Cũng như trong hệ thống tổ chức hoạt độngsản xuất hay mọi hoạt động quản lý khác, chúng ta không thể không nói đếnngười lãnh đạo, cơ quan lãnh đạo và cả người thừa hành; động cơ của họ t
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Thực tế trong cuộc sống của chúng ta không có sự thành công nào màkhông gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp haygián tiếp của mọi người xung quanh Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu họctập tại …………(bổ sung địa điểm học) đến nay, em đã nhận được rất nhiều
sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè Với lòng biết ơnsâu sắc nhất, em xin gửi đến quý Thầy Học viện Cán bộ Thành phố Hồ ChíMinh đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thứcquý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại đây Và đặc biệt, tronghọc kỳ này, nếu không có những lời hướng dẫn, dạy bảo của các thầy cô thì
em nghĩ bài tiểu luận này của em rất khó có thể hoàn thiện được Đặc biệt, làthầy (cô)……… đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành tiểu luận tốtnghiệp này
Trong quá trình làm bài tiểu luận, khó tránh khỏi sai sót, rất mong cácThầy, Cô bỏ qua Đồng thời do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thựctiễn còn hạn chế nên bài tiểu luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rấtmong nhận được ý kiến đóng góp của Thầy, Cô để em học thêm được nhiềukinh nghiệm
Em xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, Ngày tháng 4 năm 2016
Học viên
Võ Hồng Loan
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hoạt động lãnh đạo là hoạt động mang tính định hướng, gây ảnh hưởng,tạo dựng niềm tin, thuyết phục người khác để họ đồng lòng với người lãnh đạothực hiện đường lối, chủ trương hoặc hệ thống mục tiêu nào đó Mặc dù trongcuộc sống con người luôn đòi hỏi phải có quan hệ bình đẳng, nhưng trong một
tổ chức người ta phải cần đến một nhà lãnh đạo có đủ năng lực để giúp họ tintưởng và dẫn dắt họ vượt qua mọi chông gai trong công việc Khi không cómột ai am hiểu về việc làm để chỉ dẫn, điều hành và thống nhất, đồng thờiđộng viên tư tưởng, họ sẽ cảm thấy bồn chồn, lo lắng dẫn đến năng suất vàhiệu quả công việc giảm, thậm chí là sự tan rã của một tập thể, một tổ chức
Sự xuất hiện của người lãnh đạo lúc này rất phù hợp với nhu cầu tâm lí của
họ Người lãnh đạo sẽ là chỗ dựa, là sức mạnh và nguồn an ủi của mỗi người.Bên cạnh đó, người thừa hành cũng đóng một vai trò không kém phần quantrọng, họ là những người trực tiếp thực thi những nhiệm vụ mà người lãnh đạogiao Do vậy, mối quan hệ giữa người lãnh đạo và người thừa hành luôn gắnkết với nhau, trong đó mối quan hệ sâu sắc là động cơ của người lãnh đạo vàđộng cơ người thừa hành
Khi nói đến hệ thống quản lý xã hội, chúng ta thường phân tích quan hệgiữa chủ thể và khách thể quản lý, trong đó có mối quan hệ giữa động cơ củachủ thể và động cơ của khách thể Cũng như trong hệ thống tổ chức hoạt độngsản xuất hay mọi hoạt động quản lý khác, chúng ta không thể không nói đếnngười lãnh đạo, cơ quan lãnh đạo và cả người thừa hành; động cơ của họ trongquá trình công tác là gì và mối quan hệ của nó ra sao; có ảnh hưởng như thếnào đến kết quả chung của một tập thể? Vấn đề này càng trở nên cấp bách đốivới những nước đang trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội như Việt
Trang 3Nam hiện nay Vì ở đây, người lãnh đạo luôn đóng vai trò chủ đạo trong quátrình quản lý, đồng thời người thừa hành là những người trực tiếp thực thinhững nhiệm vụ do lãnh đạo giao phó Để đạt kết quả tốt trong quá trình lãnhđạo quản lý chúng ta cần hiểu rõ động cơ của người quản lý và động cơ ngườithừa hành; họ làm việc đó vì mục tiêu gì để từ có có giải pháp hài hòa cho mốiquan hệ giữa động cơ của người lãnh đạo và động cơ người thừa hành Đó
cũng là nguyên nhân để em tìm hiểu đề tài “Mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động cơ người thừa hành”
2 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở tìm hiểu mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động
cơ người thừa hành sẽ thấy được sự cần thiết phải tạo động cơ làm việc, ảnhhưởng của động cơ đến kết quả làm việc ra sao; đồng thời sẽ tìm ra giải pháp
để tạo động cơ làm việc tích cực, tạo được mối quan hệ hài hòa giữa động cơngười lãnh đạo và động cơ người thừa hành
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính trong tiểu luận này sẽ tập trung vào động
cơ của người lãnh đạo và động cơ người thừa hành trong cơ quan Nhà nước
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng để hoàn thành tiểu luậnnày là phương pháp tổng hợp tài liệu, nghiên cứu tạp chí, sách báo và các tàiliệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu của tiểu luận và phương pháp quansát trong thực tiễn công tác
5 Kết cấu tiểu luận
Trang 4Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, bài tiểu luận gồm có 3 chương 7tiết.
