặc Điểm Sinh Học Cá Basa

Hình2.1 Hình dạng ngoài cá Basa

2.1.2 Đặc điểm hình thái

Theo Phạm Văn Khánh (2004) thì cá có đầu dẹp bằng, trán rộng, răng nhỏ mịn, râu mép dài tới hoặc quá gốc vây ngực, mắt to, bụng to, lá mỡ rất lớn, phần sau thân dẹp bên, lưng và đầu có màu xanh xám, bụng có màu trắng bạc

Trang 13

2.1.3 Đặc điểm sinh thái

2.1.3.1 Sự phân bố

Cá phân bố ở Miến Điện, Thái Lan, Indonesia, Campuchia, Lào, miền nam Việt Nam… Cá sống chủ yếu ở nước ngọt, chịu được nước lợ nhẹ (độ muối dưới 10%0), chịu đựng được nước phèn có pH > 4 (Phạm Văn Khánh, 2000)

2.1.3.2 Các yếu tố môi trường

Theo Nguyễn Tuần (2000) thì khả năng chịu đựng các yếu tố môi trường của cá basa như sau:

Oxy hòa tan:

Oxy hòa tan là yếu tố quan trọng cho việc duy trì sự sống của thủy sinh vật Lượng oxy hòa tan > 5 mg/l thích hợp nhất cho các ao nuôi cá Cá basa là loài sống ở sông (riverine fish), có môi trường dồi dào oxy Ngưỡng oxy của cá là 1,2 ± 0,15 mg/l, tốt nhất là > 3mg/l Khi hàm lượng oxy trong môi trường nước trên dưới 1 mg/l cá nổi đầu hàng loạt

Nhiệt độ:

Cá là động vật biến nhiệt nên nhiệt độ nước sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình trao đổi chất, cường độ bắt mồi, sinh sản, sinh trưởng… của chúng Nhiệt độ gây chết cho cá basa thấp nhất là 18oC và cao nhất là 40oC

Độ pH:

pH = 5 cá có biểu hiện mất nhớt, các đôi râu teo dần, hoạt động chậm chạp Ở

pH = 5,5 sức chịu đựng có khá hơn nhưng cá hoạt động chậm bơi lờ đờ Trong môi trường kiềm, độ pH = 11, cá hoạt động lờ đờ có biểu hiện mất nhớt, xuất huyết ở mặt và vây, sau 8 tiếng cá chết Như vậy giá trị pH gây chết cho cá basa thấp nhất là 5,5 và cao nhất là 11

Khả năng chịu mặn:

Basa có khả năng chịu mặn tương đối cao, độ mặn càng cao thời gian sống càng giảm dần Ngưỡng độ mặn gây chết cho cá basa là 15%0 Theo khảo sát ở độ mặn 15%0 cá sống được 72 giờ, trong nước biển 35%0 thì cá chỉ sống được 1 giờ

Trang 14

2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng

Theo Phạm Văn Khánh (2004), cá basa là loài ăn tạp, thích ăn mồi có nguồn gốc động vật và cũng dễ dàng chuyển đổi loại thức ăn Ở giai đoạn cá lớn và trưởng thành, chúng dễ dàng thích nghi với các loại thức ăn khác nhau như thức ăn tự chế là

hỗn hợp của tấm, cám, rau và cá tạp… được nấu chín

Nhu cầu protein của cá basa trong khoảng 28 - 30%, hệ số tiêu hóa protein

80 - 87%, hệ số tiêu hóa chất béo 90 - 98% (Lê Thanh Hùng, 1999)

Cá basa có tốc độ lớn khá nhanh, sau một năm nuôi lớn được 0,7 - 1,3 kg/con, tự nhiên đã gặp cỡ cá dài 0,5 m (Rainboth, 1996; trích bởi Phạm Văn Khánh, 2000)

2.1.5 Đặc điểm sinh sản

Thành thục lần đầu tiên của cá basa là 3+ - 4+

. Trong tự nhiên vào mùa sinh sản (tháng 3 – 4 hàng năm) cá bơi ngược dòng tìm các bãi đẻ thích hợp và đẻ trứng, hệ số thành thục của cá (nuôi vỗ trong ao và bè) đạt 4,0 – 6,2%, sức sinh sản đạt tới

