Làng Hạ Lôi, huyện Yên Lãng, tỉnh Vĩnh Phúc1 nay thuộc xã Mê Linh, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc.Làng Hạ Lôi nằm bên trong đê tả ngạn sông Hồng cách bờ sông chừng 1000 mét, cách trung tâm thành phố Hà Nội 13 km theo đường chim bay về phía Tây bắc (phải qua sông Hồng).Đây là một làng Việt cổ theo truyền thuyết và bản thần phả đền thờ Hai Bà Trưng ở Hạ Lôi thì làng cổ xưa có tên là Cổ Lôi trang, sau đổi là Cổ Lai, cách đây khoảng 200 năm đổi tên là làng Hạ Lôi.Trưng Trắc, Trưng Nhị là hai chị em sinh đôi, cha là Hùng Định, Lạc tướng Mê Linh, mẹ là Trần Thị Đoan2. Hai bà sinh tại xóm Đường, trang Cổ Lai. Hai bà là cháu chắt bên ngoại Hùng vương. Ông Hùng Định mất sớm, bà Đoan nuôi dạy con gái theo tinh thần thượng võ, mượn những người tài giỏi về văn võ dạy hai con gái.Trưng Trắc lớn lên là người tài sắc vẹn toàn, bà kết duyên cùng Thi Sách con một viên Lạc tướng Chu Diên.
Trang 1CÁC DANH TƯỚNG THỜI HAI BÀ TRƯNG
Đây là một làng Việt cổ theo truyền thuyết và bản thần phả đền thờ Hai Bà Trưng ở Hạ Lôi thì làng
cổ xưa có tên là Cổ Lôi trang, sau đổi là Cổ Lai, cách đây khoảng 200 năm đổi tên là làng Hạ Lôi
Trưng Trắc, Trưng Nhị là hai chị em sinh đôi, cha là Hùng Định, Lạc tướng Mê Linh, mẹ là TrầnThị Đoan2 Hai bà sinh tại xóm Đường, trang Cổ Lai Hai bà là cháu chắt bên ngoại Hùng vương ÔngHùng Định mất sớm, bà Đoan nuôi dạy con gái theo tinh thần thượng võ, mượn những người tài giỏi vềvăn võ dạy hai con gái
Trưng Trắc lớn lên là người tài sắc vẹn toàn, bà kết duyên cùng Thi Sách con một viên Lạc tướngChu Diên
Đất nước bị lệ thuộc vào nhà Đông Hán, từ năm Kiến Vũ (nhà Hán) thứ 10 (năm 34) khi Tô Địnhsang làm Thái thú Giao Chỉ1 thì sự tham lam, tàn bạo của hắn lên tới cực điểm, nhân dân lầm than cơ
cực không biết đâu mà kể, ngay Mã Viện cũng phải nói: "Tô Định giương mắt lên vì tiền" Nhân dân Giao
Chỉ uất hận, nhiều lần chuẩn bị khởi nghĩa nhưng đều bị Tô Định dìm trong biển máu Thi Sách huyệnlệnh huyện Chu Diên2 cùng với em trai là Thi Huy và nhiều người khác chuẩn bị khởi nghĩa Bà TrưngTrắc cùng em gái là Trưng Nhị giúp chồng tuyển quân, tích lũy binh lương Việc bại lộ, Thi Sách, ThiHuy cùng nhiều người khác bị Tô Định giết chết
Nợ nước thù nhà chồng chất, tháng 2 năm 1940, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa ở cửa sông Hát3.Khi đó ở khắp Giao Chỉ cũng có hàng chục cuộc khởi nghĩa đang âm ỉ Hai Bà Trưng gửi hịch khởinghĩa đi khắp các quận huyện đã được hàng chục thủ lĩnh các cuộc khởi nghĩa như ở Hưng Yên có TrầnThị Mã Châu ở xã Quảng Châu (thị xã Hưng Yên), Trần Lữu ở trang Đào Đầu (thị xã Hưng Yên),Nguyệt Thai, Nguyệt Độ ở Hải Dương, Lê Chân ở Hải Phòng, Đỗ Năng Tế ở Hà Đông - Sơn Tây, LêThị Hoa ở Thanh Hóa, Thiều Hoa, Vũ Thị Thục ở Phú Thọ đã nhất tề kéo quân về Mê Linh hưởngứng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà ở Nhật Nam, Cửu Chân và cả Hợp Phố (Trung Quốc) cũng có những
1977 sát nhập hai huyện Yên Lãng, Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phú đã chọn tên huyện Mê Linh Tháng 12 - 1978 phần huyện
Yên Lãng cũ của huyện Mê Linh sáp nhập về Hà Nội vẫn giữ tên huyện Mê Linh Làng Hạ Lôi hợp với làng Liên Trì thành
xã Mê Linh Mê Linh được coi là quê hương của Hai Bà Trưng.
2 Các sử sách của ta đều viết bà Man Thiện là mẹ của Hai Bà Trưng, quê ở phía dưới ngã ba Bạch Hạc Cũng có tài liệu
viết bà Trần Thị Đoan là tên hiệu của bà Man Thiện.
Dương, Bắc Đài, Kê Từ, Tây Vu, Long Biên, Chu Diên.
2 Huyện Chu Diên gồm các tỉnh Hà Đông, Hà Nam, Thái Bình, Nam Hưng Yên ngày nay.
3 Hát Môn từ cửa sông Hồng ra nay phù sa bồi lấp sông Hát chỉ còn là một cái lạch nhỏ và vạt đầm hồ có tên là sông
Cùng, bến Chúa, chỉ từ cầu Phùng trở xuống mới thành sông gọi là sông Đáy.
Trang 2cuộc khởi nghĩa Tháng 2 năm 40, Hai Bà lập đàn thề ở Hát Môn (huyện Phúc Thọ, Sơn Tây nay thuộc
Hà Tây) tế cáo trời đất với lời thề:
Một xin rửa sạch nước thù 1
Hai, xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba, kẻo oan ức lòng chồng
Bốn, xin vẻn vẹn sở công lênh này.
Sau lễ tế cờ Hai Bà chỉ huy các tướng lĩnh đưa quân từ cửa sông Hát đi hạ các thành trì của giặc,đồng thời các thủ lĩnh nghĩa quân khác cũng hạ thành giặc ở địa phương như Lã Văn ất hạ thành KênhCầu (Văn Giang) sau đó hợp với đại quân của Hai Bà đến phá thành Luy Lâu của Tô Định (vùng Dâuhuyện Thuận Thành) Tô Định chống cự không nổi phải bỏ cả ấn tín, vàng bạc châu báu, vặt râu, thay
áo, chui qua lỗ chó chui lần mò trốn về Nam Hải (Quảng Đông)
Dẹp xong giặc, bà Trưng Trắc lên làm vua đóng đô ở Mê Linh, xá thuế cho dân 2 năm, cắt đặt cáctướng lĩnh chia quân đi chiếm giữ những nơi hiểm yếu
Về cuộc khởi nghĩa này, nhà sử học Lê Văn Hưu thế kỷ thứ XIII bàn: "Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn
bà hô một tiếng mà cả Cửu Chân, Hợp Phố và 65 thành ở Lĩnh Nam đều hưởng ứng Bà dựng nước, xưng vương dễ như trở bàn tay Như thế thì thấy hình thế đất Việt Nam ta có thể dược cơ nghiệp bá vương".
Cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo, nhiều tướng lĩnh, quân sĩ là nữ giành toàn thắng, thành lậpvương triều chỉ xảy ra một lần ở Việt Nam và trên thế giới
Hán Quang Vũ không cam chịu thất bại nhục nhã đã hạ lệnh cho các quận huyện ở Hoa Nam sắmsửa thuyền bè khí giới, xe cộ, điều động quân sĩ xâm lươc nước ta Vua Hán phong cho Mã Viện làmPhục Ba tướng quân: đem 20000 quân, 2000 chiến thuyền sang đánh Mã Viện theo đường biên giớiLạng Sơn đã bị nữ tướng Thánh Thiên và các tướng khác đánh cho đại bại phải chạy về Trung Quốc TừHợp Phố qua Khâm Châu Phòng Thành vượt biên giới tới Đông Hưng (Trung Quốc) Từ đây Mã Việnchia thành hai cánh quân thủy bộ rồi vượt sông Ka Long sang Móng Cái, Tiên Yên, Hòn Gai rồi theođường bộ (tương ứng với đường số 4 và số 18 hiện nay) và đường biển vào sông Bạch Đằng hợp quân ở
Theo truyền thuyết3 các tướng sĩ có mặt ở Cẩm Khê như Cả Lợi, Hai Lợi, Hà Tơ, Hà Liễu, năm anh
em chàng Vịt với mục đích cứu chủ tướng đến cùng Trận đánh diễn ra ác liệt, đẫm máu Trưng vương
bị tử thương, voi của Bà cũng bị quân giặc đâm nhiều nhát, uống nước rồi chết Tướng sĩ liều chết cướp
1 Có bản viết là nước nhà.
dài 180 km, cộng 446 km Một dặm là 400 mét, 446 km tương ứng với hơn 1000 dặm
2 Theo thống kê của nhà Hán dân số Âu Lạc khi đó có 143.643 hộ với 981.735 nhân khẩu
3 Về trận đánh ở Cẩm Khê căn cứ vào quyển lịch sử Vĩnh Phú, sở Văn hóa Thông tin Vĩnh Phú xuất bản 1980.
Ngòi nguyên là một nhánh sông Hồng xuất phát từ gần Bạch Hạc, sau phù sa bồi dần nông thành ao, ruộng chỉ còn khúc
từ Phú Đa xuống Hồng Châu ngòi vẫn còn Ngòi này đổ nước vào sông Nguyệt Đức (bên kia sông Hồng là cửa sông Hát
(Hát Môn) huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây Có lẽ vì thế sử sách và truyền thuyết đều viết Hai Bà Trưng tự tử ở Hát Giang.
Trang 3được xác chủ tướng đem tới nơi an toàn mai táng Cũng theo truyền thuyết thì quân sĩ mang thi thể củaTrưng vương về an táng tại khu vực đền Hùng.
Sau thất bại ở Cẩm Khê một số tướng lĩnh còn tiếp tục chiến đấu
Tuy tiêu diệt được Hai Bà Trưng đặt lại ách đô hộ ở nước ta nhưng quân Đông Hán cũng bị thiệt hại nặng nề Sách Hậu Hán thư cho biết: "mùa thu năm sau: Mã Viện đem quân về kinh quan quân cũng chết bốn, năm phần" tức là vào khoảng hơn 10.000 tên.
