Ứng dụng các phương pháp định lượng trong nghiên cứu tái sinh rừng tại huyện Đinh Hóa tỉnh Thái NguyênỨng dụng các phương pháp định lượng trong nghiên cứu tái sinh rừng tại huyện Đinh Hóa tỉnh Thái NguyênỨng dụng các phương pháp định lượng trong nghiên cứu tái sinh rừng tại huyện Đinh Hóa tỉnh Thái NguyênỨng dụng các phương pháp định lượng trong nghiên cứu tái sinh rừng tại huyện Đinh Hóa tỉnh Thái NguyênỨng dụng các phương pháp định lượng trong nghiên cứu tái sinh rừng tại huyện Đinh Hóa tỉnh Thái NguyênỨng dụng các phương pháp định lượng trong nghiên cứu tái sinh rừng tại huyện Đinh Hóa tỉnh Thái NguyênỨng dụng các phương pháp định lượng trong nghiên cứu tái sinh rừng tại huyện Đinh Hóa tỉnh Thái NguyênỨng dụng các phương pháp định lượng trong nghiên cứu tái sinh rừng tại huyện Đinh Hóa tỉnh Thái NguyênỨng dụng các phương pháp định lượng trong nghiên cứu tái sinh rừng tại huyện Đinh Hóa tỉnh Thái Nguyên
Trang 1Phần 1 MỞ ĐẦU
1 Tớnh cấp thiết của đề tài
Rừng được mệnh danh “lỏ phổi xanh” của trỏi đất, rừng cú vai trũ rất quan trọng trong việc duy trỡ cõn bằng sinh thỏi và sự đa dạng sinh học trờn hành tinh của chỳng
ta Bởi vậy, bảo vệ rừng và bảo vệ nguồn tài nguyờn rừng đó trở thành một nội dung, một yờu cầu cấp thiết đối với tất cả cỏc quốc gia trờn thế giới nhằm bảo vệ mụi trường sống đang bị huỷ hoại ở mức bỏo động mà nguyờn nhõn chủ yếu là do cỏc hoạt động của con người gõy ra
Ở Việt Nam, theo cụng bố tại Quyết định số 2410/QĐ-BNN-TCLN ngày 9 thỏng 8 năm 2010, tớnh đến thời điểm thỏng 12 năm 2009, diện tớch rừng toàn quốc là 13,259 triệu ha, trong đú cú 10.339.305 ha rừng tự nhiờn và 2.919.538 ha rừng trồng, độ che phủ đạt 39,1%
Nhờ cú cỏc chủ trương, chớnh sỏch đỳng đắn của Đảng và Nhà nước nờn rừng đó được bảo vệ tốt hơn và dần phục hồi trở lại, diện tớch rừng ngày càng tăng, đất trống đồi nỳi trọc giảm, độ che phủ của rừng tăng lờn
Thực tiễn đó chứng minh rằng cỏc giải phỏp phục hồi rừng, quản lý bền vững chỉ
cú thể giải quyết thoả đỏng một khi cú sự hiểu biết đầy đủ về bản chất quy luật sống của hệ sinh thỏi rừng Do đú nghiờn cứu cấu trỳc rừng được xem là cơ sở quan trọng nhất, giỳp cỏc nhà lõm nghiệp cú thể chủ động trong việc xỏc lập cỏc kế hoạch và biện phỏp kỹ thuật tỏc động chớnh xỏc vào rừng, gúp phần quản lý kinh doanh rừng bền vững
Tái sinh tự nhiên có ý nghĩa rất lớn đối với hệ sinh thái ổn định, bền vững và vấn
đề sử dụng lâu dài liên tục Vì vậy nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên hiên của rừng nhiệt đới là vấn đề cần thiết hiện nay
Tuy nhiên, tái sinh rừng cũng tuân theo những qui luật nhất định, phụ thuộc vào
đặc điểm sinh vật học, sinh học loài cây, điều kiện lập địa, tiểu hoàn cảnh của rừng… Tái sinh rừng là một quá trình phức tạp, nghiên cứu tái sinh rừng là cần thiết, vừa có ý nghĩa lý luận, vùa có ý nghĩa thực tiễn, tái sinh rừng còn là cơ sở khoa học quan trọng trong việc đề xuất giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm xúc tiến tái sinh tự nhiên theo hướng sử dụng rừng ổn định, bền vững
Định Hoỏ là một huyện miền nỳi của tỉnh Thỏi Nguyờn cú diện tớch rừng phục hồi khỏ lớn Tuy nhiờn, rừng vẫn ở trạng thỏi suy thoỏi và chưa ổn định, chưa đạt hiệu quả về bảo vệ mụi trường Trong thời gian qua, việc khai thỏc và sử dụng quỏ mức,
Trang 2cụng tỏc quản lý bảo vệ rừng kộm hiệu quả làm cho rừng giảm sỳt nhanh chúng cả về
số lượng và chất lượng Những tỏc động này làm ảnh hưởng lớn đến khả năng tồn tại của rừng, làm xỏo trộn cỏc quy luật kết cấu và tỏi sinh tự nhiờn của rừng, diễn thế rừng