67000 trứng (cá 7 kg), đường kính trứng từ 1,6 –1,8 mm

Hiện nay, việc nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ và cho đẻ nhân tạo cá basa đã thành công, chủ động cung cấp con giống cho nghề nuôi loài cá này

2.2 Xu Hướng Thay Đổi Trong Việc Sử Dụng Protein

Bột cá vốn là thức ăn truyền thống và phổ biến trong thức ăn của các loài cá ăn động vật (lóc, mú, chẽm…) và một số cá ăn tạp (tra, Basa…) nhờ chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng Nhưng gần đây số lượng bột cá hạn chế, nguồn cung cấp không ổn định và giá cả thì tăng do nhu cầu tiêu thụ cao (Lê Thanh Hùng, 2000) Theo Hertrampf và ctv (2000) (trích bởi Lê Thanh Hùng, 2000), nếu lượng bột cá sử dụng trên thế giới từ năm 1990 đến năm 2000 tăng từ 10% lên 34% thì dự kiến đến năm

2010 sẽ là 60% Điều này thực sự là một trở ngại lớn cho nghề nuôi cá do đó việc thay thế cá tạp trong thức ăn thủy sản là khuynh hướng tất yếu

Trong số các đối tượng được dùng thay thế thì các sản phẩm từ thực vật được chú trọng nhờ có nhiều ưu điểm như: hàm lượng đạm cao (40 - 50%), các amino acid khá cân đối, nguồn cung cấp ổn định Đặc biệt là giá cả thấp hơn nhiều so với bột cá

vì là phụ phẩm của ngành công nghiệp ép dầu Riêng cá tra, basa thí nghiệm cho thấy có thể sử dụng 35 - 40% khô dầu đậu nành với bổ sung các khiếm khuyết thì hiệu quả sử dụng thức ăn tương đương sử dụng bột cá (Lê Thanh Hùng, 2000)

Bên cạnh đó, việc sử dụng sản phẩm từ thực vật cho động vật thủy sản vẫn còn tồn tại một số khó khăn, điển hình là những thành phần dinh dưỡng khó tiêu hóa

Trang 15

như cellulose và xylan có ở thành tế bào thực vật Ngoài ra nếu ta sử dụng protein thực vật với tỉ lệ cao trong khẩu phần thì thường gây ra tình trạng thiếu các amino acid thiết yếu chứa S, thiếu muối khoáng như Ca và P, thiếu các acid béo không no HUFA và PUFA và quan trọng là làm giảm tính thèm ăn của cá, tôm (Lê Thanh Hùng, 2000) Nếu ta giảøi quyết được các vấn đề trên thì sử dụng các sản phẩm từ thực vật là một giải pháp tối ưu Lúc này enzyme được xem như là một giải pháp cho những khó khăn trên

2.3 Enzyme Tiêu Hóa

2.3.1 Định nghĩa

Enzyme là các protein tự nhiên có hoạt tính enzyme, các enzyme được tạo ra từ các cơ thể sống Trong công nghiệp enzyme được sản xuất từ các vi sinh vật (vi khuẩn, nấm men) bằng cách lên men hoặc chiết từ tụy và các mô động vật khác (Tôn Thất Sơn, 2005)

2.3.2 Vai trò

Enzyme hoạt động như là chất xúc tác trong các phản ứng sinh hóa, chúng giúp các phản ứng xảy ra nhanh hơn Một ưu điểm lớn của enzyme khi xúc tác là chúng có thể làm tăng tốc độ phản ứng ở nhiệt độ cơ thể và ở pH nhẹ (Tôn Thất Sơn, 2005)

Sự bổ sung enzyme có tiềm năng cải thiện giá trị dinh dưỡng của nguyên liệu thức ăn, và khẩu phần chất lượng thấp từ đó cải thiện được độ tăng trưởng của vật nuôi