Nhân dân Hạ Lôi lập đền thờ Hai Bà ở ngay trên nền cũ của Hai Bà
Đền Hạ Lôi nằm trên gò đất hình con diều hâu đang dang cánh, tương truyền được xây từ thời ĐinhTiên hoàng trên nền nhà cũ của Hai Bà và cũng là nền miếu Thi Sách Đền khi đó chắc quy mô lớn lắm nên
có câu hát:
An Cư có đất Thành Dền
Hạ Lôi có ngôi đền thờ vua
Lạc Hồng xây đắp nền xưa
Hai Bà công đức ngàn thu còn truyền
Căn cứ vào tấm bia đá có tên là "Cải chính miếu hương bi ký" khắc năm Thành Thái thứ nhất (1899) ghi lại việc xưa hướng đền trên khu đất nhìn ra đê sông Hồng Cổng đẹp, trên có 4 chữ: "Ly chiếu tứ phương" (ánh
sáng chiếu ra bốn phương) Sau cổng là sân, cuối sân có hồ bán nguyệt, trên bờ hồ là nhà tiền tế, đặt bia, đặtchuông đồng đúc năm Gia Long thứ hai (1803)
Phía trong nhà tiền tế là hậu cung trên cao có bức hoành phi có 4 chữ: " Nam quốc sơn hà" (Sông núi nước Nam) và bức hoành phi phía dưới có ba chữ "Hoàng đế từ" (Đền Đức vua).
Hậu cung có tượng Trưng Trắc và Thi Sách đặt ngang nhau, xưa tượng bằng đất, năm 1822 thaybằng tượng gỗ Tượng gỗ đã bị giặc Pháp hủy hoại năm 1947-1948, phía ngoài là bài vị bà Trưng Nhị.Sau khi hòa bình lập lại (1954) dân làng nhờ người về đền Hai Bà Trưng Đồng Nhân ở Hà Nội vẽ tranhtheo tượng đó
Hậu cung và nhà tiền tế có một số đôi câu đối nhưng đều mới làm vào cuối thế kỷ XIX:
"Bất thế anh hùng vương tỷ muội
Nhưng tuyền cơ chỉ tuế xuân thu"
Dịch:
Vua chị, vua em hào kiệt thế gian khó sánh
Còn nền, còn móng, xuân thu hương lửa dài lâu
và:
"Sổ thiên nhiên Diên quận cố đô,
Uất uất thiêng thiêng gian sơn ngô thổ"
Dịch:
Mấy ngàn năm Diên quận cố đô xưa, đất nước nhà ta vẻ vang rực rỡ,
Mười tám đời Lạc Hùng dòng cũ, chị em một cửa hiển hách vang lừng"
ở Hạ Lôi ngoài đền thờ Hai Bà Trưng, còn có nhiều di tích liên quan đến Hai Bà như:
Trang 4"Đây là một tòa thành rộng tới 100 mẫu Bắc Bộ, chiều dài có chỗ lên đến 1700 mét, chiều ngang chỗ rộng nhất 500 mét Đặc điểm của thành khái niệm giống các thành khác được kiến trúc ban đầu,
mà thành này có lẽ là tận dụng thành cũ Có chỗ còn đắp thành hai lớp song song cao từ 1 đến 3 mét tạo thành đường ống, cho nên còn có tên là thành ống Thành khoanh lại trong lòng nó xóm cổ nhất là Đường, Hội, Nội, Viên Dân gian kể rằng xóm Nội nằm ở trong thành tính từ đông sang tây là ô thứ hai
- xưa là quê bà Trần Thị Đoan, nơi sinh hạ Hai Bà Trưng cũng là xóm Nội 1
ở Hạ Lôi còn có một số địa điểm có liên quan đến hoạt động của Hai Bà Trưng như:
- Đường Trống quân, hay đường Trung quân là con đường từ đền Hai Bà Trưng ra đường liên thôn,tương truyền là đường trẩy quân của Hai Bà
- ở cánh đồng còn có những tên đồng như đồng Vỡ là nơi quân Hán tan vỡ; đồng Đống là nơi quânHán chết thành đống; đồng Dai là nơi quân Hai Bà đánh quân Hán dai dẳng suốt ngày; đồng Đỗi là nơimột cánh quân tiếp ứng được lệnh đỗi lại, tức là dừng lại
Trên mặt đất còn nhiều di tích như đình, đền, chùa, miếu như đình Hạ Lôi thờ bốn vị Thần làmThành hoàng là Đô, Hồ, Bạch, Hạc tương truyền là những người đầu tiên lập ra làng Hạ Lôi1 đền CốtTung ở xóm chợ
Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, Hạ Lôi có hai thôn là thôn Đông và thôn Đoài, hai thôn có tới
36 giáp Hàng năm Hạ Lôi mở ba lễ hội:
- Từ ngày 6 đến ngày 15 tháng giêng tương truyền là ngày Yến hạ khao quân
- Ngày 8 tháng 3 là ngày Hai Bà hóa
- Ngày 1 tháng 8 là ngày sinh của Trưng Trắc
Lễ hội lớn nhất là lễ Hội tháng giêng
Ngày mồng 6 tháng giêng rước kiệu từ đền ra đến cổng thì kiệu Thi Sách đi trước, sau đó đến kiệuTrưng Trắc, Trưng Nhị Ra tới đường Trống quân thì kiệu Thi Sách dừng lại, kiệu Trưng Trắc đi trước,kiệu Trưng Nhị đi thứ hai, kiệu Thi Sách đi cuối cùng
Lễ hội đền Hạ Lôi có tập tục cúng bánh trôi, vì trước khi Hai Bà Trưng ra trận một bà hàng bánh trôi
đã dâng bánh này tới Hai Bà Vì vậy làng Hạ Lôi dân không bao giờ ăn bánh trôi trước lễ hội
Hội có nhiều trò vui chơi có liên quan đến thời Hai Bà luyện quân đánh giặc, mở hội mừng thắng lợinhư: đám tập trận; đánh cờ người, đu tiên, hát trống quân
Trong dân gian có câu ca về lễ hội Hạ Lôi:
"Có về xem hội Hạ Lôi
Tháng giêng mùng sáu cho tôi đi cùng
Kiệu bà đi trước kiệu ông
Nữ binh hộ giá khăn hồng hài hoa"
Bản II
1 Đi tìm dấu vết thời kỳ Hai Bà Trưng trên đất đóng đô cảu Hai Bà, Nghiên cứu lịch sử số 150.
1 Có một thời người ta cho rằng tất cả đình đền, chùa, miếu đều là mê tín nhảm nhí nên đã phá hủy trong đó có đình Hạ
Lôi phá để xây trụ sở ủy ban nhân dân xã trên nên đình; đền Hạ Lôi bị phá để xây nhà kho Hợp tác xã trên nền đền.
Trang 5Đền Hát Môn nay thuộc xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ tỉnh Hà Tây1 Hát Môn là một làng cổ ở cửa sôngHát khởi nguồn từ sông Thao Đây là nơi Hai Bà Trưng lập đàn thề khởi binh vào tháng giêng năm Canh
Tý (2 năm 40)
Theo huyền thoại về sự tích Hai Bà được lưu truyền ở vùng Hát giang thì quê cha Hai Bà ở làng HạLôi, huyện Yên Lãng, tỉnh Vĩnh Phúc Hai Bà là cháu chắt bên ngoại của Hùng vương Mẹ Hai Bà làMan Thiện quê ở thôn Nam Am, xã Canh Thiện, huyện Ba Vì, tỉnh Sơn Tây Thân mẫu Hai Bà góachồng sớm nhưng bà quan tâm dậy dỗ hai con theo tinh thần thượng võ, bà đón nhiều người tinh thôngvăn võ về dạy hai con
Trưng Trắc lớn lên là người tài sắc, bà kết duyên cùng Thi Sách, con trai một viên Lạc tướng ngườiChu Diên Bà cùng Thi Sách, Trưng Nhị đang tuyển quân, tích trữ binh, lương chuẩn bị khởi nghĩa thì việc
bị phát giác, Thi Sách và nhiều đồng chí của ông bị Tô Định giết hại
Bà Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị phát động toàn dân đứng lên khởi nghĩa Dân Giao Chỉ nhấtnhất hưởng ứng lời kêu gọi của Hai Bà Tháng 3 năm 40 Bà Trưng lập đàn thề ở "Hát Môn giang khẩu"phát động toàn dân khởi nghĩa
Khi Hai Bà làm lễ tế cáo trời đất thì vùng này là cửa sông Hát nối với sông Thao, kế đó là bãi cát,dân gọi là Trường sa chưa có xóm làng, đê đập như ngày nay Tại hội thề này Bà Trưng đã thề:
"Một xin rửa sạch nuớc thù
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồng
Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này 1 "
Sau khi thu phục 65 thành trì, quân lính tôn bà Trưng Trắc lên làm vua, đóng đô ở Mê Linh, huyệnYên Lãng, nay là huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc
Tháng 4 năm 42, Hán Vũ đế phong Mã Viện làm Phục Ba tướng quân đem 30.000 quân đánh Hai BàTrưng Quân Mã Viện tấn công vào vùng biên giới Lạng Sơn bị các tướng do bà Thánh Thiên chỉ huyđánh cho đại bại, Mã Viện phải rút chạy về Trung Quốc Sau đó Mã Viện đi theo đường bờ biển ĐôngHưng (Trung Quốc) sang Móng Cái rồi chia làm hai đường thủy bộ tiến đánh nước ta
Quân thủy đi theo đường ven biển, quân bộ đi theo ven bờ biển tương ứng với đường số 4 đến TiênYên, đường số 18 từ Tiên Yên về Hòn Gai cướp thuyền của dân vượt qua cửa Lục rồi hợp với quân thủy
ở cửa sông Bạch Đằng, theo sông Bạch Đằng tiến vào Lục Đầu giang tiến đánh thành Tây Vu (Cổ Loa)
Mã Viện bị thất bại phải đưa quân về vùng hồ Lãng Bạc Trưng vương đưa quân đến đánh Tại đây xảy
ra trận huyết chiến, quân hai bên đều bị thiệt hại nặng nề, sau quân ta yếu thế thua to, phải rút lui, về lậpphòng tuyến ở Cẩm Khê (Phú Thọ)1 Sau gần một năm cầm cự, sử sách đều viết Hai Bà tuẫn tiết ở sôngHát nhưng nhiều thần tích, truyền thuyết dân gian vùng sông Hát thì Hai Bà bị quân Hán truy kích, trênđường rút quân, Hai Bà gặp bà hàng nước, bà hàng nước dâng Hai Bà bánh trôi và 2 quả muỗm Hai Bà
ăn xong tiếp tục ra trận, bà Trưng Trắc hy sinh tại trận, bà Trưng Nhị bị quân giặc đuổi gấp quá phảinhảy xuống sông tự tử Hai Bà hy sinh vào ngày 6 tháng 31
1 Xưa Hát Môn thuộc tổng Phù Long, huyện Phúc Thọ tỉnh Sơn Tây, sau cùng xã Vạn Hát (làng chài) hợp lại thành xã
Hát Môn Năm 1965, Hát Môn thuộc tỉnh Hà Tây, năm 1975 thuộc tỉnh Hà Sơn Bình, năm 1979 thuộc Hà Nội, năm 1991
thuộc tỉnh Hà Tây.