Trang 5CHƯƠNG I: CÁC KHÁI NIỆM CHUNG
1 Động cơ và các khái niệm liên quan
1.1 Động cơ và nhu cầu
Theo Tâm lí học Macxit, động cơ là sự phản ánh tâm lí về đối tượng cókhả năng thoả mãn nhu cầu của chủ thể Nhu cầu bao giờ cũng nhằm vào mộtđối tượng nhất định Nó hối thúc con người hành động nhằm đáp ứng thoảmãn và chỉ khi gặp được đối tượng có khả năng thoả mãn thì nó mới có thể trởthành động cơ thúc đẩy, định hướng hoạt động của chủ thể, thôi thúc conngười hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu
Như vậy, ở đây có mối quan hệ giữa động cơ và nhu cầu, hai hiện tượngnày luôn được nghiên cứu trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nhiều khi đanxen nhau khó tách rời Có thể nói rằng, nếu nhìn nhận nhu cầu như là một tấtyếu khách quan thể hiện sự đòi hỏi của chủ thể về những điều kiện cần thiếtcho sự tồn tại và phát triển thì động cơ là biểu hiện chủ quan của tất yếu kháchquan đó Tuy nhiên, động cơ và nhu cầu không đồng nhất với nhau, nhữngnhu cầu giống nhau có thể được thoả mãn bằng những động cơ khác nhau Vàngược lại ở đằng sau những động cơ khác nhau lại có những nhu cầu khácnhau Động cơ thường không được chủ thể ý thức về nó ngay lúc đó, khichúng ta thực hiện những hành động này hay hành động khác thì thường lúc
đó chúng ta không ý thức về những động cơ đã thúc đẩy chúng ta Khi đượchỏi về duyên cớ của hành động đó thì chúng ta không khó khăn gì khi nêu ra
nó, nhưng việc nêu duyên cớ này hoàn toàn không phải bao giờ cũng chỉ rõcho người ta biết những động cơ thực sự đã thôi thúc các hành động ấy.Tuy nhiên, những động cơ này cũng không tách rời khỏi ý thức, ngay cả khi
Trang 6con người không ý thức được động cơ hành động của mình thì ngay những lúcnhư vậy, động cơ cũng được phản ánh vào tâm lí nhưng ở dưới một hình thứcđặc biệt: hình thức sắc thái cảm xúc của hành động Sắc thái cảm xúc này(cường độ, dấu hiệu của nó và đặc tính về chất của nó) thực hiện một chứcnăng đặc biệt và điều đó đòi hỏi phải phân biệt khái niệm cảm xúc với kháiniệm hàm ý nhân cách
Các động cơ đặc trưng của con người mang tính lịch sử - xã hội Động
cơ của con người nảy sinh ngay trong chính quá trình phát triển của cá thể,chứ không phải có sẵn từ lúc đứa trẻ mới sinh ra Trong tuổi ấu nhi, các động
cơ mới được hình thành một cách có thứ bậc, nhưng hết sức mờ nhạt, không
rõ ràng Dần dần, trong quá trình phát triển, những động cơ này mới dần mangtính chất xã hội nhiều hơn, do những động cơ đó gắn liền với việc trẻ lĩnh hộiđược những chuẩn mực, quy tắc hành vi trong xã hội Phần lớn các chúng tađều thừa nhận rằng, hệ thống động cơ của con người được hình thành trên cơ
