1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhân vật trong truyện ngắn Lý Biên Cương

92 216 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 799,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc khám phá toàn diện những vấn đề về nhân vật trong truyện ngắn của một nhà văn có sự nghiệp sáng tác trải dài từ thời kì kháng chiến chống Mỹ đến nay là không hề dễ dàng. Hơn thế, nghiên cứu văn học luôn đòi hỏi nhiều cách tiếp cận, khám phá và đánh giá theo nhiều chiều kích. Để ngày càng giúp người đọc có cái nhìn thấu đáo hơn, hiểu sâu hơn và đánh giá chính xác hơn về truyện ngắn Lý Biên Cương cũng như vị trí của ông trên văn đàn Việt Nam, những gì chúng tôi vừa trình bày chỉ là những nỗ lực ban đầu; có thể và cần phải tiếp tục tìm hiểu nhiều vấn đề, phương diện khác, chẳng hạn: nghệ thuật trần thuật, thời gian và không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Lý Biên Cương… mới có thể khai thác, đánh giá hết về những thành tựu nghệ thuật và đóng góp của ông cho nền văn học Việt Nam hiện đại. Những vấn đề đó, chúng tôi sẽ tiếp tục giành nhiều thời gian hơn nữa để tìm hiểu khi có điều kiện.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Tr-ờng đại học s- phạm hà nội

-  -

NGUYỄN MINH HOAN

NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN

Lí BIấN CƯƠNG

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyờn ngành: Lý luận Văn học

Mó số: 60.22.32

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phựng Ngọc Kiếm

Hà Nội - 2014

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 Nhà văn, nhà báo Lý Biên Cương cả một đời đã gắn bó ân tình sâu nặng với con người và vùng đất mỏ Quảng Ninh Ông đi nhiều nơi, viết về nhiều vùng đất nhưng trong sáng tác của ông, nổi bật nhất, tiêu biểu nhất luôn là những tác phẩm viết về vùng than và người thợ mỏ Cùng với các nhà văn Võ Huy Tâm, Tô Ngọc Hiến, Sỹ Hồng, Võ Khắc Nghiêm, Nguyễn Đức Huệ, Dương Hướng, Hoàng Văn Lương, Nguyễn Sơn Hà, Nam Ninh, Phan Thanh…

Lý Biên Cương đã có những đóng góp lớn trong việc sáng tạo những bức tranh nghệ thuật đa chiều, đa màu sắc về con người và vùng đất lắm cơ cực, nhọc nhằn mà cũng tiềm ẩn bao vẻ đẹp rạng ngời

Một đời cầm bút, với hơn 40 đầu sách được xuất bản, Lý Biên Cương đã vinh dự nhận được nhiều giải thưởng văn học: Bốn giải thưởng của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, giải thưởng của tạp chí Nhà văn – Hội nhà văn, hai giải thưởng cuộc thi truyện ngắn của báo Văn nghệ, sáu giải thưởng của Văn nghệ Hạ Long… Lý Biên Cương xứng đáng được gọi là nhà văn của đất mỏ, và hơn thế, ông xứng đáng là một cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại

Lý Biên Cương viết nhiều thể loại: Tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, tản văn…

nhưng thành công nhất chính là truyện ngắn Chính thể loại này đã khẳng định

vị trí của ông trên văn đàn cả nước, tạo nên và định hình một lối viết riêng, một phong cách nghệ thuật riêng Và như nhiều ý kiến nhận xét: Truyện ngắn của

Lý Biên Cương đặc sắc từ cách đặt nhan đề đến cách dùng từ, cách lựa chọn và miêu tả từng chi tiết, đặc biệt là nghệ thuật xây dựng, phân tích tâm lý, khắc họa tính cách nhân vật

Việc nghiên cứu, tìm hiểu tác phẩm của Lý Biên Cương, nhất là ở thể loại truyện ngắn sẽ giúp chúng ta hiểu hơn về tác phẩm và văn nghiệp của ông, về văn học đất mỏ nói riêng, văn học Việt Nam hiện đại nói chung

1.2 “Nhân vật” là một trong những khái niệm, vấn đề lý luận văn học quan trọng Nhân vật là phương tiện cơ bản để nhà văn thể hiện nhận thức cũng như

tư tưởng, tình cảm và quan niệm của mình về con người và thế giới xung quanh Nghiên cứu về nhân vật trong tác phẩm chính là đi sâu vào thế giới tư tưởng, tình cảm, quan niệm nghệ thuật của nhà văn; có thể đánh giá được những đóng góp của nhà văn cho nền văn học nghệ thuật Với các tác phẩm thuộc loại tự sự, nhân vật là trung tâm bức tranh thế giới nghệ thuật, là yếu tố quyết định giúp chúng ta hiểu các giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm Tìm hiểu “Nhân vật trong truyện ngắn Lý Biên Cương” là một dịp để chúng tôi hiểu kĩ, hiểu sâu hơn những khía cạnh lí thuyết về “nhân vật văn học”, đồng thời rèn luyện, nâng cao

kĩ năng vận dụng những tri thức lý luận trong nghiên cứu văn học

Trang 3

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Lý Biên Cương thầm lặng và cần mẫn như người thợ mỏ không ngại nhọc nhằn, rèn luyện và cống hiến những tài hoa, tinh tế, phát hiện và trân trọng, tôn

vinh những hòn “Than con gái” óng ánh giữa bụi mù nắng cháy hay bùn nhão

mưa tuôn Từ những năm 60 của thế kỉ XX đến nay, những tác phẩm của ông mang ngọn lửa thắp sáng biết bao trái tim, sưởi ấm biết bao tâm hồn bạn đọc, nhất là ở vùng mỏ Dù vậy, dường như Lý Biên Cương vẫn chưa được nhiều nhà nghiên cứu - phê bình văn học chú ý, nghiên cứu Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi đã cố gắng truy cầu, tìm kiếm tài liệu về những kiến giải, nhìn nhận, đánh giá của các nhà nghiên cứu về Lý Biên Cương, nhưng chỉ gặp được một số bài viết về chân dung, cuộc đời ông của các nhà văn Dương Hướng, Trần Chiểu… và một số bài viết mang tính tổng kết về cuộc đời lao động nghệ thuật của ông trên các báo: Quảng Ninh, Hải Dương, Lao Động, Văn nghệ, tạp chí Nhà Văn, tạp chí Sông Hương và một số trang mạng… Những bài viết mang

tính nghiên cứu, liên quan đến đề tài chúng tôi thực hiện là: “Điểm nhìn trần

thuật trong truyện Lý Biên Cương” của Thạc sĩ Văn học Hoàng Thị Khuyên;

và “Chất thơ trong truyện ngắn Lý Biên Cương” của Phạm Văn Học

Trong quá trình nghiên cứu về các vấn đề truyện ngắn nói chung và nhân vật trong truyện ngắn nói riêng, có thể kể đến một số công trình khoa học tiêu

biểu: Truyện ngắn Việt Nam 1930 -1945 của Nguyễn Hoành Khung, Bùi Hiển, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Đức Nam (NXB Giáo dục, 2008); Lý luận văn

học, tập 2 - Trần Đình Sử, Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam (NXB Giáo dục,

1987); Nghệ thuật viết truyện ngắn và ký - nhiều tác giả (NXB Thanh niên, 2000); Bình luận truyện ngắn - Bùi Việt Thắng (NXB Văn học, 1999); Vương Trí Nhàn - Sổ tay người viết truyện ngắn (NXB Hội nhà văn, 1980); và Truyện

ngắn những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại, (NXB Đại học Quốc gia, Hà

Nội, 2000)… Con người trong mối quan hệ đời sống trong truyện ngắn 1986

– 2000 của Trần Văn Thắng (Tạp chí khoa học xã hội số 12 – 2012)…

Các bài viết “Lý Biên Cương như tôi biết” của nhà văn Trần Chiểu (2005),

“Lý Biên Cương thăm thẳm đường đời”, “Nhà văn Lý Biên Cương: Đoạn trường ai có qua cầu mới hay” của nhà văn Dương Hướng (2009)… mang đến

những thông tin thú vị về cuộc đời, con người cũng như quan niệm nghệ thuật của Lý Biên Cương

Trong bài viết “Lý Biên Cương như tôi biết”, nhà văn Trần Chiểu kể lại

một câu chuyện, một kỉ niệm đẹp trong cuộc đời làm báo, về lbc với tư cách một

nhà báo nhưng cũng là những phẩm chất đáng quý của con người ông “Những

trang viết đầy ắp tình người lần lượt ra mắt độc giả Anh trở thành nhà báo sung mãn, một cây bút sắc sảo từ ấy Lý Biên Cương đăng bài nào là bài ấy có tiếng vang trong công chúng Anh sớm có vị trí trên mặt báo lúc bấy giờ Ở đâu anh cũng được mọi người chú ý và tỏ ra mến mộ Người ta mời anh về giới thiệu anh với các điển hình tiên tiến Nghĩa là Lý Biên Cương chứng minh cho Chủ

Trang 4

nhiệm báo biết mình là một nhà báo đích thực, một nhà báo có tài Hồi ấy ở xã Liên Vị có chuyện một “cán bộ tư pháp 27 tuổi bắt dân gọi bằng ông” Tòa soạn

cử anh về nơi có ông “con giời” ấy Một tuần sau Trên mặt báo có bài ca dao phê phán.Chuyện đâu có chuyện nực cười/ mới hai bẩy tuổi bắt người gọi ông/ việc cần phải đến cửa công/ mà gọi bằng bác là không ổn rồi/ ra đường chậm hỏi chậm mời/ lấy danh tư pháp lệnh đòi dân lên/ về tội coi nhẹ chính quyền / bắt làm kiểm điểm đi đền dân công/ huyện Yên Hưng có biết không/ ở xã Liên Vị

có ông lộng quyền

Báo về đến xã lập tức bị thu hồi Ban Biên tập phái phóng viên xuống làm

rõ tính chất nghiêm trọng của hành vi này Ông “con giời” nọ bị cảnh cáo, tuột khỏi vị trí ông đang nắm giữ Lý Biên Cương cũng không quản khó khăn, dám xông vào những chỗ “xương xẩu” cản trở bước tiến trong ngành than Vấn đề năng suất máy xúc: “Xúc đầy, xúc vơi” Lý Biên Cương phanh phui ra, gây dư

luận khá tốt trong công chúng bạn đọc” (Phongdiep.net,) Dám nhìn vào sự

thật, dám phản ánh sự thật dù nó có động chạm đến những con người, những vấn đề “nhạy cảm” - Đó phải chăng là phẩm chất cần của một người nghệ sĩ chân chính?

Không chỉ là bài viết cảm nhận mà với tư cách một đồng nghiệp, một nhà văn có thể gọi là “kế cận”, Dương Hướng vừa nhận định về phong cách nghệ

thuật và tổng kết chặng đường sáng tác của Lý Biên Cương như sau: “Văn là

đời, câu nói đó rất đúng với cuộc đời và văn chương sự nghiệp của nhà văn Lý Biên Cương Hãy đọc tên các tác phẩm (những đứa con tinh thần) của ông ta cảm nhận như thể số trời đã định Âm vang của ngôn từ nghĩa ngữ cứ bám riết vào từng đoạn đường đời thăm thẳm nỗi gian truân của ông Nó vận vào ông, hay ông vận vào nó?

Nhưng với ông, nó ám ảnh mãi, nó mê hoặc, nó đeo đuổi suốt cuộc đời ông- cả vinh quang và cay đắng, cả niềm vui nỗi buồn, cả khát khao trống vắng,

cả cô đơn và đau đớn Mỗi câu mỗi chữ đều gợi lên ý tứ sâu sắc, và những nỗi buồn man mác Nào là: "Câu chuyện ngắn về con đường dài"- đây là tên tác phẩm viết về than khi đường đời ông đi còn dài dằng dặc.Với truyện ngắn "Que diêm liều mình thắp sáng" tên truyện đầy tính triết luận Đời người ta có lúc cô đơn tăm tối, khao khát được phút lóe sáng, cũng phải dấn thân, cũng phải cháy hết mình cho dù chỉ trong khoảnh khắc rồi tắt lịm, rồi tan tành thành tro bụi Và sau đó như thể trời phú cho ông có được sức sống mãnh liệt, niềm đam mê, ông

đã gặt hái thành công trên mọi phương diện Đây là thời kỳ sung mãn nhất của nhà văn Lý Biên Cương Ông cho ra mắt bạn đọc tác phẩm "Quả trong lòng tay"- như báo hiệu một niềm vui tròn đầy no đủ ông đã có chắc chắn trong lòng tay Để rồi sau đó liên tiếp ông cho ra đời những tác phẩm "phù du", "Kiếp đàn ông", "Mười hai bến nước" Và như thể định mệnh xui khiến, cuối đời ông gặp được một người đàn bà thật "đặc biêt" để rồi ông lại có được tác phẩm mang tên "Người đàn bà ngang qua đời tôi" ghi đậm dấu ấn cả văn chương lẫn cuộc đời Có lẽ sự nghiệp sáng tác của Lý Biên Cương, truyện vừa "Người đàn bà

Trang 5

ngang qua đời tôi" là tác phẩm hay nhất của ông Nó vừa đam mê đắm đuối, vừa đớn đau xa xót, như chắt ra từ máu thịt con người ông - càng cuồng nhiệt

đam mê lắm, càng đau đớn xót xa nhiều ” (Lý Biên Cương thăm thẳm đường

đời- http://duonghuongqn.vnweblogs.com - Ngày 1/11/2009)

Ngày 22 tháng 3 năm 2010, Lý Biên Cương ra đi để lại nỗi tiếc thương vô

hạn; và các bài báo “Lý Biên Cương - Văn chương một gánh Vô Cùng ",

“Vĩnh biệt nhà văn Lý Biên Cương”, “Nhớ nhà văn Lý Biên Cương”… ra mắt

bạn đọc như những tổng kết, đánh giá về cuộc đời lao động nghệ thuật, những thành tựu, đóng góp của ông đối với văn học

Ngày 24 tháng 3 năm 2004, báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam đưa tin

Lý Biên Cương qua đời với bài viết “Vĩnh biệt nhà văn Lý Biên Cương”, tiếp

theo là Tạp chí Nhà văn, báo Văn nghệ, báo Quảng Ninh, báo Hải Dương… cũng đưa tin đó Ngày 25 tháng 3, trên báo Lao Động điện tử, nhà báo Ngô Mai

Phong có bài viết “Vĩnh biệt nhà văn Lý Biên Cương” đầy sâu sắc, xúc động

và Tạp chí sông Hương, cũng như nhiều báo, tạp chí khác đã đăng lại bài viết

này Đánh giá về phong cách nghệ thuật cũng như những thành tựu của ông, bài

báo có đoạn: “Mọi người đều biết, Lý Biên Cương lâm bệnh nặng từ lâu Và

biết, càng vô cùng thương cảm Cuộc đời Lý Biên Cương là nghiệp dĩ của kẻ làm vườn, chỉ buông cuốc khi đã tàn hơi, không còn đủ sức đứng lên nữa

70 năm, với gần 40 đầu sách - gia tài của Lý Biên Cương được xếp vào loại “phong lưu” không chỉ trong giới văn chương của riêng vùng mỏ Quảng Ninh Lý Biên Cương từng trải nghiệm mình qua khá nhiều thể loại: Truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, thơ, kịch bản phim Nhưng cái cuối cùng đọng lại, cái mà người đời không thể không nhắc đến ông - đó là truyện ngắn - một phong cách nửa hào hoa, nửa dung dị, nhưng tinh tế, sâu lắng và đặc biệt, nó mang đậm sắc thái của một miền đất thợ thuyền nghiệt ngã và mơ mộng không thể trộn lẫn

Khác hẳn nhiều cây bút truyện ngắn cùng thời, bút pháp Lý Biên Cương luôn điềm đạm và đôn hậu Các nhân vật của ông dù đứng ở tuyến nào, hoàn cảnh u tối nào, vẫn được dành những “khoảng không” để hướng về ánh sáng Lược bỏ sự “làm duyên” (đôi khi) - Lý Biên Cương vẫn là cây bút truyện ngắn

có đẳng cấp”.(laodong.com.vn; 8:38, ngày 25 tháng 03 năm 2004)