1 Thiên Nam ngữ lục
1 Các nhà chiến lược quân sự cho rằng Hai Bà lập phòng tuyến ở Lãng Bạc đánh trận địa chiến là thất sách, vì đánh
trận địa chiến là sở trường của quân Hán, quân Hán lại đang muốn đánh nhanh, thắng nhanh Nếu Hai Bà phát động chiến
tranh du kích thì phần thắng chắc chắn thuộc quân ta
Trang 6Tương truyền nơi Hai Bà lập đàn thề ở bãi Trường Sa nay ở chân đê được xây 4 cột hoa to lớn, trêncột có nhiều câu đối Đôi câu đối vô danh không rõ làm từ năm nào là:
"Đồng trụ triết hoàn Giao Lĩnh tri
Cấm Khê doanh hạc Hát Giang trường"
Dịch:
"Đồng trụ gẫy hay còn, núi non Giao Chỉ vẫn vững
Cấm Khê đầy hay cạn, nước sông Hát Giang vẫn dài"
Câu đối của Dương Bá Trạc:
"Giặc Bắc đến nhà gia quốc thù chung hai nữ tướng
Trời Nam có chủ giang sơn riêng một gánh Bà vua"
Đền Hát Môn chưa biết làm đích xác từ thời nào nhưng theo thư tịch để lại thì đền làm từ rất sớm
Sách Lĩnh Nam trích quái chép: "Hai Bà thế hại cô bi trong trận, người trong châu thương cảm lập miếu thờ ở cửa sông Hát".
Sách trên còn viết: "Đời Lý Anh Tông (1138-1175) gặp đại hạn, vua sai đến cầu đảo quả nhiên ứng nghiệm".
Kiến trúc đền và đồ tế tự còn đến nay là cuối thế kỉ XIX ở nhà tiền tế có bức hoành phi: "Lạc Hùng chính thống".
Trong đền còn có một số bia như bia "Cung tiến bản từ nhị vị đại vương giám sát huệ điền bi ký" Bia do
tiến sĩ khoa ất Mùi (1595) Binh bộ thượng thư kể việc viên quan nội giám cúng ruộng cho đền khắc vàonăm Vĩnh Tộ thứ ba (1622) Một bia có tên là Thạch bi ký do Nguyễn Trí Cung đỗ Hội nguyên khoa QuíMão (1703) (đời Chính hòa) khắc năm Vĩnh hựu Bính Thìn (1736) nói về việc sửa đền Bia "Miếu Hương
bi ký" do tú tài Hồ Danh Bật soạn năm Tự Đức thứ 35 (1882) nội dung: "Đền Hát là nơi quốc tế (vua saiKhâm sai thay mặt về tế)
Trước cửa đền có tượng hai người lính đứng gác Nguyên ở đó từ xa xưa là hai cây muỗm mà Hai
Bà ăn trước khi ra trận rồi hy sinh, nhân dân trồng ở hai bên trước cửa đền Khi cây muỗm chết, nhândân đắp tượng 2 lính gác thay thế
Đền Hát Môn khác với đền Đồng Nhân (Hà Nội), đền Hạ Lôi (Vĩnh Phúc) là Thần phả ghi Hai Bà tửtiết ở Hát giang nhưng truyền thuyết dân gian vùng sông Hát thì đều khẳng định, Bà Trưng Trắc chết tạitrận, bà Trưng Nhị tuẫn tiết, vì vậy các đồ thờ phụng như hương án, kiệu, hoành phi, câu đối, tán lọng,khăn áo tế đều màu đen kiêng màu đỏ Những người đến xem hội mặc áo màu đỏ đều phải cởi trướckhi vào đền Như vậy lệ này khẳng định Trưng vương chết vì gươm giáo
Trước đây đền có tượng Hai Bà Trưng, không có tượng, bài vị Thi Sách Năm 1883 giặc Pháp chiếmtỉnh thành Hà Nội đưa quân lên vây ráp Hát Môn cướp hai pho tượng đem đi, cũng năm đó tại Hà Nội
và nhiều tỉnh khác, giặc Pháp cũng cướp đi nhiều tượng, các đồ thờ cổ có giá trị lịch sử, nghệ thuật từ
đó nhân dân lập bài vị thờ Hai Bà
Đền Hát môn cũng như đền Hạ Lôi có tục cúng bánh trôi, mỗi đĩa 100 viên, cúng xong đặt 49 viêntrong bông sen thả xuống sông Hát để nhắc Bà Trưng là dòng dõi vua Hùng
Hàng năm Hát Môn tổ chức ba lễ hội:
1 Theo Thần tích "Năm anh em chàng Vịt" thì chàng Vịt Hai cướp được thi hài Trưng Nhị đưa về an táng ở khu vực
đền Hùng, núi Hy Cương Chàng Vịt Cả cũng cướp được thi hài Trưng vương và cũng đưa về an táng ở khu vực đền Hùng,
núi Hy Cương.
Trang 7- Lễ Mộc dục 24 tháng chạp
Lễ hội 24 tháng chạp rất trang nghiêm đó là lễ Mộc dục Trước đó làng chọn 200 tráng đinh nửa đêm
23 rạng 24 tháng chạp rước tượng Hai Bà ra nhà Dội tắm, cùng lúc đó dân vạn chài Hát Môn (Cửa Hát vạn Hát) sắm thuyền chở choé đựng nước ra giữa sông Hồng lấy nước về nhà Dội làm lễ tắm tượng.Thực ra đây chỉ là thủ tục tắm tượng trưng bằng khăn ướt Từ năm 1883 khi quân Pháp cướp mấttượng Hai Bà nhân dân chỉ làm lễ mộc dục bài vị
Trang 8-Trưng Nhị
Trưng Nhị cùng với Trưng Trắc là chị em sinh đôi Trắc là chị, Nhị là em Chính sử cũng như nhiềuthần phả không ghi ngày, tháng, năm sinh của bà, một số thần phả có ghi nhưng mâu thuẫn nhau RiêngNgọc phả đền Hạ Lôi và Ngọc phả đền Hát Môn là hai trong ba nơi thờ chính Hai Bà1 đều chép Hai Bàsinh đôi, ngày 1 tháng 8 năm Giáp Tuất (đầu tháng 9 năm 014) Điều này có thể tin được vì đền Hạ Lôi
và đền Hát Môn đều lấy ngày 1 tháng 8 là ngày đản
Cha mất sớm, nhưng cũng như chị, Trưng Nhị là người có ý chí quật cường, ham luyện tập võ nghệ
Bà Man Thiện đã dạy con theo tinh thần thượng võ khuyến khích hai con gái luyện tập võ nghệ Bà đãđón Đỗ Năng Tế và Tạ Cẩn nương là vợ ông là người văn võ song toàn, có đức độ về dạy hai con gái
Nhờ đó ngay từ khi còn ở tuổi thiếu niên Trưng Nhị cũng như chị đã tinh thông "thập bát ban võ nghệ",
am hiểu binh thư và đặc biệt là có lòng căm thù bọn xâm lược Đông Hán
Trước sự tàn bạo, tham lam của Thái thú Tô Định, Trưng Nhị đã cùng với Trưng Trắc và anh rể làThi Sách âm thầm chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa lật đổ ách thống trị của Tô Định Việc bại lộ, Tô Địnhgiết chết Thi Sách và nhiều đồng chí của ông
Thù chồng, nợ nước đè nặng lên đôi vai, Trưng Trắc quyết định khởi binh giết chết thái thú Tô Định,lật đổ ách thống trị của nhà Đông Hán đền nợ nước, trả thù nhà Trưng Nhị đã tận tình giúp chị
Cuối năm 039, Trưng Trắc khởi binh ở Mê Linh, ủy cho Trưng Nhị truyền Hịch xa gần kêu gọi hàokiệt bốn phương hưởng ứng Thần tích của một số tướng lĩnh của Hai Bà cũng ghi nhận điều này
Thần tích đền thờ Cống Sơn viết: "Trưng Trắc nghe tin Cống Sơn tức Hoàng Cống quê ở động Hoa
Lư, phủ Trường Yên, Châu ái đã từng cùng cậu là Đinh Đạm khởi nghĩa Khi việc bại lộ, Đinh Đạm bị
Tô Định giết, Cống Sơn đã về Hoa Lư mở trường dạy võ để làm nơi tụ hội nghĩa sĩ, Trưng Trắc đã phái Trưng Nhị đến động Hoa Lư triệu Cống Sơn về hành doanh giữ chức "Thảo luyện binh mã, huấn diễn binh thư".
Nghe tin Xuân nương khởi nghĩa ở Tam Thanh, Trưng Trắc phái Trưng Nhị đến gặp Xuân nương bàn việc khởi nghĩa
Trần Lữu khởi binh ở trang Đào Đầu, nay thuộc xã Trung Nghĩa, thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yênđến yết kiến Hai Bà Trưng ở Mê Linh và kể có sáu Thủy thần hóa thân làm người đang huấn luyện sĩ
tốt Nghe xong, Trưng Trắc cả mừng sai em gái là Trưng Nhị về Đào Đầu để xem xét tình hình và triệu sáu vị Thủy thần.
Ngọc phả đền Hai Bà Trưng ở Hạ Lôi viết: "Năm 19 tuổi, Trưng Trắc lấy Thi Sách Vài năm sau Thi Sách bị Tô Định giết Trắc nương nuôi chí trả thù chồng, giành lại non sông Bà cử em là Nhị nương đi chiêu mộ hào kiệt Hơn một năm, quân đông hơn 3 vạn người, họp ở thành Phong Châu, sông Bạch Hạc".
Thần phả Lự nương, Bạch Trạch thì Lự nương làm vua cõi đất Thiên Sứ " Một hôm hai chị em về quê tổ ở núi Nghĩa Lĩnh, thuyền đi đến Chu Diên thì hai chị em gặp Trưng Nhị Hai bên thông tỏ họ tên,
Trưng, Hà Nội.
Trang 9nguồn gốc, mới nhận ra là có họ hàng với nhau Trưng Nhị cho chị em Lự nương biết là mình đang đi các miền của đất nước truyền hịch khởi nghĩa do Trưng Trắc thảo.
Lự nương liền hưởng ứng, đem quân về Mê Linh gia nhập cuộc khởi nghĩa".
Đáng chú ý là Thần phả đình An Cư, nay thuộc xã Tam Đồng, huyện Mê Linh thờ Trưng Nhị làm
Thành hoàng Thần phả có đoạn: "Trắc và Nhị là hai chị em sinh đôi, con gái Lạc tướng Chị lấy huyện lệnh Ô Diên là Thi Sách Em lập bản doanh ở trang Cự Triền, sau đổi là An Cư, thuộc huyện Ô Diên, phủ Tam Đái, đạo Sơn Tây Thi Sách bị Tô Định giết, Trắc khởi nghĩa binh ở Phong Châu thành Bà cho vời Trưng Nhị tới, giao quản lĩnh ba quân, truyền hịch đại cáo với thiên hạ Với 3 vạn nam nữ quân sĩ, Hai Bà về Hát môn hội quân Sau đó tiến đánh Tô Định Khi đã đánh đuổi được quân Hán, Trưng Trắc lên ngôi vua, phong em là Bình Khôi công chúa" 1
Nếu căn cứ vào Ngọc phả này thì khi Trưng Trắc cùng chồng là Thi Sách chuẩn bị cho cuộc khởinghĩa thì Trưng Nhị cũng chiêu mộ quân, lấy trang Cự Triền (sau đổi là An Cư) nay thuộc xã TamĐồng, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc làm đại bản doanh Đến khi mưu đồ khởi nghĩa của Thi Sách bịbại lộ, Thi Sách bị Tô Định giết chết, Trưng Trắc khởi binh ở Mê Linh mới triệu Trưng Nhị về giao cho
quản lĩnh ba quân, truyền "Hịch Đại cáo" đến các châu huyện.