đi theo chiều hướng tiờu cực, đất đai bị thoỏi hoỏ, rừng cú sức sản xuất thấp và kộm ổn định
Nghiờn cứu quỏ trỡnh tỏi sinh của rừng cú ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn sản xuất cũng như kinh doanh rừng Nú là cơ sở cho việc xỳc tiến tỏi sinh tự nhiờn tận dụng triệt để khả năng tỏi sinh tự nhiờn của thực vật rừng phự hợp với điều kiện tự nhiờn, kinh tế, xó hội của địa phương nhằm gúp phần xõy dựng cỏc căn cứ luận khoa học cho một số giải phỏp kỹ thuật lõm sinh, nõng cao chất lượng rừng, đa dạng sinh học và cõn bằng hệ sinh thỏi
Xuất phỏt từ những vấn đề trờn, tụi tiến hành thực hiện đề tài: “ứng dụng các
phương pháp định lượng trong nghiên cứu tái sinh rừng tại huyện Định Hoỏ - Tỉnh Thỏi Nguyờn” Nhằm góp phần nhỏ bé của mình trong vấn đề nghiên cứu tái sinh rừng
tự nhiên theo hướng định lượng để đề xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh trong quá trình bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và phục hồi rừng tự nhiên tại tỉnh trung du miền núi Thái Nguyên
1.2 Mục tiờu nghiờn cứu
Đề tài nghiờn cứu nhằm gúp phần hoàn thiện cơ sở lý luận cho việc ứng dụng cỏc mụ hỡnh toỏn sinh học trong nghiờn cứu để xỏc định được cấu trỳc và tỏi sinh rừng
tự nhiờn
Đề xuất định hướng cho cỏc giải phỏp kỹ thuật lõm sinh nhằm xỳc tiến tỏi sinh
tự nhiờn phục vụ cụng tỏc khoanh nuụi tỏi sinh và phục hồi rừng tự nhiờn
Trang 3Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học nghiên cứu cấu trúc tái sinh rừng
2.1.1 Cấu trúc tái sinh rừng
Cấu trúc rừng là một khái niệm dùng để chỉ sự sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên quần xã thực vật rừng theo không gian và theo thời gian (Phùng Ngọc Lan, 1986) [15]
Cấu trúc rừng là một trong những nội dung nghên cứu quan trọng về hình thái quần thể thực vật Tuy nhiên, khái niệm về cấu trúc không chỉ bao gồm những nhân tố cấu trúc về hình thái mà cả những nhân tố cấu trúc về sinh thái Giữa cấu trúc rừng và sinh thái rừng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Bất kỳ một quy luật cấu trúc quần thể nào cũng đều có nội dung sinh thái học bên trong của nó Không quán triệt quan điểm sinh thái trong khi nghiên cứu cấu trúc rừng thì sẽ không có cơ sở khoa học để giải thích những quy luật cấu trúc của quần thể thực vật Cấu trúc rừng bao gồm cấu trúc sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc tuổi
Cấu trúc của lớp thảm thực vật là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên, là sản phẩm của quá trình đấu tranh sinh tồn giữa thực vật với thực vật và giữa thực vật với hoàn cảnh sống Do đó, cấu trúc rừng phản ánh mối quan hệ giữa các sinh vật với nhau
và giữa sinh vật với môi trường, ở đây là mối quan hệ giữa cây rừng với cây rừng, giữa cây rừng với hoàn cảnh rừng Trên quan điểm sinh thái thì cấu trúc rừng chính là hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh thái rừng Trên quan điểm sản lượng thì cấu trúc rừng phản ánh sức sản xuất của rừng theo điều kiện lập địa
Quá trình sinh học mang đặc thù của hệ sinh thái rừng Biểu hiện đặc trưng của tái sinh rừng là sự xuất hiện của một hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng, dưới tán rừng, lỗ trống trong rừng, rừng sau khai thác, trên đất rừng sau làm nương đốt rẫy… Vai trò lịch sử của thế hệ cây con này là thay thế thế hệ cây già cỗi Vì vậy, tái sinh rừng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ
Sự xuất hiện lớp cây con là nhân tốt mới làm phong phú thêm về số lượng và thành phần loài cây, đóng góp vào việc hình thành tiểu hoàn cảnh rừng, làm thay đổi
cả quá trình trao đổi vật chất và năng lượng diễn ra trong hệ sinh thái Do đó, tái sinh rừng hiểu theo nghĩa rộng là sự tái sinh cả một hệ sinh thái rừng Tái sinh rừng thúc
Trang 4đẩy việc hình thành cân bằng sinh học trong rừng bảo đảm cho rừng tồn tại liên tục và
do đó bảo đảm cho việc sử dụng rừng thường xuyên
Đứng trên quan điểm triết học, tái sinh rừng là một quá trình phủ định biện chứng Đứng trên quan điểm chính trị kinh tế học, tái sinh rừng là quá trình tái sản xuất mở rộng tài nguyên rừng, tạo tiền đề quyết định cho tái sản xuất mở rộng kinh tế trong lâm nghiệp Như vậy tái sinh rừng không còn chỉ là vấn đề tự nhiên, kỹ thuật mà còn là vấn đề kinh tế, xã hội
Xét về bản chất sinh học, tái sinh rừng diễn ra với ba hình thức: tái sinh hạt, tái sinh chồi và tái sinh thân ngầm (các loại tre nứa) Mỗi hình thức tái sinh trên đều có quy luật riêng và trải qua nhiều giai đoạn khác nhau (Dẫn theo giáo trình lâm sinh học
do PGS.PTS Ngô Quang Đê chủ biên) [8]
Hiện nay, ngành lâm nghiệp phân loại rừng theo hiện trạng chủ yếu dựa vào tiêu chuẩn phân loại của Loestchau năm 1966:
Đất nhóm II: Rừng phục hồi:
Rừng phục hồi trong giai đoạn đầu chủ yếu cây ưa sáng mọc nhanh (cây Thẩu tấu, Hu đay, Màng tang ) Đất trảng cỏ, cây bụi có nhiều cây gỗ tái sinh tự nhiên, mật
độ cây tái sinh > 1000 cây/ha với độ tàn che > 10% – Ký hiệu: IIa
Rừng phục hồi trong giai đoạn sau chủ yếu cây ưa sáng mọc nhanh (cây Thẩu tấu, Hu đay, Màng tang ) đã xuất hiện cây chịu bóng, cây gỗ lớn, có hiện tượng cạnh tranh không gian dinh dưỡng Mật độ cây > 1000cây/ha với đường kính D1.3 > 10 cm – Ký hiệu: IIb
Năm 2001, trong đề tài nghiên cứu “ Bổ sung hoàn thiện tiêu chuẩn phân chia trạng thái rừng”, Nguyễn Thế Hưng có đưa ra các chỉ tiêu phân loại rừng II của kiểu rừng lá rộng thường xanh và nửa rụng lá như sau:
Rừng IIa: Rừng phục hồi sau nương rẫy Đặc trưng bởi lớp cây ưa sáng, mọc nhanh, đều tuổi, một tầng có đường kính bình quân D trong khoảng 6 - 14,5cm và tổng diện ngang G trong khoảng 3 - 8.5m2
Rừng IIb: Rừng phục hồi sau khai thác kiệt Bao gồm quần thụ cây non, thành phần loài không phức tạp, không đều tuổi, độ ưu thế không rõ ràng Trạng thái này có thể còn sót lại một số cây của quần thụ cũ nhưng trữ lượng không đáng kể Đường kính bình quân lâm phần 12 - 17 cm và tổng diện ngang trong khoảng 6 - 12cm2
Trang 52.1.2 Phục hồi rừng
Phục hồi rừng hiểu theo cách khái quát nhất chính là quá trình ngược lại của sự suy thoái Nếu một khu rừng nguyên sinh bị tác động làm phá vỡ sự cân bằng của nó, với khả năng tự điều chỉnh tự nhiên thì nó luôn luôn có xu hướng vận động quay trở lại trạng thái ban đầu, quá trình này được gọi là quá trình diễn thế phục hồi Trong nhiều trường hợp, khi sự tác động quá mạnh, vượt ra khỏi khả năng tự điều chỉnh của hệ sinh thái thì quá trình phục hồi lại trạng thái ban đầu không thể xảy ra hoặc xảy ra rất chậm Lúc này cần đến sự trợ giúp của con người Do đó, hoạt động phục hồi rừng được hiểu
là các hoạt dộng có ý thức của con người nhằm đảo ngược quá trình suy thoái rừng Để phục hồi lại các hệ sinh thái rừng đã bị thoái hoá, chúng ta có rất nhiều lựa chọn tuỳ vào từng đối tượng và mục đích cụ thể Lamb và Gilmoer (2003) đã đưa ra 3 nhóm hành động nhằm đảo ngược quá trình suy thoái rừng là: Cải tạo (reclamation), khôi phục