sở hoạt động, giao tiếp của con người trong hệ thống các quan hệ xã hội,nhóm xã hội nhất định Nhưng trong hoàn cảnh buộc con người phải lựạ chọnđộng cơ nào cho phù hợp với việc tiến hành hành động, khi đó có quá trìnhđấu tranh động cơ, hành động ý chí, khả năng nhận thức sẽ giúp con người đốichiếu, so sánh động cơ để chọn ra đâu là động cơ phù hợp với điều kiện, hoàncảnh xung quanh, giúp chủ thể lường trước diễn biến và kết quả hành động.Đây là quá trình khá quan trọng đối với cả người lãnh đạo và người thừa hành
để hình thành động cơ tích cực hướng đến mục tiêu chung của tập thể
Mặt khác, đối tượng thoả mãn của con người là những sản phẩm củaquá trình sản xuất xã hội, với tư cách là những phản ánh tâm lí về đối tượng
đó nên động cơ đặc trưng của con người mang nguồn gốc xã hội Ngay cả một
số động cơ mang tính chất sinh vật như động cơ đáp ứng nhu cầu tồn tại của
Trang 7con người, các nhu cầu bản năng của con người cũng mang tính xã hội, nó phụthuộc vào điều kiện sống, lối sống, đặc trưng cho mỗi dân tộc.
1.2 Động cơ thúc đẩy
Con người không chỉ khác nhau về khả năng hành động mà còn khácnhau về ý chí hành động hoặc sự thúc đẩy, đối với người lãnh đạo và ngườithừa hành cũng vậy, sự thúc đẩy phụ thuộc vào sức mạnh của động cơ Ðộng
cơ đôi khi được xác định như là nhu cầu, ý muốn, nghị lực hoặc sự thúc đẩycủa cá nhân Ðộng cơ hướng tới mục đích, cái mục đích có thể là ý thức hoặcchỉ trong tiềm thức
Ðộng cơ là nguyên nhân dẫn đến hành vi, chúng thức tỉnh và duy trìhành động, định hướng hành vi chung của cá nhân Thực chất các động cơhoặc nhu cầu là những yếu tố chính của hành động Ðộng cơ và nhu cầu có thểthay thế nhau Nhu cầu trong trường hợp này không liên quan đến sự khẩn cấphoặc bất kỳ một sự mong muốn cấp thiết nào về một cái gì đó Nó chỉ cónghĩa một cái gì đó trong một cá nhân, thúc đẩy cá nhân đó hành động
1.3 Mục đích
Mục đích là trạng thái mong muốn đạt được Ðôi khi mục đích ngụ ýnhư là hy vọng đạt được phần thưởng mà các động cơ hướng tới Những mụcđích này được gọi là các tác nhân kích thích Người lãnh đạo thường có nhữngthành công trong việc khuyến khích nhân viên, người thừa hành để tạo ra mộtmôi trường có những mục đích thích hợp (tác nhân kích thích) để thoả mãnnhu cầu Mục đích là một trạng thái mong muốn của cá nhân hay tổ chứchướng tới nhằm đạt được Trong cơ quan tổ chức phải chú trọng hướng đếnmục đích chung, hạn chế tối đa việc phát sinh mục đích cá nhân, tư lợi
Trang 81.4 Mục tiêu
Mục tiêu là kết quả hành động hoặc trạng thái của cơ sở trong tương lai.Khác với mục đích, mục tiêu vừa có tính chất định hướng hành động, vừa xácđịnh rõ các tiêu chí đo lương kết quả của hành động sao cho ở thời điểm cầnhoàn thành mục tiêu chúng ta có thể biết được mục tiêu đã được hoàn thành ởmức độ nào Ngoài ra mục tiêu còn mang tính thời hạn với điểm bắt đầu và kếtthúc theo thời gian cụ thể Việc hoàn thành mục tiêu không phải chỉ được đolường bằng các tiêu chí quy mô và chất lượng mà còn phải được xem xét vềkhoảng thời gian thực hiện Hơn nữa, một mục tiêu trong lãnh đạo, quản lý phải
là kết quả của hành động có chọn lựa theo hướng tối thiểu hóa nguồn lực sử dụng
