1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu về công bố thông tin lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết ở việt nam

111 185 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 2,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì lẽ đó, tác giả chọn đề tài: “Nghiên cứu về CBTT về EPS trong BCTC của các CTNY ở Việt Nam” để thực hiện luận văn này với mong muốn đóng góp phần nào vào lĩnh vực nghiên cứu về CBTT tr

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LÊ THÙY TRANG

NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN LỢI NHUẬN TRÊN MỖI CỔ PHIẾU TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY

NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Đà Nẵng – Năm 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LÊ THÙY TRANG

NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN LỢI NHUẬN TRÊN MỖI CỔ PHIẾU TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY

NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Mã số: 60.34.03.01

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN HỮU CƯỜNG

Đà Nẵng - Năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Lê Thuỳ Trang

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục đề tài 3

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN LỢI NHUẬN TRÊN MỖI CỐ PHIẾU 6

1.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ LỢI NHUẬN TRÊN MỖI CỔ PHIẾU 6

1.1.1 Khái niệm về lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu 6

1.1.2 Khái niệm về công bố thông tin 6

1.1.3 Vai trò của công bố thông tin 6

1.1.4 Phân loại công bố thông tin 7

1.1.5 Quy định về công bố thông tin về lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu 8

1.1.6 Đo lường mức độ công bố thông tin 9

1.2 CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ LỢI NHUẬN TRÊN MỖI CỔ PHIẾU 10

1.2.1 Lý thuyết thông tin hữu ích 10

1.2.2 Lý thuyết tín hiệu 11

1.2.3 Lý thuyết đại diện 12

1.2.4 Lý thuyết kinh tế thông tin 12

Trang 5

1.2.5 Lý thuyết các bên liên quan 13

1.3 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ LỢI NHUẬN TRÊN MỖI CỔ PHIẾU 14

1.3.1 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân tố mức độ trì hoãn công bố báo cáo tài chính 14

1.3.2 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân tố đòn bẩy tài chính 15

1.3.3 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân tố khả năng sinh lời 15

1.3.4 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp 16

1.3.5 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của chủ thể kiểm toán 16

1.3.6 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân tố thời gian niêm yết của doanh nghiệp 17

1.3.7 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân tố quy mô doanh nghiệp 17 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 19

CHƯƠNG 2 : THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 20

2.1 XÂY DỰNG CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 20

2.1.1 Giả thuyết về mức độ trì hoãn công bố báo cáo tài chính 20

2.1.2 Giả thuyết về đòn bẩy tài chính 21

2.1.3 Giả thuyết về khả năng sinh lời 22

2.1.4 Giả thuyết về khả năng thanh toán nhanh 23

2.1.5 Giả thuyết về chủ thể kiểm toán 24

2.1.6 Giả thuyết về thời gian niêm yết 24

2.1.7 Giả thuyết về quy mô 25

2.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 26

Trang 6

2.2.1 Thiết lập mô hình nghiên cứu 26

2.2.2 Đo lường biến phụ thuộc 27

2.2.3 Đo lường biến độc lập 33

2.3 MẪU NGHIÊN CỨU 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 37

CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38

3.1 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ LỢI NHUẬN TRÊN MỖI CỔ PHIẾU 38

3.1.1 Mức độ công bố thông tin bắt buộc 38

3.1.2 Mức độ công bố thông tin tùy ý 51

3.1.3 Mức độ công bố thông tin tổng hợp 55

3.2 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ LỢI NHUẬN TRÊN MỖI CỔ PHIÊU 56

3.2.1 Đối với báo cáo tài chính năm 2016 56

3.2.2 Đối với báo cáo tài chính bán niên năm 2016 63

3.2.3 Đối với báo cáo tài chính quý 2 năm 2016 69

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 77

CHƯƠNG 4: HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KẾT LUẬN 78

4.1 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 78

4.1.1 Đối với đơn vị công bố thông tin 78

4.1.2 Đối với nhà nước 79

4.1.3 Hàm ý từ sự ảnh hưởng của chủ thể kiểm toán 81

4.1.4 Hàm ý từ sự ảnh hưởng của mức độ trì hoãn công bố BCTC 81

4.1.5 Hàm ý từ sự ảnh hưởng của quy mô DN 82

Trang 7

4.1.6 Hàm ý từ sự ảnh hưởng của khả năng sinh lời 82

4.2 KẾT LUẬN 82

4.2.1 Kết quả đạt được 82

4.2.2 Hạn chế của nghiên cứu 83

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

PHỤ LỤC I 92

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BCTC Báo cáo tài chính

CBTT Công bố thông tin

HNX Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hà Nội

HOSE Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh IAS Chuẩn mực kế toán Quốc tế

KQHĐKD Kết quả hoạt động kinh doanh

SGDCK Sở giao dịch chứng khoán

VAS Chuẩn mực kế toán Việt Nam

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Các chỉ mục và phương pháp chấm điểm để đo

lường sự công bố thông tin bắt buộc 28

2.2 Các chỉ mục và phương pháp chấm điểm để đo

lường sự công bố thông tin tùy ý 32 2.3 Bảng điểm đánh giá công bố thông tin tùy ý 33

3.1 Chi tiết mức độ CBTT bắt buộc trên BCTC năm

3.2 Chi tiết mức độ CBTT bắt buộc trên BCTC bán

3.3 Chi tiết mức độ CBTT bắt buộc trên BCTC quý 2

3.4 Tổng hợp mức độ CBTT bắt buộc trên BCTC

năm, BCTC bán niên, BCTC quý 2 năm 2016 50

3.5 Chi tiết mức độ CBTT tùy ý trên BCTC năm

Trang 10

Số hiệu bảng Tên bảng Trang

3.6 Chi tiết mức độ CBTT tùy ý trên BCTC bán niên

3.7 Chi tiết mức độ CBTT tùy ý trên BCTC quý 2

3.8 Tổng hợp mức độ CBTT tùy ý trên BCTC năm,

BCTC bán niên, BCTC quý 2 năm 2016 55

3.9 Tổng hợp mức độ CBTT chung trên BCTC năm,

BCTC bán niên, BCTC quý 2 năm 2016 56

3.10 Thống kê mô tả các biến độc lập trên BCTC năm

3.11 Kết quả hồi quy OLS mô hình 1a 59

3.12 Bảng phân tích tương quan giữa các biến độc lập

3.13 Kiểm định đa cộng tuyến trong mô hình 1a 60

3.14 Thống kê mô tả các biến độc lập trên BCTC bán

3.15 Kết quả hồi quy OLS mô hình 1b 65

Trang 11

Số hiệu bảng Tên bảng Trang

3.16 Kiểm định đa cộng tuyến trong mô hình 1b 66

3.17 Bảng kết quả thống kê sự ảnh hưởng của các nhân

tố đến mức độ CBTT về EPS trên BCTC bán niên 66

3.18 Thống kê mô tả các biến độc lập trên BCTC quý

3.19 Kết quả hồi quy OLS mô hình 1c 72

3.20 Bảng phân tích tương quan giữa các biến độc lập

3.21 Kiểm định đa cộng tuyến trong mô hình 1c 73

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công bố thông tin (CBTT) có thể làm giảm bất đối xứng thông tin, là phương tiện quan trọng để quản lý, để truyền đạt hiệu quả hoạt động và quản trị đến các nhà đầu tư bên ngoài (Nguyễn Hữu Cường, 2015)