2.4 Enzyme Tổng Hợp - Allzyme

Allzyme SSF (hay còn gọi là phytase A được cung cấp bởi công ty Alltech) là hỗn hợp của 06 enzyme: phytase, protease, α-amylase, cellulase, xylanase và β-glucanase

Độ hoạt động của Allzyme trong thức ăn thương mại được diễn tả là “đơn vị phytase” Mỗi đơn vị phytase được định nghĩa là một số lượng enzyme phóng thích một micromol phosphorus vô cơ trong một phút từ 0,0015 mol/L sodium phytate tại

pH = 5,5 và nhiệt độ là 370C (Baruah và ctv, 2004)

Trang 16

2.4.1 Enzyme phytase

Phytase là một enzyme có công thức myo-inositol hexaphosphate phosphohydrolase được tạo ra do vi sinh vật hoặc hiện diện tự nhiên trong thành phần thực vật (Baruah và ctv, 2004)

Hình 2.2 Cấu trúc vòng xoắn Alpha-beta của phytase được thiết kế bởi Jaffor (1997)

(Nguồn: http://ohioline.osu.edu/b896/b896_67.html)

Hầu như 50 - 80% phospho trong thức ăn có nguồn gốc thực vật là tồn tại ở dạng phytate, hay phytic acid, và các loài thú độc vị như heo và gia cầm thì không thể tiêu hóa chúng Nguyên nhân là do chúng thiếu enzyme phá vỡ phytate đểø phóng thích phospho Ngoài ra, phytate cũng hình thành phức hợp với protein, các enzyme tiêu hóa và khoáng chất để tạo nên các yếu tố kháng dinh dưỡng

Hình 2.3 Sự liên kết của phytin với các chất dinh dưỡng khác (Nguồn

http://www.ag.auburn.edu/aaes/communications/highlights/spring99/phytase.html)

Trang 17

Trong khi đó, phytase lại phóng thích được phospho trong hạt ngũ cốc và hạt dầu bằng cách phá vỡ cấu trúc phytate, phóng thích khoáng chất như Ca, Mg cũng như protein và acid amin liên kết với phytate Do đó khi phóng thích phospho từ thực vật, phytase cung cấp nhiều phospho có ích cho sự phát triển của xương và giảm lượng bài tiết vào môi trường Ngày nay, chiến lược chính là bổ sung enzyme phytase ngoại sinh và đồng thời giảm sự cung cấp phospho vô cơ vào khẩu phần thức ăn cho vật nuôi (Applegate và ctv, 2003; Angel và ctv, 2005)

Hình 2.4 Phytase tác động giải phóng phospho và các dưỡng chất (Nguồn:

Bên cạnh đó, phytase sẽ giúp giữ lại các phospho có giá trị cho cá Do đó làm giảm sự bài tiết ra phân nên giảm được ô nhiễm môi trường nước Việc sử dụng enzyme phytase trong thức ăn sẽ giúp phân hủy phytin, giải phóng phosphorus và các chất hữu cơ kèm theo nên có thể tiết kiệm được một phần phospho vô cơ (dưới dạng DCP hay MCP) sử dụng trong khẩu phần, từ đó giảm thiểu lượng phospho thải ra ngoài môi trường gây ô nhiễm

Trang 18

Hình 2.5 Phân thải ra có nhiều phospho sẽ đẩy mạnh sự phát triển nhanh chóng của

tảo trong ao gây ra sự phú dưỡng (Nguồn:

http://www.ag.auburn.edu/aaes/communications/highlights/spring99/phytase.html)

Sử dụng phytase trong thức ăn làm giảm hay bỏ hẳn việc bổ sung một số khoáng chất cần thiết, điều này làm giảm giá thành sản phẩm Một cách ước lượng, khi dùng phytase thì nhu cầu phospho cần cung cấp có thể giảm bớt khoảng 0,1% (số tuyệt đối của nhu cầu), còn các dưỡng chất hữu cơ khác có thể giảm bớt được khoảng 3% so vơí nhu cầu (Dương Thanh Liêm, 2002)