và tối đa hóa độ hài lòng của những người liên quan
2 Khái niệm về hoạt động lãnh đạo, quản lý
2.1 Khái niệm hoạt động lãnh đạo
Hoạt động lãnh đạo là hoạt động của người lãnh đạo mang tính định hướng,gây ảnh hưởng, tạo dựng niềm tin, thuyết phục người khác để họ đồng thuận vớingười lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương hướng tới mục tiêu nào đó Lãnhđạo tạo hiệu ứng điều khiển, dẫn dắt người khác dựa trên cơ chế nhận thức, niềmtin, tiêu chuẩn đạo đức, lý tưởng… mà không mang tính cưỡng bức đối vớingười khác Ví dụ, Đảng lãnh đạo quần chúng không phải bằng sức mạnh của bộmáy bạo lực mà bằng sự đúng đắn trong các đường lối, chủ trương thông quahoạt động tuyên truyền, giáo dục và sự gương mẫu của Đảng
2.2 Khái niệm hoạt động quản lý
Quản lý mang tính kỹ thuật, quy trình được quy định rõ trong khuôn khổcác thể chế xác định Ví dụ, quản lý hành chính trong các cơ quan của Nhà
Trang 9nước, quản trị trong các doanh nghiệp Kỹ thuật quản lý có thể được nghiêncứu và đào tạo Nhà quản lý sử dụng quyền lực để điều hành người khác.Lãnh đạo và quản lý có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau Điểmchung của hai hoạt động này là đều đạt đến mục đích mong muốn thông quahành động của người khác Nói cách khác, hoạt động lãnh đạo và hoạt độngquản lý là hoạt động điều khiển con người Trong thực tế, khó tách bạch haihoạt động này trong con người cán bộ Cán bộ nào cũng đồng thời thực hiện
cả vai trò lãnh đạo lẫn vai trò quản lý Vì thế, người ta thường gọi chung làhoạt động lãnh đạo, quản lý
Lãnh đạo là một chức năng của quản lý, thường được gọi là chức nănglãnh đạo, còn chức năng khác của quản lý lại không phải là lãnh đạo Ví dụ:công việc mà những người tham mưu trong tổ chức làm là công tác quản lý,nhưng không phải là công tác lãnh đạo Quản lý ở đây chỉ hành vi quản lý,công tác lãnh đạo vừa bao gồm hành vi quản lý, vừa bao gồm hoạt độngnghiệp vụ khác Ví dụ: Một người làm trưởng phòng nhân sự (một chức vụquản lý) ở một chỗ này, thì dễ có thể chuyển sang làm trưởng phòng nhân sự ởchỗ khác, vì làm quản lý nhân sự ở đâu cũng gần giống nhau, đòi hỏi cùngmột loại kỹ năng Nhưng một người làm viện trưởng Viện Hóa (một chức vụlãnh đạo) cần có uy tín trong ngành hóa học, và khó có thể chuyển thành làmviện trưởng Viện Cơ Học
Thông thường, lãnh đạo chủ yếu là lãnh đạo con người, xử lý quan hệgiữa người với người, đặc biệt là quan hệ cấp trên và cấp dưới (người lãnh đạo
và người thừa hành) Đây là vấn đề cốt lõi trong hoạt động quản lý Còn vềquản lý, ngoài quản lý con người, đối tượng của quản lý còn bao gồm tàichính, vật chất Quản lý không chỉ xử lý quan hệ giữa người với người mà cònphải xử lý mối quan hệ tài chính và vật chất, giữa vật chất và con người, giữa
Trang 10con người và tài chính Phạm vi mà quản lý đề cập đến rộng hơn nhiều so vớilãnh đạo.