Trong các thông tin được công bố trên báo cáo tài chính (BCTC) thì một trong những thông tin quan trọng nhất là lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS) EPS được sử dụng để đánh giá kết quả thực hiện của một công ty trong một khoảng thời gian nhất định và để so sánh hiệu suất của công ty với các công

ty khác Ngoài ra, EPS còn được dùng để tính toán tỷ suất lợi nhuận (PE), là chỉ tiêu được sử dụng rộng rãi như một tiêu chuẩn so sánh cho các quyết định đầu tư Tuỳ vào đối tượng sử dụng mà thông tin về EPS có ý nghĩa riêng, chẳng hạn như các nhà đầu tư, họ quan tâm đến tiền lãi mà họ nhận được khi mua cổ phiếu của công ty, EPS càng cao phản ánh năng lực kinh doanh của công ty càng mạnh, khả năng trả cổ tức là cao và giá cổ phiếu cũng có xu hướng tăng cao Đối với các tổ chức tín dụng, khi nhìn vào chỉ tiêu EPS họ có thể thấy được khả năng thu lợi nhuận của công ty là bao nhiêu, từ đó biết được công ty có khả năng trả nợ hay không mới ra quyết định cho vay EPS được công bố bắt buộc đối với tất cả các công ty cổ phần (CTCP) ở Việt Nam theo (Bộ Tài chính, 2014) Tại Việt Nam, các công ty niêm yết (CTNY) phải công bố chỉ tiêu EPS cơ bản và EPS pha loãng trong BCTC năm và BCTC giữa niên độ theo quy định tại chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 30 “Lãi trên cổ phiếu”, và chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 33 “Earnings per share”

Đa số các nghiên cứu về EPS trước đây chỉ đo lường ảnh hưởng của nhân tố EPS đến giá các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Kết

Trang 13

quả nghiên cứu cho thấy EPS có ảnh hưởng lớn đến giá của cổ phiếu và thị trường cổ phiếu rất nhạy cảm với EPS như các nghiên cứu của Al-Qenae và cộng sự (2002), Al-Tamimi và Hussein (2007), Trương Đông Lộc (2014) Các nghiên cứu trên không đo lường mức độ CBTT về EPS

Cho đến nay, các nghiên cứu về mức độ CBTT về EPS còn rất ít, chẳng hạn như nghiên cứu của Holgate và Kirby (1994) thực hiện tại Anh và Harrison và Morton (2010) thực hiện ở Úc Điểm chung của các nghiên cứu này

là ghi nhận được mức độ CBTT về EPS trên BCTC là rất thấp Ở nước ta, nghiên cứu của Nguyễn Hữu Cường (2015), đánh giá mức độ tuân thủ đối với yêu cầu CBTT trong BCTC giữa niên độ của các CTNY trên thị trường chứng khoán Việt Nam Ông đã chỉ ra được rằng CBTT về EPS còn thấp, đặc biệt là EPS pha loãng là một trong số các chỉ tiêu mà các CTNY thường ít công bố nhất hoặc công bố không đầy đủ Thực tiễn CBTT như vậy có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác nhau, tuy nhiên Nguyễn Hữu Cường (2015) không nghiên cứu vấn đề này và cũng chưa đi sâu khảo sát chi tiết mức độ CBTT về EPS

Cho đến thời điểm hiện tại, nghiên cứu đánh giá mức độ CBTT về EPS bởi các CTNY ở Việt Nam chưa được chú trọng Trong khi đó việc CBTT về chỉ tiêu này có ý nghĩa quan trọng Vì lẽ đó, tác giả chọn đề tài: “Nghiên cứu

về CBTT về EPS trong BCTC của các CTNY ở Việt Nam” để thực hiện luận văn này với mong muốn đóng góp phần nào vào lĩnh vực nghiên cứu về CBTT trên BCTC trên cơ sở cung cấp bằng chứng định lượng về mức độ CBTT về EPS và các nhân tố ảnh hưởng

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định mức độ tuân thủ CBTT về EPS (gồm cả EPS cơ bản và EPS pha loãng) trên BCTC năm và BCTC giữa niên độ của các CTNY trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 14

- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT về EPS trên BCTC năm và BCTC giữa niên độ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mức độ CBTT về EPS trên BCTC năm và BCTC giữa niên độ bởi các CTNY trên thị trường chứng khoán Việt Nam và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT này

- Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn trong phạm vi là các BCTC năm 2016 và BCTC bán niên năm 2016, BCTC quý 2 năm 2016 trên Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) Hà Nội và SGDCK thành phố Hồ Chí Minh

4 Phương pháp nghiên cứu

- Xác định mức độ CBTT bắt buộc và CBTT tùy ý bằng cách vận dụng phương pháp phân tích nội dung trên cơ sở xây dựng chỉ số CBTT dựa trên các chỉ mục thông tin Chỉ mục được thiết lập căn cứ vào những quy định về CBTT có liên quan Luận văn đo lường mức độ CBTT bắt buộc và CBTT tùy

ý trên BCTC năm, BCTC bán niên và BCTC quý 2 của các CTNY được khảo sát

- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT về EPS trên BCTC năm, BCTC bán niên, và BCTC quý 2 của các CTNY thông qua việc kiểm định mô hình hồi quy Trong đó, các biến độc lập được thu thập và tính toán dựa trên BCTC của các CTNY, biến phụ thuộc là mức độ CBTT về EPS Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS

Trang 15

Chương 2: Thiết kế nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 4: Hàm ý chính sách và kết luận

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Trên thế giới và tại Việt Nam hiện nay có nhiều nghiên cứu về EPS, tuy nhiên đa số các nghiên cứu này chỉ đề cập đến tính hữu dụng của EPS Một số nghiên cứu lại tập trung vào mối liên hệ giữa EPS và giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán (Đinh Bảo Ngọc và Nguyễn Chí Cường, 2014; Phạm Hồng Thái và Lê Dũng Hiệp, 2016)

Các nghiên cứu CBTT về EPS trên BCTC còn rất ít, chẳng hạn như nghiên cứu Holgate và Kirby (1994) thực hiện ở Anh, Harrison và Morton (2010) thực hiện ở Úc, hay gần đây nhất là một nghiên cứu có liên quan của Nguyễn Hữu Cường (2015)

Holgate và Kirby (1994) đã khảo sát các BCTC năm của 100 công ty tại Anh để đánh giá chuẩn mực báo cáo tài chính FRS (Financial Reporting Standard) 3 “Reporting Financial Performance”, có ảnh hưởng như thế nào đến việc CBTT về EPS của các công ty Kết quả nghiên cứu chỉ có 54 công ty CBTT

về EPS trong BCTC Nghiên cứu này sử dụng thống kê mô tả và chỉ dừng lại ở mức độ CBTT tự nguyện, không đánh giá mức độ CBTT bắt buộc

Còn ở Úc, Harrison và Morton (2010) nghiên cứu mức độ CBTT tự nguyện

về EPS trên BCTC năm Kết quả nghiên cứu ghi nhận được trong số 94 CTNY được khảo sát thì có 81% công ty công bố ít nhất một trong hai chỉ tiêu ESP (EPS cơ bản, EPS pha loãng) nhưng đại đa số là CBTT về EPS cơ bản và hầu hết các CTNY không công bố chi tiết về thông tin EPS

Tại Việt Nam, Nguyễn Hữu Cường (2015) đã nghiên cứu về mức độ tuân thủ đối với yêu cầu CBTT trong BCTC giữa niên độ của các CTNY trên

Trang 16

thị trường chứng khoán Việt Nam, nghiên cứu được thực hiện trên BCTC quý

2 năm 2012 và BCTC bán niên năm 2012 của 100 CTNY có giá trị vốn hóa thị trường lớn nhất ở Việt Nam tại thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2011 Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ yêu cầu trình bày chỉ tiêu EPS cơ bản trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (KQHĐKD) của các CTNY ở Việt Nam được khảo sát là khá cao: 99% đối với BCTC bán niên và 79% đối với BCTC quý 2, ngược lại mức độ tuân thủ CBTT đối với chỉ tiêu EPS pha loãng còn rất thấp: 28% đối với BCTC bán niên và 2% đối với BCTC quý 2 Nghiên cứu này tập trung vào CBTT bắt buộc và tùy ý trên BCTC giữa niên