Bài viết có tính nghiên cứu“Chất thơ trong truyện ngắn Lý Biên Cương”

(tháng 3 năm 2012) của Phạm Văn Học đã cho thấy một đặc điểm nghệ thuật khá nổi bật mà cũng khá riêng biệt, đặc sắc trong truyện ngắn Lý Biên Cương:

“Không ồn ào, đao to búa lớn, cũng không gai góc, lạnh lùng, truyện ngắn Lý Biên Cương hiện diện trong làng văn với chất thơ rất nhẹ nhàng Chính cái chất

thơ ấy đã tạo nên nét riêng trong văn ông”.(baoquangninh.com.vn; 5:41, Chủ

Nhật, ngày1/7/2012)

Trang 6

Tìm hiểu “Điểm nhìn trần thuật trong truyện Lý Biên Cương”, Hoàng

Thị Khuyên nhận xét: Bằng sự di chuyển linh hoạt điểm nhìn, người kể chuyện

trong sáng tác của Lý Biên Cương đã chứng tỏ được cái nhìn đa chiều, nhiều góc độ về cuộc sống và con người vùng mỏ trong suốt những năm xây dựng cuộc sống mới cùng nhiệm vụ chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, cho tới tận những năm sau này, khi đã hoàn thành căn bản công cuộc gây dựng đời sống công nghiệp Lời văn qua đó mà trở nên khách quan, có sức hấp dẫn người đọc Điều đó cũng góp phần làm cho tư tưởng, chủ đề tác phẩm sinh động, gợi

nhiều liên tưởng ở người đọc”.(baoquangninh.com.vn; 5:00, Chủ Nhật,

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những khía cạnh lí thuyết liên quan đến “nhân vật văn học”, “nhân vật trong truyện ngắn”, biểu hiện cụ thể trong

truyện ngắn Lý Biên Cương

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi khảo sát của luận văn là các tác phẩm truyện ngắn của nhà văn Lý

Biên Cương trong các tập Người đãi vàng (NXB Lao động - 1972); Người tôi

yêu mến (NXB Văn học – 1974); Bây giờ ta lại nói về nhau (NXB Văn học

1976); Tháng giêng (NXB Lao động – 1979); Quả trong lòng tay (NXB Tác phẩm mới – 1984); Giai điệu thành thị (NXB Tác phẩm mới – 1987); Câu

chuyện ngắn về con đường dài (NXB Thanh niên – 1988); Que diêm liều mình thắp sáng (NXB Công an nhân dân – 1989); Những khoảnh khắc rủi may

(NXB Công an nhân dân – 1998); Quả chát giữa hai bờ xôi mật (NXB Văn học – 2006), Đêm ấy vùng than ai thức (Tuyển truyện ngắn viết về than; NXB Văn

học - 2008) và một số truyện ngắn đăng rải rác trên các báo hay được in trong một số tuyển tập khác

Trang 7

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng kết hợp một số phương pháp sau:

4.1 Phương pháp cấu trúc hệ thống

Để đảm bảo việc tiếp cận, lý giải vấn đề chính xác và sâu sắc, cần vận dụng phương pháp cấu trúc hệ thống Cụ thể là, một mặt, xem nhân vật văn học như một yếu tố trong cấu trúc chỉnh thể của tác phẩm, có quan hệ biện chứng với các yếu tố, cấp độ yếu tố khác của nội dung, hình thức tác phẩm (với thế giới nghệ thuật – không, thời gian, cốt truyện…; với kết cấu, ngôn từ, giọng điệu, đặc điểm thể loại…); tác phẩm trong quan hệ với tư tưởng nghệ thuật của nhà văn, với điều kiện lịch sử xã hội; mặt khác, xem nhân vật văn học như chỉnh thể hình tượng con người, như một cấu trúc bao gồm nhiều yếu tố và cấp độ yếu tố (ngoại hình – nội tâm, quan hệ, tính cách…) Các thao tác phân tích, tổng hợp trên các cấp độ giúp chúng ta cảm thụ đối tượng, vấn đề vừa cụ thể, vừa bao quát

4.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu

- So sánh đồng đại: So sánh với các đối tượng, các tác phẩm cùng thời để thấy những nét tương đồng và khác biệt trong thế giới nhân vật của các nhà văn, những nét giống và khác nhau trong việc phản ánh con người trong cùng hoàn cảnh hiện thực đời sống

- So sánh lịch đại: So sánh các truyện ngắn trong quá trình sáng tác của nhà văn để thấy được sự tiếp nối và đổi mới của Lý Biên Cương khi xây dựng các hình tượng nhân vật So sánh các truyện ngắn của lbc với các tác phẩm văn học trước và sau đó để thấy sự kế thừa và phát triển cũng như sức ảnh hưởng của các hình tượng nhân vật của ông

4.3 Phương pháp thống kê, phân loại

Sử dụng phương pháp này, chúng tôi hướng tới việc làm rõ biểu hiện các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Lý Biên Cương, từ đó có cái nhìn, cách đánh giá vừa chi tiết vừa bao quát về hệ thống nhân vật

4.4 Ngoài các phương pháp nghiên cứu văn học, chúng tôi còn sử dụng kết

hợp một số phương pháp liên ngành như : văn hóa, xã hội học, tâm lý học…

Trang 8

5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

5.1 Đóng góp về mặt lý luận

Thông qua lập luận và khảo sát thế giới nhân vật trong truyện ngắn Lý Biên Cương, luận văn góp phần làm rõ hơn những khía cạnh lí thuyết liên quan đến khái niệm, vấn đề “nhân vật văn học”; hiểu kĩ, hiểu sâu hơn tri thức lí luận văn học về tác phẩm, thể loại, tác giả/nhà văn…

5.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Luận văn góp phần đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu nhân vật trong truyện ngắn, truyện ngắn của Lý Biên Cương nói riêng, tác phẩm của Lý Biên Cương nói chung Công trình có thể được sử dụng như tài liệu tham khảo có ích với việc nghiên cứu về nhà văn này, đồng thời phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy văn học địa phương trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Chúng tôi cũng hy vọng luận văn giúp cho người yêu văn học hiểu thêm về một nhà văn của đất mỏ, về mảnh đất và con người vùng mỏ cũng như một mảng đề tài khá phổ biến và nổi bật trong văn học Việt Nam hiện đại: Đề tài công nhân

6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc thành 3 chương như sau:

CHƯƠNG I: TRUYỆN NGẮN TRONG SÁNG TÁC CỦA LÝ BIÊN CƯƠNG

CHƯƠNG II: THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN LÝ BIÊN CƯƠNG

CHƯƠNG III: NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN LÝ BIÊN CƯƠNG

Trang 9

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I TRUYỆN NGẮN TRONG SÁNG TÁC CỦA LÝ BIÊN CƯƠNG

1 TIỂU SỬ, SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC

1.1 Vài nét về tiểu sử

Nhà văn Lý Biên Cương tên thật là Nguyễn Sĩ Hộ, sinh ngày 24 tháng 1 năm 1941; mất ngày 22 tháng 3 năm 2010 Quê quán ông tại xã Hồng Phong, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Lý Biên Cương là học viên khoa báo chí khóa đầu tiên của trường Đại học Nhân dân, bạn cùng khoá với các nhà báo, nhà văn Trần Hữu Tòng, Vũ Huyến, Mai Vui, Dương Thị Xuân Quý, Phan Thị Thanh Nhàn

Năm 1960, sau khi tốt nghiệp khoa báo chí, ông về làm phóng viên báo

Tiền Phong Năm 1961, ông được phân công về công tác tại báo Vùng Mỏ (sau này là báo Quảng Ninh) và công tác liên tục, gắn bó với tờ báo đến năm 1987

Năm 1974, Lý Biên Cương trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam; tích cực hoạt động, có những đóng góp đáng kể trong lĩnh vực văn học nghệ thuật Ông là Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Quảng Ninh suốt từ khi thành lập 1997 cho đến năm 2006

Năm 1988, ông chuyển sang công tác tại Hội văn nghệ tỉnh Quảng Ninh, đảm nhiệm vai trò Phó chủ tịch Hội, kiêm Phó tổng biên tập báo Hạ Long

Theo các nhà văn Dương Hướng, Trần Chiểu và các nhà văn, nhà báo công tác cùng hay quen biết ông, sinh thời Lý Biên Cương là người tinh tế, nhạy cảm

và giàu lòng nhân ái, bao dung Trong chuyện tình cảm cá nhân, ông là người thẳng thắn, dũng cảm đối mặt, dám nhận lỗi lầm, một tinh thần trách nhiệm cao Trong gia đình, ông là người đầy tình thương và trách nhiệm Trong quan hệ với bạn bè, đồng nghiệp ông là người chân thành, tận tụy; là người cởi mở sẻ chia và luôn sẵn sàng hết lòng giúp đỡ Trong công việc, ông là người không ngại khó, không ngại khổ, dũng cảm dám nói lên sự thật, đấu tranh cho lẽ phải

Dù cuộc sống có những nốt thăng, nốt trầm, cũng có lúc đã có những đánh giá lệch lạc về con người ông nhưng sau cùng, Lý Biên Cương vẫn được gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và bạn đọc gần xa yêu quý, trân trọng Những dư luận lắng xuống - như lớp than bùn lắng xuống đáy bể rửa than, hòn than quý càng lộ

rõ giá trị của mình - và mọi người càng thấy rõ hơn những phẩm chất đáng quý của Lý Biên Cương

Trang 10

Vốn là một nhà báo, nhưng Lý Biên Cương thường được mọi người nhắc đến như một nhà văn, nhà văn của vùng mỏ than Đông Bắc Tổ Quốc, nhà văn của những người thợ mỏ Quảng Ninh Ông đã vinh dự nhận được nhiều giải

thưởng văn học cao quý; và 2 năm sau khi ông mất, năm 2012, Lý Biên Cương

được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, đó là sự ghi nhận

và đánh giá xứng đáng những cống hiến của ông cho nền Văn học Việt Nam hiện đại

Trang 11

để con người trở thành nghệ sĩ, nhưng là một nghệ sĩ đích thực lại phải đau đáu một trái tim nhân thế, phải cảm nhiều lắm, phải đau nhiều lắm, yêu cũng phải nhiều lắm - nên muốn nói, muốn phản ánh lắm… nên thế nào cũng thấy chưa

đủ, thơ nhiều khi chưa đủ mà phải văn xuôi, tiểu thuyết và truyện ngắn nữa! Vậy nên, người ta nhớ Lý Biên Cương nhà văn hơn nhà báo hay nhà thơ, người ta biết và yêu thích Lý Biên Cương ở những tác phẩm truyện ngắn “trải hộ lòng” cho cả thế hệ, thậm chí cả kiếp người, cả cuộc đời

Nửa thế kỉ cầm bút, thăng hoa cũng chỉ đến thế mà nếu nói là cặm cụi, cần mẫn thì như vậy cũng đã đủ để người yêu văn chương ngưỡng mộ và kính phục Nửa thế kỉ liên tục sáng tác, nửa thế kỉ - trong mỗi giai đoạn, luôn cho ra đời những tác phẩm tiếng tăm đủ có thể gọi là để đời Nhưng ông vẫn luôn như những người thợ đi sâu vào hầm lò hay những anh kĩ sư chưa bao giờ ngại khó, ngại khổ và không bao giờ bỏ cuộc trước khi tìm thấy một vỉa than Phong phú,

đa dạng về nội dung; hấp dẫn, mượt mà và tài tình về hình thức nghệ thuật là những gì mà ai đã từng đọc đều nhận xét về tác phẩm của ông Cuộc đời sáng tác ấy, theo tôi, có thể chia làm hai giai đoạn sáng tác chính, đó là:

- Chặng đường sáng tác trước năm 1975

- Chặng đường sáng tác sau năm 1975

1.2.1 Chặng đường sáng tác trước năm 1975

Cách mạng Tháng Tám thành công, sự ra đời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã là một dấu son chói lọi trong lịch sử dân tộc: chấm dứt chặng dài dằng dặc của một ngàn năm Bắc thuộc, một ngàn năm dưới chế độ quân chủ, gần một trăm năm dưới ách cai trị của thực dân Pháp Pháp lại quay lại xâm lược nước ta, chiến thắng Điện Biên Phủ đã khiến địa cầu “chấn động”, Pháp phải cúi đầu kí vào Hiệp định Giơ-ne-vơ nhưng rồi Mỹ lại nhảy vào Đất nước chia cắt làm hai miền, miền Bắc tạm thời hòa bình và bắt tay vào xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa, thực hiện nhiệm vụ cao cả của hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến miền Nam ruột thịt nhưng cũng oằn mình chống trả hai cuộc bắn phá thảm khốc của Đế quốc Mỹ Điều gì đã giúp đồng bào ta vượt qua thử thách khắc nghiệt ấy, trang sử đau thương mà hào hùng ấy, ngoài những ghi chép sự kiện lịch sử, còn cần đến những ngòi bút thấm đẫm tình người, những trải nghiệm cùng sống, cùng chiến đấu và sản xuất để am hiểu, chia sẻ từng suy nghĩ tình cảm nhỏ bé nhất Như một số nhà văn khác, Lý Biên Cương cũng “cát cứ” vùng đất của mình để sáng tác Nếu Nguyễn Thi, Nguyễn Quang Sáng, Sơn Nam… phản ánh

Trang 12

về cuộc sống, chiến đấu của đồng bào Nam Bộ, Nguyễn Trung Thành (Nguyên Ngọc)… nói về những khắc nghiệt và sự hi sinh vô bờ bến của đồng bào Tây Nguyên, thì Lý Biên Cương lại quen thuộc và chuyên tâm viết về cuộc sống, chiến đấu của những người lính, những người công nhân, thợ mỏ nơi vùng đất

mỏ Đông Bắc của Tổ Quốc Cũng giống đặc trưng chung của văn học Việt Nam thời kì này, những tác phẩm của ông gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước, luôn hướng về đại chúng và mang khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn rõ rệt

Phản ánh công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, thực hiện nhiệm vụ cao cả của hậu phương lớn, đồng thời vừa chiến đấu vừa sản xuất trong thời kì này ở

vùng mỏ, Lý Biên Cương để lại những tác phẩm in dấu ấn lâu bền: Than con

gái (1966); Than (1967); Vợ chồng ông già mù (1967); Chuyện không dễ quên (1968); Tiếng cười đêm lặng yên (1969); Hôm nay của than (1970); Người đãi vàng (1971); Hồ quang (1972); Người tôi yêu mến (1972); Người

ơi người ở (1973); Mắt và sóng (1974); Tiếng nắng ngày mưa (1974); Đêm ấy vùng than ai thức (1974); Ô vuông than (1974); Bây giờ ta lại nói về nhau (1974); Tháng Giêng (1975); Hành trang tới mỏ (1975)… Mỗi tác phẩm một

khía cạnh, một phương diện, một mảng màu đủ giúp người đọc thấy và hiểu cụ thể, cảm động về “than” và “người vùng than”, về cuộc sống, chiến đấu và lao động sản xuất của nhân dân vùng đất mỏ Đông Bắc

Sự trưởng thành của con người, vùng đất lúc ấy đang phải trải qua những thời điểm vô cùng khắc nghiệt, đó là chiến tranh, là bom đạn Thế nhưng, đó phải chăng là phẩm chất chung của cả đất nước và những con người “sáng chắn bão giông, chiều ngăn nắng lửa”, càng thử thách khắc nghiệt bao nhiêu những

phẩm chất đáng quý càng lộ ra bấy nhiêu, như “Than con gái”? Và có thể

khẳng định, sức mạnh đó chính là tình yêu!