Trang 11CHƯƠNG II: MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỘNG CƠ NGƯỜI LÃNH
ĐẠO VÀ ĐỘNG CƠ NGƯỜI THỪA HÀNH
1 Các yếu tố tạo nên động cơ
Tùy vào mục tiêu cần đạt đến mà mỗi cá nhân có những động cơ để hànhđộng khác nhau, người lãnh đạo hay người thừa hành đều có những động cơ làmviệc riêng, người lãnh đạo có thể định hướng để cùng xây dựng động cơ làm việcchung cho một tập thể nhằm hướng đến mục tiêu chung nhưng xét cho cùng cácyêu tố tạo nên động cơ của họ cũng gồm các yếu tố chung cơ bản sau:
1.1 Các yêu tố thuộc về bản thân mỗi con người
- Hệ thống nhu cầu của con người:
Nhu cầu về vật chất: là những nhu cầu cơ bản nhất đảm bảo cuộc sống
của mỗi con người như ăn, mặc, đi lại, chỗ ở …Đây là nhu cầu chính và cũng
là động lực chính khiến con người phải làm việc Cuộc sống ngày càng đượcnâng cao nhu cầu của con người cũng thay đổi chuyển dần từ nhu cầu vềlượng sang nhu cầu về chất
Nhu cầu về tinh thần: là những nhu cầu đòi hỏi con người đáp ứng được
những điều kiện để tồn tại và phát triển về mặt trí lực Xã hội ngày càng pháttriển thì nhu cầu về các giá trị tinh thần cũng nâng cao nó bao gồm:
+ Nhu cầu học tập để nâng cao trình độ
+ Nhu cầu thẩm mỹ và giao tiếp xã hội
+ Nhu cầu công bằng xã hội
Nhu cầu vật chất và tinh thần của con người có quan hệ biện chứng vớinhau điều đó bắt nguồn từ mối quan hệ vật chất - ý thức Đây là hai nhu cầuchính và cũng là cơ sở để thực hiện tạo động cơ, động lực cho làm việc củacon người
- Các giá trị thuộc về cá nhân mỗi con người
Trang 12+ Năng lực thực tế cá nhân: là tất cả những kiến thức, kinh nghiêm mà
cá nhân đã đúc kết được trong suốt quá trinh học tập và lao động Mỗi người
có những khả năng riêng nên động cơ khiến họ làm việc tích cực hơn cũngkhác nhau, khi họ có đầy đủ điều kiện để phát huy khả năng của mình thì động
cơ lao động sẽ tăng lên
+ Tính cách cá nhân của mỗi người: Đây là yếu tố cá nhân bên trong
mỗi con người và được thể hiện qua quan điểm của họ trước một sự việc, sựkiện nào đó Quan điểm của mỗi người có thể mang tính tích cực hoặc tiêucực do vậy tạo động cơ cho con người còn chịu một phần ảnh hưởng từ tínhcách của họ
- Các yếu tố bên trong công việc: Các yếu tố phụ thuộc vào bản chấtcông việc mà mỗi người đang làm Đây là sự khác biệt về vệc hình thành động
cơ khác nhau giữa người lãnh đạo và người thừa hành
Đó là sự phù hợp giữa khả năng làm việc với trình độ của con người kể
cả người lãnh đạo và người thừa hành, khi họ cảm thấy công việc đang làm làphù hợp với mình họ sẽ tích cực lao động để đạt được mục tiêu của mìnhngược lại khi công việc không phù hợp người lao đọng dễ dẫn đến tình trạngchán nản, không tập trung vào công việc
1.2 Các yếu tố thuộc môi trường quản lý lãnh đạo
Tất cả những công tác quản lý lãnh đạo trong tổ chức đề có những ảnhhưởng nhất định tới động lực, động cơ làm việc của mọi người, cụ thể:
+ Điều kiện và chế độ thời gian làm việc: đây là yếu tố có ảnh hưởng
không nhỏ tới động cơ làm việc, khi điều kiện lao động thuận lợi, môi trườnglam việc đảm bảo an toàn, vệ sinh, con người sẽ yêu thích công việc hơn, làmviệc tốt hơn
+ Tổ chức phục vụ nơi làm việc: Là sự sắp xếp, bố trí công việc đảm
bảo môi trường làm việc tốt nhất để mọi người phát huy một cách tối đa mọi
Trang 13khả năng của bản thân Tạo điều kiện để quá trình làm việc được liên tục nhịpnhàng.