độ, việc CBTT về EPS là một phần nhỏ trong nghiên cứu và trong nghiên cứu không đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến CBTT về EPS

Theo tìm hiểu của tác giả thì các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT về EPS trên BCTC ở Việt Nam hay ở các nước khác vẫn chưa có, trong khi đó EPS là chỉ tiêu rất quan trọng đối với các nhà đầu tư Tuy nhiên, có nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến CBTT trên BCTC của các CTNY như mức độ trì hoãn công bố BCTC, quy mô doanh nghiệp (DN), loại hình sở hữu có yếu tố nước ngoài, đòn bẩy nợ, lợi nhuận, khả năng thanh toán, tỷ suất sinh lời, kiểm toán độc lập, đặc điểm của hội đồng quản trị, thời gian niêm yết của DN (chẳng hạn như, Ngô Thu Giang, 2014; Nguyễn Thị Thu Hảo, 2015; Vũ Thị Mai Hương, 2017; Dương Ngọc Như Quỳnh, 2017; Nguyễn Hữu Cường và Lê Thị Bảo Ngọc, 2018)

Tóm lại, nghiên cứu trước đây tập trung vào sự ảnh hưởng của EPS đến giá cổ phiếu và các nhân tố ảnh hưởng đến CBTT trên BCTC của các CTNY, chưa có nghiên cứu nào đo lường mức độ CBTT về EPS trên BCTC và nhân

tố ảnh hưởng Vì vậy, việc thực hiện nghiên cứu về CBTT về EPS trong BCTC của các CTNY ở Việt Nam trong luận văn này hy vọng có được những đóng góp nhất định về học thuật cũng như thực tiễn

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN LỢI NHUẬN TRÊN MỖI CỐ PHIẾU 1.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ LỢI NHUẬN TRÊN MỖI CỔ PHIẾU

1.1.1 Khái niệm về lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu

Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu là phần lợi nhuận mà công ty phân bổ cho mỗi cổ phiếu phổ thông đang được lưu hành trên thị trường Tại Việt Nam, theo VAS 30 quy định EPS có hai loại gồm: EPS cơ bản và EPS pha loãng Trong đó, EPS cơ bản được tính bằng cách chia lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ (tử số) cho số lượng bình quân gia quyền của số cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ (mẫu số); Còn EPS pha loãng được tính bằng tỷ lệ giữa lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ và số bình quân gia quyền cổ phiếu phổ thông đang lưu hành đã được điều chỉnh do ảnh hưởng của các cổ phiếu phổ thông tiềm năng có tác động pha loãng

1.1.2 Khái niệm về công bố thông tin

Theo sổ tay CBTT dành cho CTNY của Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (2013), CBTT được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của DN nhằm bảo đảm các cổ đông và công chúng có thể tiếp cận thông tin CBTT kế toán là cung cấp thông tin thông qua hệ thống các BCTC của một công ty trong thời kỳ nhất định (bao gồm cả báo cáo giữa niên độ và báo cáo thường niên)

1.1.3 Vai trò của công bố thông tin

Việc CBTT đầy đủ và kịp thời sẽ làm gia tăng tính minh bạch và ảnh hưởng rất lớn đến hành vi của các nhà đầu tư, mức độ CBTT càng tốt càng

Trang 18

làm giảm tình trạng thông tin bất đối xứng giữa các nhà đầu tư và công ty, làm tăng giá trị và thanh khoản của cổ phiếu trên thị trường (Johansen và Plenborg, 2013) Ngược lại, việc CBTT không tốt có thể làm gia tăng chi phí vốn, dẫn đến việc phân bổ các nguồn vốn không hiệu quả (Albitar, 2015) Như vậy, có thể thấy CBTT không chỉ là nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo pháp luật, mà còn là quyền lợi của công ty trong việc nâng cao uy tín và hình ảnh trên thị trường, là cách thuyết phục hiệu quả nhất đối với nhà đầu tư, thể hiện tính chuyên nghiệp, tôn trọng cổ đông của công ty, là cơ sở để phát triển bền vững và tăng giá trị công ty

Mức độ CBTT của các DN được giải thích bởi nhiều lý thuyết khác nhau, nhưng điểm chung của các lý thuyết này là mức độ tuân thủ phụ thuộc vào sự cân nhắc chi phí – lợi ích liên quan đến thông tin được công bố (Depoers, 2000, Bellora và Guenther, 2013, được trích dẫn bởi Nguyễn Hữu Cường, 2015)

1.1.4 Phân loại công bố thông tin

 Phân loại theo yêu cầu công bố thông tin

- Thông tin bắt buộc: Thông tin phải công bố bắt buộc là các thông tin

mà các văn bản pháp luật có liên quan quy định các CTNY phải công bố theo quy định Thông tin bắt buộc phải công bố trên các BCTC được quy định tùy thuộc vào từng quốc gia và vùng lãnh thổ thông qua các hội nghề nghiệp hoặc các cơ quan quản lý nhà nước

- Thông tin tự nguyện: là các thông tin mà các CTNY tự nguyện công bố

để nhà đầu tư hiểu rõ hơn về tình hình hoạt động của công ty mà các công ty này không bắt buộc phải công bố theo quy định Thông tin tự nguyện công bố

bổ sung những thiếu hụt của thông tin bắt buộc nhằm thỏa mãn nhu cầu người

sử dụng Mức độ công bố những thông tin này tùy thuộc vào sự lựa chọn của

Trang 19

- Thông tin tùy ý: CBTT tùy ý là một trường hợp đặc biệt của CBTT bắt buộc CBTT tùy ý phát sinh khi những thông tin bắt buộc phải công bố theo quy định của pháp luật nhưng chưa được các văn bản pháp luật quy định chi tiết về chừng mực của thông tin được công bố nên DN có thể tùy ý điều chỉnh mức độ CBTT nhiều hay ít

 Phân loại thông tin theo tính chất định kỳ hoặc bất thường

- Thông tin định kỳ: Các thông tin công bố định kỳ thường là được công

bố trên BCTC năm và BCTC giữa niên độ

- Thông tin bất thường: Bao gồm CBTT bất thường theo quy định như tài khoản của công ty tại ngân hàng bị phong tỏa hoặc được phép hoạt động trở lại bình thường sau khi bị phong tỏa và CBTT khác phải công bố theo yêu cầu cầu của các SGDCK hay các co quan quản lý

 Phân loại thông tin theo mức độ xử lý

- Thông tin ban đầu: Là những BCTC do DN công bố trên thị trường

- Thông tin đã được xử lý: Là những thông tin được thống kê lại từ những thông tin ban đầu nhằm nhiều mục đích sử dụng khác nhau

1.1.5 Quy định về công bố thông tin về lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu

Hiện nay, việc CBTT về EPS trên BCTC tuân thủ theo quy định tại VAS

30 “Lãi trên cổ phiếu” (Bộ Tài Chính, 2005) VAS 30 quy định DN trình bày thông tin về EPS cơ bản và EPS pha loãng trên báo cáo KQHĐKD và trình bày trên bản thuyết minh BCTC Thông tin cơ bản cần công bố gồm lợi nhuận hoặc lỗ, số bình quân gia quyền cổ phiếu phổ thông để tính EPS cơ bản và EPS pha loãng, các công cụ có thể có tác động pha loãng EPS trong tương lai, các giao dịch cổ phiếu phổ thông hoặc giao dịch cổ phiếu phổ thông tiềm năng xảy ra sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm

Trang 20

VAS 27 “Báo cáo tài chính giữa niên độ” quy định EPS trước và sau ngày phân phối cần phải được trình bày trong báo cáo KQHĐKD đầy đủ hoặc

tóm lược của kỳ kế toán giữa niên độ Khuyến khích DN CBTT về EPS giống

như trong BCTC năm (Bộ Tài chính, 2005)

Ngoài các chuẩn mực kế toán trên, Chế độ kế toán cũng có yêu cầu về công bố EPS và hướng dẫn cách tính EPS cơ bản cũng như EPS pha loãng (Bộ Tài chính, 2014)

Các CTNY trên thị trường chứng khoán Việt Nam đều phải tuân thủ quy định về CBTT theo Thông tư 155/2015/TT-BTC về hướng dẫn CBTT trên thị trường chứng khoán (Bộ Tài chính, 2015) Các DN niêm yết phải trình bày thông tin về EPS trong báo cáo KQHĐKD và thuyết minh BCTC Cụ thể các

DN công bố chính sách kế toán áp dụng trong đó nêu rõ chỉ tiêu EPS được tính như thế nào, thông tin bổ sung cho chỉ tiêu EPS được trình bày trong báo cáo KQHĐKD

1.1.6 Đo lường mức độ công bố thông tin

Việc đo lường mức độ CBTT bằng thang đo do chính các nhà nghiên cứu xây dựng có thể được tiếp cận theo một trong hai cách: đo lường bằng thang đo không trọng số và ngược lại là đo lường bằng thang đo có trọng số

Đo lường bằng thang đo không trọng số: Trên cơ sở hệ thống các chỉ

mục thông tin đã được xây dựng, từng mục thông tin tương ứng trong BCTC được nghiên cứu sẽ được gán giá trị bằng một (1) nếu thông tin đó được công

bố, hoặc được gán giá trị bằng không (0) nếu thông tin đó không công bố Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn có thể quyết định không gán giá trị cho một mục tin được đánh giá nếu chắc chắn rằng đối với BCTC được khảo sát đó thì

mục tin này chắc chắn là không liên quan (not applicable) Như vậy, việc đo

lường CBTT theo phương pháp này chỉ dừng lại ở chừng mực ghi nhận có

Trang 21

hay không việc thông tin được trình bày trên BCTC được khảo sát và nhà nghiên cứu ngầm định tất cả các chỉ mục đều có tính quan trọng (tính hữu ích)

là như nhau

Đo lường bằng thang đo có trọng số: Khác với phương pháp đo lường

không trọng số, các mục tin trong phương pháp đo lường bằng thang đo có trọng số được đánh giá có tính hữu ích khác nhau đối với người sử dụng và do vậy được gán bởi các trọng số khác nhau khi đánh giá mức độ CBTT Chẳng hạn, nghiên cứu của (Urquiza và cộng sự, 2009) việc xác định mức độ CBTT được đánh giá theo nguyên tắc sau: mục tin công bố được gán giá trị bằng không (0) nếu không được công bố, bằng 0,5 nếu công bố là định tính hoặc bằng một (1) nếu công bố là định lượng Tuy nhiên, phương pháp này bị đánh giá là không chính xác vì việc đánh giá tầm quan trọng của khoản mục phụ thuộc vào nhận xét chủ quan của người nghiên cứu

1.2 CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ LỢI NHUẬN TRÊN MỖI CỔ PHIẾU

1.2.1 Lý thuyết thông tin hữu ích

Lý thuyết này hình thành trên cơ sở nghiên cứu của Staubus vào năm

1960 (Staubus, 2013) Đây là lý thuyết kế toán chuẩn tắc được sử dụng như một lý thuyết nền tảng để xây dựng khuôn mẫu lý thuyết kế toán hiện nay của chuẩn mực BCTC quốc tế và chuẩn mực của nhiều quốc gia Lý thuyết này nhấn mạnh nhiệm vụ cơ bản của BCTC là cung cấp thông tin hữu ích và thích hợp cho các đối tượng sử dụng trong việc ra quyết định kinh tế Giả thuyết cho việc chấp nhận cách tiếp cận ra quyết định trên cơ sở thông tin hữu ích của kế toán là về mặt lý thuyết, các BCTC được lập để phục vụ tốt hơn cho nhu cầu của người dùng Lý thuyết thông tin hữu ích cũng đề cập đến khái niệm cân bằng lợi ích – chi phí, là một khía cạnh quan trọng cần quan tâm khi thiết lập các chuẩn mực

Trang 22

Theo lý thuyết thông tin hữu ích, việc cung cấp thông tin qua các BCTC được xem như là quá trình cung cấp thông tin thích hợp cho các đối tượng sử dụng Vì vậy, tính hữu ích của thông tin được đánh giá cao qua khả năng đáp ứng cho các đối tượng sử dụng trong quá trình ra quyết định Áp dụng lý thuyết thông tin hữu ích có vai trò quan trọng trong việc đánh giá chất lượng thông tin BCTC mà các CTNY công bố Đối với các CTNY, nhà quản lý là người cung cấp thông tin, còn người sử dụng thông tin trên các BCTC phần lớn là các nhà đầu tư (xem Dương Ngọc Như Quỳnh, 2017)

Khi vận dụng lý thuyết này, các nhà nghiên cứu đã kiểm chứng sự ảnh hưởng của nhân tố chủ thể kiểm toán đến mức độ CBTT (chẳng hạn như Nguyễn Thị Phương Hồng, 2016)

1.2.2 Lý thuyết tín hiệu

Lý thuyết tín hiệu được phát triển bởi Michael Spence năm 1973, trong bối cảnh của thị trường lao động Ông phân tích bất đối xứng thông tin thông qua phân tích sự lựa chọn bất lợi trên thị trường lao động của các chủ DN, do người lao động có lợi thế thông tin hơn về bản thân người lao động và năng suất lao động tiềm năng (xem Nguyễn Hữu Cường, 2017)

Lý thuyết tín hiệu chỉ ra rằng do sự không đối xứng thông tin giữa công

ty và nhà đầu tư sẽ gây ra sự lựa chọn có hại cho nhà đầu tư Do đó, CBTT là một trong những công cụ mà các công ty dùng để tạo ra sự khác biệt về chất lượng hoạt động của công ty mình so với công ty khác CBTT là phát tín hiệu gửi ra thị trường cho người sử dụng BCTC, để họ có thể đánh giá tình hình hoạt động của DN một cách phù hợp (xem Nguyễn Thị Thu Hảo, 2015)

Lý thuyết tín hiệu giải thích các DN có khả năng sinh lời, khả năng thanh toán cao thì cổ phiếu càng hấp dẫn nhà đầu tư; và trong bố cảnh đó DN sẽ tiết

Trang 23

lộ thông tin nhiều hơn nhằm truyền tín hiệu đến các nhà đầu tư, cổ đông (Singhvi và Desai, 1971; Nguyễn Thị Phương Hồng, 2016)

1.2.3 Lý thuyết đại diện

Lý thuyết đại diện được phát triển bởi Jensen và Meckling năm 1976 (Nguyễn Hữu Cường, 2017), lý thuyết này nghiên cứu mối quan hệ giữa bên

ủy quyền và bên được ủy quyền Theo lý thuyết này thì chi phí đại diện và bất đối xứng thông tin phát sinh do sự tách rời giữa quyền sở hữu (nhà đầu tư) và quyền kiểm soát (nhà quản lý) Chi phí đại diện phát sinh khi ban giám đốc thực hiện những hoạt động nhằm mục đích mang lại lợi ích riêng cho họ thay

vì những hoạt động có lợi cho các cổ đông, thông qua việc điều chỉnh mức độ CBTT dẫn đến các quyết định của nhà đầu tư có thể bị ảnh hưởng