2.4.2 Enzyme α-amylase (α-1,4 glucan-4-glucanhydrolase,3.2.1.1)

Hình 2.6 α-amylase (Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/amylase)

Amylase là enzyme thủy phân tinh bột thành các glucose, được tìm thấy trong hầu hết các loài cá ăn tạp và cá ăn thực vật (Lê Thanh Hùng, 2000)

Trang 19

α - amylase (α - 1,4 – glucan – 4 - glucanohydrolase, EC 3.2.1.1) là một

enzyme làm phân cắt tinh bột, trước tiên thành các oligosaccharide và sau đó chuyển

hóa thành maltose và glucose, bằng sự thủy phân liên kết α - 1,4 - Glucan

Enzyme α - amylase có khả năng phân cắt các liên kết α - 1,4 glucozit nằm

bên trong phân tử cơ chất một cách ngẫu nhiên và không theo thứ tự nào cả, vì thế

người ta gọi α - amylase là enzyme amylase nội phân (endo amylase) α - amylase

không chỉ thủy phân hồ tinh bột mà nó còn thủy phân cả hạt tinh bột nguyên, song

với tốc độ chậm

Sơ đồ thủy phân tinh bột bằng α-amylase

Tinh bột α-Amylase> α-dextrin + mantose + glucose (glucogen) +H2O (nhiều) (ít)

Sản phẩm đầu của sự phân giải amylopectin bởi amylase vi khuẩn là dextrin

có 06 gốc glucose dài, còn sản phẩm cuối là glucose, mantose và các mantodextrin

(saccharid có phân nhánh) từ mantose đến mantohexose Sản phẩm cuối cùng của

tinh bột dước tác dụng của amylase chủ yếu là mantose, kế đến là mantotriose

2.4.3 Enzyme protease

Protease, Proteinase hay Peptidase là những enzyme thiết yếu cho sự sống

Chúng cắt những chuỗi amino acid dài (được gọi là peptides) thành nhiều đoạn

protein

Protease cần thiết cho sự tổng hợp tất cả các protein Mỗi protease phân cắt

một chuỗi amino acid riêng biệt Protease có số lượng rất đông đảo

Hình 2.7 Protease phân cắt polypeptide thành protein

(Nguồn: http://www.protease.net)

Protease là nhóm enzyme xúc tác quá trình phân giải protein hoặc các

polypeptit Sản phẩm của quá trình phân giải này là các acid amin, các peptid và các

Trang 20

polypeptit chuỗi ngắn ….Dưới tác dụng của protease các liên kết peptide sẽ bị thủy

Cellulose cấu tạo nên vách tế bào thực vật, có trọng lượng phân tử 2000 -

28000 đơn vị glucose nối nhau qua nối β-1,4 (Lê Thanh Hùng, 2000) Cellulase là

các enzyme thủy phân cellulose ở nhiệt độ bình thường hoặc ở nhiệt độ 40 - 500C tạo

thành các sản phẩm hòa tan, phức hệ enzyme này gồm 3 thành phần chính: C1 hay

còn gọi là Exo-β-1,4-glucanase, Cx còn gọi là enzyme Endo-β-glucanase và enzyme

β-Glucosidase (EC.3.2.1.2.1)

Chất xơ có tác dụng làm gia tăng tốc độ thức ăn đi qua đường tiêu hóa nên nó

có tác dụng làm tăng lượng thức ăn cá ăn vào Ở cá, chất xơ gần như không được tiêu

hóa mặc dù có một số báo cáo cho rằng hệ vi khuẩn đường ruột của một số loài cá có

khả năng thủy phân cellulose trong chất xơ Tuy nhiên cấu trúc ống tiêu hóa các loài

cá trên cho thấy các vi khuẩn trên có nguồn gốc ngoại sinh Cá và hầu hết động vật

thủy sản không có enzyme thủy phân nối β-1,4 nên việc tiêu hóa các cellulose và

chitin hầu như không đáng kể (Lê Thanh Hùng, 2000) Do đó, bổ sung cellulase vào

khẩu phần sẽ giúp cá tiêu hóa tốt cellulase và chitin Tuy nhiên thông thường đối với

thức ăn cá thì tỉ lệ chất xơ trong thức ăn được đề nghị không quá 8 - 10% (Lê Thanh