Cũng Thần phả đình An Cư lại viết:
"Khi đã đánh đuổi được quân Hán, Trưng Trắc lên ngôi vua, phong cho em là Bình Khôi công chúa.
Bà bày xin lui về Cự Triền mở mang đất đai, lập nên thành đô, Trưng vương dời đô về đóng đô ở đó" Điều này phù hợp với Thần phả "Trưng triều nhất vị đại vương Lã nương công chúa" thì sau khi đánh
đuổi Tô Định, Trưng Trắc lên ngôi vua đã giao cho Bình Khôi công chúa Trưng Nhị đắp thành Mê Linh
và thành Cự Triền Thành Cự Triền tên Nôm là thành Dền cách thành Hạ Lôi chừng 6 km về hướng Tâybắc Trong thành phía Nam có một gò cao, còn dấu vết nền móng của ngôi miếu cổ, tương truyền đó làmiếu thờ Trưng Nhị
Cho đến những năm gần đây, An Cư vẫn còn dấu tích của thành Dền Ngôi thành đó đã đi vào cadao:
"An Cư có đất thành Dền
Hạ Lôi thì có ngôi đền thờ vua
Lạc Hồng xây đắp nền xưa
Hai Bà công đức ngàn thu còn truyền"
Trong chính sử, truyền thuyết cũng như các bản thần tích viết về Hai Bà đều không nói tới việcTrưng Nhị lấy chồng Riêng thần tích làng An Duyên nay thuộc xã Tô Hiệu, huyện Thường Tín, tỉnh Hà
Tây thì Trưng Nhị lấy chồng Chồng bà là Hùng Nguyên là con cụ Hùng Đức và bà Mai Thị Ngoan Hai người lấy nhau trước khi cuộc khởi nghĩa nổ ra Khi Hai Bà Trưng chỉ huy các tướng công phá 65 thành của giặc Hán thì Hùng Nguyên chỉ huy một đội quân mặc quần áo màu xanh Dẹp xong Tô Định, Hùng Nguyên ở lại An Duyên lập ấp.
Mã Viện sang xâm lược, Hùng Nguyên chiêu mộ dân binh theo Hai Bà Trưng chiến đấu Hùng Nguyên tử trận, quân sĩ hy sinh gần hết Dân làng An Duyên tôn ông làm Thành hoàng Về sự hy sinh của bà Trưng Nhị có nhiều giả thuyết khác nhau Theo lịch sử Việt Nam do Nguyễn Khánh Toàn chủ biên viết: "Mã Viện đem quân đuổi theo Sau gần một năm trời anh dũng chống địch, cuối cùng vì sức yếu, quân ta tan vỡ, Hai Bà Trưng về Hát Môn, rồi gieo mình xuống dòng Hát giang tử tận" 1
Thần tích thờ Hai Bà Trưng ở đền Hát Môn cũng viết bà nhẩy xuống sông Hát giang tự tử vào ngày
6tháng 3
1 Có tài liệu viết Trưng Nhị được phong là Phó Vương.
1 Lịch sử Việt Nam tập I, Nguyễn Khánh Toàn chủ biên, nhà xuất bản Khoa học xã hội
Trang 10Thần tích Bà Man Thiện cũng viết: "Bà Trưng Nhị tuẫn tiết ở sông Hát".
Theo truyền thuyết Tướng Hà Tơ thì: "Voi của Trưng Nhị cũng bị quân giặc đâm chết tại trận, quân
ta tan vỡ, các tướng phần nhiều bị thương phải chạy về bản doanh Hà Tơ đi cứu Hai Bà Trưng, bị giặc chém vào vai, ông chạy về bản doanh ở Giàn Cấm (Phong Châu), chưa về tới nơi thì hóa ở cánh đồng Miễn cách Giàn Cấm khoảng 5 cây số Trước tình thế như vậy, bà Trưng Nhị gieo mình xuống ngòi Cấm Khê (1 nhánh của sông Hồng, xuất phát từ Bạch Hạc, sau phù sa lấp dần, chỉ còn là ngòi) Ngòi này đổ nước vào sông Nguyệt Đức, đối ngạn là Cửa Hát có lẽ vì thế mà sử sách và truyền thuyết đều nói bà tự tử ở Hát giang Nhân dân ven sông Nguyệt Đức vớt được giải yếm, giải áo của bà lập miếu thờ ở Xuân Đài, miếu Gia Phú Làng Cẩm Viên xưa có mộ hai ông voi".
Theo Thần phả "Trưng triều công thần nhất vị đại vương Lã nương công chúa" thì "Trưng Nhị hy sinh ở thành Cự Triền, Trưng vương và các tướng vô cùng thương xót, mật sai một đạo binh đem thi hài
bà về táng ở núi Hy Sơn gần với Châu Phong, quê cha đất tổ".
Theo truyền thuyết "Năm anh em chàng Vịt" thì "cuộc chiến đấu ở Cẩm Khê bước sang ngày thứ bảy, nhưng càng đánh quân ta càng yếu, nữ chủ tướng Trưng Nhị bị tử thương Bỗng nhiên phong ba bão táp nổi lên quân cả hai bên không giáp chiến được Nhân đó chàng Vịt Hai liền lao vào đám khói lửa cướp được thi hài chủ tướng đem về núi Hy Cương an táng tại khu vực đền Hùng".
Thần tích làng An Cư, Tam Đồng, Mê Linh thờ Trưng Nhị là nơi bà hy sinh Thần tích làng ThanhLãng, xã Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc thì bà Trưng Nhị tử thương trên bờ sôngNguyệt Đức, tức sông Cà Lồ Thần tích làng Nại Tử, xã Chu Phan, Mê Linh thì hai bà đều chết tại CấmKhê Thần tích làng Tuấn Xuyên, xã Vạn Chính, huyện Ba Vì thờ bà Phùng Thị Chính là tướng của Hai
Bà thì bà hóa ở núi Hy Sơn
Bà Trưng Nhị được thờ cùng với Trưng Trắc ở các đền Hạ Lôi, Hát Môn, Đồng Nhân và nhiều nơikhác và thờ riêng ở đình An Cư làm thành hoàng làng
Trang 11Đô Dương
Trong các tướng lĩnh của Hai Bà Trưng, chính sử ta như Đại Việt sử ký toàn thư, Cương mục cũng chỉghi tên có một tướng là Đô Dương Sử Trung Quốc cũng như Hậu Hán thư cũng chỉ ghi Đô Dũng và thêmChu Bá Nhưng cả sử ta và sử Trung Quốc không biết gì về hai nhân vật ấy
Qua các bản Thần tích và truyền thuyết ta được biết trong các đô vật ở lò võ Nguyễn Tam Trinh ởlàng Mai Động, nay thuộc quận Hai Bà Trưng, Hà Nội có một đô vật họ Dương, gọi là Đô Dương làmột đô vật nổi tiếng Đô Dương đã cùng Nguyễn Tam Trinh gia nhập cuộc kkhởi nghĩa Hai Bà Trưng
ngay từ đầu Ông có mặt ở hội thề "Hát Môn giang khẩu".
Sau khi phá tan 65 thành trì, đánh đuổi Tô Định chạy về nước, Bà Trưng lên ngôi vua, phong thưởngcho các tướng sĩ, đồng thời giao cho các tướng sĩ giữ nơi trọng yếu Sách "Lịch sử Việt Nam" tập in viết:
"Để giữ vững các nơi hiểm yếu, Trưng vương sai Thánh Thiên đóng quân ở Hợp Phố 1 phòng mạn phía Bắc, Đô Dương giữ Cửu Chân 2 phòng mặt Nam, bà Lê Chân được giao trọng trách "Chưởng quản binh quyền nội bộ" 1
Sau thất bại ở phòng tuyến Cấm Khê, Đô Dương Đại tướng quân và Đông Nhung Đại tướng quân
Vũ Thị Thục rút khỏi Cẩm Khê lui về căn cứ Tiên La nay thuộc Thái Bình giữ vững lấy vùng hạ lưusông Hồng, ngăn chặn không cho Mã Viện xâm nhập vào Trường Yên, Cửu Chân (Thanh Hóa) bằngđường biển Tại vùng hạ lưu sông Hồng, Đô Dương Đại tướng quân và Đông Nhung Đại tướng quân VũThị Thục được nhân dân vùng huyện Quỳnh Côi, Phụ Dực, Hưng Nhân, Duyên Hà ngày nay dựng đồnlũy, chướng ngại vật trên hồ hữu ngạn hai con sông Hồng, sông Luộc cự chiến với giặc
Sau mấy tháng cầm chân giặc Mã Viện Mã Viện được tăng cường lực lượng cả bộ binh và thủybinh2 tách hai lực lượng kháng chiến Đô Dương và Vũ Thị Thục để tiêu diệt gọn từng cánh quân một
Vì vậy hai đạo quân không chi viện được cho nhau Mã Viện cho quân bao vây chặt quân của ĐôDương, tập trung quân đánh Đông Nhung Đại tướng quân Vũ Thị Thục Vũ Thị Thục cùng đường phảituẫn tiết
Sau khi cánh quân của Đông Nhung Đại tướng quân Vũ Thị Thục bị Mã Viện đánh tan, Vũ Thị Thụctuẫn tiết, Đô Dương liền rút khỏi vùng hạ lưu sông Hồng lui vào Trường Yên, quân bộ chặn ở đèo TamĐiệp, quân thủy đóng ở cửa biển Biện Sơn Từ khi vào Tam Điệp, Đô Dương được tăng cường lựclượng Điều này được Thần tích nhiều tướng lĩnh ở quận Giao Chỉ rút vào Cửu Chân cùng Đô Dươngđánh Mã Viện như chàng Hối ở Thịnh Kỷ (Mê Linh, Vĩnh Phúc) tướng Thành Công ở Cổ Linh (GiaLâm, Hà Nội) Nhân dân Tam Điệp đã hết lòng ủng hộ quan quân xây dựng phòng tuyến tiếp tế lươngthực thực phẩm, nhiều trai tráng gia nhập quân đội
Mã Viện kéo quân đến, quân của Đại tướng Đô Dương đã được nghỉ ngơi, có đủ lương ăn, xây dựngđược hào lũy, nên đã chiến đấu quyết liệt Quân của Đô Dương lợi dụng địa hình ở trên cao đặt nhiều
1 Nay thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.
2 Bắc Trung Bộ.
1 Lịch sử Việt Nam tập I, Nguyễn Khánh Toàn chủ biên, NXB Khoa học Xã hội.
2 Theo Vi ch Patris trong Essai d'histoire d' An Nam (Imp Đắc tập, Huế, 1922 thì ban đầu Mã Viện chỉ có 20.000 quân
(chưa hề 10.000 thủy quân và 2000 chiến thuyền) Theo Thủy Kinh Chúc Thi Tây Thục cũng đưa quân sang giúp Mã Viện
đánh Hai Bà Trưng.