Áp dụng lý thuyết đại diện các nghiên cứu trước đã lý giải ảnh hưởng của các nhân tố khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính đến mức độ CBTT, có thể kể đến nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hảo (2015)

1.2.4 Lý thuyết kinh tế thông tin

Lý thuyết kinh tế thông tin đã được áp dụng từ những năm 1970 để đánh giá mức độ mà thị trường tài chính cũng như các tổ chức khác xử lý và truyền đạt thông tin Lý thuyết này được hình thành trên cơ sở của các nghiên cứu về

sự lựa chọn bất lợi trên thị trường sản phẩm do bên bán có thông tin nhiều hơn người mua, nghiên cứu về bất đối xứng thông tin thông qua phân tích sự lựa chọn bất lợi trên thị trường lao động của các chủ DN (Spence, 2002) Nghiên cứu bất đối xứng thông tin trên thị trường bảo hiểm, do người mua bảo hiểm có lợi thế thông tin hơn về những rủi ro tiềm ẩn của chính họ so với các DN bán bảo hiểm (xem Rothschild và Stiglitz, 1976)

Trang 24

Các nghiên cứu đã áp dụng lý thuyết kinh tế thông tin để cung cấp bằng chứng thực nghiệm rằng chiến lược CBTT của các DN là tuân thủ rất thấp đối với những khoản mục thông tin tốn kém cho dù thông tin này người sử dụng rất có nhu cầu, như thông tin về hợp nhất kinh doanh, các công cụ tài chính và các thử nghiệm về tổn thất tài sản (xem Nguyễn Hữu Cường, 2017) Cũng vận dụng lý thuyết kinh tế thông tin, theo nghiên cứu của Nguyen (2015) đã kiểm chứng ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ trì hoãn CBTT

1.2.5 Lý thuyết các bên liên quan

Lý thuyết các bên liên quan được hình thành trong nghiên cứu của Freeman (1984), đây là lý thuyết về quản trị tổ chức và đạo đức kinh doanh

Nó đề cập tới đạo đức và các giá trị trong quản trị tổ chức Trong lý thuyết này, khái niệm "các bên liên quan" là bất kỳ cá nhân hay nhóm người bị ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp bởi những hành động của tổ chức Lý thuyết các bên liên quan cho rằng, ngoài các cổ đông còn có các đối tượng khác có liên quan đến quá trình hoạt động DN bao gồm cơ quan chính phủ, các nhóm chính trị, các hiệp hội thương mại, công đoàn, cộng đồng, các công ty liên quan, khách hàng tiềm năng, và công chúng Từ quan điểm đạo đức, tổ chức

có nghĩa vụ phải đối xử công bằng giữa các bên liên quan Trong trường hợp, các bên liên quan xung đột lợi ích, DN phải có nghĩa vụ đạt được sự cân bằng tối ưu giữa chúng Từ quan điểm quản trị, vai trò quan trọng của quản lý là để đánh giá tầm quan trọng, của việc đáp ứng nhu cầu các bên liên quan để đạt được mục tiêu chiến lược của DN Do kỳ vọng và mối quan hệ quyền lực của các bên liên quan thì luôn thay đổi theo thời gian, nên tổ chức phải liên tục điều chỉnh các chiến lược điều hành và CBTT để đáp ứng nhu cầu của các bên liên quan Lý thuyết này được sử dụng để nghiên cứu, đánh giá nhóm nhân tố

áp lực từ phía các bên liên quan ảnh hưởng tới CBTT (Hoàng Thị Bích Ngọc,

2017)

Trang 25

1.3 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ LỢI NHUẬN TRÊN MỖI CỔ PHIẾU

Các nghiên cứu có liên quan đến việc kiểm chứng ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT về EPS trên BCTC còn khan hiếm nên luận văn có

đề cập đến các nghiên cứu về CBTT chung trong BCTC để làm cơ sở xây dựng các giả thuyết nghiên cứu ở chương tiếp theo

Các nhân tố thường được các nghiên cứu trước về CBTT trong BCTC gồm: mức độ trì hoãn việc công bố các BCTC, đòn bẩy tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán nhanh, chủ thể kiểm toán (soát xét) các BCTC, thời gian niêm yết của DN và quy mô DN

1.3.1 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân tố mức độ trì hoãn công bố báo cáo tài chính

Mức độ trì hoãn công bố BCTC được đo bằng tỉ lệ giữa độ trễ thực tế so với độ trễ lý thuyết Độ trễ thực tế là số ngày từ khi kết thúc kì kế toán (năm, giữa niên độ) đến khi SGDCK nhận được BCTC, còn độ trễ lý thuyết được quy định theo các văn bản pháp luật có liên quan (Nguyen, 2015)

Có rất ít bằng chứng thực nghiệm về mối liên hệ giữa mức độ trì hoãn và CBTT Chẳng hạn như Tower và cộng sự (1999), nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) ở sáu nước châu Á Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ ngược chiều giữa độ trể

về CBTT và mức độ CBTT trên BCTC năm của các CTNY Tuy nhiên, trong nghiên cứu trên thì độ trể thực tế là ngày kết thúc niên độ BCTC đến ngày BCTC được công bố, sự chênh lệch về độ trể thực tế so với thời gian quy định không được tính đến

Kết quả nghiên cứu của Nguyen (2015) cho thấy đối với CBTT trên BCTC giữa niên độ thì mức độ CBTT cao hơn ở các CTNY có thời gian phát

Trang 26

hành BCTC giữa niên độ ngắn hơn Các công ty có động cơ hơn trong việc cung cấp thông tin kịp thời cho người sử dụng, qua đó nâng cao chất lượng CBTT và nhận được nhiều lợi ích hơn

1.3.2 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân tố đòn bẩy tài chính

Các tài liệu hiện nay cung cấp các bằng chứng không nhất quán về mối liên hệ giữa đòn bẩy tài chính và CBTT Chẳng hạn như nghiên cứu của

Ahmed và Nicholls (1994), Tan và Tower (1999), Palmer (2008) thực hiện ở

Úc và Nguyen (2015) khảo sát tại bảy nước thuộc Châu Á – Thái Bình Dương

Theo Ahmed và Nicholls (được trích dẫn bởi Nguyễn Thị Thu Hảo, 2015) nghiên cứu này cho thấy mối liên hệ cùng chiều giữa đòn bẩy tài chính

và mức độ CBTT trong BCTC năm Palmer (2008), đã khảo sát mức độ tuân thủ chuẩn mực BCTC quốc tế (AASB) đối với 150 công ty tại Úc Kết quả chỉ

ra đòn bẩy tài chính có mối quan hệ tích cực với CBTT trên BCTC

Ngược lại, theo nghiên cứu của Tan và Tower (được trích dẫn bởi Nguyễn Thị Thu Hảo, 2015) lại cho thấy mối quan hệ ngược chiều Gần đây nhất trong lĩnh vực CBTT tùy ý trên BCTC giữa niên độ, nghiên cứu của Nguyen (2015) đã kết luận rằng không có sự liên quan giữa đòn bẩy tài chính

và mức độ CBTT tùy ý

1.3.3 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân tố khả năng sinh lời

