1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO chất lượng đội ngũ công nhân thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh hưng yên

100 140 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 555 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và phát triển kinh tế tri thức, GCCN ở các nước, nhất là các nước đang phát triển, là một trong những lực lượng xã hội quan trọng hàng đầu, đang tham gia tích cực vào sự phát triển KT XH của mỗi quốc gia. Giai cấp công nhân Việt Nam là một bộ phận của GCCN quốc tế, là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng GCCN Việt Nam ngày càng lớn mạnh đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Sự lớn mạnh của GCCN Việt Nam đã góp phần quan trọng vào thành công của sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong hơn ba thập kỷ qua.

Trang 1

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết đầy đủ

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Chủ nghĩa xã hội

Đội ngũ công nhân

Giai cấp công nhân

KT - XHNxbXHCN

Trang 2

MỤC LỤC

Tran g

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ

CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG NHÂN THỜI

KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI

1.1 Một số vấn đề lý luận về chất lượng đội ngũ công nhân

thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh

1.2 Thực trạng chất lượng đội ngũ công nhân thời kỳ đẩy

mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Hưng Yên 29

Chương 2: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO

CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG NHÂN THỜI

KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI

2.1 Yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ công nhân thời kỳ

đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Hưng

2.2 Một số giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đội ngũ

công nhân thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

858793

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và phát triển kinh tế tri thức, GCCN ở cácnước, nhất là các nước đang phát triển, là một trong những lực lượng xã hội quantrọng hàng đầu, đang tham gia tích cực vào sự phát triển KT - XH của mỗi quốcgia Giai cấp công nhân Việt Nam là một bộ phận của GCCN quốc tế, là lựclượng đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Đảng, Nhà nước ta luônquan tâm xây dựng GCCN Việt Nam ngày càng lớn mạnh đáp ứng yêu cầu sựnghiệp đổi mới CNH, HĐH và hội nhập quốc tế Sự lớn mạnh của GCCN ViệtNam đã góp phần quan trọng vào thành công của sự nghiệp đổi mới, CNH,HĐH đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong hơn ba thập kỷ qua

Cùng với các địa phương trong cả nước, tỉnh Hưng Yên cũng đang đẩymạnh công cuộc CNH, HĐH và là một tỉnh có tốc độ CNH, HĐH nhanh ởmiền Bắc Quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ Sáu Ban Chấp hành Trung

ương khoá X về: “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong thời

kỳ đầy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” và Nghị quyết Đại hội

đại biểu Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XVIII (nhiệm kỳ 2015 - 2020), tỉnhHưng Yên rất coi trọng phát triển ĐNCN có chất lượng ngày càng cao, sốlượng, cơ cấu hợp lý, nhằm thực hiện mục tiêu đưa Hưng Yên sớm trở thànhmột tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại Đây không những là yêu cầu cấpbách mà còn là nhiệm vụ chiến lược cơ bản, lâu dài của tỉnh

Trong những năm qua, với quyết tâm và nỗ lực phấn đấu của các cấplãnh đạo, chính quyền tỉnh Hưng Yên, ĐNCN tỉnh nhà đã có bước phát triểnnhanh chóng Số lượng công nhân trong các doanh nghiệp tăng nhanh, chấtlượng ĐNCN ngày càng nâng lên Ở một số ngành và lĩnh vực sản xuất đã hìnhthành ĐNCN lao động được đào tạo cơ bản, có trình độ học vấn, chuyên môn,

kỹ năng nghề nghiệp cao - công nhân trí thức Sự phát triển của ĐNCN vềmọi mặt đã góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy phát triển KT - XH của tỉnh

Trang 4

Tuy nhiên so với yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, ĐNCN tỉnh Hưng Yên vẫn còn bộc lộnhững hạn chế, yếu kém về mọi mặt, đặc biệt là chất lượng Trong đó, một bộphận công nhân trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp còn thấp,thiếu tính sáng tạo trong lao động sản xuất; kỷ luật, tác phong lao động chưađáp ứng yêu cầu sản xuất công nghiệp hiện đại; nhận thức chính trị, giác ngộgiai cấp chưa thật đầy đủ; đạo đức, lối sống có biểu hiện suy giảm Môi trường,điều kiện làm việc, cơ chế chính sách đối với công nhân vẫn còn bất cập Đờisống vật chất và tinh thần của công nhân còn nhiều khó khăn

Hiện nay, sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước nói chung, tỉnhHưng Yên nói riêng trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cuộccách mạng khoa học và công nghệ hiện đại (cách mạng 4.0) phát triển mạnh

mẽ đòi hỏi, Đảng, Nhà nước cần có chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo, có cơ chếchính sách nhằm xây dựng, phát triển toàn diện GCCN, nhất là về chất lượng

Đó chính là điều kiện tiên quyết không chỉ tạo ra nguồn nhân lực có chất lượngcao phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà còn trực tiếp góp phầnđưa nước ta sớm trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại

Vì vậy, tác giả lựa chọn vấn đề: “Chất lượng đội ngũ công nhân thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Hưng Yên” làm đề tài

nghiên cứu luận văn cao học, chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Vấn đề GCCN ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có nhiềucông trình khoa học nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau, trong đó nổi lêncác công trình sau:

* Nghiên cứu về giai cấp công nhân và xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Nguyễn Đăng Thành (chủ biên), (2007), “Góp phần xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam từ thực trạng công nhân thành phố Hồ Chí Minh”, Nxb

Trang 5

Chính trị quốc gia, Hà Nội [47] Các tác giả đã phân tích thực trạng GCCNthành phố Hồ Chí Minh, qua đó phần nào khái quát thực trạng GCCN ViệtNam để từ đó nghiên cứu, tham khảo và đưa ra những luận cứ khoa học choviệc định hướng phát triển GCCN nước ta hiện nay.

GS.TS Dương Xuân Ngọc (2008), “Giai cấp công nhân Việt Nam trong

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội [38] Tác giả đã đề cập đến GCCN và những nhân tố tác động đến quátrình biến đổi GCCN Việt Nam; thực trạng và xu hướng biến đổi của GCCNtrong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; quan điểm, mục tiêu, phương hướng,nhiệm vụ, giải pháp xây dựng GCCN Việt Nam trở thành lực lượng đi đầutrong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

TS Nguyễn An Ninh (2008), “Về xu hướng công nhân hóa ở nước ta hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội [39] Cuốn sách đã đề cập đến những

vấn đề liên quan tới quá trình phát triển của GCCN đã được đề cập, trong đó

có việc hoàn thiện cơ cấu GCCN đáp ứng yêu cầu mới của sự nghiệp đẩymạnh CNH, HĐH đất nước

TS Đặng Ngọc Tùng (chủ biên), (2010), “Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020”, Nxb Lao động, Hà Nội [59] Cuốn sách đã

góp phần làm rõ quan điểm, đường lối của Đảng trong vấn đề xây dựng GCCN;đưa ra hệ thống giải pháp cho việc xây dựng GCCN trong thập niên tới; cungcấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách, xác định nội dung xây dựngGCCN Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 của Đảng và Nhà nước ta

Phạm Văn Giang (2012), “Xu hướng vận động của giai cấp công nhân Việt Nam trong quá trình đối mới”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

[21] Nội dung của cuốn sách góp phần nghiên cứu, tìm hiểu xu hướng vậnđộng của GCCN Việt Nam trong quá trình đổi mới; những vần đề mới xuấthiện trong GCCN Việt Nam dưới tác động của điều kiện mới - toàn cầu hóa

và hội nhập quốc tế như: sự đa dạng về thành phần xuất thân, thành phần kinh

Trang 6

tế và ngành nghề hoạt động; hiện tượng phân tầng, phân hóa trong nội bộ giaicấp công nhân.

Phạm Văn Giang (2017), “Sự biến đổi của giai cấp công nhân Việt Nam dưới tác động của hội nhập quốc tế hiện nay”, Luận án tiến sĩ Triết

học [22] Tác giả đã phân tích một số vấn đề lý luận, sự biến đổi, thựctrạng, định hướng và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy sựbiến đổi tích cực, ngăn ngừa và hạn chế biến đổi tiêu cực của giai cấp côngnhân Việt Nam dưới tác động của hội nhập quốc tế hiện nay

Phan Thanh Khôi (2005), “Nội dung và chủ thể, quan điểm và giải pháp “trí thức hoá công nhân” ở nước ta hiện nay” [28] Tác giả đã đưa ra

một số nội dung, các chủ thể chính, những quan điểm cơ bản trong quá trình

“trí thức hoá công nhân” ở nước ta hiện nay, từ đó đề xuất các giải pháp lớnnhằm “trí thức hoá công nhân” ở nước ta hiện nay

Dương Văn Sao (2007), “Xây dựng, phát huy vai trò giai cấp công nhân, nhân tố quyết định thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [42] Tác giả đã khẳng định: Giai cấp công nhân là nhân tố quyết định

thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, từ đó đề xuất một số chủtrương, chính sách nhằm phát huy vai trò GCCN trong giai đoạn hiện nay

* Nghiên cứu về đội ngũ công nhân và xây dựng đội ngũ công nhân tỉnh Hưng Yên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Nguyễn Văn Chung (2008), “Đội ngũ công nhân tỉnh Hưng Yên trong

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [7] Luận văn thạc sĩ chuyên ngành

Chủ nghĩa xã hội khoa học Tác giả đã làm rõ một số vấn đề lý luận, thựctrạng, đồng thời đề ra một số giải pháp xây dựng ĐNCN tỉnh Hưng Yên trongthời kỳ mới

Nguyễn Thu Phương (2013), “Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Hưng Yên” [40] Luận văn thạc sĩ Triết học, chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa

Trang 7

học Tác giả đã phân tích một số vấn đề lý luận, thực trạng và đề xuất một sốgiải pháp chủ yếu phát triển nguồn nhân lực KHCN trong quá trình CNH,HĐH ở tỉnh Hưng Yên.