Tình yêu và những vun vén cho cuộc sống, thời kì ấy cũng hòa vào một tình cảm chung, tình cảm lớn là lòng yêu nước và công cuộc xây dựng Xã hội Chủ nghĩa – chi viện cho miền Nam Tình cảm chung và rất chân thành ấy

nhuyễn vào đời thường những thợ mỏ “Chị em cùng xóm” sẵn sàng nghĩ cho

nhau, lo cho nhau hết lòng Cũng khó phân biệt riêng - chung trong câu chuyện

cuộc đời “Vợ chồng ông già mù” , trong mối tình riêng tư và nhiệt huyết cách

mạng tưởng “có một không hai” của ông! Niềm tin, niềm lạc quan cũng chung cho cả một thời kì, một thế hệ, nhưng cũng riêng, cũng mới đến lạ kì như câu

chuyện về một “Ông giám đốc mới”

Tình yêu ấy, lòng nhiệt huyết ấy là sức mạnh vô biên “Tiếng cười đêm

lặng yên” trong trẻo, thánh thót, vang vọng tưởng như kéo dài đủ khắp chiều dài

đất nước, từ vùng than đen Đông Bắc đến vùng đất đỏ Đông Nam Cũng có tình yêu trải dài, đắng cay một quá khứ đau thương những năm xa xưa, và không thể

quên nhưng dường như chìm khuất để “Người đãi vàng” vẫn yêu, vẫn gắn, vẫn

Trang 13

say cả đời với đất mỏ Quen và chung nhưng quả thực, chỉ có một, chỉ có thể là

Lý Biên Cương mới cảm, mới thấy và nói lên được

Truyện ngắn Lý Biên Cương thời kì này khắc hoạ những con người, những

vẻ đẹp thầm lặng mà đằm sâu, vô thanh, ám ảnh, làm nao lòng và khơi dậy ở người đọc niềm tin “cuộc đời vẫn đẹp sao”, dù bom đạn, bão giông! Đó là vẻ đẹp của những người yêu nhau, chân thành, đằm thắm mà bình dị, chẳng cần thổ

lộ qua những lời hoa mỹ bay bổng, mà cảm say nhau qua những “Tiếng cười

đêm lặng yên”, hay chỉ qua những lời thơ đầy ẩn ý, đầy ngại ngùng – như

những người “Hôm nay của than” Cũng có khi chẳng dám nói một lời, gọi một tiếng thật gần gũi như “Than con gái”, hoặc “phái yếu, phái đẹp” phải ngỏ lời qua một bức thư “Hồ quang”, hoặc qua lời hát “Người ơi người ở”… Đẹp vô

ngần những tình yêu bền chắc, óng ánh mà giản dị như công việc, đời sống thường ngày của người vùng mỏ vậy!

Họ yêu nhau và yêu nước, yêu say mê và say mê lao động xây dựng đất nước, cháy hết mình trong công cuộc chung, vì sự nghiệp chung Trong bức thư

họ viết cho nhau; trong câu chuyện một đêm hiếm hoi ngồi bên nhau, dường như

“tuyệt nhiên không có một lời hỏi thăm riêng tư” Bức thư, ngày ấy là niềm vui chung của một đơn vị chiến đấu, niềm động viên của cả một tổ sản xuất và vì thế, cái tình cảm rất rất riêng tư ấy lại chung hơn bao giờ hết Bức thư Hà gửi

cho Ngoạn (Than con gái), hay của Thêm gửi cho Quang (Hôm nay của than), hoặc Hạ gửi cho Tiên (Hồ quang), Quận gửi cho Hảo lúc “Tháng Giêng” và những bức thư gửi cho “Người tôi yêu mến” … là những biểu hiện cụ thể tình cảm đẹp ấy “Đêm ấy vùng than ai thức” để gặp nhau, để hiểu nhau, nắm tay và

im lặng và chia tay, rồi âm thầm trong công việc thầm lặng, âm thầm đối mặt với bom đạn, chết chóc Họ yêu say mê đến mức tôn thờ nhau như thế Yêu và

dù chưa một lời nói, chưa bao giờ ước hẹn vẫn chờ nhau đến 20 năm trời Càng yêu nhau bao nhiêu, càng lo và nghĩ và say mê công việc, vì sự nghiệp chung bấy nhiêu!

Không chỉ là tình yêu đôi lứa, đó còn là tình bạn, là tình cảm gia đình… tất

cả cũng như thế, cũng hòa chung như thế vào tình cảm lớn lao của cả đất nước,

cả dân tộc Yêu thương và nhớ đến phát ốm khi đứa con gái duy nhất lên đường

đi công tác nhưng ngay khi bị mảnh bom găm đầy chân, nằm bệnh viện ông Hậu

vẫn vui mừng, sung sướng khi nhận thư con báo tin đã tìm thấy “Than” Trong

“Bố con người thợ ấy”, ông Cự lo lắng, mất ăn mất ngủ, ai cũng tưởng vì

chuyện gia đình, con cái; thì gần cuối câu chuyện người ta mới biết chỉ vì mấy mối hàn hỏng “nó cứ hiện đến, hiện đến một cách quái ác, như hờn dỗi, như trách móc, bám dai như đỉa vào đầu óc ông, quấy rối ông” Và người đọc cũng hiểu, nỗi lòng ông Cự không phải chỉ đơn thuần là vì cái “thương hiệu”, mà là vì trách nhiệm với công việc chung, với Tổ Quốc

Trong hoàn cảnh chiến tranh, Lý Biên Cương cũng khắc hoạ vẻ đẹp tình bạn sẻ chia và gắn bó giữa những người thợ Tình bạn đến hơn cả ruột thịt của

Trang 14

“Người đãi vàng” trải qua biết bao thăng trầm, nhục nhằn, riêng đến rất riêng,

đến như cả đời chỉ duy nhất, chỉ có một, mà vẫn thấy đó là tình cảm chung của

cả cộng đồng, khát vọng chung của cả dân tộc Lại có những hiểu lầm của một tình bạn đẹp, nhiều ân nghĩa; tưởng rằng thật đáng tiếc, nhưng trong công việc chung, chút hiểu lầm hay giận dỗi ấy đã trôi xa, đã xóa nhòa như vết chân trên

cát sau một “Đêm mưa” vậy! Lý Biên Cương cũng viết về những giận dỗi rất

thật, đến nỗi nhóm bạn thân thiết, quấn quít nhau bao năm tháng bỗng như mặt trăng mặt trời…, nhưng chỉ vì công việc chung mà thôi Chỉ vì cái gầu xúc của

Vũ suýt làm hỏng nóc ca-bin chiếc xe Thao “yêu như con” nên mới có chuyện

giận dỗi nhau đến thế, đúng lạ như “Tiếng nắng ngày mưa”! Và vì thế, trong

hoàn cảnh ấy, có những con người, những người bạn như thế ai cũng dễ tự nhận

ra lầm lỡ, lạc đường trong suy nghĩ, hành động, để trở về “Ô vuông than” , hoặc

nỗ lực hoàn chỉnh cái “Hành trang tới mỏ” cho mình!

Nói chung, trong dòng chảy chung của văn học giai đoạn này, phản ánh công cuộc xây dựng Xã hội chủ nghĩa của miền Bắc, khí thế sôi nổi và sục sôi khắp mọi nơi cũng như tinh thần trách nhiệm của một hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến lớn là nội dung cơ bản trong tác phẩm của Lý Biên Cương Nhưng dù không phải là một người thợ mỏ viết về công nhân mỏ như Võ Huy Tâm, thì Lý Biên Cương vẫn mang đến cho người đọc cái không khí rất riêng của đất mỏ, của người thợ mỏ Và hơn thế, rất riêng của Lý Biên Cương Xây dựng xã hội mới, con người mới và đầu tiên, trước hết phải vượt qua thử thách khắc nghiệt của bom đạn, của chết chóc… chỉ cần một chút thiếu “vốn” là nhà văn có thể khiến nhân vật của mình trở thành thứ mô hình khô cứng Lý Biên Cương đã vượt qua thử thách đó Những tác phẩm rất thành công, những nhân vật đầy sức sống của ông trong chặng đường sáng tác này đã minh chứng điều

đó

1.2.2 Chặng đường sáng tác sau năm 1975

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 mở đầu thời kì đất nước hoàn toàn thống nhất Hơn hai mươi năm chia cắt, non sông nay quy về một mối, niềm vui tưởng bất tận nhưng công việc khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và đẩy mạnh sản xuất đang đặt ra những yêu cầu cấp thiết hơn lúc nào hết Hơn thế, nơi vùng mỏ, ngành công nghiệp phục vụ cho sản xuất và đời sống nhiều nhất khi ấy thì cái khí thế, cái không khí khẩn trương và sôi sục luôn được đẩy lên đến cao trào Trong khí thế ấy, mỗi người thợ đều cần phải có tinh thần lao động khẩn trương,

ý chí, nghị lực phi thường … nhưng có lẽ điều cần thiết hơn cả trong thời kì mới

này là sự học tập, rèn luyện nâng cao trình độ Ngay từ “Tháng Giêng” (viết

năm 1975), Lý Biên Cương đã chỉ rõ, đã đặt ra yêu cầu đó trong tác phẩm của mình, cho nhân vật của mình Kỹ sư Quận hăng say, nhiệt huyết và hết lòng tận tụy trong công việc; kỹ sư Tấn năng nổ, hết mình… nhưng có lẽ như thế chưa đủ những phẩm chất cần thiết cho những con người mới, đáp ứng đòi hỏi của thời

kì mới … Và Trường là người bổ trợ cho cái thiếu, điều cần ấy! Hăng say đến mức kiệt sức, ngất đi trong hầm lò, và luôn luôn học hỏi, luôn đặt ra yêu cầu

Trang 15

phải học hỏi, với chính mình, với người yêu… Học sách vở và học từ công việc thực tế, không ngại khó, không ngại khổ, lao vào chỗ khó để học, để rút ra kinh nghiệm Những tác phẩm tiếp theo của Lý Biên Cương cũng hướng tới biểu hiện

tư tưởng ấy Tiếp theo hình tượng nhân vật Trường là những hình tượng nhân

vật Luận, Hảo (Gắn bó một vùng lò cháy); Sự (Nơi hòn than rửa sạch); Thu, Hiếu (Ngọn đèn); Vân, Hiệp (Câu chuyện ngắn về con đường dài)… Ở họ,

ngoài những phẩm chất truyền thống, đáng quý của người thợ mỏ, được kế thừa

từ đời này qua đời khác, dường như luôn cháy bỏng khát vọng tri thức Họ thu xếp công việc để đi học, họ học trong quá trình làm việc và học trong chính bản thân mình, luôn trăn trở, suy nghĩ rút ra những bài học

Có thể nói không quá rằng, đó là “tầm nhìn xa” của Lý Biên Cương khi đặt

ra một yêu cầu thiết yếu cho thời kì mới, nền kinh tế mới - mà sau này, những năm cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI chúng ta gọi là “nền kinh tế tri thức”!

Đổi mới nền kinh tế, đổi mới phương thức sản xuất trong môi trường hoà bình là yêu cầu cấp thiết đặt ra từ những năm 1980, kéo theo hàng loạt những điều mới mẻ Hướng về con người, ngay từ những tháng ngày khởi động, chưa thực sự diễn ra Đổi mới, các nhà văn với cảm quan nhạy bén của mình dường như đã dự cảm được những bi kịch của gia đình và xã hội trước nguy cơ sụp đổ các giá trị đạo đức truyền thống Bên cạnh những con người hăng say, hết lòng

vì sự nghiệp chung thì đã “nảy nòi” những kẻ nhỏ nhen, ích kỉ, sống chỉ biết đến bản thân mình, chỉ cốt thỏa mãn những nhu cầu cá nhân Cùng với Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Minh Châu… Lý Biên Cương cũng thể hiện nỗi

lo ngại, trăn trở đó của mình Nếu kể đến Cha và con, và…, Gặp gỡ cuối năm của Nguyễn Khải, Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng… thì chúng ta cũng phải kể đến Gắn bó một vùng lò cháy (Truyện vừa - 1980); Quả chát (Tập truyện ngắn -1981); Một vùng quê để nhớ (Truyện vừa – 1982); Câu chuyện

ngắn về con đường dài (Truyện vừa – 1984); Giai điệu thành thị (Truyện vừa –

1985) Hạt mưa bay ngang (Truyện vừa – 1986); Những khoảnh khắc rủi may

(Tập truyện ngắn – 1987)… của Lý Biên Cương Nó không còn dừng lại ở những biểu hiện nhỏ như lơ là công việc chung để vun vén cho cái gia đình

riêng, nuôi gà, trồng rau, chăm sóc vợ con (Đảo – Ô vuông than; Hiếu – Hành

trang tới mỏ); hoặc mới chỉ là bước đầu chạy theo sức hút của đồng tiền, dám

làm những việc thất nhân thất đức (Phát – Bây giờ ta lại nói về nhau); hay học đòi thói ăn diện, rởm đời, kênh kiệu khinh người (Tỉnh – Nhà cửa riêng tư)…

Dù sao và dường như những con người ấy vẫn biết quay đầu, vẫn thấy hổ thẹn

và vẫn còn giữ được ít nhiều những phẩm chất tốt đẹp truyền thống Đến Gắn bó

một vùng lò cháy thì Đạt dường như không còn thừa hưởng được những đức

tính tốt đẹp từ cha mình – một thợ lò tay nghề giỏi và lòng đầy nhiệt huyết, đầy tinh thần trách nhiệm Cái nền tảng gia đình dường như đang lung lay Rồi những kẻ tầm thường, những kẻ không còn cơ cứu vãn, quay đầu được nữa như:

Nhượng (Ngọn đèn) hèn nhát, thực dụng và thiếu nhân cách; Cao (Quả chát) bảo thủ đến trì trệ; Ngoãn (Ngày ấy còn rừng rậm); Kiến (Câu chuyện ngắn về

con đường dài); Phức (Những khoảnh khắc rủi may) trơ trẽn, vô sỉ…

Trang 16

Trước những đổi thay ghê gớm của kinh tế- xã hội, những biến động phức tạp của cuộc sống, những chấn động tinh thần, những thay đổi trong tính cách,

tư tưởng của con người xảy đến như một điều tất yếu Những mối quan hệ xã hội phức tạp chi phối họ, lôi kéo họ, con người trở nên tầm thường hơn, nhỏ bé

và yếu đuối hơn, những giá trị đạo đức trở nên mong manh dễ vỡ Nhi từ bỏ tình yêu với Luận chỉ để chạy theo cuộc sống với những váy áo, phấn son…; Đạt thì

chạy trốn khỏi khó khăn, chạy trốn để theo đuổi mưu đồ riêng tư của mình (Gắn

bó một vùng lò cháy) Và ngay cả Luận, dù hăng say, nhiệt huyết trong công

việc nhưng anh vẫn trăn trở, vẫn đau đớn nhiều vì tình yêu bị chối bỏ Không còn tình yêu lý tưởng của một thời bom đạn gian khổ, không còn người người

một lòng, một ý chí như cái thời ấy nữa Nguỵ biện vậy, Ngoãn (Ngày ấy còn

rừng rậm) Kiến (Câu chuyện ngắn về con đường dài) dễ dàng bỏ bạn, bỏ đồng

đội khi nguy hiểm đến, khi gặp khó khăn Luân (Câu chuyện ngắn về con

đường dài) dù được Hiệp bao dung đón nhận khi lỡ sa chân, trót hư hỏng, được

Hiệp yêu thương chiều chuộng vẫn dễ dàng, trâng tráo chạy theo những ham

muốn tầm thường, công khai ngoại tình, nằng nặc đòi ly dị Hay Quý (Giai điệu

thành thị) dễ dàng quên mối tình thơ dại, trong trẻo của mình với cô thôn nữ

Ngữ, để rồi phải ôm mối ân hận suốt cuộc đời…

Trong sáng tác của Lý Biên Cương thời kì này chúng ta còn có thể thấy những trăn trở, những lo toan đến dằn vặt về cuộc sống Những đổi mới vùng