Trang 12bẫy đá, gỗ Quân giặc vừa bị chết vì tên đạn, vì đá, gỗ đè chết và bị thương nhiều vô kể Quân thủy củachúng vừa tới cửa biển Thần Đầu đã bị đánh phủ đầu lại bị gió to, bão lớn làm lật thuyền khiến hàngtrăm tên bị chết, bọn sống sót dạt vào bờ lại bị quân đội và nhân dân bắt giết.
Mã Viện không dám đi đường biển mà phải cho quân đào thông qua núi đá mà thư tịch cổ gọi là TạcKhẩu ở huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình để vào Cửu Chân
Sách Thủy Kinh Chú của Trung Quốc chép: "Tháng 10 năm Kiến Vũ thứ 9 (43), Mã Viện vào quận Cửu Chân ở phía Nam Qua huyện Vô Công (nay là vùng đất huyện Gia Viễn, Nho Quan, tỉnh Ninh Bình) Mã Viện vẫn theo sông Đáy, sông Vân Sàng vào cửa Thần Phù ra biển Song sóng ở đây dữ dội,
Mã Viện không dám vượt cửa Thần Phù ra biển mà hắn cho đào "Ngả thông ở giữa núi Cửu Chân", xếp
đá để ngăn sóng biển".
Mã Viện không dám qua cửa Thần Phù vì ở đó không phải chỉ có sóng biển dữ dội mà còn có sự
kháng cự của Nàng Tía Sử sách viết: "Nàng Tía ở Vĩnh Ninh (Thanh Trì, Hà Nội) Sau khi Hai Bà tuẫn tiết, Nàng đã rút vào Cửu Chân và đã hy sinh trong một trận ác chiến ở cửa Thần Phù ngày 13 tháng
11 (43)" Theo Thủy Kinh chú, Mã Viện vào quận Cửu Chân từ tháng 10 năm Kiến Vũ thứ 19 Như vậy
trận ác chiến diễn ra ở cửa Thần Phù diễn ra sau đó 1 tháng là điều hợp lý
Vậy là Mã Viện đục xuyên núi vào Tống Sơn sang cửa Lạch Trường Tại đây có thành Dư Phát(huyện lỵ huyện Dư Phát (nay tương ứng với huyện Nga Sơn, Hậu Lộc, Thanh Hóa)1 Từ Dư Phát, MãViện ngược sông Mã đánh vào quận Cửu Chân ở làng Dương Xá (tức làng Ràng) rồi chia quân đánh cáchuyện Vô Biên (Vĩnh Lộc, Thạch Thành) và huyện Cự Phong (Quảng Xương, Đông Sơn, Nông Cống,Thọ Xuân)
Khảo cổ học đào khảo sát tại núi Trịnh ở huyện Thiệu Hóa gần di chỉ đồ đồng Thiệu Dương đã xác
định ở đây xảy ra một trận đánh lớn Khảo cổ xác nhận: " Một trường hợp điển hình xảy ra ở địa điểm núi Trịnh phát hiện những mũi tên đồng cắm vùi theo một hướng Rải rác khắp núi Trịnh là di cốt và tàn tích chiến tranh Đây chắc chắn là Mã Viện đuổi theo các tướng Đô Dương và Chu Bá" 1
Thủy Kinh chú chép tiếp: "Lại tiến đến huyện Dư Phát, cừ súy là Chu Bá bỏ quận vào rừng sâu là nơi
tê tượng tụ tập, bò từng bầy hàng mấy nghìn con Thỉnh thoảng đến hàng mấy chục đến trăm con voi Mã Viện lại chia binh đến huyện Vô Biên là Cửu Chân đình ở đời Vương Mãng Lại đến huyện Cự Phong Tướng giặc không hàng đều bị chém đến trăm người, Cửu Chân bình yên".
Đây là nơi Chu Bá kịch chiến với Mã Viện Như vậy là cuộc chiến đấu giữa Chu Bá với Mã Viện
kéo dài 2 năm, Mã Viện mới đánh bại được Chu Bá "Mã Viện truyện" viết trong "Hậu Hán thư": "Viện đem tàu thuyền lớn bé hơn 200 chiếc, binh lính hơn 20.000 tiến đánh dư đảng của Trưng Trắc ở Cửu Chân là bọn Đô Dương từ Vô Công đến Cự Phong chém giết bắt bớ hơn 5000 người." Sách Thủy Kinh
chú chép: "Tướng giặc không hàng đều bị chém hàng trăm người" Nếu hàng trăm chỉ huy bị chém thì
phải có 5000 - 7000 nghĩa quân bị giết
Thần tích nhiều nơi chép trong số những người chiến đấu ở quận Cửu Chân với tướng Đô Dương cóChàng Hối ở Thịnh Kỷ (huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc) từng chiến đấu bên cạnh Đô Dương ở CửuChân
Tướng Thành Công ở Cổ Linh, huyện Gia Lâm, Hà Nội sau thất trận Cẩm Khê đã rút vào Cửu Chân
và hy sinh ở trang Tâm Quy, huyện Tống Sơn (nay là huyện Hà Trung, nguyên là đất huyện Tống Sơn,cách ga Đò Lèn khoảng 6km về phía Tây Bắc có làng Tam Quy) Thần tích hai tướng Thiên Bảo, Trần
Nang ở làng Thái Lai nay thuộc xã Tiền Phong huyện Mê Linh cũng viết: " Tới lúc Mã Viện sang xâm
1 Theo Tiền Hán thư chép thì quận Cửu Chân có 7 huyện là Tư Phố, Cự Phong, Dư Phát, Vô Biên, Đô Huy, Vô Thiết,
và Hàm Châu
1 Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 148.
Trang 13lược, Trưng vương triệu họ ra chống giặc Sau ba tháng chiến đấu, Trần Nang bị tử thương trong một trận ác chiến Thiên Bảo rút vào Cửu Chân giúp Đô Dương chống giặc." Thần tích làng Cổ Ngoã (xã
Liên Minh, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây) có chép Hải Diệu, một tướng của Hai Bà quê ở làng này
"ngay sau hội thề Hát Môn đã lên đường vào Cửu Chân".
Xâm lược nước ta, Mã Viện thẳng tay chém giết các tướng lĩnh, quân sĩ, nhân dân ta Các sách
Trung Quốc như "Tiền Hán thư", "Hậu Hán thư", "Thủy kinh chú" coi đó là chiến công của Phục Ba tướng quân như: "Trận Lãng Bạc, Mã Viện chém mấy nghìn đầu, bắt hàng hơn vạn", "Trận Cấm Khê, Lưu Long cũng chém hơn nghìn đầu, bắt hàng vạn" Trong truyện: "Mã Viện ở Cửu Chân" chép: "Mã Viện bắt giết hơn 5000 người và tướng giặc không hàng bị chém tới hàng trăm người".
Song Mã Viện đâu chỉ có chém giết người Việt, mà đội quân của hắn cũng bị các tướng sĩ, quân đội
người Việt đánh cho thiệt hại nặng nề Hậu Hán thư phải thú nhận: "Mùa thu năm Kiến Vũ thứ 20 (năm 44), Mã Viện thu quân về nước chỉ bằng 5-6 phần mười lúc ra đi" Như vậy là hàng vạn tướng lĩnh, quân
lính của Mã Viện bị chết ở Giao Chỉ, Cửu Chân Hắn chở theo 1 xe vàng, bạc, châu báu cướp được ở
Âu Lạc nói là quả ý dĩ để chữa bệnh sơn lam chướng khí
Cuộc chiến đấu của Đô Dương, Chu Bá và các tướng ở Cửu Chân kéo dài tới năm 44 Như vậy làcuộc chiến ở Cửu Chân kéo dài thêm 2 năm
Sách lịch sử Việt Nam do Nguyễn Khánh Toàn chủ biên viết: "Tháng 11 năm 43, Mã Viện mở đường qua Tạc Khẩu (Yên Mô, Ninh Bình) tiến quân vào Cửu Chân đàn áp nghĩa quân Các thủ lĩnh địa phương cùng nhân dân Cửu Chân tiếp tục chiến đấu anh dũng Hàng trăm thủ lĩnh, hàng ngàn quân sĩ
đã bị Mã Viện tàn sát Hơn ba trăm quân lính bị bắt, bị đầy sang Linh Lăng (Hồ Nam)"1 Tương truyềntrong số hơn 300 tướng lĩnh đã bị bắt đi đày ở Linh Lăng có Đô Dương