Như vậy đến nay đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu khoa họccác cấp được công bố đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau có liên quanđến GCCN; xây dựng GCCN, ĐNCN Tuy nhiên, chưa có công trình nào

nghiên cứu chuyên sâu về “Chất lượng đội ngũ công nhân thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Hưng Yên” Vì vậy, đề tài là

công trình nghiên cứu độc lập của tác giả, có kế thừa những nội dung nghiêncứu của các công trình nói trên liên quan đến đề tài, nhưng không trùng lặpvới các công trình khoa học đã được công bố

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn chất lượngĐNCN thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH ở tỉnh Hưng Yên, luận văn đề xuấtmột số yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng ĐNCN trong sự nghiệpCNH, HĐH ở tỉnh Hưng Yên hiện nay

* Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ một số vấn đề lý luận về chất lượng ĐNCN trong thời kỳ đẩymạnh CNH, HĐH ở tỉnh Hưng Yên

Đánh giá thực trạng chất lượng ĐNCN trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH ở tỉnh Hưng Yên

Đề xuất yêu cầu và một số giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng ĐNCNtrong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH ở tỉnh Hưng Yên hiện nay

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Chất lượng ĐNCN trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH ở tỉnh Hưng Yên

Trang 8

* Phạm vi nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu chất lượng ĐNCN trong thời kỳ đẩy mạnhCNH, HĐH ở tỉnh Hưng Yên, tuy nhiên có trọng tâm vào những KCN điểnhình như: Tổng công ty may Hưng Yên; Khu công nghiệp Phố Nối A; KCNThăng Long II Các số liệu được sử dụng từ năm 2011 đến nay

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, Nghị quyết của Đảng về xây dựngGCCN, về CNH, HĐH Đồng thời, luận văn có sử dụng kết quả nghiên cứucủa một số công trình khoa học có liên quan

* Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử, đồng thời kết hợp các phương pháp khác như: lôgíc lịchsử; phân tích, tổng hợp; điều tra xã hội học và xin ý kiến chuyên gia để làm sáng

tỏ góc độ chính trị và xã hội của đề tài

6 Ý nghĩa của luận văn

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần giúp cho cấp ủy, chính quyềntỉnh nghiên cứu xây dựng ĐNCN trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, đápứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh

Dùng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu học tập tại nhà trường trongquân đội Đồng thời, kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảotrong việc thực hiện các chủ trương, chính sách trong quản lý, phát triểnĐNCN tỉnh Hưng Yên; cho việc nghiên cứu lý luận chuyên ngành CNXHkhoa học

7 Kết cấu của luận văn

Gồm phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu thamkhảo, phụ lục và các công trình khoa học liên quan đến đề tài nghiên cứu

Trang 9

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ

CÔNG NHÂN THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA,

HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH HƯNG YÊN 1.1 Một số vấn đề lý luận về chất lượng đội ngũ công nhân thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Hưng Yên

1.1.1 Giai cấp công nhân và chất lượng đội ngũ công nhân thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Hưng Yên

* Quan niệm về giai cấp công nhân và vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Quan niệm về giai cấp công nhân

Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định GCCN là sản phẩm của nền đạicông nghiệp, giai cấp có sứ mệnh xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng thànhcông CNXH, chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới

Xuất phát từ quan niệm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin

về giai cấp công nhân, nghiên cứu những biến đổi của giai cấp công nhân

trong giai đoạn hiện nay: “Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính xã hội hoá ngày càng cao, là lực lượng sản xuất cơ bản, tiên tiến, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sử quá độ

từ chủ nghĩa tư bản đến chủ nghĩa xã hội” [59, tr.65]

Giai cấp công nhân Việt Nam là một bộ phận của GCCN thế giới, ra đờigắn liền với quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, trưởng thành vàphát triển gắn liền với phong trào cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới.Giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm chung của GCCN quốc tế.Cùng với quá trình phát triển đất nước, với đặc thù riêng và những điều kiện

Trang 10

lịch sử cụ thể nên GCCN Việt Nam còn có những đặc điểm riêng: Giai cấpcông nhân Việt Nam sinh trưởng ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến vớimột nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp chưa phát triển, đa số dân

cư là nông dân Do sinh trưởng trong lòng một dân tộc có truyền thống đấutranh chống ngoại xâm, chịu hai tầng áp bức của đế quốc thực dân và phongkiến, nên GCCN Việt Nam có mối thù sâu sắc với đế quốc thực dân, phongkiến Giai cấp công nhân Việt Nam xuất thân chủ yếu từ nông dân, đều chịu haitầng áp bức của thực dân và phong kiến, nên có mối quan hệ mật thiết gắn bóvới nông dân, sớm tạo lập nên khối liên minh công nhân - nông dân vững chắctrong cách mạng Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản dântộc, thấu hiểu hơn ai hết nỗi đau của cảnh nước mất, nhà tan, nên đã kiên quyếtđứng lên đấu tranh dành độc lập tự do cho dân tộc Quá trình hình thành củaGCCN Việt Nam chủ yếu qua các cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lượcPháp và Mỹ Từ khi ra đời GCCN Việt Nam chịu ảnh hưởng tích cực của cáchmạng XHCN tháng Mười Nga năm 1917, sớm giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin,nhanh chóng khẳng định vai trò lãnh đạo xã hội [24, tr.12]

Hiện nay, “Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp” [17, tr.43] Giai cấp công nhân Việt Nam đã và đang là lực lượng nòng cốt, đi tiên phong trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, CNH, HĐH phấn đấu đưa nước ta sớm trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Cùng với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, GCCN Việt Nam đang ngày càng phát triển cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Nghị quyết 20-NQ/TW, Hội nghị Trung ương 6 (khóa X) về “Tiếp tụcxây dựng giai cấp công nhân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại

Trang 11

hóa”, Đảng ta xác định: “Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn:

Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sảnViệt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiênphong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liênminh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnhđạo của Đảng” [17, tr.1], đồng thời đề ra mục tiêu xây dựng GCCN trong thờigian tới là: “Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, có giác ngộ giai cấp vàbản lĩnh chính trị vững vàng; có ý thức công dân, yêu nước, yêu chủ nghĩa xãhội, tiêu biểu cho tinh hoa văn hóa của dân tộc; nhạy bén và vững vàng trướcnhững diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và những biến đổi của tình hìnhtrong nước; có tinh thần đoàn kết dân tộc, đoàn kết hợp tác quốc tế; thực hiện

sứ mệnh lịch sử của giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong làĐảng Cộng sản Việt Nam Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, phát triểnnhanh về số lượng, nâng cao chất lượng, có cơ cấu đáp ứng yêu cầu phát triểnđất nước; ngày càng được trí thức hóa: Có trình độ học vấn, chuyên môn, kỹnăng nghề nghiệp cao, có khả năng tiếp cận và làm chủ khoa học - công nghệtiên tiến, hiện đại trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức; thích ứng nhanhvới cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế; có giác ngộ giai cấp, bản lĩnhchính trị vững vàng, có tác phong công nghiệp và kỷ luật cao” [17, tr.3]

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng nêu rõ:

“Quan tâm, giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân cả về

số lượng và chất lượng, nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyênmôn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động của côngnhân; bảo đảm việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện làm việc, nhà

ở, các công trình phúc lợi phục vụ cho công nhân; sửa đổi, bổ sung các chínhsách, pháp luật về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất

Trang 12

nghiệp… để bảo vệ quyền lợi, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần củacông nhân” [20, tr.160].

Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong công cuộcđổi mới, cùng với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, GCCN Việt Nam đã cónhững chuyển biến quan trọng, tăng nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu,chất lượng được nâng lên, đã hình thành ngày càng đông bộ phận công nhân,trí thức; đang tiếp tục phát huy vai trò của mình và có những đóng góp to lớnvào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội

* Quan niệm về chất lượng đội ngũ công nhân thời kỳ đẩy mạnh công

nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Hưng Yên

Quan niệm về Chất lượng

“Chất lượng” là một phạm trù phức tạp và có nhiều quan niệm khácnhau Tùy theo đối tượng sử dụng, quan niệm về “chất lượng” có ý nghĩakhác nhau Ví như trong lĩnh vực kinh tế, người sản xuất coi chất lượng sảnphẩm là điều họ phải làm, phải hướng tới để đáp ứng các qui định và yêu cầu

do khách hàng đặt ra, được khách hàng chấp nhận Chất lượng sản phẩm được

so sánh với chất lượng sản phẩm của đối thủ cạnh tranh và đi kèm theo cácchi phí, giá cả Do con người và nền văn hóa trên thế giới khác nhau, nên cáchhiểu của họ về chất lượng và đảm bảo chất lượng cũng khác nhau

Chất lượng là một khái niệm quá trừu tượng đến mức người ta khôngthể đi đến một cách diễn giải tương đối thống nhất, mặc dù sẽ còn luôn luônthay đổi Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS

9000:2000, đã đưa ra định nghĩa: “Chất lượng là khả năng của tập hợp các

đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầucủa khách hàng và các bên có liên quan”

Với cách tiếp cận như vậy, có thể thấy chất lượng là đặc tính kháchquan của sự vật Chất lượng biểu thị ra bên ngoài các thuộc tính, các tính chấtvốn có của sự vật Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người,một sự vật, sự việc Nói đến chất lượng là nói tới hai vấn đề cơ bản:

Trang 13

Theo đó, nói đến chất lượng của một con người là nói đến mức độ đạtđược của một người ở một thời gian và không gian được xác định cụ thể, đó

là các mức độ tốt hay xấu, cao hay thấp, ngang tầm hay dưới tầm, vượt tầm,đạt hay không đạt yêu cầu đặt ra Tổng hợp những phẩm chất, những giá trị,những thuộc tính đặc trưng, bản chất của một con người và các mặt hoạt độngcủa con người đó, chính là chất lượng con người đó

Khái quát về tỉnh Hưng Yên: Hưng Yên là một tỉnh đồng bằng sông

Hồng, phía bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía đông giáp tỉnh Hải Dương, phía tây

và tây bắc giáp thủ đô Hà Nội, phía nam giáp tỉnh Thái Bình và phía tây namgiáp tỉnh Hà Nam Đây là vùng đất cổ, có truyền thống lịch sử và văn hiến lâuđời “Tỉnh Hưng Yên được thành lập vào năm Minh Mạng thứ 12 (năm1831)” [48, tr.9] Đây là sự kiện có ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn, lần đầu tiêntrong lịch sử cái tên Hưng Yên được xuất hiện

Là một tỉnh thuần nông nhưng Hưng Yên được biết đến là một miềnquê tươi đẹp, một mảnh đất phù sa màu mỡ, có đặc sản Nhãn Lồng và truyềnthống văn hiến lâu đời, một chốn phồn hoa đô hội ngàn xưa: “Thứ nhất Kinh

Kỳ, thứ nhì Phố Hiến” Hưng Yên còn là mảnh đất “Địa linh nhân kiệt”, nơisản sinh ra nhiều bậc tài danh của đất nước trong nhiều thời kỳ lịch sử và làquê hương của nhiều nhà cách mạng, nhiều vị tướng tài

Hòa bình lập lại, tỉnh Hưng Yên trải qua nhiều lần thay đổi địa giớihành chính: ngày 26 - 01 - 1968, Ủy ban thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết

số 504 - NQ/TVQH phê chuẩn hợp nhất hai tỉnh là Hưng Yên và Hải Dương

Trang 14

thành tỉnh Hải Hưng Sau đó, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX, ngày 06