+ Đánh giá kết quả làm việc cũng chính là việc đánh giá cán bộ:
Nhận xét, đánh giá cán bộ là việc hệ trọng, là khâu mở đầu có ý nghĩa quyếtđịnh trong công tác cán bộ, là cơ sở để lựa chọn, bố trí sử dụng, đề bạt, bổnhiệm và thực hiện chính sách cán bộ Đánh giá đúng cán bộ sẽ phát huy đượctiềm năng của từng cán bộ và của cả đội ngũ cán bộ Đánh giá không đúng cán
bộ sẽ dẫn đến bố trí, sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm sai, gây ảnh hưởng không tốtcho địa phương, cơ quan, đơn vị
Hoạt động đánh giá kết quả làm việc để xét các mức khen thưởng hoặc
kỷ luật đồng thời qua công tác đánh giá cũng xem xét được năng lực, thànhtích và triển vọng của từng người từ đó đưa ra các quyết định nhân sự có liênquan Kết quả đánh giá cũng có ảnh hưởng đến tâm lý tình cảm của từngngười nên nếu đánh giá không chính xác có thể dẫn đến hậu quả không mongmuốn
+ Tổ chức kỷ luật: Là những tiêu chuẩn quy định những hành vi cá
nhân của mỗi người mà tổ chức xây dựng nên dựa trên cơ sở pháp lý hiệnhành và các chuẩn mực đạo đức xã hội Khi thực hiện tổ chức kỷ luật, ngườilãnh đạo nên tránh tình trạng xử lý mang tính cá nhân gây bất bình cho cấpdưới
+ Công tác đào: là các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực của tổ chức Do vậy trong các tổ chức công tác đào tạo phát triển cầnđược thực hiện một cách bài bản có kế hoạch rõ ràng, đối tượng được đào tạocũng phải chon lựa kỹ lưỡng tránh trường hợp đào tạo sai chuyên môn
+ Văn hóa trong tổ chức: là toàn bầu văn hóa ứng xử, giao tiếp trong tổ
chức Nơi nào có được bầu không khí văn hóa tốt sẽ có được tinh thần đoànkết cao, thực hiện công viêc dễ dàng hơn,làm việc với tinh thần hăng say vui
Trang 14vẻ, cán bộ công nhân viên biết quan tâm tới nhau cả trong công việc và trongcuộc sống Ngược lại dù điều kiện cơ sở vật chất có cao, khen thưỏng, lươngbổng có tốt tới mấy cũng sẽ gây chán nản cho người lao động.
Suy cho cùng, động cơ của con người là cái thúc đẩy con người hoạtđộng kể cả người lãnh đạo và người thừa hành nhằm đáp ứng nhu cầu của họ
và hướng đến mục tiêu đã đề ra
2 Mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động cơ người thừa hành
Động cơ hoặc nhu cầu là những nguyên nhân gây ra hành vi Mọi cánhân đều có rất nhiều nhu cầu Tất cả các nhu cầu này cạnh tranh với hành vicủa họ Vậy cái gì quyết định động cơ nào trong số các động cơ của một ngườinhằm cố gắng thoả mãn thông qua hành động Nhu cầu mạnh nhất tại một thờiđiểm nhất định sẽ dẫn đến hành động Một động cơ có xu hướng yếu đi nếu nó
đã được thỏa mãn hoặc bị hạn chế sự thỏa mãn
Động cơ của con người mang tính hệ thống Các động cơ khác nhau củacon người nằm trong một mối quan hệ chặt chẽ tạo nên một hệ thống thốngnhất, trọn vẹn Trong mỗi hoàn cảnh, điều kiện cụ thể mà phân biệt đâu làđộng cơ chủ đạo, đâu là động cơ thứ yếu Sự đấu tranh động cơ, động cơ nào
sẽ là động lực thúc đẩy chính con người tham gia vào quá trình hoạt động
do trình độ nhận thức của mỗi người, do các quy tắc, chuẩn mực mà con ngườinắn được trong quá trình hoạt động của mình
Người ta có thể phân ra, động cơ gần, động cơ xa, động cơ thứ phát,động cơ nguyên phát, động cơ tạo ý hay động cơ chức năng thúc đẩy, động
cơ đẩy hay động cơ kéo…Trong thực tiễn của cuộc sống, chúng ta đều cảmnhận thấy rằng, mỗi người sống trong một thời đại có những động cơ gần nhưgiống nhau, khái quát nên những động cơ chung nhất như: động cơ thành đạt,