(restoration) và phục hồi (rehabilitation) (Theo tài liệu của viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) [29]
Như vậy, phục hồi rừng là phục hồi lại thành phần chủ yếu của rừng là thảm thực vật cây gỗ này sẽ tạo điều kiện cho sự xuất hiện của các thành phần cây khác của rừng như: tầng cây bụi, tầng cỏ quyết, khu hệ thực vật, vi sinh vật…và các yếu tố khác của rừng như chế độ nhiệt, chế độ ẩm… Do đó, phục hồi rừng là một quá trình sinh học gồm nhiều giai đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiện một thế hệ mới thảm cây gỗ bắt đầu khép tán Quá trình phục hồi sẽ tạo điều kiện cho sự cân bằng sinh học liên tục và cũng
vì thế mà chúng ta có thể sử dụng chúng theo những chu kỳ xác định
Phục hồi rừng sau nương rẫy: phục hồi rừng sau nương rẫy là quá trình phục hồi
lại hệ sinh thái rừng trên đất nương rẫy đã bỏ hoá [13]
2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
2.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Trên thế giới, việc nghiên cứu cấu trúc rừng đã được tiến hành từ lâu nhằm xác định cơ sở khoa học cho việc đề xuất các biện pháp tác động vào rừng, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và môi trường của rừng Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được Richards P.W (1933-1934), Baur.G (1962), Odum (1971)… tiến hành Các nghiên cứu này thường nêu lên quan điểm, khái niệm và mô
tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng
Trang 6Baur G.N (1976)[2] đã nghiên cứu về các vấn đề cơ sở sinh thái học nói chung và
về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong đó đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa
tự nhiên Từ đó, tác giả đã đưa ra những tổng kết hết sức phong phú về các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh nhằm đem lại rừng cơ bản là đều tuổi, rừng không đều tuổi và các phương thức cải thiện rừng mưa
Catinot (1965) [3] , Plaudy J [16] đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niêm dạng sống, tầng phiến…
Odum E.P (1971) [32] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ sở thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A.P, năm 1935 Khái niệm hệ sinh thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học Như vậy, các công trình nghiên cứu của các tác giả Richards, Baur, Catinot, Odum… được coi là nền tảng cho những nghiên cứu về cấu trúc rừng, đặc biệt là ở rừng tự nhiên nhiệt đới Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên phục hồi sau nương rẫy còn rất ít
2.2.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng
Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới vô cùng phức tạp và còn ít được nghiên cứu Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mưa mà thường chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng đã ít nhiều bị biến đổi Van steenis (1956) [33] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng
Các công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh tự nhiên rừng mưa nhiệt đới đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Richards P.W (1952), Bernard Rollet (1974), tổng kết các kết quả nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh tự nhiên đã nhận xét: trong các ô
có kích thước nhỏ (1 x 1m, 1 x 1,5m) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố cụm, một
số ít có dạng phân bố Poisson Ở Châu Phi, trên cơ sở các số liệu thu thập Tayloer (1954), Barnard (1955) xác định số lượng cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ sung bằng trồng rừng nhân tạo Ngược lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới Châu Á như Budowsk (1956), Bava (1954), Atinot (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có