-11 - 1996, Quốc hội lại phê chuẩn việc chia tỉnh Hải Hưng thành hai tỉnh HảiDương và Hưng Yên, ngày 01 - 01 - 1997, tỉnh Hưng Yên được tái lập

Hiện nay, tỉnh Hưng Yên có 10 đơn vị hành chính cấp huyện, thành phốbao gồm: Thành phố Hưng Yên, các huyện Văn Lâm, Văn Giang, Mỹ Hào,Yên Mỹ, Khoái Châu, Ân Thi, Kim Động, Tiên Lữ, Phù Cừ với 160 xã,phường, thị trấn; diện tích tự nhiên là 930,22 km2, dân số thống kê đến năm

2016 là khoảng 1,2 triệu người với mật độ dân số 1.228 người/km2

Tỉnh Hưng Yên không có núi nhưng lại nhiều sông ngòi, hệ thống đạithủy nông Bắc - Hưng - Hải được khởi công vào năm 1956 đã hòa cùng hệ thốngsông ngòi trước đó tạo thành một hệ thống thủy nông giao thông phong phú Làmột tỉnh có địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình so với nướcbiển là +4m, có 60.524,95 ha đất nông nghiệp, đất đai trong tỉnh chủ yếu làđất phù sa, đất cát pha và một phần đất thịt rất thích hợp với các loại cây trồngnhư: lúa, màu, cây công nghiệp, cây ăn quả

Hưng Yên nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, chia làm 4mùa rõ rệt (Xuân, Hạ, Thu, Đông) Mùa mưa kéo dài từ cuối tháng 4 đếntháng 10 hàng năm Lượng mưa trong mùa mưa chiếm tới 70% tổnglượng mưa cả năm Nhiệt độ trung bình trong năm đo được là 23oc Nhiệt

độ cao nhất vào tháng 5 lên tới 380c, lượng mưa hàng năm đạt từ 1800đến 2200 mm Độ ẩm tương đối trung bình tháng từ 80 đến 90% Một sốnăm còn xảy ra lốc, mưa đá tuy không lớn nhưng cũng gây thiệt hại chomùa màng và tài sản

Là tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, bao gồm 7 tỉnh,thành phố: Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, VĩnhPhúc và Bắc Ninh Một khu vực có nhiều lợi thế và đang trở thành vùng pháttriển sôi động, có ưu thế rất thuận lợi cho việc hội nhập với nền kinh tế Châu

Á và thế giới thông qua mở rộng các hoạt động sản xuất kinh doanh xuất nhậpkhẩu và tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài

Trang 15

Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới và CNH, HĐH, kinh tế củatỉnh Hưng Yên đã có bước phát triển với tốc độ nhanh, khá toàn diện và vữngchắc, GDP năm sau luôn cao hơn năm trước Trong phần đánh giá thực hiệnNghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII nhiệm kỳ 2016 - 2020 đã chỉ

rõ: Sau khó khăn của những năm đầu nhiệm kỳ, từ năm 2013 đến nay sản

xuất công nghiệp đã từng bước được phục hồi và tiếp tục phát triển đạt hiệu

quả, tăng trưởng bình quân 9,87%; cơ cấu công nghiệp chuyển dịch tích

cực; các ngành, lĩnh vực, sản phẩm có thương hiệu, giá trị gia tăng, chấtlượng và sức cạnh tranh trên thị trường được giữ vững và phát triển; cóthêm nhiều sản phẩm công nghiệp phụ trợ, công nghệ giá trị gia tăng caonhư: phụ tùng ô tô xe máy, dệt may, điện tử, thúc đẩy tăng kim ngạch xuấtkhẩu Các KCN hoạt động hiệu quả, tỷ lệ lấp đầy đạt khá, đóng góp nhiềuvào nguồn thu ngoại tệ qua hoạt động xuất khẩu hàng hóa (như KCN Thăng

Long II, KCN Phố Nối A, ) [10, tr.20].

Tính đến năm 2016, Hưng Yên có 11 KCN với tổng quy mô diện tích2.481 ha được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận bổ sung vào Danh mục Quyhoạch tổng thể phát triển các KCN cả nước Các KCN được xem là hạt nhânthúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa của tỉnh Hiện nay, chính quyền địa phương,các ngành chức năng cũng như nhà đầu tư hạ tầng các KCN luôn nỗ lực tạo sứchút mạnh mẽ đối với các nhà đầu tư, nâng sức cạnh tranh và quyết liệt cải thiệnmôi trường đầu tư góp phần để Hưng Yên phát triển công nghiệp bền vững

Tiểu thủ công nghiệp tuy gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn được duy trì,

59 làng nghề đang hoạt động đã đóng góp vào phát triển KT - XH, nhất là giảiquyết việc làm, xây dựng nông thôn mới

Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đã thúc đẩy tăng trưởng,chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động Bình quân mỗi năm có khoảng

530 doanh nghiệp mới được thành lập, đến ngày 30/6/2015 có 5.921 doanhnghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp [10, tr.21] Đến năm 2017, tốc độ

Trang 16

tăng trưởng công nghiệp của tỉnh là: Chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng9,51% (KH 9%), trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 3,43%,ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,50%; ngành sản xuất và phân phốiđiện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 11,91%; ngànhcung cấp nước, hoạt động quản lý, xử lý nước thải, rác thải tăng 9,63% Một

số sản phẩm tăng trưởng khá như: Thép cán các loại tăng 11,56%, tủ lạnh, tủ

đá các loại tăng 22,15%, sản phẩm bằng plastic các loại tăng 12,72%, sản xuấtgiấy và sản phẩm từ giấy tăng 10,63% [63, tr.3]

Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã xác định: “Tập trung thu hút đầu tư, pháttriển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp có giá trị gia tăng cao, hiệnđại” là một trong ba khâu đột phá trong nhiệm kỳ 2016 - 2020 để phấn đấuđưa Hưng Yên sớm trở thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại

Với chỉ tiêu chủ yếu: Một là, tăng trưởng bình quân năm: GRDP tăng từ 7,5

-8%; giá trị sản xuất nông nghiệp - thủy sản tăng từ 2,5 - 3%, chỉ số sản xuấtcông nghiệp tăng 9 - 10%, thương mại - dịch vụ tăng 8,5 - 9,5%; kim ngạchxuất khẩu tăng bình quân 16%; duy trì tỷ lệ tăng dân số tự nhiên dưới 1%

Hai là, đến năm 2020: Cơ cấu kinh tế: Công nghiệp, xây dựng 55%; Dịch vụ

37%; Nông nghiệp 8%; giá trị thu được bình quân 210 triệu đồng/ha; 70% số

xã đạt chuẩn nông thôn mới; tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt trên 13.000

tỷ đồng, trong đó thu nội địa 9.000 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu đạt 5 tỷUSD; GDP bình quân đầu người 75 triệu đồng; tỷ lệ đô thị hóa đạt 40,5%; tỷ

lệ hộ dân được dùng nước hợp vệ sinh đạt 98%; tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 2%;

tỷ lệ lao động qua đào tạo 65%; 100% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia

về y tế; tỷ lệ người dân có thẻ bảo hiểm y tế đạt trên 80%; 90% số cơ quan,đơn vị, gia đình và 87% số làng, khu phố đạt danh hiệu văn hóa; thành phố

Hưng Yên đạt đô thị loại II, thị xã Mỹ Hào đạt đô thị loại III Ba là, hàng năm

tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh trên 50% (theo hướng dẫnmới); Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đạt vững mạnh trên85%; kết nạp mới 1.600 đảng viên [10, tr 61]

Trang 17

Khái quát về đội ngũ công nhân thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Hưng Yên

Đội ngũ công nhân thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH ở tỉnh Hưng Yên làmột bộ phận của GCCN Việt Nam, là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong sựnghiệp CNH, HĐH, phát triển KT - XH ở tỉnh Hưng Yên

Đội ngũ công nhân thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH ở tỉnh Hưng Yênthích nghi tương đối nhanh với cơ chế thị trường, tư tưởng trông chờ vào baocấp của Nhà nước được khắc phục rõ rệt; đã bắt đầu hình thành được ý thức

về giá trị của bản thân trong lao động; đã xuất hiện một bộ phận công nhân có

cổ phần trong doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa Trong quá trình hìnhthành và thực hiện đường lối đổi mới, ĐNCN thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH ởtỉnh Hưng Yên, đặc biệt là ĐNCN trí thức, đã phát huy tinh thần sáng tạo, đềxuất nhiều giải pháp quý báu cho Ðảng bộ tỉnh Hưng Yên nói riêng và choĐảng, Nhà nước đúc rút thành những chủ trương và chính sách để lãnh đạo,chỉ đạo thực hiện có hiệu quả phát triển kinh tế, giữ vững ổn định chính trị -

xã hội Những cán bộ quản lý sản xuất kinh doanh, cán bộ kỹ thuật và bộphận công nhân trực tiếp sản xuất có trình độ cao, đã phát huy tốt hơn tínhnăng động, sáng tạo trong công việc, tự chủ trong sản xuất kinh doanh, thíchứng với cơ chế thị trường, tiếp thu và từng bước làm chủ những thành tựukhoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại

Quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế đang làm cho ĐNCN thời kỳ đẩymạnh CNH, HĐH ở tỉnh Hưng Yên biến đổi về cơ cấu, số lượng, chất lượngtrên hai phương diện chính:

Một mặt, quá trình xây dựng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định

hướng XHCN đã thúc đẩy sự biến đổi ĐNCN trong các thành phần kinh tế theohướng: số lượng công nhân trong khu vực nhà nước giảm mạnh do chủ trươngsắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước (từ 5.533 công nhân năm 1997 xuống còn2.709 công nhân năm 2011 và tăng dần lên 3.834 công nhân năm 2015); số

Trang 18

lượng công nhân trong khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nướcngoài có xu hướng tăng mạnh (từ 32.024 công nhân năm 1997 tăng lên 113.857công nhân năm 2011 và đến nay là 167.939 công nhân) [8, tr.104].