Cửa Sóng dường như không làm người ta hoàn toàn vui, bên trong đó, trong

lòng cuộc sống ấy vẫn còn những chuyện buồn, biết bao chuyện buồn Đất nước đổi mới, đất nước mở cửa, kinh tế xã hội thay đổi, suy nghĩ con người cũng thay

đổi; và những kiếp Phù Du nổi nênh chỉ vì sự nhẹ dạ, cả tin, chỉ vì chạy theo

những hào nhoáng bề ngoài, lao theo lực hấp dẫn của tiền bạc như con thiêu thân Và chỉ vì, chỉ cần một tí ti chức quyền cỏn con người ta sẵn sàng quay ra phản đội bạn bè, gieo thêm nỗi đớn đau cho những người cùng cảnh, cùng khổ

Một kiếp đàn ông là nỗi lo lắng, là niềm trăn trở, day dứt ấy

Con người không chỉ sống bằng tinh thần, bằng lý tưởng mà phải có đời sống vật chất; không chỉ sống chung với mọi người, mà còn có đời sống riêng tư của mình Cái yêu cầu về một đời sống riêng tư, thỏa mãn con người cá nhân, tách mình ra khỏi cộng đồng, thậm chí làm hại đồng loại của mình đã xuất hiện

ở không ít người Phải chăng đó là sự tha hóa của nhân cách không thể tránh khỏi của những con người thiếu lý tưởng, hời hợt và nông cạn trong hoàn cảnh

xã hội đó? Ngay cả những người tốt hình như cũng chênh chao đi trên ranh giới của cái tốt – cái xấu Có lẽ có nhiều điều muốn nói lắm, muốn nói nhiều lắm nên

từ những năm 80, chúng ta thấy Lý Biên Cương viết truyện vừa nhiều hơn và cả tiểu thuyết nữa

Chặng đường cuối trong cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Lý Biên Cương, người đọc có thể thấy những chiêm nghiệm sâu sắc của ông về con người, về cuộc sống Đâu là hạnh phúc, đâu là mục đích của cuộc sống và giữa cuộc sống xô bồ, gấp gáp con người sao nhỏ bé, sao mong manh đến như vô

Trang 17

hình dù đã vô danh Người bán than rong khiến người đọc suy nghĩ nhiều Suy

nghĩ về một kiếp người, về cái anh chàng “Than ơ!” như con vật nhỏ bé mà trong suốt, nhoi lên giữa đống than bùn đen ngòm, nhão nhoét Anh làm việc lầm lụi cũng như một con vật, ăn ở cũng như một con vật và chết cũng vậy Nhưng người ta khó mà đánh giá được đúng về anh, một kẻ đại ngu hay một bậc hiền triết Nói có vẻ ghê gớm nhưng thực thế Anh đón nhận một cô gái xinh đẹp, đanh đá, đã có một đứa con gái về nuôi, rồi lăn lộn ra thủ đô, đứng chợ người, vét than cám, bốc bùn đen, đóng than Anh đi khắp ngõ ngách nâng niu từng viên than vừa ráo để bán, để nhận biết bao nhiêu sự khinh bỉ, coi thường, sỉ nhục, rồi cả ăn quịt… nhưng anh theo đuổi một mục đích lớn lao của đời người, cái công việc lớn nhất của đời thằng đàn ông mà không phải ai cũng làm được:làm nhà, bán than cóp tiền để làm nhà Anh vắt mình ra, vắt thực sự, về mọi phương diện để cho vợ Vắt đến quắt queo, nhợt nhạt, dọ dẹo cả cái thân hình, dáng điệu đến cả cuộc đời Anh sống như một cách hiến dâng, tự nguyện

và sung sướng được hiến dâng, hiến dâng cho vợ, hiến dâng cho cái đẹp Nhưng nhìn anh, sao thấy cái cuộc đời, con người sao vô tình, vô tâm đến thế! Vì cuộc sống nó thế chăng?

Tiếp dòng chảy ấy, tiếp nối câu chuyện ấy, Chú tò vò ấy bay đâu lại có thể

coi là chiêm nghiệm của Lý Biên Cương về lẽ khôn – dại, về được – mất ở đời Khôn cũng là dại đấy, được lại hóa mất đấy và cái dại kia nó mới thật là tai hại, cái mất kia nó mới thật là lớn lao Ngẫm xem cái sự đời nó cũng gần kinh Phật, gần những lời Phật dạy thật

Biết bao cạm bẫy của cuộc đời, êm ái và ngọt ngào giăng ra, chỉ một chút

sơ sẩy, nhẹ dạ hay mơ mộng, hoặc niềm tin không đặt đúng chỗ… sẽ khiến con người phải nhận hậu quả, phải nếm trái đắng Nhưng chỉ những kẻ nhẹ dạ, mà dường như Lý Biên Cương ám chỉ đó là phụ nữ! Từ bà vợ ông giám đốc khôn…

như “cáo” trong Chú tò vò ấy bay đâu , đến cô bé Thuận Vũ học chưa hết Trung học phổ thông, “ngây ngây thơ thơ” trong Chuyện Thuận Vũ lấy chồng

Nhưng có một niềm tin ở đây, một sự gửi gắm vào những người lãnh đạo, lãnh đạo một nhà máy, một xí nghiệp, một cái mỏ… những vị giám đốc trong nhà nước hay là tư nhân, niềm tin và hi vọng là có một cái tâm, có một cái tài

Đó là ông giám đốc không lo vun vén cho bản thân, gia đình mà tất cả lo nghĩ,

toan tính là cho mỏ trong Chú tò vò ấy bay đâu Đó là giám đốc Luân trẻ trung,

giản dị, chu đáo, lễ phép… và nhiều những phẩm chất đáng quý khó nói hết, nhưng điều đáng nói nhất là dám làm dám chịu, thậm chí dám đi tù vì niềm tin

đặt sai chỗ, trong Giữa hai bờ xôi mật Đó là giám đốc Đình, việc công tư phân

minh, tình cảm gia đình, họ mạc và với cả anh chị em trong mỏ đều vẹn toàn

Trang 18

cả những thủ đoạn bẩn thỉu Hẳn rằng, đó là sự chiêm nghiệm của cả một đời sống và một đời viết Phải là như thế, một đời như thế mới có thể thấy được cái chân giá trị của cuộc sống, như một cách triết lý về cuộc sống và con người Đó

là cái điều giản đơn không thể hơn được nữa, dễ hiểu hơn tất cả, để thuyết phục

ai đó lỡ mất niềm tin vào cuộc sống: Phải có đêm mới có ngày, có tối mới có sáng, có xấu mới có tốt… Điều quan trọng là nhận ra cái tốt đẹp, cái cao thượng… trong cái xuềnh xoàng, giản dị ấy! Quan trọng hơn nữa là phải dẹp bỏ được chính cái định kiến hẹp hòi của mình để nhìn đời, nhìn người bằng một con mắt bao dung hơn, gần hơn để thấu suốt hơn! Có lẽ đó chính là những ý nghĩa mang tính triết luận trong những tác phẩm thời kì này của Lý Biên Cương

Trang 19

2 TRUYỆN NGẮN TRONG SÁNG TÁC CỦA LÝ BIÊN CƯƠNG

2.1 Vấn đề về khái niệm và đặc trưng của truyện ngắn

Hiện nay, việc nhận diện đặc điểm thể loại cũng như sáng tạo truyện ngắn vẫn thu hút nỗ lực liên tục của người sáng tác và giới nghiên cứu phê bình Truyện ngắn là gì? Dường như đã có rất nhiều câu trả lời, nhưng vẫn chưa thỏa đáng và các nhà nghiên cứu, phê bình văn học vẫn chưa thôi tìm kiếm những định nghĩa đầy đủ và chính xác hơn về thể loại văn học này! Chúng tôi chỉ xin dẫn lại một số ý kiến nổi bật của một số cây bút trong nước

Nguyễn Kiên chia sẻ: Tôi cho rằng truyện ngắn là một trường hợp, trường

hợp đó là một quan hệ (tình huống) những khoảnh khắc trong quan hệ giữa con người và đời sống (Bùi Việt Thắng, Bình luận truyện ngắn, NXB Văn học

1999)

Với Nguyễn Công Hoan, Truyện ngắn không phải là truyện mà là một vấn

đề được xây dựng bằng chi tiết (Nguyễn Công Hoan – Đời viết văn của tôi

NXB Thanh niên -2005)

Nguyên Ngọc cho rằng: Truyện ngắn là một bộ phận của tiểu thuyết nói

chung, vì thế không nên nhất thiết trói buộc truyện ngắn vào những khuôn mẫu

gò bó Truyện ngắn có nhiều vẻ, có truyện viết về cả một đời người, lại có truyện chỉ ghi lại một vài giây phút thoáng qua (Bùi Việt Thắng, Truyện ngắn - những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000)

Chúng tôi đã khảo sát một số khái niệm truyện ngắn trong các cuốn: Từ điển thuật ngữ văn học, Từ điển văn học, 150 thuật ngữ văn học tất cả đều cho

rằng: Truyện ngắn là một “Thể tài tác phẩm tự sự cỡ nhỏ”, và “thường được

viết bằng văn xuôi”, đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người và

xã hội Điểm chung cơ bản đó là sự giới hạn về dung lượng ngôn từ của truyện ngắn và thích hợp với thời hiện đại, khi người tiếp nhận “đọc nó liền một mạch không nghỉ ”

Từ những cách hiểu trên, theo chúng tôi, cần dựa vào hai tiêu chí chính là dung lượng ngôn từ và thi pháp để xác định đặc điểm thể loại truyện ngắn Dung lượng ngôn từ có liên quan, chi phối đến thi pháp sáng tạo các yếu tố như nhân vật, cốt truyện, tình huống, kết cấu, lối trần thuật, giọng điệu trong chỉnh thể tác phẩm Dù vậy, chúng tôi cũng hiểu rằng, rất khó có những kiến giải thực sự thỏa mãn trả lời cho câu hỏi “Thế nào là truyện ngắn?” Ở đây, để hiểu rõ hơn về thể loại này, theo chúng tôi, cần chú ý đến những đặc trưng cơ bản sau:

- Hình thức tự sự cỡ nhỏ:

Truyện ngắn là một hình thức tự sự cỡ nhỏ, nội dung phản ánh có thể chỉ thể hiện một bước ngoặt, một trường hợp hay một tâm trạng nhân vật Như vậy,

Trang 20

truyện ngắn là cách phát hiện nghệ thuật của đời sống theo chiều sâu Với hình thức tự sự cỡ nhỏ, số trang ít, ít sự kiện, ít nhân vật, phạm vi phản ánh hẹp nhưng tất cả những chi tiết góp phần làm cho câu chuyện đạt đến hiệu quả mong muốn, tác động mạnh mẽ và có giá trị thẩm mỹ lớn lao Nói như nhiều ý kiến thì tiểu thuyết được coi là bức tranh đầy đủ mọi cảnh huống, một bức tranh rộng lớn

về đời sống; còn truyện ngắn như một lát cắt của cuộc sống, như một nét chấm phá ghi lại cái hồn của cuộc sống

- Tình huống truyện:

Tình huống được nảy sinh từ một sự kiện, một mâu thuẫn nhất định Mâu thuẫn càng quyết liệt, bất ngờ, thì tình huống càng hấp dẫn, cuốn hút Nói chung, tình huống phát triển cao thành xung đột Tình huống giúp cho những gì còn nằm trong hình thức chưa phát triển nay bộc lộ và hoạt động tích cực Vì thế, truyện ngắn cũng như các thể loại tự sự khác, không thể thiếu tình huống Chỉ trong các tình huống cụ thể các nhân vật mới bộc lộ tính cách, tâm lý hoặc thay đổi tính cách, tâm lý nhằm biểu đạt tư tưởng nghệ thuật của nhà văn

Nói tóm lại, khi bước vào một truyện ngắn người đọc cần phải nắm được giá trị của các bình diện nghệ thuật cấu thành cái thực thể sinh động - là truyện ngắn Nhưng nếu chưa nắm được tình huống thì xem như chưa nắm được chiếc chìa khóa mầu nhiệm để mở vào một thế giới bí ẩn của truyện ngắn

Nhưng cũng cần phải nói thêm rằng, không thể hiểu tình huống như một

sự bất ngờ, có vẻ “giật gân”, gay cấn, làm người đọc phải “thót tim” hay “đứng tim”; mà nên hiểu đó là những quan hệ, những trạng thái của đời sống, vừa hàm chứa, vừa soi rọi con người tham gia, tồn tại trong đó Chúng ta nhớ đến Thạch Lam với những “truyện không có chuyện” của ông Trong truyện Lý Biên

Cương, chẳng hạn, tình huống được thể hiện trong Đêm nay vùng than ai thức

có thể chỉ là cái đêm các nhân vật Suyền – Ái luôn bên cạnh nhau, nói với nhau rất nhiều, trong bóng tối, trong căn nhà hay ngoài đường phố, mà không nói một lời nào riêng tư; rồi họ chia tay

- Chi tiết và sự kiện tiêu biểu:

Chi tiết là những tiểu tiết giúp tác giả từng bước, từng bước thể hiện cụ thể, sinh động cuộc sống, con người vô cùng đa dạng, phong phú trong tác phẩm

tự sự Với cách hiểu chi tiết là bộ phận của chỉnh thể lớn hơn nó, thế giới hình tượng nghệ thuật luôn bao hàm nhiều cấp độ chi tiết Các chi tiết trong tác phẩm

có giá trị, ý nghĩa không đều nhau Có những chi tiết như đích đến, tiêu biểu, mà những chi tiết khác lại đóng vai trò dẫn dắt…

Là hình thức tự sự cỡ nhỏ, truyện ngắn có thể không có một cốt truyện nhưng không thể không có chi tiết Chính qua/nhờ chi tiết mà không khí, cảnh trí, tình huống, tính cách, hành động, tâm tư nhân vật được bộc lộ đầy đủ Nhà

văn Nguyên Ngọc nhấn mạnh: “Truyện ngắn có thể có cốt truyện, thậm chí cốt

Trang 21

truyện ly kỳ, gây cấn, kể được Truyện ngắn cũng có thể chẳng có cốt truyện gì

cả, không kể được nhưng truyện ngắn không thể nghèo chi tiết Nó sẽ như nước

lã” (Bùi Việt Thắng, Truyện ngắn - Những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể

loại – Đã dẫn) Nguyễn Công Hoan cũng nhìn nhận: “Truyện ngắn không phải

là truyện mà là một vấn đề được xây dựng bằng chi tiết” (Nguyễn Công Hoan –

Đời viết văn của tôi – Đã dẫn)

Một chi tiết đắt giá ngoài ý nghĩa chân thực còn cần phải đạt tới ý nghĩa tượng trưng, hàm chứa một cách nhìn, cách đánh giá và năng lực tưởng tượng của nhà văn đối với cuộc sống và con người

Thông thường ta thấy có hai loại chi tiết: chi tiết tiêu biểu đóng vai trò trung tâm thẩm mỹ, nơi nhà văn gửi gắm tư tưởng nghệ thuật; chi tiết phụ trợ có chức năng thúc đẩy câu chuyện vận động, phát triển Thành công của nhà văn chính là lựa chọn và xây dựng được những chi tiết, tình tiết và sự kiện tiêu biểu

- Nhân vật - một lát cắt điển hình:

Nhân vật có vai trò hết sức quan trọng trong tác phẩm Có thể nói nhân vật là xương sống là linh hồn của mỗi tác phẩm, nhân vật cũng là người phát ngôn cho tư tưởng nhà văn, thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người của tác giả

Nếu nhiệm vụ của tiểu thuyết là theo dõi, tìm hiểu và mô tả tỉ mỉ sự thăng trầm của số phận thì nhiệm vụ của truyện ngắn là khắc hoạ, thể hiện rõ ràng, thuyết phục số phận con người qua lựa chọn một tình huống đời sống với những chi tiết tiêu biểu, tuân thủ các nguyên tắc điển hình hóa Tác giả truyện ngắn thường hướng tới khắc họa một hiện tượng, một nét tính chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người - nhân vật tâm trạng