Khả năng sinh lời của một DN được đánh giá, đo lường dựa trên chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) Chỉ số này là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy tạo ra bao nhiêu đồng lời ROE thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường, từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của công

ty nào

Trang 27

Về bằng chứng định lượng, đa số là các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra nhân tố khả năng sinh lời có tác động tích cực đến CBTT, chẳng hạn như nghiên cứu của Palmer (2008), Nguyễn Thị Thủy Hưởng (2014), hay Nguyễn Thị Thu Hảo (2015) Tuy nhiên, cũng có nghiên cứu chỉ ra mối liên hệ ngược chiều giữa khả năng sinh lời và mức độ CBTT như nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Phương (2013), hay Nguyen (2015) Hoặc có những nghiên cứu không tìm thấy được sự liên quan giữa khả năng sinh lời đến mức độ CBTT (Vũ Thị Mai Hương, 2017; Dương Ngọc Như Quỳnh, 2017)

1.3.4 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp

Khả năng thanh toán hay còn gọi là tính thanh khoản là khả năng đáp ứng tình hình nợ của DN trong ngắn hạn Tính thanh khoản được hiểu là việc chứng khoán hay các khoản nợ, các khoản phải thu có khả năng chuyển đổi thành tiền dễ dàng, thuận tiện cho việc chi tiêu hay thanh toán và thường được

đo lường bằng chỉ tiêu khả năng thanh toán hiện hành trong các nghiên cứu trước đây

Kết quả kiểm chứng mối quan hệ giữa tính thanh khoản và mức độ CBTT không đồng nhất ở các nghiên cứu trước Nghiên cứu của Singhvi và

Desai (1971); Nguyễn Thị Thủy Hưởng (2014); Nguyễn Thị Phương Hồng

(2016), đã tìm thấy mối quan hệ thuận chiều giữa tính thanh khoản và mức độ CBTT Ngược lại, nghiên cứu của Wallace và cộng sự (1994), Barako (2007), hay Nguyễn Hữu Cường và Lê Thị Bảo Ngọc (2018) lại tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa hai yếu tố này

1.3.5 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của chủ thể kiểm toán

Các nghiên cứu về sự ảnh hưởng của chủ thể kiểm toán đến mức độ CBTT và thường được kiểm chứng theo cách tiếp cận là BCTC được kiểm

Trang 28

toán (soát xét) bởi các công ty kiểm toán lớn có mức độ CBTT cao hơn các BCTC được kiểm toán (soát xét) bởi các công ty kiểm toán nhỏ hơn (Beattie

và cộng sự, 2004; Khlif và Souissi, 2010; Phạm Hồng Thái và Lê Dũng Hiệp, 2016) Tuy nhiên, vẫn có nghiên cứu kiểm chứng được chủ thể kiểm toán có ảnh hưởng ngược chiều đến mức độ CBTT trong BCTC (Nguyễn Hữu Cường

và Lê Thị Bảo Ngọc, 2018); hay chủ thể kiểm toán không có ảnh hưởng đến mức độ CBTT (như Phạm Thị Thu Đông, 2013)

1.3.6 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân tố thời gian niêm yết của doanh nghiệp

Thời gian niêm yết của DN có ảnh hưởng đến mức độ CBTT Thời gian niêm yết được tính từ lúc DN bắt đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán đến thời điểm nghiên cứu

Về bằng chứng định lượng, các nghiên cứu trước đây cung cấp bằng chứng không nhất quán về mối liên hệ giữa thời gian niêm yết của DN và mức độ CBTT Trong khi, một số nghiên cứu cho thấy sự tác động tích cực (Owusu-Ansah, 2005) thì vẫn có những nghiên cứu lại không tìm thấy mối liên hệ giữa thời gian niêm yết và mức độ CBTT (Phạm Thị Thu Đông, 2013; Nguyễn Hữu Cường và Lê Thị Bảo Ngọc, 2018)

1.3.7 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân tố quy mô doanh nghiệp

Các nghiên cứu về sự ảnh hưởng của quy mô DN đến mức độ CBTT thường đưa ra kết luận về sự ảnh hưởng cùng chiều của nhân tố này Chẳng hạn như, nghiên cứu của Jouini và cộng sự (2002) đã kết luận rằng quy mô công ty càng lớn thì mức độ CBTT trên BCTC năm càng cao (xem Nguyễn Trọng Nguyên, 2014) Gần đây nhất là nghiên cứu của Nguyễn Hữu Cường

và Lê Thị Bảo Ngọc, 2018) đã chỉ ra quy mô DN có ảnh hưởng tích cực đến

Trang 29

mức độ CBTT trên BCTC của các DN ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Ngược lại, nghiên cứu của Dương Ngọc Như

Quỳnh (2017) đã chỉ ra không có mối liên hệ nào giữa quy mô DN và mức độ CBTT tuỳ ý trên BCTC bán niên

Trang 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương này nêu những lý luận cơ bản về CBTT trên BCTC ở Việt Nam

từ việc giới thiệu nội dung, vai trò, quy định, đo lường CBTT về EPS trên BCTC Chương này cũng đã tóm tắt các lý thuyết có liên quan đến CBTT và thường được vận dụng để giải thích cho sự ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT trên BCTC Kết quả tổng hợp được từ các nghiên cứu trước về CBTT cho thấy các nhân tố thường được khảo sát gồm: mức độ trì hoãn việc công bố các BCTC, đòn bẩy tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán nhanh, chủ thể kiểm toán (soát xét) các BCTC, thời gian niêm yết của DN và quy mô DN Các lý thuyết và các nghiên cứu ảnh hưởng các nhân tố đến mức

độ CBTT trên BCTC này là cơ sở để xây dựng các giả thuyết nghiên cứu ở chương tiếp theo

Trang 31

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 2.1 XÂY DỰNG CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

2.1.1 Giả thuyết về mức độ trì hoãn công bố báo cáo tài chính

Mức độ trì hoãn công bố BCTC được đo bằng tỷ lệ giữa độ trễ thực tế và

độ trễ lý thuyết Thông tư 155/2015/TT-BTC (Bộ Tài chính, 2015) quy định

cụ thể về thời hạn các CTNY phải công bố BCTC tùy theo loại BCTC Đối với BCTC năm, thời hạn là trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tổ chức kiểm toán ký báo cáo kiểm toán nhưng không vượt quá 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính Đối với BCTC bán niên, đã được soát xét thời hạn là trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày tổ chức kiểm toán ký báo cáo soát xét nhưng không được vượt quá 45 ngày kể từ ngày kết thúc 6 tháng đầu năm tài chính Đối với BCTC quý thời hạn là 20 ngày kể từ ngày kết thúc quý, BCTC quý được soát xét (nếu có) trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày tổ chức kiểm toán ký báo cáo soát xét

Thông tư trên cũng quy định một số trường hợp được gia hạn, đối với BCTC năm không quá 100 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính, BCTC bán niên không quá 60 ngày kể từ ngày kết thúc 6 tháng đầu năm tài chính, BCTC quý không quá 30 ngày kể từ ngày kết thúc quý

Theo tìm hiểu của tác giả tuy chưa có nghiên cứu nào kiểm chứng về sự ảnh hưởng của mức độ trì hoãn công bố BCTC đến mức độ CBTT về EPS trong BCTC, nhưng có một số nghiên cứu đã thực hiện kiểm chứng mối liên

hệ giữa độ trễ về CBTT với mức độ CBTT được đặt ra trên cơ sở lý thuyết tính kinh tế của thông tin (chẳng hạn, Nguyen, 2015) Theo lý thuyết này, các nhà quản trị DN sẽ dựa trên sự cân nhắc về mối quan hệ giữa chi phí và lợi ích để quyết định về thời gian CBTT (liên quan đến độ trễ) và mức độ CBTT