Mặt khác, quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH và chuyển đổi cơ cấu sản

xuất kinh doanh đang làm biến đổi sâu sắc cơ cấu, số lượng và chất lượngĐNCN thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH ở tỉnh Hưng Yên Tốc độ phát triểnnhanh của công nghiệp, dịch vụ và nhu cầu lớn về nguồn lao động là nguyênnhân cơ bản dẫn đến sự biến đổi sâu sắc về cơ cấu, số lượng, chất lượngĐNCN của tỉnh trong giai đoạn hiện nay Tác động mạnh và trực tiếp nhất vớingười công nhân vẫn là quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất và thay đổi quytrình công nghệ tại các doanh nghiệp, khá nhiều công nhân ở độ tuổi trên 40

đã không theo kịp quá trình này

Cơ chế thị trường vừa tận dụng mọi trình độ lao động lại vừa phân hóa,đào thải công nhân theo các trình độ tay nghề Ở tỉnh Hưng Yên hầu như vẫnchấp nhận tất cả mọi trình độ lao động, hiển nhiên là với mức lương rất khácnhau Theo đó, những vấn đề xã hội nảy sinh cũng tương ứng với trình độcông nghệ Hiện tượng đình công hay tranh chấp lao động cũng xảy ra ở một

số doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài Tại một số doanh nghiệp nhà nước, quá trình chuyểnđổi cơ chế sản xuất và quản lý còn chậm; dấu vết của cơ chế bao cấp, ưu đãivẫn còn; hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp vẫn chưa tương xứng với vai tròchủ đạo của kinh tế nhà nước

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa chính là quá trình chuyển đổi căn bảntoàn bộ nền kinh tế theo hướng đẩy mạnh sự phát triển công nghiệp gắn vớiviệc áp dụng công nghệ hiện đại Vì vậy, vai trò của GCCN là vô cùng to lớn

vì họ là những người trực tiếp sản xuất và hoạt động dịch vụ trong lĩnh vựccông nghiệp Ở tỉnh Hưng Yên, trong những năm qua, ĐNCN là những ngườilao động trực tiếp và có mặt ở tất cả các ngành công nghiệp quan trọng, các

Trang 19

KCN then chốt và ở mọi thành phần kinh tế Sự phát triển kinh tế ở tỉnh trongnhững năm qua chủ yếu dựa vào tốc độ tăng trưởng về công nghiệp Vì vậy, sựphát triển của ngành công nghiệp là yếu tố quyết định tạo nên sự thành công củaquá trình CNH, HĐH Trong giai đoạn hiện nay, cùng với quá trình đổi mới kinh

tế và chuyển giao công nghệ hiện đại, với vai trò là lực lượng sản xuất chủ yếucủa xã hội, ĐNCN tỉnh Hưng Yên là người đầu tiên tiếp nhận, lắp đặt, vận hành,điều khiển, sử dụng máy móc và các thiết bị hiện đại Bản thân họ là nhữngngười đi đầu trong việc ứng dụng thành tựu KHCN hiện đại vào quá trình sảnxuất, đem lại hiệu quả kinh tế cao, tạo ra nhiều sản phẩm đa dạng có chất lượngđáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội Đội ngũ công nhân thực sự là lựclượng nòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH ở tỉnh Hưng Yên

Chất lượng đội ngũ công nhân thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Hưng Yên là tổng hòa các yếu

tố cấu thành như: số lượng, cơ cấu, tổ chức và chất lượng (bao gồm: phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ học vấn, năng lực chuyên môn nghiệp vụ, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong lao động công nghiệp, sức khỏe) của người công nhân và cả đội ngũ công nhân được thể hiện trong thực tiễn,

ở chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

Chất lượng ĐNCN có ảnh hưởng trực tiếp, có ý nghĩa quyết định đếnnăng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh, đến sức cạnh tranh củahàng hoá của doanh nghiệp trên thị trường, đến tốc độ phát triển KT - XH,nhất là phát triển công nghiệp Do đó, xây dựng ĐNCN tỉnh Hưng Yên cóchất lượng ngày càng cao trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH là một nộidung quan trọng hàng đầu

Nâng cao chất lượng ĐNCN tỉnh Hưng Yên hiện nay cần tập trung vàocác yếu tố: Sự giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị, ý thức công dân, tinh thầndân tộc, gắn bó thiết tha với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, với chế

Trang 20

độ XHCN, ý trí vươn lên thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, tinh thần trách nhiệm đốivới sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; trình độ tri thức, năng lực chuyênmôn, kỹ năng nghề nghiệp; đạo đức, lối sống; tính tổ chức, tính kỷ luật, tácphong công nghiệp; sức khỏe, thể lực của công nhân Nói cách khác, nâng caochất lượng ĐNCN tỉnh Hưng Yên thực chất là bồi dưỡng nâng cao các phẩmchất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ học vấn, năng lực chuyên môn nghiệp

vụ, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong lao động, sức khỏe cho ĐNCN Các yếu

tố đó được phản ánh và thể hiện ra trên thực tế ở chất lượng hiệu quả hoạt độngcủa ĐNCN đáp ứng với đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp đẩy mạnh CNH,HĐH, phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Hưng Yên

1.1.2 Các yếu tố tác động và tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công nhân thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Hưng Yên

* Các yếu tố tác động đến chất lượng đội ngũ công nhân thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Hưng Yên

Một là, chất lượng giáo dục, đào tạo: Chất lượng ĐNCN tỉnh Hưng

Yên trước hết chịu sự quy định của chất lượng giáo dục, đào tạo của đất nướcnói chung, của tỉnh nói riêng Bởi “Giáo dục là quốc sách hàng đầu Phát triểngiáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân

tài” [20, tr.114] Theo đó, chất lượng giáo dục đào tạo của đất nước nói chung,

của tỉnh Hưng Yên nói riêng mà tốt thì sẽ góp phần tạo ra nguồn nhân lực cóchất lượng tốt Ngược lại, chất lượng giáo dục đào tạo thấp thì nguồn nhân lựcđất nước nói chung cũng sẽ hạn chế

Đội ngũ công nhân tỉnh Hưng Yên được tuyển chọn từ các địa phương

trên cả nước song chủ yếu là con em nhân dân trên địa bàn tỉnh Chất lượnggiáo dục, đào tạo của các nhà trường (THCS, THPT, THCN, Cao đẳng, Đạihọc, trường đào tạo nghề ) có ảnh hưởng đến chất lượng ĐNCN (chất lượngđầu vào) Chính những phẩm chất, nhân cách cũng như kiến thức (tự nhiên,

xã hội) mà người công nhân được trang bị trong những năm tháng học tập ở

Trang 21

các bậc học là cơ sở nền tảng, là giá đỡ cho họ sau này trong quá trình laođộng ở các doanh nghiệp.

Nguồn tuyển dụng đầu vào là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượngcủa ĐNCN Tuyển dụng được người học đúng ngành, chuyên ngành sẽ làm choviệc bố trí, sử dụng công nhân sẽ dễ dàng và hiệu quả hơn; việc đánh giá năng lựccủa công nhân cũng sát với thực tế hơn Nếu ĐNCN được tuyển dụng hoặc đượcluân chuyển không sát với yêu cầu công việc sẽ là một bất lợi cho các doanhnghiệp vì phải tiến hành đào tạo, đào tạo lại mới có thể sử dụng được

Nguồn và chất lượng đầu vào của ĐNCN sẽ ảnh hưởng đến chiến lược, kếhoạch đào tạo, bồi dưỡng và phát triển ĐNCN Nó ảnh hưởng lớn đến nội dungchương trình đào tạo, bồi dưỡng; thời gian đào tạo, bồi dưỡng; số lượng cần phảiđào tạo, bồi dưỡng và kinh phí cho đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công nhân

Chất lượng ĐNCN không chỉ phụ thuộc vào chất lượng giáo dục, đàotạo ở các nhà trường, mà còn phụ thuộc vào thực tế công tác đào tạo, bồidưỡng, đào tạo lại ở các doanh nghiệp Những kiến thức được trang bị trongnhà trường rất quan trọng, là giá đỡ cho họ sau này ra làm việc, song chínhthực tiễn hoạt động, lao động sản xuất đòi hỏi ĐNCN cần phải tiếp tục đượcđào tạo, bồi dưỡng, đào tạo lại để đáp ứng tốt hơn

Trên thực tế, nhất là bối cảnh hội nhập hiện nay, các doanh nghiệptrong quá trình sản xuất kinh doanh đều phải quan tâm đào tạo, bồi dưỡng,đào tạo lại ĐNCN nhằm nâng cao trình độ, tay nghề cho họ Có như vậy chấtlượng sản phẩm công nghiệp sản xuất ra của các doanh nghiệp mới đáp ứngyêu cầu và đứng vững được trên thị trường

Chính quá trình thường xuyên tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, đào tạo lạicho ĐNCN của các doanh nghiệp cũng sẽ góp phần trực tiếp nâng cao chấtlượng ĐNCN tỉnh Hưng Yên

Hai là, môi trường, điều kiện làm việc: Các nhà kinh điển chủ nghĩa

Mác - Lênin đã khẳng định: Giai cấp công nhân là sản phẩm của nền đại côngnghiệp, đại công nghiệp càng phát triển thì GCCN càng phát triển cả về số

Trang 22

lượng và chất lượng Theo đó, chất lượng GCCN phụ thuộc và chịu sự quyđịnh của sự phát triển nền công nghiệp Nói cách khác, nền công nghiệp màngày càng phát triển về quy mô, trình độ công nghệ cao, hiện đại… sẽ là môitrường, điều kiện thuận lợi cho GCCN phát triển về số lượng và chất lượng.

Với sự phát triển CNH, HĐH của đất nước nói chung, tỉnh Hưng Yên nóiriêng hiện nay chính là môi trường, điều kiện thuận lợi để ĐNCN tỉnh nhà laođộng, cống hiến, ngày càng nâng cao phẩm chất, trình độ tay nghề của mình

Bên cạnh môi trường làm việc, chất lượng ĐNCN tỉnh Hưng Yên cònchịu sự tác động của môi trường xã hội Môi trường xã hội bao gồm nhiều yếu

tố như: dân số, gia đình, văn hóa, đạo đức, lối sống nó ảnh hưởng sâu sắcđến hoạt động của đội ngũ công nhân

Chất lượng dân số ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lựcđất nước nói chung, đến chất lượng ĐNCN tỉnh Hưng Yên nói riêng Nếu chấtlượng dân số cao sẽ tạo ra nguồn nhân lực, nguồn lao động tốt và ngược lại.Tình hình phát triển dân số với lực lượng lao động tăng đòi hỏi phải tạo thêmnhiều việc làm mới; ngược lại sẽ làm lão hóa đội ngũ lao động trong công ty

và khan hiếm nguồn nhân lực

Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã hội tốt Một trong nhữngchức năng rất quan trọng của gia đình là tái sản xuất ra con người, duy trì nòigiống, nuôi dạy, giáo dục con cái Nếu gia đình quan tâm, nuôi dạy con cái tốt,

sẽ cùng với nhà trường tạo ra những công dân tốt cho xã hội Trái lại, nếu giađình không làm tốt chức năng nuôi dạy con cái sẽ cho xã hội những công dânkém chất lượng, ảnh hưởng xấu đến chất lượng nguồn nhân lực của đất nước

Văn hoá, đạo đức, lối sống cũng là yếu tố quan trọng trong môi trường xãhội có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành giá trị nhân cách của mỗi cá nhântrong xã hội Nói đến văn hóa, đạo đức, lối sống trong xã hội là nói đến những giátrị cao đẹp, chuẩn mực về nhân cách, phẩm giá con người đã được kết tinh, trởthành nét đẹp truyền thống, có giá trị định hướng, giáo dục các thế hệ mai sau