Hùng, 2000)

Theo như thuyết của Mandels và Reese (1964), cơ chế tác động của enzyme

Cellulase lên vật chất như sau:

Cellulose → Cellulose → Cellobiose → Glucose

↑ Phản ứng ↑ ↑

C1 CX β-Glucozidase

2.4.5 Enzyme xylanase

Xylanase là tên lớp enzyme làm phân cắt đường thẳng polisaccarit beta-1,4 -

xylan thành xylose, do đó phá vỡ cấu trúc hemicelluloza, một thành phần chính của

thành tế bào thực vật (Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/xylanase)

Sự thêm vào xylanase kích thích tỉ lệ tăng trưởng bằng cách cải thiện độ tiêu

hóa, cải thiện chất lượng của phân chuồng động vật Xylanase làm giảm bớt hàm

Trang 21

lượng ruột, làm tăng sự hấp thụ chất dinh dưỡng và sự phổ biến của cá enzyme tụy tạng trong thuốc tiêu hóa Nó cũng biến đổi hemicelluloza thành đường do đó những chất dinh dưỡng được giữ lại trước đây trong thành tế bào được phóng thích (Nguồn

β-1,3- glucanase (glucan endo-1,3-β-glucosidases) xúc tác sự phân chia thủy phân bên trong của liên kết 1,3-β-D-glucosidic của β-1,3-glucans β-1,3-glucanase (βGlu) là enzyme phong phú, điều hòa cao được phân bố rộng rãi trong những loài thực vật có hạt

Sự bổ sung enzyme cải thiện lĩnh vực này bằng cách làm tăng độ tiêu hóa carbohydrate, giảm độ nhầy của ruột và cải thiện sự sử dụng chất béo (Almirall và ctv, 1995) Sự cải thiện về AME (Apparent Metabolizable Energy) (năng lượng biến dưỡng) từ sự bổ sung enzyme thì có thể thay đổi bởi vì tính chất có thể thay đổi trong hàm lượng NSP (Nonstarch Polysaccharide) của lúa mì (Classen và ctv (1995); Schutte và ctv (1995), Van der Klis và ctv (1995))

Trang 22

III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời Gian và Địa Điểm Nghiên Cứu

Đề tài thực hiện tại trại Thực Nghiệm khoa Thủy Sản, trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

Thời gian: Thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của Allzyme lên sự tăng trưởng của cá basa được thực hiện từ 14/04/06 đến 09/06/06

3.2 Vật Liệu Thí Nghiệm

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Cá basa 02 tuần tuổi được nuôi dưỡng trong bể ciment cho thích nghi với thức ăn và điều kiện môi trường mới Khi cá đạt kích cỡ 05 gram thì tiến hành bố trí thí nghiệm Cá sử dụng trong thí nghiệm được lựa chọn đồng cỡ có sức khỏe tốt và bơi lội nhanh nhẹn

3.2.2 Hệ thống bể thí nghiệm

Thí nghiệm được tiến hành trên hệ thống gồm 18 bể ciment Các bể được chà rửa sạch sẽ, phun chlorine để sát trùng và phơi khô trước khi bố trí Sau đó nước được bơm vào từng bể trữ khoảng 48 tiếng trước khi thả cá vào

Trong thời gian thí nghiệm, hệ thống lọc tuần hoàn hoạt động không hiệu quả (không lọc được tảo và không diệt được mầm bệnh) Do đó không sử dụng hệ thống tuần hoàn trong quá trình thí nghiệm

Trong 06 tuần đầu chất cặn tập trung cố định ở một góc bể nên nước được thay một lần/tuần và xiphông 3 - 4 lần/tuần Vào hai tuần cuối nước mau dơ nên phải thay nước 02 lần/tuần và xiphông liên tục để theo dõi được lượng thức ăn dư thừa của cá Nước được hạn chế thay ở mức tối đa để không làm môi trường sống của cá biến động nhiều