Trang 32

chuẩn bị BCTC giữa niên độ có thêm thời gian để chuẩn bị BCTC, điều này

có thể giúp gia tăng mức độ CBTT trên BCTC Tuy nhiên, việc CBTT kịp thời lại là một trong những chỉ tiêu liên quan đến chất lượng CBTT trên BCTC Bởi vì, đối với những bên liên quan trên thị trường chứng khoán việc nắm thông tin kịp thời là điều cực kì quan trọng, giúp họ đưa ra những quyết định tốt hơn (Aktas và Kargin, 2011) Ngược lại, cũng có ý kiến cho rằng các nhà quản lý cố tình trì hoãn CBTT bất lợi để có nhiều thời gian để hoàn thành các cuộc đàm phán hợp đồng theo những điều kiện khoản thuận lợi của họ (Verrecchia, 1983)

Nguyễn Thị Phương Hồng (2016) đã kiểm chứng được mức độ trì hoãn của BCTC có tác động thuận chiều đến chất lượng BCTC Trong khi đó, Nguyen (2015) nghiên cứu về sự ảnh hưởng của nhân tố này đến mức độ CBTT trên BCTC dựa trên cơ sở lý thuyết kinh tế thông tin Kết quả nghiên cứu cho thấy tính kịp thời của việc CBTT có liên quan tích cực với mức độ CBTT, các công ty dành thời gian lâu hơn để phát hành BCTC có thể tiết lộ ít thông tin hơn Dương Ngọc Như Quỳnh (2017) đã ghi nhận không có mối liên hệ giữa mức độ trì hoãn của BCTC giữa niên độ và mức độ CBTT tùy ý trên BCTC giữa niên độ

Vận dụng lý thuyết kinh tế thông tin và trên cơ sở các nghiên cứu trước, luận văn này dự đoán không có mối liên hệ nào giữa độ trễ của BCTC và mức

độ CBTT về EPS Theo đó, giả thuyết thứ nhất (H1) được đặt ra là:

độ CBTT về EPS trên BCTC của các DN

2.1.2 Giả thuyết về đòn bẩy tài chính

Lý thuyết đại diện hàm ý rằng các công ty có lợi nhuận cao thì có chi phí đại diện cao Với sự gia tăng của đòn bẩy tài chính, các công ty có nhiều động

Trang 33

lực để công bố thêm thông tin cho bên ngoài nhằm giảm chi phí giám sát và chi phí đại diện Tuy chưa có nghiên cứu nào kiểm chứng mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và BCTT về EPS trên BCTC, nhưng đã có nhiều nghiên cứu trước đây chỉ ra mối quan hệ thuận chiều của đòn bẩy tài chính và CBTT chung (Ahmed và Nicholls, 1994; Ahmed và Courtis, 1999) Ngược lại, theo nghiên cứu của Tan và Tower (được trích dẫn bởi Nguyễn Thị Thu Hảo, 2015) lại cho thấy mối quan hệ ngược chiều Gần đây nhất là nghiên cứu của Nguyen (2015) nghiên cứu mức độ CBTT tùy ý trên BCTC giữa niên độ ở các nước thuộc khu vực châu Á – Thái Bình Dương đã kết luận rằng không có

sự liên quan giữa đòn bẩy tài chính và mức độ CBTT tùy ý

Vận dụng lý thuyết đại diện và trên cơ sở các nghiên cứu trước, luận văn này dự đoán rằng các CTNY có đòn bẩy tài chính càng cao thì càng tích cực CBTT về EPS trên BCTC để cũng cố niềm tin của các chủ nợ, điều này làm giảm chi phí giám sát và giảm bớt khả năng khoản nợ bị thu hồi Theo đó, giả

thuyết thứ hai (H 2 ) được đặt ra là:

H 2 - DN có đòn bẩy tài chính càng lớn thì mức độ CBTT về EPS trên

BCTC càng cao

2.1.3 Giả thuyết về khả năng sinh lời

Sự ảnh hưởng của nhân tố này đến mức độ CBTT trên BCTC được lý giải dựa trên lý thuyết tín hiệu Phần lớn các nghiên cứu trước cho rằng công

ty có khả năng sinh lời cao thường có động cơ CBTT nhiều hơn, như một tín hiệu tốt để thu hút nhiều nhà đầu tư, tạo ra sự khác biệt với các công ty khác, nâng cao giá trị của công ty và kết luận rằng khả năng sinh lời có ảnh hưởng tích cực đến CBTT, điển hình là nghiên cứu của Singhvi và Desai (1971) Ngược lại, nghiên cứu của Nguyen (2015) dựa trên lý thuyết kinh tế thông tin lại kiểm chứng được mối liên hệ ngược chiều

Trang 34

Theo tìm hiểu của tác giả, chưa có nghiên cứu nào trước đây kiểm chứng ảnh hưởng của nhân tố khả năng sinh lời đến CBTT về EPS trên BCTC Tuy nhiên, vận dụng lý thuyết kinh tế thông tin và thống nhất với phần lớn các nghiên cứu trước đây trong lĩnh vực CBTT chung, luận văn này dự đoán rằng các CTNY có khả năng sinh lời cao thì sẽ cung cấp thông tin EPS trên BCTC đầy đủ và chi tiết hơn để đem lại nhiều lợi ích hơn là chi phí Theo đó, giả

thuyết thứ ba (H3) được đặt ra là:

BCTC càng cao

2.1.4 Giả thuyết về khả năng thanh toán nhanh

Giả thuyết này được đặt ra dựa trên lý thuyết tín hiệu Các nghiên cứu trước đây cho rằng khả năng thanh toán nhanh càng cao, DN càng tích cực CBTT trên BCTC năm để chứng minh tình trạng hoạt động tốt của DN mình, đồng thời cũng để phát tín hiệu tốt cho các nhà đầu tư trên thị trường (Singhvi

và Desai, 1971, Nguyễn Thị Phương Hồng, 2016, v.v) Ngược lại, cũng có ý kiến cho rằng các DN có khả năng thanh toán thấp có thể tăng cường CBTT

để cho những cổ đông, nhà quản lý bớt lo lắng (Wallacen và cộng sự, 1994; Barako, 2007)

Theo tìm hiểu của tác giả thì đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào kiểm chứng ảnh hưởng của nhân tố khả năng thanh toán nhanh đến mức độ CBTT

về EPS trên BCTC Mặc dù vậy, vận dụng lý thuyết tín hiệu cũng như thừa kế các nghiên cứu trước trong lĩnh vực CBTT chung, luận văn này dự đoán rằng khả năng thanh toán nhanh có tác động cùng chiều đến mức độ CBTT trên

BCTC Theo đó, giả thuyết thứ tư (H4) được đặt ra là:

EPS trên BCTC càng cao

Trang 35

2.1.5 Giả thuyết về chủ thể kiểm toán

Theo lý thuyết tín hiệu, khi công ty được kiểm toán bởi chủ thể kiểm toán uy tín thì các thông tin phản ánh trong BCTC của công ty đó được cho là đáng tin cậy và được các nhà đầu tư quan tâm hơn Các công ty lựa chọn các công ty kiểm toán có uy tín để thực hiện kiểm toán độc lập là những đơn vị coi trọng tính chính xác và minh bạch của thông tin Các nghiên cứu trước đây cho thấy có mối liên hệ giữa quy mô DN kiểm toán và CBTT của công ty (Singhvi và Desai, 1971; DeAngelo, 1981b; Ahmed và Nicholls, 1994)

Vận dụng lý thuyết tín hiệu và trên cơ sở thừa kế các nghiên cứu trước đây về CBTT chung luận văn này dự đoán rằng các CTNY có BCTC năm được kiểm toán, BCTC giữa niên độ được soát xét bởi những công ty kiểm toán lớn thì mức độ CBTT về EPS trên BCTC sẽ cao hơn các CTNY được kiểm toán (soát xét) bởi công ty kiểm toán nhỏ Theo đó, giả thuyết thứ năm