Trang 23

Nếu môi trường xã hội lành mạnh thì tạo điều kiện thuận lợi choĐNCN phát triển về số lượng, nâng cao chất lượng, năng suất lao động Ngược lại, nếu môi trường xã hội không lành mạnh thì gây ảnh hưởng rất lớnđến công nhân, làm chậm thậm chí là không có sự thúc đẩy và phát triển chấtlượng ĐNCN, sản lượng lao động thấp

Ba là, cơ chế chính sách: Là động lực mạnh mẽ thúc đẩy con người hoạt

động Đối với ĐNCN tỉnh Hưng Yên hiện nay, chính sách (đặc biệt là chínhsách tiền lương) thực sự là vấn đề thiết thực nhất được họ quan tâm Cần chútrọng hoàn thiện các chính sách việc làm, chính sách khuyến khích các lĩnhvực, các ngành nghề, khuyến khích người có vốn, có trình độ đầu tư vào sảnxuất, kinh doanh tạo ra ngày càng nhiều việc làm mới, thu hút nhiều lao động

xã hội Quan tâm đến chính sách tiền lương, bảo đảm thu nhập của người laođộng tương xứng với kết quả lao động của họ, hạn chế tình trạng phân hóa giàunghèo ngay trong nội bộ GCCN, nhằm tạo động lực khuyến khích công nhânlao động cống hiến năng lực, trí tuệ cho sự nghiệp CNH, HĐH Cần quan tâm

tổ chức thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thấtnghiệp, bảo hộ lao động, chăm sóc, phục hồi sức khỏe đối với công nhân laođộng Đặc biệt, cần nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện chính sách nhà ở chocông nhân lao động, trong đó chú trọng nhà ở của công nhân lao động có trình

độ chuyên môn cao và công nhân lao động nghèo Nếu chính sách phù hợp sẽtạo động lực phát triển kinh tế xã hội, phát huy tiềm năng của người lao động

và người làm công hưởng lương Các chính sách rõ ràng sẽ giúp công ty xácđịnh được và ngăn chặn những rủi ro xảy ra đối với người lao động và đảm bảorằng công ty đang tuân theo đúng luật pháp Chúng cũng sẽ giúp tạo lập vănhoá công ty: khi mà tất cả mọi vấn đề được giải quyết công bằng và nhất quán

Có được một chính sách lao động phù hợp đem lại rất nhiều lợi ích Thiếtlập được các tiêu chuẩn là chìa khoá cho mối quan hệ tốt đẹp giữa chủ lao động vàngười lao động Nó có thể giảm được những vụ kỷ luật hay kiện cáo Nó cũng cóthể nâng cao năng suất và đạo đức cũng như giúp giữ được người lao động

Trang 24

Lập một chính sách rõ ràng có thể cũng đem lại hình ảnh tích cực chodoanh nghiệp trong mắt khách hàng và chính quyền địa phương Bên cạnh việcnâng cao uy tín doanh nghiệp, nó cũng có thể giúp doanh nghiệp thu hút thêmnhiều lao động mới Ngược lại nếu không phù hợp thì sẽ kìm hãm phát triển kinh

tế xã hội, không phát huy được tiềm năng của người lao động; có thể dẫn đếnnhững rủi ro xảy ra đối với ĐNCN và nó có thể làm tăng những vụ kỷ luật haykiện cáo, làm giảm năng suất lao động cũng như không giữ được người lao động

* Tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công nhân thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Hưng Yên

Tiêu chí: là các tiêu chuẩn dùng để kiểm định hay để đánh giá một đối tượng,

mà bao gồm các yêu cầu về chất lượng, mức độ, hiệu quả, khả năng, tuân thủ cácquy tắc và quy định, kết quả cuối cùng và tính bền vững của các kết quả đó

Theo đó, tiêu chí đánh giá chất lượng ĐNCN thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH ở tỉnh Hưng Yên thực chất là hệ thống các tiêu chuẩn về phẩm chất, trình

độ, năng lực, sức khỏe… được xác định nhằm để tham chiếu, đánh giá mức độphát triển của họ so với yêu cầu của đất nước, của doanh nghiệp đặt ra Cụ thể:

Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ công nhân: Là tiêu

chí đầu tiên rất quan trọng cấu thành chất lượng mỗi người công nhân cũngnhư cả đội ngũ; là cơ sở để tham chiếu, đánh giá về chất lượng mỗi ngườicông nhân và đội ngũ công nhân

Giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiềnphong là Đảng Cộng sản nhằm thực hiện sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình làxây dựng xã hội mới - xã hội XHCN, giải phóng nhân dân lao động khỏi ápbức bóc lột, bất công Sứ mệnh đó đặt ra và đòi hỏi ĐNCN phải có phẩm chấtchính trị tốt, đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống cao đẹp Chỉ có như vậy

họ mới làm tròn vai trò là giai cấp lãnh đạo cách mạng

Giai cấp công nhân Việt Nam nói chung, ĐNCN tỉnh Hưng Yên nóiriêng hiện nay cũng phải có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lậptrường GCCN, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân,

Trang 25

kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; xác định và nắm rõ nhiệm vụcủa mình là lực lượng chính, duy nhất thực hiện sứ mệnh lịch sử Phấn đấuthực hiện có hiệu quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhànước; có phẩm chất nghề nghiệp, yêu nghề đã lựa chọn, chủ động khắc phụckhó khăn, luôn phấn đấu vươn lên trong học tập, trong lao động sản xuất,nắm vững khoa học kỹ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến; luôn nêu cao tinhthần cảnh giác cách mạng, đấu tranh với những quan điểm sai trái, phảnđộng của các thế lực thù địch, có ý thức bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân

và chế độ xã hội chủ nghĩa

Có đạo đức trong sáng: Đạo đức là bộ phận cấu thành đặc biệt trongnhân cách của con người, giúp định hướng hành vi con người Cùng với trítuệ sâu sắc, đạo đức trong sáng là cơ sở vô cùng quan trọng để con ngườivững tin và tự lựa chọn được con đường, đưa ra được những quyết định đúngđắn trong những hoàn cảnh cụ thể, không bị tác động bởi yếu tố ngoại cảnh,nhất là những tiêu cực của xã hội Đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh là đạođức cách mạng, là sự kết tinh những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp củadân tộc ta và tinh hoa đạo đức văn hóa của nhân loại Trong quá trình đấutranh dựng nước và giữ nước, ông cha ta luôn coi trọng đạo đức, hình thànhnên những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp trong các mối quan hệ gia đình, cộngđồng và xã hội Đó là truyền thống yêu quê hương đất nước, gắn kết cộngđồng, ý chí độc lập tự cường, tinh thần chống giặc ngoại xâm; đoàn kết thủychung, nhân ái; quý trọng nghĩa tình, yêu lao động… Đạo đức cách mạng làcái gốc của cán bộ cách mạng, bởi vì muốn làm cách mạng trước hết conngười phải có lương tâm trong sáng, có đức tính cao đẹp Tâm và đức ấy phảiđược thể hiện trong các mối quan hệ xã hội, với dân, với nước, với đồng chí,đồng nghiệp, đồng bào và với công việc Chính vì vậy ĐNCN phải có đạo đứctrong sáng; Đạo đức cách mạng phải qua đấu tranh, rèn luyện bền bỉ mớithành Người viết: “Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống Nó

Trang 26

do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố Cũng nhưngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” [36, tr.612].

Có lối sống trong sạch, lành mạnh, giản dị; trách nhiệm cao đối vớicông việc Lối sống của DNCN là những hình thức, cung cách sinh hoạt, làmviệc, những hoạt động, cách xử sự đã trở thành ổn định, thành đặc điểm riêngcủa ĐNCN Lối sống do nhiều yếu tố quy định như giáo dục, nghề nghiệp,điều kiện kinh tế, sinh hoạt, hoàn cảnh xã hội, phẩm chất tâm lý, sinh lý và sựrèn luyện của đội ngũ công nhân

Dưới tác động của hội nhập quốc tế, ĐNCN năng động, chủ động hơn,

cố gắng nâng cao năng lực, hướng tới hiệu quả công việc ngày càng cao hơn.Trên thực tế, mọi sự thoái hóa trong đạo đức, lối sống đều bắt nguồn từ việcthiếu rèn luyện, không nghiêm khắc với bản thân, nhất là trong điều kiện khókhăn hoặc ở những môi trường dễ nảy sinh tiêu cực Cho nên, để giữ gìn đượcđạo đức trong sáng, lối sống trong sạch, lành mạnh, giản dị cần không ngừng

tu dưỡng, rèn luyện Đó là sự tu dưỡng, rèn luyện bền bỉ suốt đời; phải được ý

thức và chăm lo như “cơm ăn, nước uống hằng ngày”

Trình độ học vấn của đội ngũ công nhân: Là yếu tố cơ bản cấu thành chất

lượng mỗi người công nhân cũng như cả ĐNCN Đây là tiêu chí không thể thiếukhi đánh giá chất lượng GCCN nói chung, ĐNCN tỉnh Hưng Yên nói riêng

Trình độ học vấn là mức độ kiến thức của ĐNCN, thường được xácđịnh bằng các bậc học cụ thể trong hệ thống giáo dục quốc dân gồm: Trình độtrung học phổ thông, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng, trình độ đại học vàsau đại học Đây là nền tảng để rèn luyện, nâng cao trình độ chính trị, chuyênmôn và cả phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ công nhân

Yêu cầu sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH trong bối cảnh hội nhập quốc

tế và sự phát triển của cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang đặt ra đòi hỏicao đối với nguồn nhân lực của đất nước nói chung, ĐNCN tỉnh Hưng Yênnói riêng phải có trình độ kiến thức toàn diện mới có thể đáp ứng Trong bối

Trang 27

cảnh mới, ĐNCN phải có trình độ trung học phổ thông trở lên, phải là lựclượng nòng cốt trong nguồn nhân lực chất lượng cao của đất nước

Năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của đội ngũ công nhân:

Năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của ĐNCN là khả năng tổ chứcthực hiện nhiệm vụ và những thao tác nghề nghiệp của họ đạt đến độ thuầnthục, trở thành kỹ năng, kỹ xảo Năng lực chuyên môn còn được hiểu là trình

độ tay nghề của ĐNCN trong quá trình lao động sản xuất Năng lực chuyênmôn của ĐNCN không chỉ được đánh giá bởi bằng cấp chuyên môn được đàotạo mà chủ yếu là thể hiện trong thực tế công việc, ở kết quả hoàn thànhnhiệm vụ và ở uy tín trong công tác chuyên môn của họ

Đội ngũ công nhân có khả năng thích ứng nhanh, sáng tạo trong sự pháttriển của khoa học kỹ thuật, công nghệ Họ phải là những người có kỹ nănglàm chủ và ứng dụng một cách sáng tạo những tri thức mới, những kỹ thuật,công nghệ hiện đại trong quá trình lao động sản xuất; thích nghi nhanh chóngvới sự thay đổi của môi trường và điều kiện sản xuất Lực lượng này trực tiếpsản xuất ra của cải vật chất cho xã hội Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐHgắn với phát triển kinh tế tri thức, lực lượng này giữ vai trò to lớn trong việcphát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, chuyển giao các tiến bộ khoa học, kỹthuật và công nghệ tiên tiến để phục vụ cho sản xuất góp phần to lớn vào quátrình nâng cao năng suất lao động và thúc đẩy KT - XH phát triển

Ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong lao động của đội ngũ công nhân: Đây

là tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng của ĐNCN; là phẩm chất nghềnghiệp không thể thiếu của ĐNCN trong quá trình lao động công nghiệp

Yêu cầu của sản xuất công nghiệp đòi hỏi ĐNCN phải có ý thức tổ chức kỷluật cao trong lao động sản xuất; chấp hành đúng pháp luật của Nhà nước, quyđịnh của tổ chức: thời gian làm việc, tác phong làm việc, quy định an toàn laođộng phải cần, kiệm, liêm, chính, trung thực thẳng thắn, không cục bộ bản vị,

Trang 28

không tham vọng cá nhân, không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống thamnhũng, không cơ hội và chống mọi biểu hiện cơ hội.