Theo Sêkhốp, nhân vật truyện ngắn phải được hiểu theo nghĩa rộng, có khi là người, có khi là vật Cho dù là tồn tại dưới dạng nào thì tất cả các nhân vật đều hướng tới con người Chỗ khác biệt cơ bản nhất của truyện ngắn là nhân vật của tiểu thuyết thường là một thế giới thì nhân vật chính của truyện ngắn chỉ là một mảnh nhỏ của thế giới nhưng có sức thể hiện, sức khái quát lớn lao

Với các đặc điểm cơ bản ấy, truyện ngắn là thể loại văn xuôi năng động, linh hoạt, có khả năng bám sát, vừa kịp thời phát hiện, miêu tả những vẻ đẹp đa dạng của cuộc sống, con người đang hằng vận động phức tạp, vừa nhạy cảm biểu hiện những cảm xúc thẩm mỹ sắc nhọn, nóng hổi của nhà văn Cũng vì vậy, truyện ngắn thường là hình thức thể loại được lựa chọn sáng tạo khi nghệ thuật song hành cùng cuộc sống

Trang 22

2.2 Truyện ngắn trong sáng tác của Lý Biên Cương

Chúng tôi muốn nhắc lại: thành công nhất trong toàn bộ sáng tác gồm thơ,

tiểu thuyết, cả kịch… của Lý Biên Cương chính là truyện ngắn Có thể nói chính

thể loại truyện ngắn đã khẳng định vị trí của ông trên văn đàn cả nước, tạo nên

và định hình một lối viết riêng, một phong cách nghệ thuật riêng Thành công

với hàng trăm truyện ngắn mang dấu ấn riêng, đặc sắc về hình thức nghệ thuật

và cả sự khám phá, phát hiện sâu sắc nhưng Lý Biên Cương vẫn rất khiêm tốn

khi nói về mình: “Tôi chẳng có gì đặc biệt Lúc đầu, tôi hăng hái viết đủ thể

loại, đăng hầu hết các báo, tạp chí, sau chỉ chuyên viết truyện, nhất là truyện ngắn Tôi yêu truyện ngắn, một thể loại thực sự thử thách những can đảm của ngòi bút Hình như ở đây tôi mới gặp chính tôi Truyện ngắn bừng cháy sức mạnh con người trong chốc lát, trước đó hầu như không nghĩ ra, hoặc sau đó nếu không cướp thời gian để thể hiện thì nó sẽ vuột đi rất nhanh, hối tiếc không

nổi.” (Lý Biên Cương như tôi biết – Trần Chiểu)

Quả thực vậy, Lý Biên Cương là một trái tim đa tình, đa cảm luôn và mãi

sợ “nghèo yêu quá”, từng làm người đọc nhức nhối bởi những vần thơ:

Đêm lạnh em nằm ở mãi đâu Anh giờ tay nắm ngón tay nhau Con người khốn khổ nghèo yêu quá Một thoáng hơi tay nghĩ đã nhiều

(Thu lạnh)

Lý Biên Cương chỉ để lại 2 tập thơ: Thi hứng (1991) và Riêng thơ (2005)

nhưng cũng xứng danh là một nhà thơ đích thực bởi hồn thơ hồn hậu, giọng thơ tha thiết, đắm say

Hơn thế nữa, Lý Biên Cương cũng là một cây bút tiểu thuyết, mà như đánh

giá của Hoàng Huệ Thụ - NXB Công an Nhân dân thì: “Tiểu thuyết Lý Biên

Cương có sức hấp dẫn từ đầu đến cuối, văn chương sáng sủa, nhẹ nhàng mà thấm thía, số phận nhân vật được khai thác đến chiều sâu, đến từng khía cạnh

để người đọc thẩm định cái nên cái chớ, cái được cái mất Gấp sách lại nhưng lòng ta vẫn bâng khuâng day dứt về sự lựa chọn lối đi của con người trên đường đời và về số phận người.” (Lời giới thiệu cuốn Tiểu thuyết Lý Biên Cương –

NXB Công an nhân dân – 2006)

Dù vậy, Lý Biên Cương cũng chỉ có 3 tiểu thuyết: Cửa sóng, Phù du và

Một kiếp đàn ông (1991)… Nhìn lại toàn bộ sự nghiệp sáng tác với hơn 40 đầu

sách của Lý Biên Cương, ta thấy những sáng tác thường xuyên, chủ yếu, nổi bật nhất của ông là ở thể loại truyện ngắn Có thể kể đến những tập truyện ngắn đã

Trang 23

để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng độc giả: Khoảng không của đất (1971); Người

đãi vàng (1972); Người tôi yêu mến (1974); Nàng tiên đảo Ngọc (1975); Bây giờ ta lại nói về nhau (1976); Tháng giêng (1979); Gắn bó (1982); Câu chuyện ngắn về con đường dài (1985); Quả ngọt (1987); Quả trong lòng tay (1984); Giai điệu thành thị (1987); Bây giờ trăng khuyết (1990); Thu cảm (1994); Que diêm liều mình thắp sáng (1996); Dã quỳ (2000); Nẻo trời vô tích tôi qua

(2003); Quả chát giữa hai bờ xôi mật (2006)… và nhiều tập, tuyển tập truyện

ngắn chọn lọc, nhiều truyện ngắn được in trong các tuyển tập quốc gia khác

Mỗi truyện ngắn Lý Biên Cương có thể chỉ là một lát cắt của cuộc sống, một khía cạnh, một góc độ hay cả một kiếp người, thì người đọc vẫn thấy cả dòng chảy cuộn sôi, trào dâng của cuộc sống ở đó, đủ mặt phải và mặt trái, đủ mảng tối lẫn mảng sáng Nhắc đến, nhớ đến Lý Biên Cương, bất kì người đọc nào chắc chắn không thể quên được những truyện ngắn ghi lại hoặc một thời kì

hừng hực khí thế xây dựng xã hội mới, lao động và chiến đấu, như Than con gái

(1966); Than (1967); Vợ chồng ông già mù (1967); Chuyện không dễ quên (1968); Tiếng cười đêm lặng yên (1969); Hôm nay của than (1970); Bố con người thợ ấy (1970); Người đãi vàng (1971); Hồ quang (1972); Người tôi yêu mến (1972); Người ơi người ở (1973); Mắt và sóng (1974); Tiếng nắng ngày mưa (1974); Đêm ấy vùng than ai thức (1974); Ô vuông than (1974); Bây giờ

ta lại nói về nhau (1974); hoặc ghi lại những trăn trở trong hoàn cảnh xã hội

mới, trước yêu cầu cấp thiết phải đổi mới nền kinh tế xã hội: Tháng Giêng

(1975); Hành trang tới mỏ (1975); Nơi hòn than rửa sạch (1980); Ngọn đèn (1981); Quả chát (2981); Điếu thuốc cháy thành một tàn dài (1982); Những khoảnh khắc rủi may (1987)… Theo trôi chảy thời gian, những tác phẩm của

ông hôi hổi hơi thở cuộc sống những năm đầu thế kỉ XXI, những chiêm nghiệm

sâu sắc của ông: Người bán than rong (2002);Chú tò vò ấy bay đâu (2003);

Chuyện Thuận Vũ lấy chồng (2005); Gió hát (2005); Giữa hai bờ xôi mật (2006); Giếng Đồn (2006); Nghe gió hun hút thổi (2007); Mấy tuần mưa dữ (2007)…

Đánh giá về truyện ngắn Lý Biên Cương, chúng ta không thể không nhắc

tới nhận xét của nhà văn Triệu Nguyễn: “Lý Biên Cương viết nhiều thể loại

Nhưng thành công nhất là truyện ngắn Truyện của Lý Biên Cương giàu chất thơ Câu văn của ông thon thả duyên dáng như dáng đi của những hoa khôi, á hậu và đặc biệt chúng có gương mặt thuần Việt, là điều không phải nhà “điêu khắc văn” nào cũng tạo ra được.” (Lý Biên Cương như tôi biết – Trần Chiểu)

Và xin mượn lời của nhà báo Ngô Mai Phong – Báo Lao Động đã nói trong bài

“Vĩnh biệt nhà văn Lý Biên Cương” để một lần nữa, khẳng định thành công và

thành công nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của Lý Biên Cương là thể loại

truyện ngắn: Lược bỏ sự “làm duyên” (đôi khi) - Lý Biên Cương vẫn là cây bút

truyện ngắn có đẳng cấp!

Như vậy, có thể khẳng định rằng: Lý Biên Cương đã nổi danh là một cây bút truyện ngắn, đã là một cây bút truyện ngắn xuất sắc trong nền Văn học Việt

Trang 24

Nam hiện đại Tìm hiểu, nghiên cứu truyện ngắn của ông sẽ giúp người đọc thấy được những đóng góp nhiều ý nghĩa của ông cho nền văn học; và đánh giá được những thành công, thành tựu nghệ thuật của ông

Trang 25

3 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA LÝ BIÊN CƯƠNG

3.1 Quan niệm sáng tác

Sinh thời, chưa một lần Lý Biên Cương phát biểu trực tiếp quan niệm sáng tác của mình Dường như ông ít nói về mình, không muốn nói nhiều về mình mà tất cả những gì cần nói, muốn nói ông đều thể hiện trong tác phẩm của mình, qua nhân vật của mình Thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu tác phẩm của ông, chúng tôi mạnh dạn đưa ra một vài nhận định về quan niệm sáng tác của ông

3.1.1 Văn chương, nghệ thuật là cuộc đời

Trong bài thơ "Tiễn bác Lý Biên Cương" của Nhà thơ Trần Nhuận Minh

viết để tưởng nhớ nhà văn khi hay tin ông qua đời ngày 22-3-2010 có câu: "Văn

chương một gánh Vô Cùng /Đổ vào đâu cũng không xong nợ Đời"… Có lẽ Lý

Biên Cương đã trăn trở nhiều lắm, và giống như Nam Cao khi xưa luôn trăn trở

“sống rồi hãy viết” thì ông “sống để viết” - viết về cuộc đời và viết cho cuộc

đời Ai đó đã nói “Dường như viết đối với Lý Biên Cương là cơm ăn, nước uống

hằng ngày” Và như chúng ta đã biết, Lý Biên Cương đến với văn học nghệ

thuật từ những năm 60 của thế kỉ XX và sáng tác liên tục, bền bỉ, đều đặn từ đó cho đến những năm cuối đời Dường như viết là lẽ sống nên ngay cả lúc bệnh tật, những lúc “ôm chân trên giường, đầu óc tỉnh queo, muốn chết lắm” thì có lẽ cái sự “viết”, cái nghiệp viết kéo ông ở lại với cuộc đời

Theo các nhà văn Dương Hướng, Trần Chiểu… thì Lý Biên Cương bị bệnh gút (gout) hành hạ, đi lại hết sức khó khăn và nhiều lúc phải nằm liệt giường, căn bệnh hành hạ ông gần chục năm trời, ông phải đi điều trị hết bệnh viện tỉnh nhà đến bệnh viện trung ương, nhưng đã có biết bao nhiêu tác phẩm ông cho ra đời trên giường bệnh Bệnh tật hành hạ thể xác, nhưng tâm hồn ông, trái tim ông vẫn hướng về, vẫn say mê một miền văn học Có lẽ ít ai tin cái nhìn lạc quan về con người, như một niềm tin bất diệt vào con người, vào những điều tốt đẹp của

cuộc đời lại được Lý Biên Cương sáng tác khi phải đang điều trị bệnh (Giữa hai

bờ xôi mật – 2006) Gấp gáp, hối hả như sợ không kịp, không nói lên được,

không nói hết được đấy mà thiết tha, cháy bỏng biết bao!

Sống để viết, hay văn chương, nghệ thuật chính là cuộc sống, là cái

“nghiệp”, đã dấn thân, “đã mang lấy nghiệp vào thân” thì “phải” viết Nghệ thuật chính là cuộc sống nên dường như, đọc sáng tác của Lý Biên Cương, nhiều người nói: “Viết truyện thế này thì dễ quá!” Vâng, dễ, nhưng phải tài năng đạt đến bậc thầy mới làm nổi điều đó đấy! Kể một câu chuyện như nó diễn ra ngoài đời thường vậy, một câu chuyện như chúng ta vừa, hay đang được chứng kiến vậy Nhưng đọc xong rồi để nó ám ảnh, day dứt không nguôi là điều không phải nhà văn nào cũng làm được

Phải chăng vì thế mà dù trong hoàn cảnh nào, điều kiện nào và đi đến đâu

Lý Biên Cương cũng có những dấu ấn riêng với những con người và những

Trang 26

vùng miền của Tổ Quốc Trong một bức thư gửi cho nhà văn Hoàng Lại Giang, ông đã viết:

“Thật ra cuộc đời sáng tác nửa thế kỉ của tôi, không chỉ viết mỗi Than Anh biết đấy, tôi vốn người làm báo đi đây đi đó, tích lũy và viết về nhiều vùng đất, nhiều loại người, phần lớn viết thành truyện ngắn Đi Điện Biên, tôi viết “Cháy một triền hoa Nậm Lay”, đi Lào Cai viết “Sa Pa góc khuất”, lên Cao Bằng có

“Dã Quỳ”, tới Lạng Sơn ghi “Đồng Đăng có phố Kỳ… lạ”, ra Móng Cái: “Sâm cầm ơi sâm cầm”, đến Tuyên Quang có “Ngược Tuyên”, Thái Nguyên có

“Vườn hoang”, sang Hải Phòng: “Chia tay Hải Phòng” và “Mười hai cửa bể”,

về Hải Dương: “Trăng Khuyết”, “Đất quê”, “Thu cảm”… Các vùng phía Nam

đi ít hơn nhưng vẫn có các truyện “Sữa thơm dòng sông Hương”, “Nhớ rét”,

vở, đâu là con người thực ngoài đời, bởi nhà văn bám sát đời sống xã hội, lấy thực tế cuộc sống làm chất liệu sáng tác

Dường như trong tác phẩm nào của Lý Biên Cương ta cũng thấy hình bóng

tác giả, sự có mặt của tác giả trong đó, nói như nhà văn Dương Hướng thì: “Giờ

nhìn lại sự nghiệp sáng tác của ông, tôi giật mình thấy tất cả những tác phẩm của ông đều có bóng hình ông trong đó Phải chăng từ một kiếp đàn ông, với mười hai bến nước, của người đàn bà ngang qua đời nó đã vận vào ông Như thể tiểu thuyết và cuộc đời lặn ngụp vào nhau Đắm say có, hờn ghen có, hận thù có, phản bội có” Đó có thể chỉ là một người được chứng kiến từ đầu đến

cuối câu chuyện và kể lại, đó cũng có thể chỉ là người được chính người trong cuộc tâm sự, chia sẻ chân thành lại câu chuyện, đó lại có thể là nhân vật chính, người trực tiếp kể lại câu chuyện của đời mình… Dù dưới bất kì hình thức, cách thức kể chuyện nào đi nữa thì người đọc hoàn toàn có thể cảm nhận thấy hơi thở cuộc sống trong đó, hơi thở hôi hổi và người kể câu chuyện đó phải đã từng trải qua, từng sống, từng hòa mình, sống hết mình trong đó

Cùng với các nhà văn cùng thời, Lý Biên Cương tái hiện một cách đầy đủ, sinh động và chân thực không khí lao động sôi nổi, nhiệt thành của cả đất nước

Trang 27

những năm đầu xây dựng xã hội chủ nghĩa, chiến đấu chống cuộc chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ Họ sống, chiến đấu và yêu nhau, mối tình Hà –