1 Lịch sử Việt Nam trang 81.
Trang 14Phúc Thần Đương Cảnh Thành hoàng
(Thần tích đền Vậy,
xã Phi Hiển, Vụ Bản, Nam Định)
Thời thuộc Hán ở làng Phi Hiển huyện Thiên Bản, nay là thôn Vậy, thuộc xã Cộng Hòa, huyện VụBản, tỉnh Nam Định, có ông Đỗ Hinh là một người có danh vọng trong vùng, vợ là bà Trần Thị Nga,tuổi ngoài 50, mới sinh được một nàng con gái, đặt tên là Đỗ Thị Dung, bấy giờ là năm Canh Thìn (20),đời Tân - Vương Mãng Năm sau lại sinh thêm một con trai, ông bà đặt tên là Đỗ Xuân Quang Lớn lênhai chị em học hành thông thái, lại có sức khoẻ phi thường, giỏi cả văn lẫn võ
Năm Đỗ Thị Dung 20 tuổi, Tô Định nghe đồn sắc đẹp của nàng, mới cho người đến cầu hôn Ông
Đỗ Hinh không ưng thuận Tô Định tức giận tìm kế vu ông Đỗ Hinh phạm pháp luật đem bắt giam vàongục rồi ngầm giết hại Bà Trần Thị Nga nghe tin chồng mất trong lòng sầu thảm, nhiễm bệnh qua đời.Hai chị em Đỗ Thị Dung căm giận chiêu mộ trai tráng được hơn 300 người khởi nghĩa chống Hán:lập căn cứ ở làng Phi Hiển, ở giữa cánh đồng nước mênh mông Nghĩa quân ngày đêm ra sức luyện tập
võ nghệ chờ dịp trả thù Giữa lúc đó nghe tin bà Trưng khởi nghĩa, hai chị em Đỗ Thị Dung bèn đemquân len lỏi núi rừng tiến về Mê Linh Trên đường hành quân gặp nàng Chu Liên chỉ huy một toánnghĩa quân đóng ở núi An Sơn xứ Đoài Ba người vừa mới gặp nhau đã tâm đầu ý hợp mới cùng nhaulàm lễ kết nghĩa chị em Chu Liên hơn tuổi được tôn làm cả, hai toán nghĩa quân đóng ở núi An Sơnhợp lại kéo về với Bà Trưng Chu Liên, Đỗ Thị Dung, Đỗ Xuân Quang đều được phong tướng cầmquân Sau khi đuổi được Tô Định, Bà Trưng lên làm vua, phong tướng Chu Liên trấn thủ vùng Đại An(phủ Quốc Oai ngày nay) Tướng Đỗ Thị Dung trấn thủ vùng Hiển Khánh (huyện Vụ Bản ngày nay),tướng Đỗ Xuân Quang làm quan tại triều đình Cuối năm Tân Sửu (41), tướng Chu Liên từ Nhâm Sở vềHiển Khánh (huyện Vụ Bản ngày nay) thăm tướng Đỗ Thị Dung, về lễ từ đường họ Đỗ ở làng Phi Hiển,chẳng may mắc bệnh qua đời được an táng ở đây, phần mộ tướng Chu Liên gọi là "Mả Cả"
Mùa xuân, tháng giêng, năm Nhâm Dần (42) nhà Hán sai Phục Ba tướng quân Mã Viện, cùng Phùlạc Lưu Long mang đại quân chia hai đường thủy bộ sang xâm lược Tướng Đỗ Thị Dung mang quân từHiển Khánh về triều chống giặc Hán Trong trận quân thua ở hồ Lãng Bạc, tướng Đỗ Xuân Quang hysinh tại trận, tướng Đỗ Thị Dung thoát khỏi vòng vây ruổi ngựa chạy về Hiển Khánh Một số tướng lĩnhthoát chết trong các trận thua quân Hán ở miền đông miền ngược, đem tàn quân chạy về phía nam dừngchân ở vùng này, họ đóng đồn trại liền nhau mưu việc khôi phục
Mã Viện đem quân đuổi theo một trận giao chiến xảy ra ở cánh đồng nơi các toán quân Giao Chỉ tậpkết, tướng Đỗ Thị Dung đem quân ra tiếp ứng, nhưng vì quả bất địch chúng quân ta tan vỡ (nơi chiếntrường nay mang địa danh Đồng Đội)
Tướng Đỗ Thị Dung và một số thân binh sống sót dùng một con thuyền vượt cánh đồng chạy về làngPhi Hiển, quân Hán bủa vây trùng trùng điệp điệp, con chim sẻ cũng khó bay qua Tướng Đỗ Thị Dung
tự biết không thể phá được vòng vây bèn dùng gươm tự sát Quân xâm lược Hán thừa thế tiến vào CửuChân, nhân dân đem thi thể tướng Đỗ Thị Dung chôn cất mộ phần có tên là "Mã Đạt" Dân thôn Phi
Trang 15Hiển tức thôn Vậy ngày nay lập bàn thờ Ba tướng thời Trưng vương, tôn làm Phúc thần thành hoàngđương cảnh Tương truyền đền làm trên nền nhà họ Đỗ, nên có đôi câu đối:
Lịch triều gia tặng phong tam thánh
Trang 16Nữ tướng Sa Lương
Làng Hạ Trì, huyện Đan Phượng tỉnh Sơn Tây xưa có bốn thôn là Thượng, Hạ, Trung, Đoài, naychia làm hai xã Liên Hà và Liên Trung, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây Cả hai xã đều thờ bà SaLương nữ tướng của Hai Bà Trưng làm Thành hoàng1
Truyền thuyết dân gian kể lại hai anh em ruột Hùng Lĩnh và Sa Lương (Lãng) là con vị thủ lĩnhtrưng bộ Nam Hải, họ Hùng, hai anh em có ý đồ chống lại bọn thống trị nhà Hán Sa Lương là cô gáixinh đẹp, thái thú Tô Đinh muốn lấy nàng làm tỳ thiếp, nàng không chịu, Tô Định liền giết Hùng Lĩnh,
Sa Lương về ở ẩn ở vùng sông Cái thuộc Hạ Trì ngày nay kêu gọi những người yêu nước thành lập độinghĩa binh đánh đuổi giặc Tô Định ít lâu sau Hai Bà Trưng khởi nghĩa ở Mê Linh truyền hịch cho cácnơi về Hát Môn dự hội thề Sa Lương đem quân về hội tụ, nàng được Hai Bà Trưng giao cho chỉ huymột cánh thủy quân
Chiến thắng Tô Định, Sa Lương được vua Trưng cho về đóng quân ở Hạ Trì Đầu năm 42 Mã Việnsang xâm lược, nàng chiến đấu bên cạnh Hai Bà Trưng và hy sinh ngày 8-3
Khác với lễ hội, nghi thức thường lễ trước rồi mới hội hoặc trong lễ ngoài hội cùng một lúc Nhândân Hạ Trì mở hội trước rồi mới tiến hành lễ cùng trong một ngày gọi là hội Nghiềm
ăn tết Nguyên đán xong dân làng cử ra một ban điều hành gồm các cụ già hiểu về hội, xã có 4 thôn,mỗi thôn thành lập một đội trống để dự thi Đội trống có 10 người phân công như sau: Một người đánhtrống lớn, một người đánh chiêng, tám người còn lại đánh trống con Đội luyện tập rất công phu vàđúng lệ luật Khi ra dự thi người đánh trống lớn, chiêng phải đánh từmg tiếng mạch lạc thật kêu và dõngdạc từng tiếng một đều tay như người đánh trống lệnh Trống nhỏ đánh theo nhịp ba, nhịp bẩy, không mộttrống nào đánh lạc nhịp Khi dự thi đội trống đánh theo lệnh còn phải xếp theo đội hình như đội hình chữ nhất(-) chữ nhị (=) hoặc các đội hình truyền thống của hội Ban giám khảo chấm điểm cho từng đội, đội nàođánh hay, ròn đúng luật mới được giải
Sau khi các đội trống trình diện kết thúc, hội bắt đầu thi bơi chải trên sông Hồng Thuyền dự thi làthuyền nan bà con sử dụng hàng ngày Bốn thôn có bốn đội, mỗi đội có 10 người chia ra như sau: mộtngười chèo mũi, một người chèo lái, một người cầm trống khẩu, một người đánh thanh la, còn lại sáungười chèo
Cuộc thi được tổ chức trên sông Hồng gồm ba vòng bơi từ trước đền thờ xuôi về cuối xã với chiềudài chừng 1500 mét Trên bờ cắm cờ thần, gõ chiêng trống người reo hò cổ vũ
Đội nhất được thưởng một khăn hồng, trầu cau, thuốc, nước Các thôn không được giải thì chức sắccủa các thôn đó nhắc nhở đội cố gắng thi vào hội năm tới
Ngày 8 tháng 3, ngày giỗ Sa Lương, dân làng dâng cúng xôi trắng và thịt lợn
Lợn phải thuần màu đen được nuôi chu đáo, chuồng trại sạch sẽ, dội nước hàng ngày cho ăn uốngsạch từ khi còn nhỏ Khi cúng, thịt luộc chín, thái mỏng thành miếng nhỏ, xâu thành chuỗi 10 miếngmột và xâu làm rất nhiều xâu Cúng xong các xâu thịt được chia đều theo đầu đinh
1 Thần tích làng Hạ Trì viết là Sa Lương, nhiều sách viết là Sa Lãng.
Trang 17Vĩnh Hoa Công Chúa
Trang Tiên Nha, Thuộc huyện Yên Lạc, phủ Tam Đái, đạo Sơn Tây (nay là thôn Nghênh Tiên, xãNguyệt Đức, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc) có đền thờ Vĩnh Hoa công chúa
Vĩnh Hoa họ Phùng quê ở trang Mao Điền, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương Vĩnh Hoa là cô gái
có nhan sắc, hay chữ, từ nhỏ đã được học tập võ nghệ nên giỏi cung kiếm, cưỡi ngựa là trang nữ kiệtvăn võ toàn tài nổi tiếng ở phủ Thượng Hồng Vĩnh Hoa rất căm thù bọn giặc Hán xâm lược có chí lớn,
nàng thường nói: "Lưỡi kiếm trong tay ta phải có ngày quét sạch giặc Hán ra khỏi bờ cõi, chí lớn của
ta là như thế!".
Năm nàng 18 tuổi thì bố mẹ qua đời, nàng giao gia tài cho ông cậu rồi cùng một số bạn có chí hướng
đi tìm đất hiểm lập căn cứ chống quân Hán
Vĩnh Hoa dừng lại trang Tiên Nha khi đó thuộc huyện Yên Lạc, phủ Tam Đái, đạo Sơn Tây ở ngaycửa sông Nguyệt Đức (sông Cà Lồ) nối với sông Hồng nằm ở Tả ngạn sông Hồng Đây là vị trí hiểmtrở, có núi, có hai con sông, dân đông lại có chợ rất thuận tiện cho việc tụ nghĩa, nàng liền mở một quánnước để chiêu tập anh tài Sau Vĩnh Hoa thấy muốn mưu việc lớn phải có đông người, phải có lươngthực, nàng liền bỏ tiền ra mua ruộng làm nhà chiêu dụ những người có chí hướng đến lập nghiệp rồithành lập đội nghĩa binh Người đến mỗi lúc một đông, sản xuất được nhiều thóc lúa chẳng những đủ ăn
mà còn có để dự trữ, nàng còn mua sắt về rèn vũ khí, mua thuyền về cho mọi người tập chèo lái, muavải, muối tích trữ
Thấy rõ Vĩnh Hoa là người tài giỏi, một lòng lo cho dân, cưu mang người nghèo khó, dân làng tônnàng làm trưởng trang Đó là cơ hội thuận lợi cho Vĩnh Hoa tập hợp lực lượng, Tiên Nha nhanh trởthành đồn trại của nghĩa quân
Quân Hán được tin liền huy động binh mã đến đánh, Vĩnh Hoa họp các bô lão tướng sĩ hạ quyết tâmđánh giặc Nàng mổ trâu, lợn khao quân, đào hào đắp lũy cho người đi trinh sát các nơi, lại đặt các vọnggác bí mật để giám sát các hoạt động của giặc Quân Hán đem quân đến đánh phá mấy lần đều bị VĩnhHoa chỉ huy dân binh đánh cho chạy tan tác
Mùa xuân năm 40 Hai Bà Trưng phái Nguyễn Tiến Cơ đem Hịch cứu nước đến, Vĩnh Hoa đã tiếpnhận hịch đưa quân bản bộ về Hát giang tụ nghĩa
Hai Bà Trưng thấy Vĩnh Hoa diện mạo uy nghi, tài kiêm văn võ liền phong làm Nội thị tướng quânđược theo Hai Bà ở đạo trung quân để cùng dự bàn việc quân Vĩnh Hoa đã lập công xuất sắc trongchiến dịch vây đánh thành Luy Lâu giành đại thắng
Sau chiến thắng, Bà Trưng lên ngôi vua đóng đô ở Mê Linh, Vĩnh Hoa được phong làm công chúa
và lệnh cho Vĩnh Hoa về đóng quân ở ngã ba sông Hồng - sông Hát - sông Nguyệt Đức1 Vĩnh Hoa tuânlệnh về lập đồn chính ở Tiên Nha bên tả ngạn sông Thao và đồn thú ở bãi Trung Hà (nay thuộc xãTrung Châu, huyện Đan Phượng bên Hữu ngạn sông Hồng
Trong một trận chống nhau ác liệt với Mã Viện, Vĩnh Hoa thế cùng, nàng tuẫn tiết ở cửa sôngNguyệt Đức ngày 1 tháng 9
1 Bên Hữu ngạn sông Hồng là sông Hát (cửa Hát, Hát Môn phía đoạn dưới ngang đập Đáy) gọi là sông Đáy Bên Tả
ngạn sông Hồng đối diện với sông Hát, thuộc huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc cũng có một nhánh sông đổ vào sông Cà Lồ
đã bị lấp, đó là nơi Vĩnh Hoa tử tiết
Trang 18Vĩnh Hoa công chúa được thờ ở đình Nghênh Tiên, xã Nguyệt Đức, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.Nay Nghênh Tiên cùng với các thôn Xuân Đài, Đình Xá hợp thành xã Nguyệt Đức, tại đây có nhiều dichỉ văn hóa Phùng Nguyên ở thôn Xuân Đài phát hiện được một ngôi mộ đầu Công nguyên, thi hài chỉcòn một nửa phía trên, phải chăng đây là một tướng lĩnh chết trận trong cuộc chiến tranh Đông Hán -Việt.