Sản xuất công nghiệp cũng đòi hỏi ĐNCN phải có tác phong lao động,làm việc mang tính chất công nghiệp Đó là tác phong làm việc khẩn chương,khoa học, chính xác, mang tính chuyên nghiệp

Chất lượng ĐNCN tỉnh Hưng Yên hiện nay bên cạnh phẩm chất chínhtrị, đạo đức, lối sống, trình độ học vấn, năng lực chuyên môn còn phải đượcxem xét, đánh giá cả về ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong lao động của họ

Sức khoẻ của đội ngũ công nhân: Đây là tiêu trí rất quan trọng để đánh

giá chất lượng nguồn nhân lực của đất nước nói chung, ĐNCN tỉnh Hưng Yênnói riêng Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con người Sức khoẻ là nhu cầutrước hết của bản thân con người, là nhu cầu tồn tại Không có sức khoẻ thìkhông phát triển được trí tuệ, không thể lao động có hiệu quả cho xã hội Cómột cơ thể khoẻ mạnh, cường tráng là điều kiện cần thiết cho một tinh thầnsảng khoái, minh mẫn, là tiền đề và cơ sở chắc chắn, thường xuyên cho việcthực hiện nhiệm vụ có chất lượng

Bất cứ ngành nghề nào cũng cần người lao động có sức khỏe, thể lựctốt Lao động trong ngành công nghiệp với cường độ cao, tính chất công việcphức tạp càng đòi hỏi người lao động phải có sức khỏe tốt Đội ngũ côngnhân tỉnh Hưng Yên hiện nay cũng phải có thể lực, sức khỏe tốt mới đáp ứngyêu cầu của sản xuất công nghiệp

Hiệu quả lao động của đội ngũ công nhân: Thực tiễn là tiêu chuẩn của

chân lý Chất lượng ĐNCN chỉ có thể được nhận biết, đánh giá chính xáctrong thực tiễn hoạt động ở các doanh nghiệp; ở chất lượng, hiệu quả côngviệc mà họ đảm nhận Do đó, đây là tiêu chí suy đến cùng là thước đo đánhgiá chất lượng ĐNCN tỉnh Hưng Yên

Với phẩm chất, trình độ, năng lực, sức sáng tạo của mình, ĐNCN phải

có sự đóng góp quan trọng vào quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh

Trang 29

nghiệp Họ phải tích cực lao động sản xuất, say mê sáng tạo, đem lại năngsuất, chất lượng, hiệu quả sản xuất, kinh doanh cao, sản phẩm sản xuất ra đápứng tốt nhu cầu của thị trường Thành quả lao động đó là sự kết tinh sức lực,trí tuệ và kỹ năng nghề nghiệp của ĐNCN Mặt khác nó còn là sự kết tinh củalòng đam mê, hăng say lao động, ý thức trách nhiệm của bản thân mỗi côngnhân cũng như cả đội ngũ.

1.2 Thực trạng chất lượng đội ngũ công nhân thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Hưng Yên

1.2.1 Ưu điểm và nguyên nhân

* Ưu điểm

Từ một tỉnh thuần nông, xuất phát điểm thấp, hệ thống kết cấu hạ tầngyếu kém, lạc hậu, tỷ lệ hộ nghèo cao, nhưng bằng sự nỗ lực, quyết tâm vàhướng đi đúng đắn, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hưng Yên đã vượt qua nhiềukhó khăn, thử thách, đạt được những thành tựu quan trọng, nổi bật sau hơn 20năm tái lập tỉnh, ĐNCN của tỉnh có sự phát triển rất nhanh cả về số lượng vàchất lượng, vị trí và vai trò của ĐNCN được khẳng định góp phần không nhỏvào sự phát triển KT - XH của tỉnh Đến nay, Hưng Yên đã xây dựng đượcnền tảng KT - XH đồng bộ và tương đối toàn diện Tốc độ tăng trưởng kinh tếcủa tỉnh những năm qua liên tục đạt khá, trong đó tổng sản phẩm trên địa bàn(GRDP) bình quân giai đoạn 1997 - 2005 tăng hơn 12%/năm; giai đoạn 2006

- 2010 tăng 11,74%/năm; giai đoạn 2011 - 2016 tăng 8,1%, đến năm 2017tăng 8,45% [63, tr.1] Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, theo hướng tăngnhanh tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp Cùngvới sự phát triển KT - XH, đặc biệt là tiến trình đẩy mạnh CNH, HĐH củatỉnh, chất lượng của ĐNCN tỉnh Hưng Yên cũng ngày càng được nâng lên

Một là, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống

Đội ngũ công nhân tỉnh Hưng Yên về cơ bản luôn có bản lĩnh chính trịvững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân Có nhậnthức đúng đắn về vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, có thái độ

Trang 30

ủng hộ tích cực đối với sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước vì mục tiêu

“Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Đa số công nhân có sự

giác ngộ giai cấp tốt, ý thức được vị trí, vai trò của mình đối với sự nghiệp cách

mạng; chấp hành nghiêm chỉnh mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,

pháp luậi của Nhà nước, bước đầu đã hình thành ý thức tổ chức kỷ luật, tácphong, lối sống công nghiệp; có sức khoẻ, thể lực tốt, đáp ứng được yêu cầu sảnxuất công nghiệp Theo số liệu thống kê của Liên đoàn Lao động tỉnh Hưng Yênnăm 2016 số công nhân có trình độ chính trị cao cấp là 792 người (0,47%); trungcấp là 12.435 người (7,4%); sơ cấp là 13.520 người (8,05%) [Phụ lục 2]

Đại bộ phận công nhân tỉnh Hưng Yên hiện nay có ý thức trách nhiệmcao với công việc, yêu ngành, yêu nghề, hăng say lao động, sản xuất; tích cựcchủ động khắc phục khó khăn, luôn tự giác phấn đấu vươn lên trong học tập,lao động sản xuất, nắm vững khoa học kỹ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến

để áp dụng vào thực tiễn; có nhận thức đúng về quan điểm, chủ trương, đườnglối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, luôn nêu cao tinh thầncảnh giác cách mạng, đấu tranh với những quan điểm sai trái, phản động củacác thế lực thù địch, có ý thức bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độXHCN Có đạo đức trong sáng, lối sống trong sạch, lành mạnh, giản dị; tráchnhiệm cao đối với công việc Qua khảo sát có 70,91% số công nhân có phẩmchất chính trị, đạo đức, lối sống tốt; 20% số công nhân có phẩm chất chính trị,đạo đức, lối sống khá [Phụ lục 1]

Hai là, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp

Trình độ học vấn là chìa khóa để tiếp nhận tri thức KHCN hiện đại Thực

tế quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN cho thấy, trình độhọc vấn của công nhân càng cao họ càng có điều kiện để tiếp nhận KHCN hiệnđại và do đó càng có cơ hội thích ứng với sự chuyển đổi nghề nghiệp

Trong thời gian qua, các ban ngành, đoàn thể của tỉnh Hưng Yên luônquan tâm đến công tác giáo dục, đào tạo nâng cao trình độ học vấn, tay nghề

Trang 31

cho ĐNCN Ngay từ tháng 12/2008, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyếtđịnh số 2302/QĐ-UBND về phê duyệt quy hoạch phát triển hệ thống dạynghề tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2006 - 2015, định hướng đến năm 2020 Thựchiện chủ trương này, trong nhiều năm qua, tỉnh đã đẩy mạnh công tác xã hộihóa, thu hút các trường về đầu tư xây dựng tại địa phương, đồng thời củng cố,phát triển các cơ sở đào tạo nghề của tỉnh theo hướng phù hợp với nhu cầuđào tạo của người lao động, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động và sựphát triển KT - XH Với nhiều chính sách hỗ trợ, ưu đãi, đến nay, trên địa bàntỉnh có 40 cơ sở đào tạo nghề và tham gia hoạt động đào tạo nghề, gồm 08trường cao đẳng, 08 trường trung cấp, 15 trung tâm và 09 cơ sở tham gia hoạtđộng đào tạo nghề Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động đào tạonghề đang từng bước được đầu tư nâng cấp Diện tích trung bình mỗi cơ sởkhoảng 22 nghìn m2, diện tích dành cho đào tạo nghề là hơn 18 nghìn m2;bình quân mỗi cơ sở có 20 phòng học, 05 xưởng thực hành

Trong quá trình phát triển, tỉnh Hưng Yên luôn luôn quan tâm công tácđào tạo nghề, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm để nâng cao trình độ phát triển,sức cạnh tranh, tạo điều kiện cho việc chuyển dịch cơ cấu lao động trong nềnkinh tế Theo đó tỉnh áp dụng các chính sách khuyến khích và tạo điều kiệnthuận lợi về đất đai, cơ sở vật chất, hồ sơ, thủ tục để các nhà đầu tư, các nhàtrường đầu tư vào lĩnh vực đào tạo nghề, mở rộng quy mô, nâng cao chấtlượng đào tạo nhân lực Xã hội hóa công tác đào tạo nghề, nhất là tạo mối liênkết giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo đáp ứng nhucầu của thị trường lao động Huy động các nguồn vốn đầu tư cho dạy nghề,xây dựng quỹ hỗ trợ đào tạo nghề với sự đóng góp của doanh nghiệp