Ngoạn (Than con gái - 1967); Ngọc – Thụy (Tiếng cười đêm lặng yên – 1969); Quang – Thêm (Hôm nay của than - 1970); Hạ - Tiên (Hồ quang – 1972); Suyền – Ái (Đêm ấy vùng than ai thức – 1974)…; hay mối tình của tất cả thế

hệ thanh niên lúc đó: yêu nhau – xa nhau và chờ đợi nhau Những lá thư là tình yêu, là nỗi nhớ, là nguồn sống… nhưng lại chẳng một chút riêng tư, là niềm vui chung của đơn vị, niềm động viên chung cho cả đội sản xuất; thậm chí chẳng nhắc gì đến chuyện tình cảm riêng tư, nỗi nhớ nhung riêng tư Những câu chuyện, những chuyện tình tưởng như chẳng có gì để nói, chẳng có “chuyện” một chút nào mà Lý Biên Cương lại cho mang đến người đọc những trang viết hút hồn, thiết nghĩ, không thể là người ngoài cuộc, đứng ngoài cuộc đời như vị khách qua đường chứng kiến để kể

Đất nước đứng trước yêu cầu đổi mới, Nghị quyết Đại hội Đảng lần VI (năm 1986) đã chỉ rõ, đó là “nhu cầu bức thiết”, là “vấn đề có ý nghĩa sống còn”

Sự đổi mới ấy phải diễn ra nơi phương thức sản xuất, phương thức quản lý; và sâu xa hơn thì đó là đổi mới ở con người, ở tư duy, cách nghĩ, cách làm Lý Biên Cương đã nhìn thấy nhu cầu bức thiết ấy của cuộc sống, của xã hội Dường như cảm quan nhạy bén của Lý Biên Cương đã đi trước rất xa khi ngay từ năm 1972, khi vừa sản xuất vừa phải chống lại cuộc chiến tranh khốc liệt của đế quốc Mỹ quyết đưa miền Bắc nước ta “trở lại thời kì đồ đá”, vừa chi viện cho miền Nam

ruột thịt, ông đã đặt vấn đề đó trong Ông giám đốc mới, Chuyện này cần nói Đến Gắn bó một vùng lò cháy, Nơi hòn than rửa sạch -1980; Ngọn đèn, Quả

chát – 1981 và Câu chuyện ngắn về con đường dài – 1984, thì yêu cầu đó rõ

hơn, như đã được định hình trong tác giả

Đất nước đổi mới như con tàu ra đến biển rộng, con người trở nên bỡ ngỡ trước cuộc đời, trước thời cuộc và không ít va vấp, không ít lần sa vào cạm bẫy

như trong Những khoảnh khắc rủi may (tập truyện ngắn – 1987); Phù du, Một

kiếp đàn ông (tiểu thuyết - 1991)… Chú tò vò ấy bay đâu (tập truyện ngắn –

2003); Chuyện Thuận Vũ lấy chồng (tập truyện ngắn – 2005) Nhưng cũng có

những con người đầy bản lĩnh biết vượt lên, dám làm dám chịu Phải chăng đó là

những con người mới của một xã hội mới như trong Giữa hai bờ xôi mật, Gió

hát (tập truyện ngắn 2005) Những con người của cuộc sống đã bước vào trang

văn của Lý Biên Cương, hóa thân thành những nhân vật văn học nhưng vẫn mang hơi thở cuộc sống trong đó, và chúng ta như gặp một con người như thế, một câu chuyện như thế ngoài đời thực

Trước khi trở thành nhà văn, một nhà văn nổi tiếng thì Lý Biên Cương đã

là một nhà báo, vậy nên dù trang văn mượt mà, đẹp đến như nhà văn Triệu

Nguyễn ví “giống như dáng đi của một hoa khôi, á hậu” thì vẫn dễ đọc, dễ hiểu

bởi sự gắn bó, gần gụi cuộc sống Luôn theo sát từng bước đi của thời cuộc, tác phẩm của Lý Biên Cương luôn mang trong mình tính thời sự, và đó là đặc điểm trong tất cả sáng tác của ông Chính điều đó đã khiến chúng tôi hiểu về quan

Trang 28

niệm sáng tác của ông: Văn chương là cuộc sống, văn chương phải phản ánh cuộc sống, gắn bó với cuộc sống

Đó là quan niệm sáng tác đúng đắn, như biết bao nhà văn cùng thời đã trực tiếp phát ngôn hay thể hiện qua tác phẩm của mình

Phải chăng nhờ có quan niệm sáng tác đúng đắn và nhất quán ấy mà tác phẩm của Lý Biên Cương có sức sống lâu dài và bền bỉ đến vậy Độc giả hôm qua, hôm nay và tôi tin mai sau nữa sẽ luôn mãi nhớ đến ông qua những tác phẩm dung dị, nhẹ nhàng, đậm chất thơ mà không kém phần sục sôi của khí thế thời kì trước, hay nhịp sống gấp gáp của cuộc sống hôm nay

3.2 Quan niệm nghệ thuật về con người của Lý Biên Cương

3.2.1 Tầm quan trọng của quan niệm nghệ thuật về con người

Quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện cái nhìn, cách cảm và sự đánh giá của nhà văn về cuộc sống, con người, là cơ sở tạo nên sự thành công nghệ thuật, “tầm cỡ” của nhà văn Như thế bởi vì “Văn học là nhân học” (M.Gorki), đối tượng phản ánh, thể hiện của văn học không gì khác ngoài con người, và trọng trách của văn học là “làm cho người gần người hơn” (Nam Cao)

“Người gần người hơn” có nghĩa là gần nhau hơn, hiểu nhau, cảm thông và yêu thương nhau hơn; mà cũng có thể hiểu là “người” hơn với những phẩm chất cần phải có của Người Vậy nên, quan niệm nghệ thuật về con người là vấn đề quan trọng để đánh giá về một tác phẩm, một tác giả Nói như giáo sư Trần Đình

Sử, “Quan niệm nghệ thuật về con người là một cách cắt nghĩa, lí giải tầm hiểu

biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm của nhà văn về con người

được thể hiện trong tác phẩm của mình” (Trần Đình Sử, Dẫn luận Thi pháp

học, NXB ĐH Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh - 1993)

Từ điển Thuật ngữ văn học định nghĩa: “Quan niệm nghệ thuật về con

người là hình thức bên trong, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức tác phẩm

Nó gắn với các phạm trù khác như phương pháp sáng tác, phong cách của nhà văn, làm thành thước đo của hình thức văn học và cơ sở của tư duy nghệ thuật.”

(Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Từ điển Thuật ngữ văn học,

NXB Giáo Dục - 2007) Theo tác giả Huỳnh Như Phương, “Quan niệm nghệ

thuật về con người thể hiện tầm nhìn của nhà văn và chiều sâu triết lí của tác phẩm” (Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương – Lí luận văn học vấn đề và

suy nghĩ - NXB Giáo dục - 1999)

trên đều nói lên được những điểm cốt lõi của khái niệm quan niệm nghệ thuật về

con người Từ đó, chúng ta có thể hiểu: Quan niệm nghệ thuật về con người là

cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách cắt nghĩa lí giải về con người của nhà văn Đó là quan niệm mà nhà văn thể hiện trong từng tác phẩm Quan niệm

Trang 29

ấy bao giờ cũng gắn liền với cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan sáng tạo của chủ thể, ngay cả khi miêu tả con người giống hay không giống so với đối tượng

Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người thực chất là phân tích, khái quát các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học của tác giả, vừa là cơ sở tạo nên, vừa thống nhất với các biểu hiện giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ của các hình tượng nhân vật trong tác phẩm Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người là con đường giúp ta khám phá và đoán định giá trị của hình tượng nghệ thuật trong các tác phẩm

tượng con người – nhân vật chính là hình tượng thẩm mĩ thể hiện quan niệm của tác giả về cuộc sống Người viết văn luôn là người vận động, suy nghĩ về con người, cho con người, nêu ra những tư tưởng mới để hiểu về con người Tác phẩm bao giờ cũng hé lộ quan niệm nghệ thuật về con người của tác giả Bởi người ta không thể miêu tả và tạo nên chiều sâu, tính độc đáo của hình tượng con người trong văn học nếu không hiểu biết, cảm nhận và có các phương tiện, biện pháp nghệ thuật nhất định Người đọc không thể hiểu một cách đầy đủ những đổi thay trong nội dung phản ánh cũng như nghệ thuật biểu hiện của văn học, nếu không quan tâm tới sự vận động của con người trong văn học, đặc biệt

là vấn đề quan niệm nghệ thuật của các tác giả về con người trong văn học Nói cách khác, nếu bỏ qua quan niệm nghệ thuật về con người sẽ dẫn tới cách hiểu đơn giản về bản chất phản ánh của nghệ thuật, hạ thấp yêu cầu sáng tạo thẩm mĩ của nghệ thuật Cho nên, tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người là điều hết sức quan trọng

3.2.2 Con người thời đại và Con người hướng thiện trong sáng tác của

Lý Biên Cương

Con người được phản ánh trong sáng tác của Lý Biên Cương rất phong phú

và đa dạng, thuộc đủ mọi tầng lớp xã hội, mọi giai cấp và nhiều thế hệ Những người lính, những công nhân mỏ, những chàng lái xe, những cô thanh niên xung phong; và sau này, những cô gái mới, những bạn trẻ sống hời hợt, buông thả, cả những ông giám đốc tiên tiền như đốt, như xé, sống xa hoa, lệch lạc; lại có cả những con người đầy bản lĩnh, có lẽ sống cao đẹp, có tình thương yêu con người

và luôn trăn trở để vươn lên “người” hơn Nhưng tựu chung lại, trong toàn bộ sáng tác của Lý Biên Cương, chúng ta có thể thấy những quan niệm nghệ thuật

về con người chi phối sáng tác của ông như sau:

- Con người thời đại:

Đó là những con người mang trong mình hơi thở của cuộc sống, của thời đại mình đang sống Nói cách khác, đó là con người mang trong mình những phẩm chất cần có, những đức tính cần thiết tiêu biểu cho một thế hệ trong cả một thời kì nhất định Và ở mỗi thời kì khác nhau, vì sự đổi thay của tình hình

Trang 30

đất nước, của nền kinh tế - xã hội mà đặt ra những yêu cầu khác nhau về những phẩm chất, những đức tính và cả cách nghĩ, cách làm, cách sống…

Trong hoàn cảnh trước năm 1975, khi nhiệm vụ lớn lao của miền Bắc xã hội chủ nghĩa là xây dựng xã hội mới, con người mới và chi viện cho miền Nam ruột thịt, thì con người của thời đại phải là những người biết gạt đi cái riêng tư, biết quên mình, luôn hăng say, nhiệt huyết cho công cuộc chung Đó phải là những con người dám hi sinh, biết hi sinh và biết gạt đi tất cả, cả nỗi đau riêng

tư, số phận riêng tư để gắn mình chung vào vận mệnh của cả dân tộc Tình cảm của họ cũng phải là tình cảm chung của cả cộng đồng và ngay cả tình yêu lứa đôi, lĩnh vực tình cảm rất riêng tư ấy cũng phải đặt trong tình yêu Tổ Quốc Yêu nhau để chờ đợi nhau, chờ đợi chiến thắng, chờ đợi thành công, yêu nhau để sống, để chiến đấu quên mình, để hăng say sản xuất, để thi đua lập thành tích, lập chiến công… Và hạnh phúc riêng chỉ có thể đơm hoa, kết trái khi nó được đặt trong hạnh phúc chung Có thể thấy rõ sự biểu hiện quan niệm ấy ở hầu như tất cả các nhân vật chính trong tác phẩm của Lý Biên Cương thời kì này

Đó cũng là yêu cầu của thời cuộc, của hoàn cảnh đất nước Ở giai đoạn văn học trước 1975, người đọc dễ dàng liên tưởng nhân vật của tác phẩm này, của nhà văn này với nhân vật khác, của nhà văn khác Cuộc đời, số phận bất hạnh và

sự vươn mình đứng dậy, hòa mình vào cuộc sống mới, tin yêu cuộc đời, tìm thấy

tình yêu cho mình, tự tin đón nhận tình yêu… của Hà (Than con gái) làm người đọc nghĩ ngay đến Đào (Mùa lạc – Nguyễn Khải) Và dù hoàn cảnh khác nhau, công việc khác nhau nhưng đọc Chị em cùng xóm, chúng ta lại thấy hình như

Định, Bính lại có những nét hao hao, những đức tính giống Đài, Cúc trong

Những người đàn bà ở làng của Nguyễn Kiên Hay tình yêu của Suyền – Ái

(Đêm ấy vùng than ai thức); Ngân và Mây (Mắt và sóng) dường như giống mối tình Lãm – Nguyệt (Mảnh trăng cuối rừng – Nguyễn Minh Châu)… Đó là lí

tưởng và đã thể hiện thành ý chí và hành động, mỗi con người được thể hiện như

là đại diện trọn vẹn cho sức mạnh, quyết tâm của cả dân tộc, của cả đất nước Biết bao những con người như thế, mang trong mình những phẩm chất tốt đẹp

của thời đại như thế! Đó là những người lính như: Ngoãn (Than con gái); Ngọc, Chử (Tiếng cười đêm lặng yên); người chính trị viên đại đội, người trung úy và những chàng lính pháo trong Chuyện không dễ quên; đó là Nức (Người tôi yêu

mến)… Đó là những chị, những em tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu: Mây (Mắt và sóng); Ái (Đêm ấy vùng than ai thức) hiên ngang đứng sừng sững trên

đỉnh núi cao giữa bom rơi đạn nổ để quan sát, để báo cho chỉ huy biết về từng chiếc máy bay; đó là em bé Hoa trứng gà đẹp như loài hoa của đất mỏ xông vào

lửa đạn để tiếp đạn cho khẩu đội pháo trong Chuyện không dễ quên; đó là Tứ, Thụy và các cô gái trong tổ dò phá bom trong Tiếng cười đêm lặng yên Còn

biết bao những chàng kỹ sư, những thế hệ thợ mỏ gắn bó cả đời với vùng than

như ông già mù trong Vợ chồng ông già mù; ông Khoáng, ông Viên trong

Người đãi vàng; ông Hạnh, ông Phúc trong Đêm mưa; ông thợ hàn Cự trong Bố con người thợ ấy và biết bao cả một thế hệ trẻ hừng hực khí thế thời đại…

Trang 31

Sau chiến tranh, trong một hoàn cảnh mới, một xã hội mới, con người của thời đại phải như thế nào, phải có những phẩm chất, đức tính gì? Hình như có một sự bối rối ở không ít người cầm bút, nhưng Lý Biên Cương thì không! Con người mới cần phải có gì, cần phải có những đức tính gì thì Luân, Nguyễn Kim

Luân trong Giữa hai bờ xôi mật đã cho người đọc thấy và hiểu rõ Đó là sự

quyết đoán, đó là bản lĩnh dám làm dám chịu, sai thì chấp nhận dù hậu quả ghê gớm đến đâu và quan trong là bình thản đón nhận, bình thản chấp nhận để sau

đó, sẽ vực lại, sẽ sống lại, gây dựng lại Cần lắm thay những con người như thế;

và Lý Biên Cương cho chúng ta thấy rằng, biết rằng, những con người đó có thật, rất thật Không những thế, thêm vào đó là các bức chân dung của ông giám đốc vô danh mà cũng có thể nói rất tiêu biểu cho những ông giám đốc thời kì

mới trong Chú tò vò ấy bay đâu, hay giám đốc Đình trong Gió hát Đó là những

con người mới, con người của thời đại mới

Tất nhiên, trong thời kì mới, quan niệm nghệ thuật về con người cũng có nhiều thay đổi Lúc này con người phải được nhìn ở nhiều phía trong tính đa chiều của các mối quan hệ xã hội phức tạp: mối quan hệ với lịch sử, với xã hội, với gia đình, với phong tục, với thiên nhiên và với cả chính mình… Con người cũng phải được khám phá ở nhiều bình diện và nhiều tầng bậc: ý thức và vô thức, đời sống tư tưởng, tình cảm, đời sống tự nhiên, bản năng, khát vọng cao cả

và dục vọng tầm thường… Con người được phản ánh trong văn học lúc này không còn là một mặt, một tính cách mà trong một con người có sự đan cài, chen lẫn, giao tranh giữa tốt – xấu, cái cao cả - cái thấp hèn… Lý Biên Cương cũng cho người đọc thấy được những điều đó Con người trong nghệ thuật luôn gắn với những đổi thay và yêu cầu của hoàn cảnh, đó là cơ sở để chúng tôi khái quát một nội dung nổi bật trong quan niệm nghệ thuật về con người của ông: con người thời đại