Trang 15động cơ giao tiếp, động cơ tự khẳng định bản thân…Tuy nhiên, với mỗi ngườilại có những động lực thúc đẩy họ thực hiện theo những cách riêng nhằm đápứng động cơ đó Như vậy trong cấu trúc của một động cơ ta ít nhất có thể thấyđược hai khía cạnh: khía cạnh nội dung của động cơ và khía cạnh lực củađộng cơ
Về nội dung của động cơ: nội dung của động cơ phản ánh cái mà conngười muốn vươn tới, muốn đạt tới Nội dung này vừa có tính khái quát vừa
có tính cụ thể tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể nơi con người đang sốnghay trong hoạt động của từng người cụ thể Ví dụ như đối với người lãnh đạothì động cơ thành đạt mang tính khái quát được thực hiện trong hoạt độngquản lý Khía cạnh lực của động cơ phản ánh độ mạng của động cơ Khía cạnhlực thể hiện ở chỗ, một động cơ nhất định có khả năng thúc đẩy những hoạtđộng khác nhau nhằm thoả mãn động cơ đó hay không Nếu có thì có thể duytrì hoạt động đến mức nào, tính tích cực mạnh mẽ hay nửa vời…
Vì các hiện tượng tâm lí nảy sinh và tồn tại như một hình thức phản ánh tíchcực của môi trường sống và các hoạt động sống của con người Các động cơcủa con người cũng được phản ánh như vậy Vì vậy, khó có thể tách rời khíacạnh nội dung và lực của động cơ Một lực không có nội dung thì khó có thểđạt được một ý nghĩa nào đó và không tồn tại như một lực thúc đẩy Sự thayđổi khía cạnh nội dung của động cơ sẽ kéo theo những thay đổi lực của động
cơ Khi đó, động cơ đã hình thành sẽ mất đi và thay vào đó là sự xuất hiệnđộng cơ mới khác về chất
Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đã từng nghĩ vì sao bạn phải dậy mỗisáng để đến sở làm hay không? Lý do bạn phải đến sở làm là hàng tháng bạncần có một số tiền để tiêu vào một việc gì đó Đó chính là động cơ, còn việc
sử dụng đồng tiền vào “một việc gì đó” chính là động lực Thông thường một
Trang 16điều gì đó đã được thỏa mãn thì con người không còn thích thú với nó nữa,nếu có tiếp tục làm mà không có hứng thú thì có nghĩa là hết động lực Khibạn có ít động lực thì động cơ sẽ hoạt động không tốt và “máy bay” sẽ gặptrục trặc mà thôi.
Như vậy, đằng sau lý do mỗi con người đi làm quan trọng hơn lý dongười ta làm gì Nếu việc một cá nhân làm một điều gì đó là những mục đíchlớn lao, nhiều thử thách và để khẳng định mình hoặc thỏa mãn niềm đam mêcủa mình chẳng hạn sẽ tạo cho họ động lực không ngừng nghỉ và nhờ đó giúp
họ luôn làm việc một cách sáng tạo và hiệu quả
Một trong những công việc quan trọng nhất của người lãnh đạo là duytrì được động lực phát triển của tổ chức mà ở đó tập hợp và phát huy được sứcmạnh của các cá nhân hay nói cách khác là giúp cho mỗi cá nhân trong tổchức của mình tìm ra được giá trị và tiềm năng tốt nhất, qua đó họ làm việcvới một niềm đam mê không ngừng nghỉ thì chắc chắn tổ chức sẽ luôn pháttriển bền vững Như vậy tạo động lực, động cơ lao động chính là sử dụngnhững biện pháp kích thích người lao động làm việc bằng cách tạo cho họ cơhội thực hiện được những mục tiêu của mình
Từ những phân tích trên, có thể mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo
và động cơ người thừa hành đều xuất phát ở điểm chung đó là mục tiêu của họ.Nhưng do vị trí, vai trò khác nhau nên mục tiêu của người lãnh đạo và mục tiêucủa người thừa hành cũng khác nhau Để phân biệt mục tiêu của người lãnh đạo
và mục tiêu của cấp dưới (người thừa hành) trong hoạt động của đơn vị, cần dựatrên các tiêu chí sau: đó là căn cứ đề ra mục tiêu, ý nghĩa của mục tiêu và mốiliên hệ giữa mục tiêu của lãnh đạo quản lý và mục tiêu của người thừa hành