Đền thờ Vĩnh Hoa ở Nghênh Tiên được nhiều triều đại phong sắc, vua Lê Đại Hành phong là "VĩnhHoa nương binh hiển nữ quốc công chúa", lại phong "Hằng Nga uyển mị trinh thục phu nhân tôn thần"
Lê Thái tổ phong là "Đức hạnh đoan trang trinh tiết phu nhân"
Vĩnh Hoa còn được thờ làm Thành hoàng ở làng Trung Hà (nay thuộc xã Tiến Thịnh, huyện MêLinh và làng Trung Hà xã Trung Châu huyện Đan Phượng, Hà Tây bên hữu ngạn sông Hồng)
Lễ hội Vĩnh Hoa ở Nghênh Tiên có nhiều trò chơi như ném cầu, đáo đĩa, đáo hú
Trang 19Lê ả Lan và Lê Anh tuấn
Ông bà Lê Tuân và Đặng Thi Sách ở làng Mía xứ Đường Lâm, tỉnh Sơn Tây, nay thuộc xã ĐườngLâm thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây Ông làm nghề dạy học và làm thuốc, bà hay lam hay làm tính tìnhthuần hậu nên gia đình cũng sung túc
Một hôm hai ông bà qua chơi trang Văn Lang ở bên kia bờ sông Thao, nay thuộc huyện Hạ Hòa tỉnhPhú Thọ vào nghỉ ở một tòa miếu cổ rồi mang thai Đến kỳ mãn nguyệt, khai hoa bà sinh một gái mộttrai Gái thì xinh tươi như bông hoa hé nở, trai thì khôi ngô tuấn tú, tiếng khóc vang như tiếng chuông.Ông bà đặt tên gái là Lê ả Lan, trai là Lê Anh Tuấn
Hai người con khoẻ mạnh không hề ốm đau, lớn nhanh ả Lan xinh tươi, mắt phượng mày ngài, thắtđáy lưng ong, mặt hoa da phấn Lê Anh Tuấn cao lớn thông minh hiếu động Ông dạy văn thơ, lịch sử,thiên văn địa lý, đạo làm người cho hai con và mượn thày dạy võ nghệ cho hai con Nhờ đó cả hai chị
em đều giỏi văn thơ, tinh thông võ nghệ
Năm chị em 18 tuổi thì cả hai bố mẹ đều qua đời
Bọn quan cai trị nhà Hán dùng mọi thủ đoạn bóc lột dân Âu Lạc, vơ vét hết của cải, bắt dân lên rừngsăn tê giác, voi lấy ngà và sừng, bắt chim trả, bắt đào vàng bạc, sơn lam chướng khí chết không biết baonhiêu mà kể, bắt xuống biển mò trai lấy ngọc chết vì cá sấu, thuồng luồng Các Lạc hầu, Lạc tướng làmquan cho chúng, cũng bị chúng chèn ép khinh miệt Chúng còn bắt dân ta mặc quần áo Hán, theo phongtục Hán, phá trống đồng của ta cùng các di sản văn hóa khác
Không chịu áp bức bóc lột của quan lại nhà Hán, nhiều cuộc khởi nghĩa nhỏ đã nổ ra ở khắp cácquận Giao Chỉ, Cửu Chân Bà Trưng Trắc cùng chồng là Thi Sách và em gái là Trưng Nhị liên kết cácanh hùng hào kiệt toan khởi nghĩa Việc bại lộ Thi Sách cùng nhiều người bị Tô Định sát hại
Nặng thù chồng, nợ nước, Bà Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị tập hợp anh hùng hào kiệt bốnphương chuẩn bị khởi nghĩa, bà phát hịch khắp nơi phát động toàn dân Giao Chỉ, Cửu Chân khởi nghĩa.Toàn dân Giao Chỉ đáp lời kêu gọi hai vị nữ anh hùng
Chỉ trong vòng vài ba tháng tướng lĩnh theo về hàng trăm, quân theo về hàng chục ngàn Khi đó ảLan và Anh Tuấn ở Đường Lâm cũng chiêu mộ được vài trăm nghĩa sĩ cũng lập tức về Hát Môn tụnghĩa
Hai Bà Trưng vui lòng tiếp nhận và phái hai chị em dẫn quân lính về phòng giữ mặt Bắc sông Thao
Lê ả Lan, Lê Anh Tuấn lập tức dẫn 2000 quân đi, cờ quạt rợp trời, trống chiêng dậy đất Ngày 13 thánggiếng năm Giáp Tý (tháng 2 năm 40), hai chị em tới trang Văn Lang nằm ngay trên bờ sông Hồng
Hạ trại xong hai chị em đi quan sát địa hình thấy có một ngôi đền bằng đá ở ngay trên bờ sông - đóchính là ngôi đền mà trước đây ông bà Lê Tuân và Đặng Thi Sách đã vào nghỉ rồi có mang sinh ra haichị em nàng - hai chị em liền vào thắp hương bái tạ ả Lan và Anh Tuấn thấy đây là nơi kỳ thú sau lưngnúi có, phía trước có sông Thao, lại có nhiều đường đi các ngả, bèn lập đồn binh ở đây để giữ sôngThao
Trang 20Nhân dân trong vùng nô nức kéo giúp quan quân xây dựng đồn trại, trai tráng thì gia nhập nghĩaquân Đồn trại xây dựng xong hai chị em mổ trâu lợn lập đàn tế trời đất, bách thần sông núi, khaothưởng quân sĩ, mở nhiều cuộc vui chơi1.
Hai Bà Trưng hiệu triệu các tướng về Hát giang tế cờ khởi nghĩa, phong chức cho các tướng Lê AnhTuấn được phong chức Đô chỉ huy đại tướng quân, sau đó phái các tướng đi đánh phá các thành trì quậnhuyện của bọn đô hộ nhà Hán
Khi hạ thành Luy Lâu, Lê ả Lan và Lê Anh Tuấn được bà Trưng giao cho chỉ huy bộ binh, thủy quânđánh tập hậu thành Luy Lâu Hai chị em bà chỉ huy quân sĩ đánh tập hậu thắng lợi, chém giết nhiềutướng giặc tạo điều kiện cho đại quân hạ thành dễ dàng
Đất nước sạch bóng quân thù, bà Trưng Trắc lên ngôi vua phong thưởng các tướng sĩ, hai chị em bà
ả Lan đều được phong chức tước và lại đưa quân về đóng đồn ở Văn Lang giữ phía Bắc sông Thao.Sau khi ả Lan, Lê Anh Tuấn mất trên núi Ao Trời vào ngày 25 tháng 8, nhân dân lập đền thờ ngaytrên nền doanh trại cũ, quanh năm nghi ngút khói hương
1 ở Văn Lang hội hàng năm thường có mổ trâu lấy da căng tiến bốn cọc làm nồi nấu thịt và ăn bốc.
Trang 21Quách A - Người con gái của Ngã ba bạch hạc
Tại ngã ba Bạch Hạc có một xóm chài Dân chài làm lụng quanh năm đầu tắt mặt tối, mùa nóng cũngnhư mùa lạnh phải ngâm mình dưới nước, dầu dãi nắng sương nhưng được con cá to nào đều bị bọntuần giang Đông Hán cướp Riêng Quách A khi đó mới 13 tuổi, cô bắt cá giỏi không kém gì người lớn,căm thù giặc Hán, cô không chịu nộp cho chúng mà được con cá to nào cô đều giấu đi bán lấy tiền đonggạo nuôi bố mẹ già
Những khi nhàn rỗi cô vào rừng tập ném lao, bắn cung, múa kiếm Cô hỏi người già cách đánh đuổigiặc, người già sợ bọn giặc nên chỉ lắc đầu Quách A không hề nản vẫn đêm ngày luyện tập võ nghệ.Năm nàng tròn 16 tuổi, cha mẹ đều qua đời, lo tang lễ cho cha mẹ xong nàng cắt tóc, mặc áo quần nâusòng, lấy pháp hiệu là Khâu Ni đi tu ở một vùng khác Đi đến đâu nàng cũng thấy giặc Hán hoành hành,
ức hiếp, giết chóc người Việt nên càng nung nấu chí căm thù đánh đuổi giặc cứu nước, cứu dân
Một ngày kia Quách A đi tới khu rừng vắng vẻ1 thấy có một ngôi miếu bỏ hoang Hỏi người địaphương thì được biết vùng này hổ, báo, gấu thường về bắt người nên dân chúng sợ không dám lai vãng.Nàng nói với các bô lão là xin trụ trì ở ngôi miếu đó Từ đó dân làng qua lại miếu, trai gái tụ họp ngàycàng đông Ni cô Khâu Ni dạy võ nghệ cho họ, truyền cho họ lòng căm thù giặc Hán Một lần Quách Atrở về quê rủ mười ba bạn trai, gái đến miếu bàn tính kế hoạch khởi nghĩa Cả vùng Bạch Hạc sôi độngmài gươm, vót tên chờ lệnh của viên nữ tướng là nhất tề nổi dậy Vào một đêm mưa to, gió lớn, sấmchớp vang động, rung chuyển núi rừng Khâu Ni ở trong chùa chợt nghe thấy tiếng hổ gầm thét bênngoài liền đốt đuốc đi ra, mấy nữ binh cũng cầm gươm ra theo Tới nơi thì ra con hổ trở dạ đẻ, thấyQuách A cùng một số người cầm gươm đứng lố nhố, con hổ gầm gừ nhe nanh, giơ vuốt, Ni cô Khâu Ni
nhẹ nhàng nói: "Ngươi chớ có sợ, ta theo đạo Phật không sát sinh, nhưng từ nay ngươi đứng tới đây nữa!" Hổ cái gật đầu rồi lẳng lặng cắp con đi, từ đó không bén mảng tới nữa.