Có thể nói rằng, từ phong cách nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật, Lý Biên Cương luôn bám sát cuộc sống, mang hơi thở của cuộc sống vào tác phẩm; và quan trọng nhất, bằng sự chiêm nghiệm của mình, ông cho người đọc thấy những đặc điểm và vẻ đẹp thời đại của con người trong các giai đoạn khác nhau của hoàn cảnh lịch sử xã hội

- Con người hướng thiện:

Lý Biên Cương có cái nhìn, có một tấm lòng đôn hậu, và vì vậy, trong tất

cả sáng tác của mình, nhân vật của ông dù đứng ở tuyến nào, hoàn cảnh u tối nào, vẫn được dành những “khoảng không” để hướng về ánh sáng Dường như ông có sự cảm thông, thấu hiểu để nâng đỡ, nhưng cũng đòi hỏi cao ở con người; và luôn chú ý thức tỉnh sự tự ý thức của con người để hướng tới cái thiện, cái đẹp, tự hoàn thiện nhân cách

Trong hoàn cảnh chiến tranh chúng ta nói rằng cả đất nước cùng chung một

ý chí, một tình cảm nhưng không phải không có những người mất phương

Trang 32

hướng, lạc đường hay nhẹ hơn là chút chênh chao, dao động Từ những năm

1970, trong truyện ngắn Lý Biên Cương đã có hình tượng những anh thợ máy, thợ lái vô trách nhiệm đổ cả nước lã vào chân van hơi; hay thiếu trách nhiệm, vì

“tôi chỉ biết lái” nên khi phát hiện “máy kêu”, biết cách sửa nhưng “mặc kệ” vì

“đó là việc của kỹ thuật” Lại có người thiếu trách nhiệm theo kiểu nghĩ “đã có cấp cao hơn lo cho mọi việc” nên không phải lo lắng gì nữa Hoặc hiện tượng lo

xin đất, xây nhà để có một “cơ ngơi” riêng… như anh chàng kỹ sư Toán (Hôm

nay của than) Nhưng đến cuối câu chuyện, con người luôn mặc kệ, luôn chỉ lo,

chỉ nghĩ cho mình ấy bỗng bức xúc, bỗng cáu um lên vì cách làm ăn không ra gì của người khác Và như vậy cũng có nghĩa anh ta đang bức xúc, đang không thể chấp nhận được chính con người, cách nghĩ, cách làm của mình trước kia Điều

đó cũng có thể nói là anh ta đang “thức tỉnh”, đang hướng thiện Cũng giống

như vậy, Đảo (Ô vuông than); Hiếu (Hành trang tới mỏ) cũng chỉ biết vun vén

cho ngôi nhà của mình, nuôi gà, trồng rau hay đi làm thợ sửa nhà để kiếm tiền… nhưng những người bạn chân thành, chân tình đã giúp họ nhìn ra cái sai lầm, lệch lạc của mình…

Ở truyện ngắn khác, Lý Biên Cương ghi lại câu chuyện một hợp tác xã

nông nghiệp có nhiều điều chứ không chỉ có một “Chuyện này cần nói” Đó là

anh chàng Chỉ được giao nhiệm vụ quản lý cái máy bơm nhưng bỏ nó bê bết, bệ rạc rồi hỏng đi Anh ta đón thợ và chỉ ngong ngóng học lỏm được kĩ thuật để rồi

cả xã sẽ phải hạ mình, phải cung phụng, chiều chuộng anh, rồi anh sẽ trở nên giàu có Hai người thợ sửa chữa cũng chỉ biết vòi vĩnh rượu thịt, ngày này qua ngày khác lửng lơ, chẳng làm một việc gì Tất nhiên, không dễ dàng gì, không phải chỉ qua một sự việc cỏn con, mà đó là cả một câu chuyện dài mới khiến Chỉ

“nảy nở những trong anh bao nếp nghĩ mới mẻ”, khiến Chỉ thay đổi hoàn toàn

Sự “hướng thiện” đó nhiều khi cũng không hẳn phải là lầm lạc rồi “quay đầu”, mà trong nhiều trường hợp, nó chỉ đơn giản thể hiện qua cách giải quyết những khúc mắc, những suy nghĩ sai trái, lầm lạc về nhau để hiểu, để cảm thông, để đoàn kết nhau hơn Đó là trường hợp của hai ông già Hạnh và Phúc

trong Đêm mưa; là sự hiểu nhau âm thầm qua công việc của Hạ và Cang (Khoảng không của đất) Cũng có thể chỉ là một sự thay đổi trong nhận thức,

nhận thức ra những điều tốt đẹp, những con người tốt đẹp ở xung quanh mình

như Huân (Người tôi yêu mến), cái cảm giác xa lánh, chán ghét mọi người ban

đầu của anh đã biến mất khi cùng sống, cùng làm việc với những con người chân thành, chất phác; và đặc biệt là khi anh được tiếp xúc với Nức

Sự “hướng thiện” đôi khi cũng chỉ là tia sáng lóe lên như một hi vọng Đó

là cái cảm giác trống vắng, cô đơn, chán nản và xấu hổ, sợ hãi khi bị bố mắng

của Đạt (Gắn bó một vùng lò cháy) Đó là ông giám đốc nhận thấy mình kém năng lực mà vẫn đang cố “bám lì vào cái ghế quyền chức” trong Điếu thuốc

cháy thành một tàn dài Là ông thợ hàn già Cự mất ăn mất ngủ như người ốm

vì những mối hàn không đúng quy cách trong Bố con người thợ ấy Hay chàng

Trang 33

kĩ sư trẻ Kiến một phút bồng bột đã hăng hái xung phong cùng đi tìm than xi

măng trong Câu chuyện ngắn về con đường dài

Sự “hướng thiện” đó là nỗi ăn năn, ân hận muộn màng của Quý, Lương

(Giai điệu thành thị, Hạt mưa bay ngang); của Thuận Vũ (Chuyện Thuận Vũ

lấy chồng) Sự ân hận kịp thời, kịp thời nhận ra sai lầm để kịp quay về của

Nhưng (Những khoảnh khắc rủi may)…

Có thể khẳng định quan niệm về con người hướng thiện là một nội dung cơ bản trong quan niệm nghệ thuật về con người của Lý Biên Cương; và đó là một

quan niệm tiến bộ Nói như nhà văn Nguyễn Minh Châu, “ Văn học và đời sống

là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm của nó là con người Người viết nào cũng có thể có tính xấu nhưng tôi không thể nào tưởng tượng nổi một nhà văn

mà lại không mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người Tình yêu này của người nghệ sĩ vừa là một niềm hân hoan say mê, vừa là một nỗi đau đớn, khắc khoải, một mối quan hoài thường trực về

số phận, hạnh phúc của những người xung quanh mình Cầm giữ cái tình yêu lớn ấy trong mình, nhà văn mới có khả năng cảm thông sâu sắc với những nỗi khổ đau, bất hạnh của đời người, giúp họ có thể vượt qua những khủng hoảng

tinh thần và đứng vững được trong cuộc sống.” (Trang giấy trước đèn – NXB

Khoa học xã hội, Hà Nội – 1994, tr.95.) Vâng, có thể khẳng định một lần nữa,

ngòi bút, quan niệm nghệ thuật của Lý Biên Cương gắn với tư tưởng nhân bản, nhân văn sâu sắc, gắn với tình yêu lớn đối với con người

Trang 34

CHƯƠNG II THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN LÝ BIÊN CƯƠNG

1 KHÁI NIỆM NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC

1.1 Khái niệm chung về nhân vật trong tác phẩm văn học

Như chúng ta đã biết, đối tượng phản ánh, suy ngẫm của văn học là cuộc sống, là con người, không gì khác ngoài con người Mặt khác, thế giới hình tượng - bức tranh đời sống trong tác phẩm không thể thiếu bóng dáng con người

Dù nghệ sĩ muốn phản ánh gì, thể hiện, bộc lộ hay phát ngôn gì đi chăng nữa thông qua tác phẩm của mình, cũng phải chuyển tải qua nhân vật Tiếp nhận tác phẩm, cái đọng lại sâu sắc nhất trong tâm hồn người đọc thường chỉ là số phận, tình cảm, cảm xúc, suy tư của những con người được nhà văn thể hiện Và nhiều khi, rất nhiều khi, nhân vật trong tác phẩm văn học lại ảnh hưởng sâu sắc, thậm chí chi phối đến suy nghĩ, hành động, tình cảm, cảm xúc của con người ngoài đời

Vậy nhân vật trong tác phẩm văn học là gì?

Nhân vật trong tác phẩm văn học được hiểu là một hình tượng nghệ thuật mang tính ước lệ về con người Đó không phải là kết quả sao chụp đầy đủ mọi chi tiết, biểu hiện của con người, mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách… Nói cách khác thì nhân vật văn học là con người được nhà văn miêu tả trong tác phẩm bằng các phương tiện văn học: ngôn ngữ, các biện pháp nghệ thuật… Những con người này có thể được miêu tả kỹ lưỡng hay sơ lược, sinh động hay không rõ nét, xuất hiện một hay nhiều lần, thường xuyên hay từng lúc, giữ vai trò quan trọng nhiều, ít trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm Đó có thể là những hình tượng con người có tên tuổi rõ ràng, được miêu tả đầy đủ, chi tiết ngoại hình, tính cách như: Lão Hạc, Chí Phèo …, hay chẳng có tên, chẳng rõ ràng từ hình dáng, thân nhân như người làng Vũ Đại, bà cô Thị Nở … Nhân vật văn học có khi chỉ là nhân xưng

“tôi” – người kể chuyện trong tác phẩm, hay “mình – ta” trong ca dao, dân ca… Trong nhiều trường hợp, nhân vật lại là con vật, đồ vật mang bóng dáng, tính cách của con người: con cóc, con gà, con cua, con chuột, cái cây… trong truyện

cổ dân gian; cái chổi, cái bút, cái bàn cái ghế… trong truyện thiếu nhi, vầng trăng, bông hoa, giọt nắng, hạt mưa… trong thơ ca Cũng có khi đó không phải

là những con người cụ thể mà chỉ là một hiện tượng về con người hoặc liên quan

đến con người trong tác phẩm; chẳng hạn như nói “nhân dân” là nhân vật chính

của tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình của L Tônxtôi, hay nói “thời gian” là

nhân vật chính trong rất nhiều truyện ngắn của Sê khôp…

Trang 35

Văn học là tấm gương phản chiếu xã hội và trong xã hội là những cuộc đời, những kiếp người Dù là thần thoại, cổ tích hay truyền thuyết đầy những yếu tố hoang đường kì ảo thì chất liệu chính làm nên nó vẫn là cuộc sống, dù là ca dao, dân ca ngọt ngào, trữ tình thì nó vẫn là những tiếng vọng của tâm hồn, của đời sống tình cảm con người Và dù là những tác phẩm sơ khai nhất của nền văn học nhân loại đến những tác phẩm mới nhất, đương thời, đương đại thì cuộc sống xã hội, thế giới nội tâm của con người vẫn là đối tượng phản ánh Tác phẩm văn học chính là tiếng nói của người nghệ sĩ về cuộc sống, xã hội và con người thông qua lăng kính nghệ thuật Nói cách khác, văn học là tấm gương phản chiếu cuộc đời và nhà nghệ sĩ luôn là “người thư kí trung thành của thời đại” Từ muôn mặt đời sống, từ những mảnh đời, số phận, nhà văn đã khái quát lên những hình tượng điển hình Nhưng phản chiếu cuộc sống cũng không phải là những hình ảnh trần trụi, thô kệch mà đó phải là bức tranh nghệ thuật về đời sống và nhân vật chính là trung tâm của bức tranh ấy Nhân vật có thể có nguyên mẫu, được lấy nguyên mẫu từ con người thực ngoài đời nhưng luôn có tính ước

lệ, tính khái quát cao Nhiều, rất nhiều nhân vật có nguyên mẫu thực từ cuộc sống, từ ngoài đời nhưng bước vào tác phẩm thì ngoài những nét chính về cuộc đời, số phận, tính cách, phẩm chất… nhân vật còn có sự hư cấu của tác giả Trong văn học Việt Nam hiện đại, chúng ta có thể gặp nhiều nhân vật được xây dựng từ những nguyên mẫu nhưng không phải là một hình ảnh sao chép lại con người ngoài đời thật Trong tác phẩm “Chữ người tử tù” (Vang bóng một thời - 1938) Nguyễn Tuân nói rằng, nguyên mẫu của nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm này chính là nhà yêu nước Cao Bá Quát Đặc điểm nghề nghiệp Huấn (dạy học), họ Cao… và cái khí phách, cái tâm cao thượng “nhất sinh đê thủ bái mai hoa”, thân thế: đứng đầu (cầm đầu) cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình, tài năng: viết chữ nhanh và rất đẹp… nhưng con người, cuộc đời, số phận… Cao

Bá Quát không phải như Huấn Cao hay nói đúng ra thì Huấn Cao là một hình tượng văn học chứ không phải một nhân vật lịch sử Cao Bá Quát Hay anh hùng Núp, một con người thực, rất thực trong lịch sử nhưng trong cái thật đó, vẫn có

sự tưởng tượng, sự hư cấu của Nguyên Ngọc trong Đất nước đứng lên Và hãy nghe tâm sự của Nguyên Ngọc (Nguyễn Trung Thành) về hình tượng nhân vật

Tnú để hiểu hơn mối quan hệ giữa nguyên mẫu và nhân vật: “Và tôi bỗng biết

luôn, cũng rõ ràng như vậy, tôi sẽ viết chuyện về cuộc khởi nghĩa của anh Đề, cuộc đời, số phận anh Đề

Tôi có ngay cảm giác phải tìm một tên khác cho anh Đề Tên Đề nó Kinh quá, người Kinh quá Tnú, tôi gọi anh bằng tên ấy Nó "không khí" hơn nhiều

Khi đã biết tôi sẽ viết chuyện anh Đề - Tnú - tôi thấy yên tâm và bình tĩnh Tôi chưa hình dung câu chuyện, cốt truyện sẽ diễn biến cụ thể ra sao, nhưng tôi

đã thấy rõ, cái truyện ngắn này sẽ bắt đầu bằng một khu rừng xà nu - (mà tôi sẽ

ra sức tả một cách hết sức tạo hình, như chạm nổi lên như vậy, có không gian như tượng tròn và có cả mùi vị có thể ngửi thấy được) - và truyện sẽ kết thúc cũng bằng một cảnh rừng xà nu, như một vĩ thanh cứ xa mờ dần và bất tận, nghĩa là "bố cục" cơ bản đã thấy được rồi Sau đấy mọi sự bỗng trở nên rõ

Trang 36

ràng, dễ dàng đến kì lạ Chị Dít "đến" - như là tất yếu vậy (tôi muốn giữ nguyên tên thật của chị - nó rất tạo không khí, đối với tôi) Nhưng tôi muốn Dít sẽ là mối tình sau của Tnú, một mối tình sẽ lờ mờ mà chắc chắn hiện lên ở cuối truyện Vậy thì có phải Mai, chị của Dít Mai đối với tôi chẳng khó khăn gì Tôi

đã "có" hàng trăm cô gái Tây Nguyên (và không chỉ Tây Nguyên) để hình dung

và dựng lên một cô Mai Và cái gì để dẫn đến cuộc bùng dậy ghê gớm như vậy của Tnú (diệt sạch cả một tiểu đội giặc gần như bằng tay không, những năm tháng chưa hề có tiếng súng cách mạng ấy )? Tức phải có một nỗi đau riêng bức bách dữ dội, bật ra từ nỗi đau chung của làng xóm, dân tộc: đứa con bị đánh chết tàn bạo, Mai gục xuống, ngay trước mắt Tnú Chi tiết ấy đến một cách tất yếu.” (Nguyên Ngọc, “Về truyện ngắn Rừng xà nu", Nhà văn nói về tác phẩm,