Trang 7giá trị kinh tế, do vậy các biện pháp lâm sinh đề ra là cần thiết để bảo vệ và phát triển
cây tái sinh có sẵn dưới tán rừng (dẫn theo Nguyễn Duy Chuyên, 1996) [4]
Có rất nhiều công trình nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến tán cây rừng Trong đó các nhân tố sinh thái như nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu và đề cập đến vấn đề này Baur G.N (1962) [2] cho rằng: sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến sự phát triển của cây con, đối với sự nảy mầm và phát triển của cây mầm ảnh hưởng này thường không rõ ràng, thảm cỏ và cây bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây tái sinh Ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ, cây bụi kém phát triển nhưng chúng vẫn ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây tái sinh Nhìn chung ở rừng nhiệt đới, tổ thành và mật độ cây tái sinh thường khá lớn Nhưng số lượng loài cây có giá trị kinh tế thấp, thường ít được nghiên cứu, đặc biệt là đối với tái sinh ở các trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy
H Lamprecht (1989)[30] căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các loài cây trong suốt quá trình sống để phân chia cây rừng nhiệt đới thành nhóm cây ưa sáng, nhóm cây bán chịu bóng và nhóm cây chịu bóng Kết cấu của quần thụ lâm phần có ảnh hưởng đến tái sinh rừng I.D Yurkevich (1960) đã chứng minh độ tàn che tối ưu cho sự phát triển bình thường của đa số các loài cây gỗ là 0,6 - 0,7
Như vậy, các công trình nghiên cứu được đề cập ở trên đã phần nào làm sáng tỏ những đặc điểm tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới Đó là cơ sở để xây dựng các phương thức lâm sinh hợp lý
Tóm lại, kết quả nghiên cứu tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng trên thế giới cho chúng ta những hiểu biết các phương pháp nghiên cứu và một số quy luật tái sinh
tự nhiên ở một số khu vực Đặc biệt, sự vận dụng các hiểu biết về quy luật tái sinh để xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm quản lý tài nguyên rừng bền vững
2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước
2.3.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Rừng nhiệt đới Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới nói chung Nhưng do phần lớn là rừng thứ sinh bị tác động của con người nên những quy luật tái sinh đã bị xáo trộn nhiều Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tái sinh rừng nhưng tổng kết thành quy luật tái sinh cho từng loại rừng thì còn rất ít
Trang 8Một số kết quả nghiên cứu về tái sinh thường được đề cập trong các công trình nghiên cứu về thảm thực vật, trong các báo cáo khoa học và một phần công bố trên các tạp chí Từ kết quả điều tra tái sinh, dựa vào mật độ cây tái sinh, Vũ Đình Huề (1969) [11] đã phân chia khả năng tái sinh rừng thành 5 cấp: cấp rất tốt có >12000 cây / ha, cấp tốt có từ 8000 - 12000 cây / ha, cấp trung bình có từ 4000 - 8000 cây / ha, cấp xấu
có từ 2000 - 4000 cây / ha, cấp rất xấu mật độ cây tái sinh <2000 cây / ha Nhìn chung nghiên cứu này mới chỉ chú trọng đến số lượng cây tái sinh mà chưa đề cập đến chất lượng cây tái sinh Cũng từ kết quả điều tra trên, Vũ Đình Huề (1975)[12] đã tổng kết