Những năm gần đây, trình độ học vấn, chuyên môn của công nhân đãđược nâng lên đáng kể Trong ĐNCN đã hình thành một bộ phận côngnhân trí thức, công nhân làm công tác quản lý sản xuất, kinh doanh,nghiên cứu và quản lý khoa học - kỹ thuật gắn với sản xuất, kinh doanh,

Trang 32

có khả năng tiếp cận nhanh với khoa học - kỹ thuật và công nghệ hiện đại,thích ứng nhanh với sự năng động của cơ chế thị trường Đội ngũ công

nhân tỉnh Hưng Yên hiện đang có mặt trong tất cả các thành phần kinh tế,

các ngành nghề; đang là lực lượng sản xuất cơ bản và là lực lượng vậnhành, sử dụng những phương tiện, công cụ sản xuất hiện đại nhất, có vai

trò quan trọng quyết định phương hướng và tốc độ phát triển nền kinh tế

của tỉnh theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Theo số liệu thống kê của Liên đoàn lao động tỉnh Hưng Yên, tính đếnnăm 2016 số công nhân có trình độ Thạc sĩ, Tiến sĩ là 715 (0,42%); Đại học là15.683 (9,33%); Cao đẳng là 16.107 (9,59%); Trung cấp là 30.216 (17,99%);bậc thợ 6 - 7 là 17.656 (10,51%) [Phụ lục 2]

Trong báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển KT - XH năm

2017 và mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp năm 2018, cũng khẳng định: ĐNCNtỉnh Hưng Yên được đào tạo cơ bản các ngành, nghề và được tuyển dụng mộtcách chặt chẽ, được bố trí công việc phù hợp với trình độ, năng lực của mình

Số công nhân có trình độ cao đẳng, đại học, có chuyên môn, tay nghề chiếm

tỷ lệ cao tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chiếm 58% [63, tr.1]

Ba là, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong lao động, vệ sinh

an toàn lao động.

Trong lao động sản xuất nói chung và sản xuất công nghiệp nói riêng,duy trì kỷ luật lao động được xem là yếu tố sống còn, không chỉ góp phần bảođảm an toàn cho ĐNCN mà còn giúp tăng năng suất và hiệu quả lao động Tạinhững quốc gia phát triển, bí quyết thành công của họ có thể gói gọn trong bachữ “Kỷ luật cao”

Nhằm góp phần giúp ĐNCN chấp hành tốt chủ trương, chính sách,pháp luật của Đảng và Nhà nước cũng như chấp hành tốt kỷ luật lao động,trong những năm qua, các doanh nghiệp mà trực tiếp là tổ chức công đoànvới nhiều hình thức đa dạng, phong phú đã đẩy mạnh công tác tuyên

Trang 33

truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho ĐNCN nhằm nâng cao kiến thứcpháp luật để họ tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của mình Lãnhđạo các doanh nghiệp cũng ban hành văn bản gửi xuống cơ sở để ĐNCNquán triệt nắm vững, đồng thời kiểm tra, giám sát, hướng dẫn thực hiện.Trong năm 2017, Ban Quản lý các KCN tỉnh đã tổ chức 02 hội nghị tậphuấn về môi trường cho khoảng 250 đại biểu đại diện cho các doanhnghiệp; rà soát, tập hợp hơn 150 văn bản quy phạm pháp luật có liên quanthuộc các lĩnh vực bảo vệ môi trường, quy hoạch xây dựng, lao động, đầu

tư đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan; ban hành khoảng 60văn bản đôn đốc, hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện các quy định củapháp luật về đầu tư, xây dựng, bảo vệ môi trường… Qua đó, nhận thức, ý thứcchấp hành pháp luật trong quá trình đầu tư, hoạt động sản xuất, kinh doanh củadoanh nghiệp, ĐNCN trong KCN được nâng lên

Hiện nay, đa số công nhân tỉnh Hưng Yên có tính kỷ luật tốt, cơ bảnchấp hành nghiêm Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, quy định của cácdoanh nghiệp Toàn tỉnh Hưng Yên hiện có 167.939 công nhân, viên chức -lao động, được phân bố đa dạng giữa các ngành nghề, các thành phần kinh tế

Số lượng công nhân lao động khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tăng nhanh,trình độ học vấn, tay nghề của ĐNCN cũng như việc chấp hành tốt pháp luậtcủa ĐNCN được nâng lên đáng kể

Đội ngũ công nhân về cơ bản luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, ýthức tự giác chấp hành các quy định trong sản xuất kinh doanh, các quy định

về công tác an toàn vệ sinh lao động, bảo vệ môi trường, ý thức tự bảo vệmình và bảo vệ đồng nghiệp Đội ngũ công nhân biết coi trọng tính mạng củachính bản thân mình và đồng nghiệp trong khi làm việc; không chủ quan,làm bừa, làm ẩu, vi phạm kỷ luật lao động

Bên cạnh đó, hoạt động giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện tác phongcông nghiệp cho ĐNCN tỉnh Hưng Yên trong những năm qua đã được sự

Trang 34

quan tâm và thực hiện khá đồng bộ của cả hệ thống chính trị Cấp ủy cácđịa phương đã quan tâm và thực hiện tốt vai trò lãnh đạo, định hướng giáodục, bồi dưỡng, rèn luyện tác phong công nghiệp cho ĐNCN; các đoàn thểchính trị - xã hội thực hiện tốt vai trò tuyên truyền, giáo dục theo chứcnăng, nhiệm vụ của từng tổ chức đoàn thể; chính quyền thực hiện tốt vaitrò lãnh đạo quản lý nhà nước và phối hợp với các đoàn thể, các doanhnghiệp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giáo dục tác phong côngnghiệp cho ĐNCN Chính vì vậy những năm gần đây, phong trào côngnhân lao động và hoạt động công đoàn của các huyện tiếp tục có sự chuyểnbiến về mọi mặt, hoạt động đi vào chiều sâu phản ánh được tâm tư nguyệnvọng của ĐNCN Đây chính là nhân tố quan trọng để đảm bảo cho hiệu quảcủa công tác giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện tác phong công nghiệp chocông nhân Trên cơ sở chỉ đạo của cấp ủy và chính quyền địa phương, cácban ngành, đoàn thể chính trị - xã hội, tổ chức công đoàn đã lên kế hoạchthực hiện công tác giáo dục, bồi dưỡng tác phong công nghiệp với nhiềuhình thức và nội dung phong phú Nhờ đó mà trình độ nhận thức củaĐNCN đã được nâng lên rõ rệt Đại đa số công nhân đã hình thành có tácphong làm việc khẩn trương, nghiêm túc, khoa học, đáp ứng yêu cầu caocủa sản xuất công nghiệp hiện đại

Bốn là, sức khoẻ

Ngay từ bước tuyển chọn đầu vào, các doanh nghiệp đã chú trọng đếnyếu tố sức khỏe của công nhân Trong quá trình sản xuất, kinh doanh, bêncạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, các doanh nghiệp cũng đã quan tâm đến đờisống vật chất, tinh thần của ĐNCN, tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho côngnhân Liên đoàn lao động tỉnh Hưng Yên thường xuyên tổ chức tuyên truyền,

tư vấn, tập huấn kỹ năng, kiến thưc chăm sóc sức khỏe cho ĐNCN (tư vấn trựctiếp kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản cho công nhân lao động các KCN; tổ

Trang 35

chức chương trình tư vấn, giải đáp chính sách bảo hiểm xã hội ) Do đó, đếnnay ĐNCN tỉnh Hưng Yên về cơ bản có sức khỏe tốt, đáp ứng với yêu cầucủa sản xuất công nghiệp.

Năm là, mức độ hiệu quả lao động của đội ngũ công nhân

Chất lượng ĐNCN tỉnh Hưng Yên thời gian qua được thể hiện rất rõtrong thực tiễn, ở kết quả hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của họtrong các doanh nghiệp Quá trình lao động sản xuất, ĐNCN ở tỉnh Hưng Yênluôn nêu cao ý thức trách nhiệm, tích cực vận dụng những kiến thức đã học,

sự hiểu biết và kinh nghiệm, khắc phục khó khăn để làm tốt nhiệm vụ gópphần không nhỏ vào sự nghiệp phát triển kinh tế của tỉnh Trong năm 2016sản xuất công nghiệp vẫn duy trì tăng trưởng, giá trị sản xuất ước tính92,078% tỷ đồng, đạt 99% kế hoạch, tăng 8,75% so với năm 2015, chỉ số sảnxuất công nghiệp ước tăng 8,5% (kế hoạch 9%) [62, tr.3]; đến năm 2017, lĩnhvực sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh đạt tốc độ tăng trưởng cao; giá trịsản xuất công nghiệp đạt trên 107,7 nghìn tỷ đồng, vượt 7,25% so với kếhoạch năm; chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,51% Hoạt động xuất khẩu đạtmức tăng trưởng khá, kim ngạch xuất khẩu đạt 3,68 tỷ USD, đạt 100% kếhoạch Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ đạt trên 27,6 nghìn tỷ đồng, tăng12,49% so với năm 2016, vượt 5,05% kế hoạch năm [63, tr.3]

* Nguyên nhân ưu điểm

Một là, sự phát triển của cách mạng khoa học - công nhệ hiện đại, xu thế toàn cầu hóa, kinh tế tri thức đã tạo thời cơ thuận lợi để đội ngũ công nhân tỉnh Hưng Yên phát triển nâng cao chất lượng.

Cách mạng KHCN hiện đại phát triển mạnh mẽ, trở thành lực lượngsản xuất trực tiếp, đem lại nhiều thành tựu vĩ đại tác động sâu sắc và mở ranhiều cơ hội cho sự phát triển KT - XH Đặc biệt cuộc cách mạng côngnghiệp 4.0 đã mở ra cơ hội để các nước phát triển Việc ứng dụng nhữngcông nghệ mới cho phép thúc đẩy sản xuất, nâng cao năng suất lao động,

Trang 36

tạo khả năng nâng cao mức thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống chongười lao động, tạo khả năng biến đổi các hệ thống sản xuất, quản lý vàquản trị cho doanh nghiệp trong nước Sự tác động của cách mạng KHCNhiện đại đã làm cho GCCN Việt Nam nói chung, ĐNCN tỉnh Hưng Yên nóiriêng phát triển toàn diện, đặc biệt là về chất lượng.