Hà Minh Đức biên soạn, Nxb Giáo dục, 2000) Như vậy, chúng ta thấy rằng, nguyên mẫu anh Đề đã “sống một cuộc sống khác” trong Rừng xà nu, đã hóa thân thành Tnú và những diễn biến trong cuộc đời anh lại theo dụng ý nghệ thuật của tác giả

Đó là trường hợp nhân vật có nguyên mẫu thật ngoài đời, trong nhiều trường hợp, nhân vật văn học hoàn toàn là sản phẩm của trí tượng tượng chủ quan nhà văn, không hề có thực trong cuộc sống Nhiều nhân vật như ma quỷ, phù thủy, bà tiên, ông Bụt… hoàn toàn là sản phẩm của trí tưởng tượng của người sáng tạo nghệ thuật, mang trong mình dấu ấn chủ quan của người nghệ sĩ Ngay trong những tác phẩm văn học hiện đại, chúng ta cũng dễ dàng thấy điều

đó, ví dụ trường hợp nhân vật Xuân Tóc Đỏ trong Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng, nhân vật Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao… dường như không có thực trong cuộc đời, là một sự sáng tạo hay tổng hợp của nhà văn Hơn thế nữa, không chỉ mang dấu ấn cá nhân của nhà văn, nhân vật còn mang dấu ấn của thời đại nhân vật đang sống hay của thời đại mà tác giả đang sống, của không gian địa lý mà nhân vật hay tác giả sinh sống Có thể thấy rõ điều này qua hai cuốn

sử thi đồ sộ của văn học Hi Lạp, với cùng tác giả Hô-me-rơ Trong trường ca Iliat, Asin là mẫu người lý tưởng của thời đại coi trọng sức mạnh thể lực thì trong Ô-đi-xê, Uy-lít-xơ lại là hình mẫu lý tưởng của thời đại trí tuệ Kiểu nhân vật anh hùng trong văn học Trung đại là kiểu người “chọc trời khuấy nước”, bản lĩnh phi phàm nhưng kiểu nhân vật anh hùng trong văn học cách mạng lại là những con người bình dị, những công nhân, nông dân “cần cù làm lụng” vì có giặc ngoại xâm mà phải vùng lên cầm vũ khí Cùng là bi kịch của người trí thức trong cuộc sống, xã hội, nhưng bi kịch của người trí thức Việt Nam thường được

đề cập đến, phản ánh đến trong văn học, từ Nam Cao đến Ma Văn Kháng lại thường là cái bi kịch về vấn đề cơm áo gạo tiền nhưng bi kịch của người trí thức Trung Quốc, được Diêm Liên Khoa thể hiện trong tiểu thuyết Phong nhã tụng, lại là bi kịch về sự nghiệp, bi kịch của con người bị xã hội, bị cuộc sống ruồng

bỏ

Nhân vật văn học được miêu tả qua biến cố, xung đột, mâu thuẫn và mọi chi tiết các loại Đó là mâu thuẫn nội tâm của nhân vật, mâu thuẫn giữa nhân vật này với nhân vật kia, giữa tuyến nhân vật này với nhân vật khác Cho nên nhân

Trang 37

vật gắn liền với cốt truyện Nhờ được miêu tả qua xung đột, mâu thuẫn, nên khác với hình tượng hội họa và điêu khắc, nhân vật văn học là một chỉnh thể vận động, tính cách được bộc lộ dần trong không gian, thời gian, mang tính chất quá trình Nhân vật văn học được thể hiện bằng chất liệu riêng là ngôn từ, không giống với các nhân vật thuộc các loại hình nghệ thuật khác Nhân vật văn học đòi hỏi người đọc phải căn cứ vào văn bản ngôn từ của tác phẩm, vận dụng trí tưởng tượng, liên tưởng để dựng lại một con người hoàn chỉnh trong tất cả các mối quan hệ của nó Ví dụ, khi tìm hiểu, đánh giá, phân tích về nhân vật Chí Phèo thì không thể tách bạch riêng nhân vật này ra mà phải đặt trong mối quan

hệ đa chiều, phức tạp với Bá Kiến, với Thị Nở, với bà cô Thị Nở và với cả dân làng Nếu chỉ xem xét ở một vài mối quan hệ, một vài biểu hiện thì cũng chỉ đánh giá được một vài đặc điểm chứ không phải một cái nhìn toàn diện Vì vậy,

có thể mỗi người có cách đánh giá, cảm nhận, sự tưởng tượng khác nhau về nhân vật, tùy theo trình độ, lứa tuổi, học vấn, nghề nghiệp… của người đọc

Căn cứ để nhận diện nhân vật là những ngôn từ thể hiện đặc điểm của nó Trước hết có thể căn cứ vào tên gọi của nhân vật Thông thường mỗi nhân vật đều có tên gọi của nó Có thể đó là một cái tên riêng cụ thể như An Dương Vương, Sơn Tinh, Thủy Tinh, bà Phó Đoan, Cố Hồng, Văn Minh v.v Nhưng cũng có khi tên gọi theo dấu hiệu nghề nghiệp, đặc điểm giới tính, tiểu sử, hay một đặc điểm đặc biệt nào đó như anh trai cày, lão nhà giàu, chàng mồ côi, thằng ngốc, chú lùn, chàng thợ săn, bà hoàng hậu, nàng công chúa Cũng có khi tên nhân vật là tên gọi những con vật, đồ vật đã được nhân hóa như cáo, thỏ, rùa, cái bàn, bông hoa, cành cây , hoặc là tên gọi những nhân vật tưởng tượng:

mụ phù thủy, con quỉ ba đầu sáu tay, Ngọc Hoàng, Diêm Vương, Thần, Tiên, Bụt Tuy nhiên nếu chỉ căn cứ vào tên gọi thì có khi chưa nhận diện đúng nhân vật, chẳng hạn với loại nhân vật là những con vật, đồ vật được nhân hóa

Để xác định cái cây, con vật, đám mây, giọt nước… ấy đã là nhân vật chưa cần phải xem đã được "người hóa" chưa? Cùng miêu tả bông hoa, nhưng viết "Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên" thì "hoa" đó chưa phải nhân vật Nhưng miêu tả

"bông hoa" biết nói, biết suy nghĩ, biết buồn vui thì đó lại là nhân vật Cho nên sau tên gọi thường là những đặc điểm về tiểu sử, tính cách, tâm lý, tình cảm Thực ra ngay từ tên gọi một số nhân vật nhiều đặc điểm của nhân vật đã được bộc lộ như anh trai cày, chàng ngốc, mụ phù thủy Các đặc điểm nghề nghiệp tiểu sử, tính cách cho người đọc biết về nhân vật một cách sâu sắc hơn, cảm thụ

ý nghĩa xã hội mà nhân vật khái quát Trong thực tiễn, nhiều khi các đặc điểm tính cách đã thay cho tên gọi nhân vật như "kẻ thắng lợi tinh thần" (A.Q), "con người thừa" (E Onegin) "đồ đạo đức giả" (Tartufe), "kẻ lười biếng" (Oblomov) v.v Và nhiều khi, tên riêng của một nhân vật lại trở thành một tính từ chung chỉ tính cách, phẩm chất: Trương Phi (nóng tính, thẳng thắn, bộc trực); Tào Tháo (gian hùng, đa nghi, nham hiểm); Sở Khanh (lọc lừa phụ nữ)…

Nói tóm lại, văn học là tấm gương phản chiếu cuộc sống, dựng lên một bức tranh nghệ thuật về cuộc sống và nhân vật chính là trung tâm của bức tranh ấy Nhân vật văn học có thể được nhà văn lấy nguyên mẫu từ con người ngoài đời

Trang 38

thực hoặc tổng hợp, khái quát lên từ nhiều mảnh đời trong cuộc sống hay hoàn toàn là sản phẩm của trí tưởng tượng, sự hư cấu của nhà văn thì bao giờ cũng mang trong mình những dụng ý nghệ thuật, ý muốn chủ quan của nhà văn và dấu ấn của hoàn cảnh, thời đại mà nhân vật hay tác giả đang sống Vì vậy, một lần nữa chúng ta có thể khẳng định rằng, thành công trong nghệ thuật xây dựng

và thể hiện nhân vật của nhà văn là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá về thành tựu nghệ thuật, cống hiến của tác giả đó cho nền văn học

Trang 39

1.2 Chức năng của nhân vật trong tác phẩm văn học

Văn học không thể thiếu nhân vật vì đó là phương tiện cơ bản, cần thiết để nhà văn khái quát hiện thực một cách có hình tượng Nhà văn sáng tạo nhân vật

để thể hiện nhận thức của mình về một cá nhân nào đó, về một loại người nào

đó, về một vấn đề nào đó của hiện thực cuộc sống Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống xã hội trong một thời kì lịch

sử nhất định Phêđin cho rằng, nhân vật là một công cụ, khi bàn về tác phẩm

Sống lại (Phục Sinh) của L.Tônxtôi, ông nói: “Nhêkhliuđốp là một công cụ tinh

vi, sắc bén, ngoài Nhêkhliuđốp ra, không ai có thể vạch ra tốt hơn những bí mật của bọn người nhà nước đang nắm giữ chính quyền, cũng như những bí mật tâm hồn người Nga đang bị bóp méo dưới chế độ Nga hoàng… Hãy thay thế Nhêkhliuđốp bằng một nhân vật khác, và như vậy Sống lại cũng mất theo”

(Phêđin – Nhà văn – Nghệ thuật – Thời đại NXB Văn học nghệ thuật)

Nói một cách đơn giản, nếu nhà văn chỉ nói tôi giận, tôi yêu, tôi ghét, tôi quý mến, tôi say sưa… có lẽ chẳng có văn học và trong nhiều thể chế chính trị khiến những người có trái tim dũng cảm nhất cũng không thể nói lên sự thực Và như vậy, nhân vật trong tác phẩm văn học cũng như một “mật mã” để người đọc giải mã về cả thời đại, về xã hội Lấy một ví dụ đơn giản: dường như từ khi chúng ta đề cập Chí Phèo của Nam Cao như một kiệt tác thì mọi sự chú ý, mọi cái tội ác đều đổ về Bá Kiến, nhưng đọc Nước mắt và những tác phẩm cùng thời của ông thì chúng tôi cho rằng, cái để gây nên cái chết của Chí, dồn Chí vào con đường cùng không còn lối thoát, không còn lý do, hi vọng để tồn tại chính là những người dân quê mà đại diện là bà cô Thị Nở Nói như vậy có nghĩa, cái xã hội thời Pháp thuộc ấy không phải không cho người ta sống mà chỉ là không cho người ta sống làm người Vậy thì có gì ghê gớm, điều ghê gớm là chúng ta luôn cho rằng, luôn khẳng định những người nông dân là lương thiện, bản chất tốt, là… nhưng tội ác gây ra không phải do bọn cường quyền mà chính là nông dân, cái định kiến do sự ngu ngốc và hẹp hòi gần như bản chất của họ! Và một nhân vật được phản ánh trong tác phẩm văn học chắc chắn không thể là một con người cụ thể mà phải là một điển hình Không chỉ có một anh Chí Phèo ở cái làng Vũ Đại ngày ấy, mà còn có một A.Q ở Trung Quốc Không thể chỉ có một

“Anh Gầy” duy nhất sống trong xã hội Nga những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế

kỉ XX, không chỉ có một Bêlicôp duy nhất trong tác phẩm của Sê khốp mà là hôm nay vẫn có, vẫn thấy những kẻ như thế

Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng: Nhân vật trong tác phẩm văn học có chức năng khái quát những tính cách, những hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời Khi xây dựng nhân vật, nhà văn có mục đích gắn liền nó với những vấn đề mà nhà văn muốn đề cập đến trong tác phẩm Vì vậy, tìm hiểu nhân vật trong tác phẩm, bên cạnh việc xác định những nét tính cách của nó, cần nhận ra những vấn đề của hiện thực và quan niệm của nhà văn mà nhân vật muốn thể hiện Chẳng hạn, khi nhắc đến một nhân vật, nhất

là các nhân vật chính, người ta thường nghĩ đến các vấn đề gắn liền với nhân vật

Trang 40

đó Ví dụ: Nói về nhân vật Tấm là nói đến quá trình nhận thức, thức tỉnh và dẫn đến hành động, nói đến cuộc đấu tranh không khoan nhượng với cái ác, cái xấu

xa, nói đến ước mơ, khát vọng của nhân dân về một xã hội công bằng, triết lý nhân sinh: “Ở hiền thì lại gặp lành:… Nói đến Thúy Kiều là nói đến thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa, một thực trạng xã hội tàn bạo, thối nát cướp đi quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc của con người và thông qua nhân vật, Nguyễn Du cũng đề cao quyền sống, khát vọng hạnh phúc của con người

Ngoài ra, trong bản thân mối quan hệ nội tại bên trong tác phẩm văn học thì mỗi nhân vật cũng đảm nhiệm một chức năng, vai trò nhất định, người ta gọi đó

là “vai văn học” Trong truyện ngắn Chí Phèo, một nhân vật rất phụ mà ít ai để ý đến nhưng lại có nhiệm vụ, vai trò vô cùng quan trọng trong việc thay đổi diễn biến cốt truyện, đó là Tự Lãng Trong cuộc đời Tự Lãng thì người vợ xấu số của lão, đứa con gái hư hỏng của lão cũng đóng một vai trò quan trọng để dẫn đến tình huống đó Vợ lão phải mất để lão một mình “gà trống nuôi con” để đứa con gái hư hỏng chửa hoang và bỏ lão đi mất Và phải vì vợ chết, con bỏ đi, lão mới buồn tình, chán đời đến mức lôi rượu ra uống Rồi Chí Phèo trong đêm trăng rất sáng ấy ngứa ngáy đi trên đường, ngứa ngáy muốn đập phá thứ gì đó mới rẽ vào nhà lão, rồi hai đứa uống rượu, rồi say bét để Chí Phèo ra về không chui ngay vào lều ngủ mà ra bờ sông, bắt gặp Thị Nở nằm ngủ tênh hênh ở đó, để cái

“thiên tình sử” của họ bắt đầu Như vậy, nhân vật Tự Lãng đã thực hiện vai trò sợi dây xâu kết các tình tiết, sự kiện trong nội bộ tác phẩm, gắn kết hai nhân vật

để dẫn tới sự thay đổi và tiếp nối diễn biến cốt truyện Nói tóm lại, nếu nhân vật chính đóng vai trò chính, tham gia vào những diễn biến chính của cốt truyện thì một số nhân vật phụ lại đóng vai trò như một sợi dây kết nối các sự kiện, sâu chuỗi các tình tiết trong cốt truyện

1.3 Phân loại nhân vật trong tác phẩm văn học

Các loại hình nhân vật rất phong phú và đa dạng Hiện tại, chưa có sự thống nhất hoàn toàn về các cách phân loại nhân vật văn học và giữa các loại hình các nhân vật cũng chưa có ranh giới rạch ròi, sự phân định rõ ràng Tuy nhiên có thể căn cứ vào một số tiêu chí sau để phân loại nhân vật:

- Xét về vai trò của nhân vật trong tác phẩm, vai trò đối với diễn biến cốt truyện chúng ta có thể nói tới: nhân vật chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ

Nhân vật chính: nhân vật xuất hiện nhiều hơn cả trong tác phẩm, đóng vai

trò quan trọng trong việc thể hiện tập trung đề tài, chủ đề và tư tưởng trong tác phẩm Nhân vật chính thường được giới thiệu đầy đủ, miêu tả và khắc họa rõ nét

từ ngoại hình, tính cách, đến suy nghĩ, sự vận động bên trong nội tâm Trong tác phẩm văn học có thể có một hoặc nhiều nhân vật chính Trong tác phẩm có nhiều nhân vật chính, sự vận động, những mâu thuẫn, xung đột của các nhân vật

Ngày đăng: 16/09/2018, 09:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w