và rút ra nhận xét: tái sinh tự nhiên rừng miền Bắc Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới Dưới tán rừng nguyên sinh, tổ thành loài cây tái sinh tương tự như tầng cây gỗ Dưới tán rừng thứ sinh tồn tại nhiều loài cây gỗ mềm, kém giá trị và hiện tượng tái sinh theo đám được thể hiện rõ nét tạo nên sự phân bố số cây không đồng đều trên mặt đất rừng Với những kết quả đó, tác giả đã xây dựng biểu đánh giá tái sinh áp dụng cho các đối tượng rừng lá rộng ở miền Bắc nước ta
Mối quan hệ giữa cấu trúc rừng với lớp cây tái sinh trong rừng hỗn loài cũng đã được đề cập trong công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Trương (1983)[28] Theo tác giả, cần phải thay đổi cách khai thác rừng cho hợp lý sao cho vừa cung cấp được
gỗ lại vừa nuôi dưỡng và tái sinh được rừng Muốn đảm bảo cho rừng phát triển liên tục trong điều kiện đào thải tự nhiên thì phải đẩm bảo lớp cây dưới phải nhiều hơn lớp cây kế cận nó ở phía trên Điều kiện này không thực hiện được trong điều kiện rừng tự nhiên ổn định mà chỉ trong rừng chuẩn có hiện tượng tái sinh liên tục đã được sự điều tiết khéo léo của con người
Nhiều nghiên cứu tái sinh khác nhằm khoanh nuôi phục hồi rừng của các tác giả
Vũ Đình Huề (1975) [12], Ngô Văn Trai (1995)[26], đã nghiên cứu quá trình tái sinh
tự nhiên của thảm thực vật rừng thông qua việc nghiên cứu số lượng cây tái sinh
Vũ Tiến Hinh (1991) [9] Nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh của rừng tự nhiên ở Hữu Lũng (Lạng Sơn) và vùng Ba Chẽ (Quảng Ninh) đã nhận xét: hệ số tổ thành tính theo % số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao có liên quan chặt chẽ Đa phần các loài có hệ số tổ thành tầng cây cao càng lớn thì hệ số tổ thành tầng tái sinh cũng như vậy
Hiện tượng tái sinh lỗ trống ở rừng tái sinh Hương Sơn (Hà Tĩnh) đã được Phạm Đình Tam (1987) [20] làm sáng tỏ Theo tác giả, số lượng cây tái sinh xuất hiện khá nhiều
Trang 9dưới các lỗ trống khác nhau Lỗ trống càng lớn thì cây tái sinh càng nhiều và hơn hẳn những nơi kín tán Từ đó tác giả đề xuất phương thức khai thác chọn, tái sinh tự nhiên cho đối tượng rừng khu vực này
Đánh giá vai trò tái sinh và phục hồi rừng tự nhiên ở các vùng miền Bắc, Trần Xuân Thiệp (1995) [23] nghiên cứu tập trung vào sự biến đổi về lượng, chất lượng tái sinh tự nhiên và rừng phục hồi Qua đó, tác giả đã kết luận: Rừng phục hồi Đông Bắc chiếm trên 30% diện tích rừng hiện có, lớn nhất so với các vùng khác Khả năng phục hồi hình thành các rừng vườn, trang trại rừng đang phát triển ở các tỉnh trong vùng Rừng Tây Bắc phần lớn là rừng phục hồi sau nương rẫy, diễn thế rừng ở nhiều vùng xuất hiện cây ưa sáng chịu hạn hoặc rụng lá, kích thước nhỏ và nhỡ là chủ yếu và nhóm cây lá kim rất khó tái sinh phục hồi trở lại do thiếu lớp cây mẹ…
Khi nghiên cứu quy luật phân bố cây tái sinh tự nhiên rừng lá rộng thường xanh hỗn loại vùng Quỳ Châu Nghệ An Nguyễn Duy Chuyên (1995)[4] đã nghiên cứu phân bố cây tái sinh theo chiều cao, phân bố tổ thành cây tái sinh, số lượng cây tái sinh Trên cơ sở phân tích toán học về phân bố cây tái sinh cho toàn lâm phần tác giả cho rằng loại rừng trung bình (IIIa2) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố Poisson, ở các loại rừng khác cây tái sinh có phân bố cụm
Nghiên cứu về tái sinh tự nhiên trong rừng chặt chọn ở Lâm trường Hương Sơn -