(H5) được đặt ra là:

2.1.6 Giả thuyết về thời gian niêm yết

Theo lý thuyết tín hiệu, một DN càng trẻ có thể chịu một bất lợi cạnh tranh càng lớn nếu nó công bố các thông tin về chi phí nghiên cứu và phát triển, chi phí vốn và chi phí phát triển sản phẩm mới Ngược lại, DN càng lâu năm có thể càng có thêm động lực để công bố các thông tin như vậy vì việc CBTT ít có khả năng làm tổn hại đến vị thế cạnh tranh của các đơn vị này Các DN lâu năm cũng được cho là có năng lực hơn và đã thiết lập được một

hệ thống báo cáo tốt hơn Điều này có thể lý giải được việc CBTT đầy đủ đối với họ là ít tốn kém

Trang 36

Ngoài ra, chi phí thu thập, xử lý và CBTT bắt buộc cũng có thể là một gánh nặng đối với DN trẻ Đồng thời, các DN này cũng thường ít có động cơ

để công bố nhiều thông tin, bởi vì các DN này chưa có nhiều danh tiếng trên thị trường nên việc công bố nhiều thông tin có thể ảnh hưởng tiêu cực đến vị thế cạnh tranh của họ Các nghiên cứu trước đây đã chứng minh rằng thời gian niêm yết của DN tác động tích cực đến mức độ CBTT (Owusu-Ansah,

2005)

Vận dụng lý thuyết đại diện và trên cơ sở thừa kế các nghiên cứu trước đây trong lĩnh vực CBTT chung, luận văn này cũng dự đoán rằng thời gian niêm yết càng dài thì mức độ CBTT về EPS trên BCTC càng cao Theo đó,

giả thuyết thứ sáu (H 6) được đặt ra là:

EPS càng cao

2.1.7 Giả thuyết về quy mô

Quy mô của DN có ảnh hưởng đến mức độ CBTT của DN thường được giải thích trên cơ sở lý thuyết tín hiệu, lý thuyết đại diện và lý thuyết chi phí chính trị Theo Watts và Zimmerman (1978) được trích dẫn bởi Nguyễn Hữu Cường và Lê Thị Bảo Ngọc (2018), thì các DN có quy mô lớn thường tự tin hơn về triển vọng phát triển của mình Do đó, họ thường sẵn sàng giao tiếp với các nhà đầu tư thông qua hình thức công bố thêm nhiều thông tin tự nguyện nhằm phân biệt với các DN khác và làm tăng giá trị của DN, tăng sự tin cậy và giảm chi phí chính trị của mình

Dù nghiên cứu tác động của nhân tố quy mô theo thang đo nào (tài sản, vốn hoá thị trường hay doanh thu) thì phần lớn các nghiên cứu trước đây đều cho thấy quy mô của DN có tác động tích cực đến mức độ CBTT trên BCTC

Trang 37

(Singhvi và Desai, 1971; Phạm Thị Thu Đông, 2013; Nguyễn Hữu Cường và

2.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thiết lập mô hình nghiên cứu

Để trả lời cho câu hỏi nhân tố nào ảnh hưởng đến mức độ CBTT về EPS trên BCTC năm, BCTC bán niên, BCTC quý 2, luận văn xây dựng mô hình sau để kiểm định các giả thuyết đã đặt ra

Mô hình này dùng để kiểm chứng sự ảnh hưởng của các nhân tố đối với mức độ CBTT về EPS và lần lượt được kiểm định đối với các biến tương ứng

với BCTC năm (mô hình 1a), BCTC bán niên (mô hình 1b), và BCTC quý 2

(mô hình 1c) của các CTNY tại Việt Nam năm 2016

Trong đó:

ADi : Mức độ CBTT tổng hợp trên BCTC của CTNYi, (ADi = MDi

+ DDi)

MDi : Mức độ CBTT bắt buộc trên BCTC của CTNYi

DDi : Mức độ CBTT tùy ý trên BCTC của CTNYi

THi : Mức độ trì hoãn công bố BCTC của CTNYi

(Mô hình 1)

Trang 38

KNSLi : Khả năng sinh lời của CTNYi

TTi : Khả năng thanh toán nhanh của CTNYi

KTi : Chủ thể kiểm toán thực hiện kiểm toán (soát xét) BCTC của

CTNYi

NYi : Thời gian niêm yết của CTNYi

QMi : Quy mô của CTNYi

β0; β1; β2; β3; β4; β5; β6; β7: là các hệ số hồi quy;  là sai số ngẫu nhiên

Hiện tại ở Việt Nam không có quy định bắt buộc về việc soát xét các

BCTC quý, nên mô hình 1c sẽ không có biến KT

2.2.2 Đo lường biến phụ thuộc

Bước 1 Xây dựng hệ thống các chỉ mục để đánh giá mức độ công bố thông tin bắt buộc

Để đo lường mức độ CBTT bắt buộc, các nhà nghiên cứu có thể tiếp cận theo phương pháp không trọng số hay có trọng số Trong luận văn này, vì tính chất của các mục tin được sử dụng để đo lường mức độ CBTT về EPS ít thể hiện sự khác biệt về tính hữu ích đối với người sử dụng nên phương pháp đo lường không trọng số được sử dụng Theo đó, từng khoản mục bắt buộc phải CBTT trên BCTC sẽ được gán điểm một nếu có công bố trên BCTC theo quy định và được gán điểm không nếu không được công bố Ngoài ra, hai giá trị

này ra, giá trị NA (not applicable – không có liên quan) được gán cho những

mục tin hiển nhiên không có liên quan đến đơn vị lập BCTC

Hệ thống chỉ mục được sử dụng để đánh giá mức độ CBTT về EPS trong BCTC của các CTNY ở Việt Nam được tác giả thiết lập căn cứ vào những quy định bắt buộc về CBTT quy định tại Thông tư 200/2014/TT-BTC (Bộ Tài

Trang 39

chính, 2014) và Thông tư số 155/2015/TT-BTC (Bộ Tài chính, 2015) gồm có

19 chỉ mục (xem Bảng 2.1)

Bảng 2.1 Các chỉ mục và phương pháp chấm điểm để đo lường sự công bố

thông tin bắt buộc

Lợi nhuận (lỗ) phân bổ cho cổ

đông sở hữu cổ phiếu phổ

md 6 Công bố khoản lợi nhuận pha

loãng trên cổ phiếu 1/0/NA

Khoản 3.20, Điều 113,

TT 200/2014/TT-BTC

Lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho

cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ

thông dùng để tính EPS pha

loãng

1/0/NA

Khoản 3.20, Điều 113, Thông tư 200/2014/TT-BTC

Trang 40

Điểm l, Khoản 1, Điều

9, TT BTC

Điểm k, Khoản 1, Điều

9, TT BTC

Điểm d, Khoản 1, Điều

9, TT BTC

Điểm d, Khoản 1, Điều

9, TT BTC

Điểm đ, Khoản 1, Điều

9, TT BTC

Điểm đ, Khoản 1, Điều

9, Thông tư 155/2015/TT-BTC

md 15 Trả cổ tức bằng cổ phiếu 1/0/NA

Điểm đ, Khoản 1, Điều

9, Thông tư 155/2015/TT-BTC

Chuyển đổi cổ phiếu ưu đãi

sang cổ phiếu phổ thông 1/0/NA

Điểm l, Khoản 1, Điều

9, Thông tư 155/2015/TT-BTC

Ngày đăng: 16/09/2018, 12:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w