3.2.3 Dụng cụ và nguyên liệu thí nghiệm

ƒ Hệ thống gồm 09 bể ciment có kích thước 1,8x0,9x0,8 m Mỗi bể được ngăn thành 02 phần bởi lưới ngăn

Trang 23

ƒ Cá basa được bắt từ trại sản xuất giống Tiền Giang khi cá được 14 ngày tuổi Sau 30 ngày ương, cá có trong lượng trung bình 05 gram đạt yêu cầu để tiến hành bố trí thí nghiệm

ƒ Nguyên liệu làm thức ăn: bột cá, cám gạo, bánh dầu đậu nành, tinh bột khoai

mì, premix khoáng - vitamin, Allzyme, DCP, CMC, dầu cá, dầu dậu nành

ƒ Dụng cụ đo chỉ tiêu môi trường: máy đo DO, pH, nhiệt độ và bộ test

NH4+/NH3

ƒ Thuốc gây mê (Ethylenglycol monophenylether với liều lượng 500 ppm)

ƒ Máy xay, sấy thức ăn, cân bàn đơn vị 2000 gram, cân điện tử 200 gram, hệ thống sục khí, ống xiphông, thau nhựa, vợt vớt cá và một số dụng cụ khác có liên quan

Hình 3.1 Máy ép viên thức ăn

Trang 24

Hình 3.2 Máy sấy thức ăn

3.2.4 Thức ăn

Thức ăn dùng trong thí nghiệm là hỗn hợp của một số nguyên liệu như: bột cá, bánh dầu đậu nành, cám gạo, tinh bột khoai mì, dầu cá, dầu đậu nành và các chất bổ sung như khoáng, vitamin C, chất kết dính, DCP (Dicalci phosphate) và Allzyme

Thành phần sinh hóa của các nguyên liệu đã được xác định trước khi tổ hợp thành thức ăn Thức ăn sau khi ép viên và sấy khô được đưa đi phân tích một số chỉ tiêu: đạm, béo, xơ, khoáng tổng số và vật chất khô tại Trung Tâm Phân Tích Thí Nghiệm

Trang 25

Hình 3.3 Thức ăn thành phẩm

Bảng 3.1 Thành phần sinh hóa của các loại nguyên liệu

Nguyên liệu Thành phần hóa học

Bột cá Bánh dầu

đậu nành Cám gạo

Tinh bột khoai mì

Trong bảng trên ta có thể thấy bột cá có thành phần đạm cao nhất (62,2%) so

với 03 loại thức ăn còn lại Ngoài ra, bột cá có độ tiêu hóa cao (80 - 90%), năng

lượng thô 4500 - 4800 kcalo/kg Do đó bột cá được xem là thành phần thức ăn tốt

nhất và không thể thiếu cho sự tăng trưởng của cá nuôi

Trang 26

3.3 Phương Pháp Bố Trí Thí Nghiệm

3.3.1 Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm gồm 06 nghiệm thức thức ăn khác nhau, bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên với ba lần lập lại Các nghiệm thức được kí hiệu:

• SI: nghiệm thức chứa 15% bột cá và không có Allzyme

• SII: nghiệm thức chứa 15% bột cá và 0,02ù g Allzyme /kg thức ăn

• SIII: nghiệm thức chứa 15% bột cá và 0,05 g Allzyme/kg thức ăn

• HI: nghiệm thức chứa 5% bột cá và không có Allzyme

• HII: nghiệm thức chứa 5% bột cá và 0,02 g Allzyme/kg thức ăn

• HIII: nghiệm thức chứa 5% bột cá và 0.05 g Allzyme/kg thức ăn

Như vậy chỉ có hai loại thức ăn chủ yếu là S và H có thành phần thức ăn được thể hiện qua bảng 3.2

Bảng 3.2 Công thức tổ hợp hai loại thức ăn (%)

Công thức

Thành phần thức ăn

15% bột cá(S) 5% bột cá(H)

100

5,00 41,54 33,21 16,05 0,50 1,00 0,20 1,00 1,00

100

Ngày đăng: 17/09/2018, 16:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w