Hà Tĩnh, Trần Xuân Thiệp (1995)[23] đã định lượng các cây tái sinh tự nhiên trong các trạng thái rừng khác nhau Theo tác giả, rừng thứ sinh có số lượng cây tái sinh lớn hơn rừng nguyên sinh Tác giả còn thống kê các cây tái sinh theo 6 cấp chiều cao, cây tái sinh triển vọng có chiều cao >1,5m Khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên sau khai thác chọn tại Lâm trường Hương Sơn - Hà Tĩnh, Trần Cẩm Tú (1998) cho rằng: áp dụng phương thức xúc tiến tái sinh tự nhiên có thể đảm bảo khôi phục vốn rừng, đáp ứng mục tiêu sử dụng tài nguyên rừng bền vững Tuy nhiên, các biện pháp kỹ thuật tác động phải có tác dụng thúc đẩy cây tái sinh mục đích sinh trưởng và phát triển tốt, khai thác rừng phải đồng nghĩa với tái sinh rừng, phải chú trọng điều tiết tầng tán của rừng; đảm bảo cây tái sinh phân bố đều trên toàn bộ diện tích rừng; trước khi khai thác, cần thực hiện các biện pháp
mở tán rừng, chặt cây gieo giống, phát dọn dây leo cây bụi và sau khai thác phải tiến hành dọn vệ sinh rừng
Trần Ngũ Phương (1970) [17] khi nghiên cứu về rừng mưa nhiệt đới lá rộng thường xanh đã có nhận xét: “Rừng tự nhiên dưới tác động của con người khai thác
Trang 10hoặc làm nương rẫy, lặp đi lặp lại nhiều lần thì kết quả cuối cùng là sự hình thành đất trống, đồi núi trọc Nếu chúng ta để thảm thực vật hoang dã tự nó phát triển lại thì sau một thời gian dài thì trảng cây bụi, trảng cỏ sẽ chuyển dần lên những dạng thực bì cao hơn thông qua quá trình tái sinh tự nhiên và cuối cùng rừng khí hậu sẽ có thể phục hồi dưới dạng gần giống rừng khí hậu ban đầu”
Trần Ngũ Phương (2000) [18] khi nghiên cứu các quy luật phát triển rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh qua trình diễn thế thứ sinh của rừng tự nhiên như sau: “ Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng khi tầng trên già cỗi, tàn lụi hoặc tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế; trường hợp chỉ có một tầng thì trong khi nó già cỗi một lớp cây con xuất hiện và sẽ thay thế nó khi nó tiêu vong, hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung gian xuất hiện và thay thế nó, nhưng về sau lớp thảm thực vật trung gian này sẽ xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong tương lai và sẽ thay thế thảm thực vật trung gian này, lúc bấy giờ rừng cũ sẽ được phục hồi”
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng gần đây thường thiên về
mô hình hoá các quy luật kết cấu lâm phần và việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động vào rừng thường ít đề cập đến yếu tố sinh thái nên chưa thực sự đáp ứng mục tiêu kinh doanh rừng ổ định lâu dài
2.3.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tái sinh rừng của các tác giả như: Viện Điều tra - Quy hoạch rừng, Vũ Đình Huề (1969, 1975), Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978), Nguyễn Văn Trương (1983), Phùng Ngọc Lan (1984), Phạm Đình Tam (1987), Nguyễn Duy Chuyên (1988), Nguyễn Vạn Thường (1991), Vũ Tiến Hinh (1991), Ngô Văn Trai (1995), Trần Xuân Thiệp (1995), Trần Cẩm Tú (1998), Trần Ngũ Phương (1970, 2000)…
Công trình điều tra tái sinh tự nhiên ở vùng sông Hiếu (1962-1964) bằng phương pháp đo đếm điển hình Kết quả điều tra đã được Vũ Đình Huề (1975) tổng kết trong báo cáo khoa học “Khái quát về tình hình tái sinh tự nhiên ở rừng miền Bắc Việt Nam” Theo báo cáo đó, tái sinh tự nhiên ở rừng miền Bắc Việt Nam cũng mang đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới, cụ thể ở rừng nguyên sinh, tổ thành loài cây tái sinh tương tự tầng cây gỗ, cò ở dưới tán rừng thứ sinh tồn tại nhiều loài cây gỗ mềm kém giá trị và cây tái sinh phân bố đồng đều trên mặt đất rừng Với những kết quả đó, tác giả đã xây dựng biểu đánh giá tái sinh áp dụng cho các đối tượng rừng lá rộng ở miền
Trang 11NCKH đầy đủ ở file: NCKH full