Quá trình toàn cầu hóa đã và đang thúc đẩy nước ta hội nhập quốc tếngày càng sâu rộng Với đường lối mở cửa, hội nhập, nước ta nói chung, tỉnhHưng Yên nói riêng đã thu hút được rất nhiều nhà đầu tư vào để phát triểncông nghiệp, dịch vụ Tốc độ, quy mô phát triển công nghiệp của tỉnh ngàycàng nhanh và mở rộng chính là môi trường, điều kiện thuận lợi để ĐNCNcủa tỉnh phát triển cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu Đội ngũ công nhânđược nâng cao về trình độ học vấn, chuyên môn nghề nghiệp, đang hìnhthành tác phong và kỷ luật lao động theo hướng hiện đại; ĐNCN có nhiều

cơ hội việc làm, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được cải thiện

Hai là, môi trường, điều kiện kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo của đất nước, của tỉnh tạo thuận lợi cho sự phát triển nâng cao chất lượng đội ngũ công nhân.

Sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH của đất nước hơn 30 năm qua dưới sựlãnh đạo sáng suốt của Đảng đã mang lại nhiều thành tựu rất quan trọng trênmọi lĩnh vực đời sống xã hội, tạo thế và lực mới cho nước ta trên con đườngphát triển theo định hướng XHCN, đồng thời góp phần ổn định chính trị, củng

cố quốc phòng an ninh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.Những thành tựu đạt được về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của công cuộcđổi mới đất nước không chỉ củng cố lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạocủa Đảng, vào con đường XHCN mà còn cổ vũ động viên, tạo môi trườngthuận lợi để các tầng lớp nhân dân trong đó có GCCN tích cực lao động, cốnghiến, và phát triển toàn diện

Cùng với những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới đất nướcnói chung, công cuộc đổi mới phát triển KT - XH của tỉnh những năm qua

Trang 37

cũng đạt được những thành tựu rất quan trọng Kinh tế tăng trưởng khá, anninh chính trị ổn định, quốc phòng an ninh được giữ vững, đời sống vật chất,tinh thần của nhân dân được cải thiện đáng kể… Điều đó đã tạo tiền đề, nền tảngcho sự phát triển nhanh bền vững của tỉnh, đồng thời tạo động lực để các tầnglớp nhân dân trong đó có ĐNCN tỉnh nhà lao động, cống hiến và phát triển.

Trong những năm qua, các cấp uỷ, chính quyền tỉnh Hưng Yên đã quantâm lãnh đạo, chỉ đạo ngành giáo dục của tỉnh đổi mới mạnh mẽ nội dung,chương trình, phương pháp giáo dục, đào tạo Do đó, chất lượng giáo dục, đàotạo của tỉnh ngày càng tốt hơn Điều này được thể hiện ở tỷ lệ học sinh đỗ tốtnghiệp, thi đỗ vào các trường Cao đẳng, Đại học hàng năm được Bộ Giáo dục vàđào tạo đánh giá là một trong những tỉnh có tỷ lệ đỗ cao của cả nước Tỷ lệ họcsinh tốt nghiệp các cấp đạt; tỷ lệ thi đỗ đại học đạt 51%, thuộc nhóm các tỉnh có

tỷ lệ cao trong cả nước; Đội Robocon của Trường đại học Sư phạm kỹ thuậtHưng Yên đạt vô địch thi Robocon trong nước và Châu Á - Thái Bình Dươngnăm 2015 Các trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp đáp ứng được yêucầu Quy mô, mạng lưới các trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm học tậpcộng đồng được duy trì và phát triển Có 8 trường cao đẳng, nâng cấp và thu hútthêm 5 trường đại học về tỉnh Mỗi năm đào tạo trên 1 vạn sinh viên, đào tạonghề cho hàng vạn lao động, góp phần đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng chotỉnh và khu vực [10, tr.28] Đây cũng là một nguyên nhân cơ bản góp phần nângcao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh nói chung, ĐNCN nói riêng

Ba là, có sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, trực tiếp là cấp ủy, chính quyền tỉnh Hưng Yên.

Bước sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Đảng đãsớm xây dựng chiến lược về GCCN; chiến lược xây dựng con người, conngười là trung tâm, coi phát triển giáo dục - đào tạo cùng với phát triển KHCN

là quốc sách hàng đầu Đó chính là những định hướng hết sức quan trọng choTỉnh ủy và cấp ủy đảng trong các doanh nghiệp lấy đó làm căn cứ để tiến hành

Trang 38

nâng cao chất lượng ĐNCN thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH của tỉnh Đặc biệt,

nhờ có đường lối đổi mới đúng đắn, Đảng đã lãnh đạo đất nước vượt qua mọikhó khăn, thử thách và giành được những thành tựu to lớn về mọi mặt kinh tế,chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh những thành tựu to lớn củahơn 30 năm đổi mới đất nước, hơn 20 năm tái lập tỉnh Hưng Yên chính là tiền

đề rất quan trọng để nâng cao chất lượng ĐNCN tỉnh Hưng Yên, củng cố, giữvững niềm tin vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng

Trên cơ sở đường lối lãnh đạo chung của Đảng, Đảng bộ, chínhquyền tỉnh Hưng Yên đã nhanh chóng xác định mục tiêu, nhiệm vụ pháttriển CNH, HĐH, phấn đấu đưa Hưng Yên sớm trở thành một tỉnh côngnghiệp theo hướng hiện đại

Để đẩy mạnh CNH, HĐH phát triển kinh tế thị trường định hướngXHCN, tỉnh Hưng Yên đã sử dụng nhiều biện pháp thúc đẩy nhanh quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷtrọng công nghiệp và dịch vụ Với vị trí địa lý, giao thông thuận lợi, tỉnhHưng Yên đã nhanh chóng đổi mới cơ chế, chính sách, xây dựng cơ sở hạtầng thuận lợi, thu hút đầu tư, phát triển các KCN tập trung Hưng Yên đã trởthành nơi lý tưởng cho các nhà đầu tư đến, tìm kiếm cơ hội đầu tư, kinhdoanh Chính vì vậy, Hưng Yên đã nhanh chóng thu hút được hàng trăm dự ánđầu tư sản xuất và dịch vụ công nghiệp của các nhà đầu tư trong và ngoàinước Sự đầu tư lớn của các doanh nghiệp và sự phát triển mạnh mẽ của cácKCN ở tỉnh Hưng Yên đã tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho sự pháttriển của đội ngũ công nhân

Bốn là, có sự quản lý, giáo dục của các tổ chức chính trị - xã hội trong các doanh nghiệp.

Sự phát triển số lượng, cơ cấu, đặc biệt là chất lượng ĐNCN tỉnh HưngYên thời gian qua có sự đóng góp không nhỏ của các tổ chức, đặc biệt là tổ

chức công đoàn trong các doanh nghiệp Thực hiện chức năng đại diện và

Trang 39

bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng cho ĐNCN, những năm qua, cáccấp công đoàn trong tỉnh đã tích cực chủ động với tinh thần trách nhiệmcao tham gia với các cơ quan nhà nước ở địa phương, các ngành hữu quan,

tổ chức triển khai, hướng dẫn thực hiện chế độ chính sách, pháp luật có liênquan đến người lao động

Lênin khẳng định: “Công đoàn nằm trong hệ thống chuyên chính vôsản, là tổ chức rộng lớn của giai cấp công nhân, là chỗ dựa vững chắc, ngườicộng tác đắc lực của cơ quan nhà nước, là sợi dây chuyền nối liền giữa Đảngvới quần chúng, tuyệt đối không thể nói đến tính trung lập của tổ chức Côngđoàn” [29, tr.164] Công đoàn đã phát huy tốt vai trò là chỗ dựa tinh thần,nơi bảo vệ quyền lợi, lợi ích chính đáng của người lao động [Phụ lục 1].Bên cạnh đó, công đoàn cũng phối hợp tổ chức tuyên truyền, phổ biến giáo dụcpháp luật là các phong trào thi đua “Lao động giỏi, lao động sáng tạo”, “Giỏiviệc nước, đảm việc nhà”; tổ chức quán triệt và triển khai Cuộc vận động “Họctập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; hưởng ứngcuộc vận động “Xây dựng người cán bộ công chức, viên chức trung thành - sángtạo - tận tụy - gương mẫu” được tiến hành rộng khắp ở các doanh nghiệp Phongtrào phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật được duy trì đã đạt hiệu quả cao, được

áp dụng trong lao động sản xuất và làm lợi cho Nhà nước và doanh nghiệp.Công tác chăm lo đời sống cho ĐNCN cũng được các cấp công đoàn tổ chức vớinhiều nội dung, hình thức đa dạng, phong phú để xây dựng các loại quỹ nhằmgiúp đỡ các gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người bị tai nạn lao động,bệnh nghề nghiệp Nhờ đó đã góp phần tạo niềm tin, động lực cho công nhânlao động an tâm, phấn khởi hăng hái lao động và phấn đấu, rèn luyện, nâng caophẩm chất và trình độ chuyên môn của mình

Năm là, sự nỗ lực phấn đấu, tự học tập, tu dưỡng rèn luyện của đội ngũ công nhân.

Sự nỗ lực phấn đấu, tự học tập, tu dưỡng, rèn luyện, của ĐNCN trong

Trang 40

thực tiễn cuộc sống, lao động sản xuất là nguyên nhân cơ bản, chủ yếu, trựctiếp quyết định việc nâng cao chất lượng ĐNCN Thực tiễn cho thấy nhữngnăm qua, đại đa số công nhân trong tỉnh luôn có ý thức trách nhiệm với côngviệc, có tinh thần chủ động khắc phục khó khăn, vượt qua hoàn cảnh, tích cựclao động sản xuất; tự giác tự học tập, tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao phẩmchất chính trị, đạo đức lối sống, trình độ kiến thức, chuyên môn, kỹ năng nghềnghiệp, kỷ luật và tác phong công nghiệp; chấp hành nghiêm đường lối, chủtrương của Đảng, pháp luật Nhà nước, quy định của các doanh nghiệp, đơn vịsản xuất… đóng góp tích cực vào sự phát triển của các doanh nghiệp, cũngnhư KT - XH của tỉnh nhà.

là các luật liên quan đến người lao động còn rất hạn chế

Một bộ phận công nhân, ý thức chính trị còn hạn chế, giác ngộ về vị trívai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp mình đối với sự nghiệp cách mạng chưacao; bản lĩnh chính trị chưa vững vàng; ít quan tâm đến những biến động củatình hình chính trị thế giới, còn có biểu hiện hoài nghi, chưa tin tưởng tuyệtđối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường cách mạng XHCN Dưới tácđộng của xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, GCCN nước ta nói chung vàĐNCN tỉnh Hưng Yên nói riêng có tính năng động, chủ động hơn, cố gắngnâng cao năng lực, hướng tới hiệu quả công việc ngày càng cao hơn Nhưngmặt khác, một bộ phận công nhân bị phai nhạt giá trị đạo đức truyền thống, xarời lý tưởng cách mạng Biểu hiện ở một số nội dung: công nhân có lối sống

Ngày đăng: 15/09/2018, 19:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w