Từ đó uy danh của ni cô Khâu Ni càng lừng lẫy, nàng công khai luyện tập quân bộ, quân thủy, anhhùng hào kiệt theo về ngày càng đông
Nghe tin Hai Bà Trưng khởi nghĩa ở Mê Linh, Khâu Ni định tới thì sứ giả của Hai Bà Trưng tới.Khâu Ni dựng đàn tế cáo trời đất, duyệt binh, anh hùng hào kiệt suốt dải sông Thao, sông Đà theo vềngày càng đông Quách A mở hội ba ngày liền, hội có tổ chức thi đấu vật, ném lao, bắn cung, cưỡi ngựavượt qua chướng ngại vật cùng các trò cướp cầu, hát xoan Sau đó Khâu Ni chia 800 quân làm hai đạothủy bộ tiến về sông Hát giang hội quân với Hai Bà Trưng Hai Bà Trưng ra tận bến sông đón và duyệtđoàn nghĩa binh, phong Quách A làm Tiên Phong Tả tướng quân Ngày Hai Bà Trưng phá quân TôĐịnh ở thành Luy Lâu, Quách A đẫn quân thủy bộ theo dòng sông Thao cùng Thiều Hoa lĩnh ấn Hữutướng tiên phong tiến vào sông Thiên Đức (sông Đuống) rồi vào sông Dâu đánh phá thành Luy Lâu củagiặc
1 Thời Lê vùng này là thôn Nhất Chiêu, thời Nguyễn đổi là Nhật Chiêu, nay là thôn Cựu Ấp, xã Liên Châu, huyện Yên
Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
Trang 22Hai tướng tiên phong đánh thẳng vào dinh lũy của Tô Định, sau Hai Bà Trưng đưa đại quân tiếpứng Thành Luy Lâu vỡ, Tô Định bỏ cả ấn tín, vàng bạc, cởi áo, vặt râu, luồn qua lỗ chó chui trốn vềTrung Hoa.
Đánh tan giặc, Bà Trưng lên ngôi vua, phong Quách A là Khâu Ni công chúa Khâu Ni được lệnh trở
về Nhật Chiêu lập đồn lũy, treo trống lệnh ở trong miếu từ đó miếu có tên là Huyền cổ tự Trong thờigian ở Nhật Chiêu, công chúa Khâu Ni không ngừng luyện quân, rèn tướng, khuyến khích nhân dânkhai hoang đồng ruộng, lập thêm trang ấp mới Được hai mùa xuân vào ngày 10 tháng chạp, Khâu Nihóa
Nhân dân Nhật Chiêu lập đền thờ ngay tại miếu Huyền Cổ tự Tương truyền khi Đinh Bộ Lĩnh điđánh sứ quân Kiều Công Hãn ở Phong Châu, Bạch Hạc đến nghỉ ở miếu Huyền Cổ tự đã mộng thấy
Khâu Ni xưng là"Chuyên Phàm tử Khâu Ni xin âm phù" Đinh Bộ Lĩnh thắng trận Khi lên làm vua Đinh
Tiên hoàng phong Khâu Ni làm Thượng Đẳng Phúc thần, giao cho trang Nhật Chiêu làm hộ nhi giữ việc
cúng tế, Lê Đại Hành năm Thiên phúc phong là"Công chúa Huệ gia trinh thục phu nhân" Vua Trần Thái
tông đánh giặc Nguyên Mông ở sông Thao cũng được Quách A âm phù đánh thắng giặc, sắc phong choKhâu Ni công chúa, Lê Thái tổ đánh thắng giặc Minh cũng có sắc phong và cho kiêng bốn chữ: ANương - Khâu Ni
Nhân dân Nhật Chiêu tổ chức hội vào ngày 6 tháng giêng, 15 tháng 2 và ngày 10 tháng chạp Banthờ Khâu Ni cúng cỗ chay Ban thờ các quan và quân sĩ cúng trâu thui cả con, tất cả những người đến lễ
và khách qua đường đều được ăn bằng cách tự xẻo một miếng thịt nướng ăn tại chỗ
Trang 23Đại đô Nguyên Súy - Lợi gia tham tán Dương hướng tướng quân
Làng Phú Xá tên Nôm là làng Quân, huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương, thờ Đại Đô nguyên súy, LợiGia tham tán và Dương Hướng tướng quân
Sự tích Thành hoàng chép như sau: "Nguyên Trần Danh Quang, vợ là Hà Thị Quân ở châu Tụ Long(Tuyên Quang) vốn người khoan nhân đại độ, sinh hạ được một con trai phong tư dĩnh ngộ, đặt tên làThiện, năm 13 tuổi văn chương, võ nghệ đều tinh thông cả Đến năm 20 tuổi, bố mẹ mất, Tô Định1 kêuông cho làm chức Thị tụng tham quan, bổ làm Huyện lệnh huyện Cẩm Giàng, phủ Hồng Châu, ông phónhậm xong đi kinh lí trong huyện, đến làng Phú Xá thấy phong cảnh đẹp, dân phong thuần hậu bèn lậpmột biệt thự để ở Bấy giờ ở làng Phú Xá có nhà Lợi Danh Quỹ vợ là Nguyễn Thị Phúc sinh được mộtcon gái vào bậc nữ trung anh kiệt tên là Côn nương, kết duyên với ông Bà Côn nương có thai, đẻ rơi ởcổng làng được một nam tử, đặt tên là Ngõ Lang công, phong tư tuấn nhã Năm 18 tuổi tài kiêm văn võ
Tô Định nghe thấy cả nhà toàn tài, sợ có ý gì khác cho người vu cả nhà ông có ý làm phản đem quânđến xã Phú Xá để bắt Cả nhà ông thoát nạn, chạy lên trú ở động Sài Sơn, phủ Quốc Oai (Sơn Tây) Ôngthấy bà Trưng đem quân đánh Tô Định bèn đem cả vợ con đến theo Bà Trưng phong cho ông làm Đại
đô nguyên súy, vợ là Lợi gia tham tán, con là Dương Hướng tướng quân đi đánh Tô Định
Giặc Tô thua chạy, ông cùng vợ lạy tạ vua về làng, có bao nhiêu bổng lộc đem chia cả cho nhân dân.Một hôm tự nhiên cả nhà đều hóa, Trưng vương cho quan về tế và phong làm Đại vương, công chúa cholàng Phú Xá thờ, triều nào cũng có sắc phong
Đình có các câu đối thờ:
- "Dực bảo Trưng triều, hạch trạc nhất đường lưuBắc sử,
Tảo trừ Tô tặc, triêu dong vạn cổ chấn nam thiên"
- "Long, Hồng, Tuyên, tạm chân, Nam quốc địa do truyền hiển tích,
Phụ, mẫu, tử quần thánh, Trưng vương triều hợp kỷ nguyên huân"
Quang phải là người tiền nhiệm của Tô Định là Tích Quang.
Trang 24Trung Quốc hiển ứng đại vương
Tương truyền ở bãi Kim Lan huyện Siêu Loại, phủ Thuận Thành, xứ Kinh Bắc có một vị tướng làNguyễn Thanh vốn là một gia đình hào phú, nền nếp thi thư lại có đức độ và chí khí nên dung nạp đượcrất nhiều hào kiệt bốn phương Tình hình trong nước lúc bấy giờ rất rối loạn, Nguyễn Thanh làm bộchúa Sơn Nam muốn chống lại nhà Hán nên ngầm chiêu tập anh hùng các nơi về Một hôm ông đi chơiđến xã Thiệu Phú thôn Liêu Cốc, tổng Hạ Xá, châu Xích Đằng, thấy phong tục thuần hậu, ông rất lấylàm mến người, mến cảnh Ông liền bỏ tiền ra giúp đỡ người ghèo, khuyên họ hướng về việc nghĩa.Trong làng có ông già họ Lý, tên Hằng có cô con gái xinh đẹp tuổi vừa đôi tám, Nguyễn Thanh rất mếnngỏ ý muốn lấy làm vợ Ông Lý Hằng và dân bản đều vừa ý đẹp lòng
Một đêm vợ Nguyễn Thanh chiêm bao thấy nuốt một con rết từ trên trời rơi xuống, bà liền kể lại với
chồng, Nguyễn Thanh vui mừng nói: "Vậy thì hồng phúc nhà ta rất lớn, điềm lành ấy tất sẽ sinh con quý tử" Quả nhiên ít lâu sau Nguyễn phu nhân có thai Đến ngày 10 tháng giêng năm Nhâm Tuất bỗng thấy
hương thơm ngào ngạt, hào quang sáng rực, bà sinh hạ được một cậu bé khôi ngô tuấn tú Năm lên batuổi bố mẹ đặt tên con là Trung
Năm Nguyễn Trung 23 tuổi, Tô Định được Hán Quang Vũ cử sang làm Thái thú quận Giao Chỉ.Thái thú Tô Định là một kẻ tham tàn, độc ác, dân chúng khắp nơi đều căm ghét Nguyễn Thanh là bộchúa Sơn Nam tập hợp dân chúng lại phất cờ khởi nghĩa chống Tô Định, nhưng quân ít, lực mỏng nên bịthua ngay từ trận đầu Tô Định đuổi theo giết chết được ông và còn giết cả bà vợ ông nữa NguyễnTrung may mắn trốn thoát đến ở nhờ nhà bà dì ở xã An Xá huyện Ngự Thiên Nguyễn Trung mang mốicừu thù trong lòng thầm nung nấu ý định trả thù Ông lập mưu tính kế bèn đến chùa Hương Long bạchvới sư cụ xin được quy y Nhà sư làm lễ tam bảo thừa nhận và ban cho ông pháp hiệu là Đạo Uẩn thiền
sư Từ khi Nguyễn Trung đi tu, đêm đêm thường nằm mơ thấy tiên xuống luyện võ cho Một đêmNguyễn Trung nằm ngủ trước cửa tam bảo nửa đêm nàm mơ thấy một vị thiên quan cầm một lá thư trao
cho ông và bảo rằng: "Ta vâng lệnh Ngọc hoàng trao cho ông lá thư này" Ông mở thư ra thấy có bốn dòng thơ, đại ý: "Muốn rửa được thù báo hiếu được cha mẹ thì hãy về đất Thiệu chờ đợi bậc quý nhân Sông núi nước Nam đã được phân định rồi Quân Tô Định nhất định sẽ phải tan thây" Ông tỉnh dậy biết
là điềm chiêm bao trời phật báo cho liền làm lễ tạ chư phật rồi về quê ngoại ở Phú Triệu ở đó có ngôichùa nhỏ, Nguyễn Trung liền vào tụng kinh gõ mõ Dân làng thấy chùa có sư bèn đến hỏi sư từ đâu đến,
Nguyễn Trung đáp: "Đây là quê ngoại tôi vì vậy tôi chẳng phải là người xa lạ Còn việc tôi đi tu là để nhằm siêu độ tổ tiên thoát khỏi vòng luân hồi cực khổ".
Nguyễn Trung tu ở chùa Phú Thiệu rất chăm lo đến việc tô tượng, đúc chuông và phát chẩn cho dân:Ông tuy tựa cảnh chùa song lòng phục thù vẫn nóng rực không lúc nào nguôi Ông ngầm liên kết vớinhững hào kiệt, tích lũy lương thực chờ ngày khởi sự Vì vậy cảnh chùa thanh tịch đã biến thành nơituyển quân náo nhiệt Dân địa phương nô nức tập hợp dưới ngọn cờ của Nguyễn Trung Ông hạ lệnh lậpdoanh trại ở xã Phú Thiệu, cho giết trâu tế trời đất và tự xưng là Trung Quốc đại vương Ông đang định
ra đánh nhau với Tô Định thì đêm ông chiêm bao thấy sao Đế Tạo xuất hiện ở phương Nam, nghĩ thếnào cũng có thánh quân giáng thế, chi bằng hãy ẩn náu ở rừng núi chờ đợi thời cơ hành động Hơn nữa
quân của Tô Định mạnh mà quân của ta chưa có được bao nhiêu "dục tất bất đạt", chi bằng hãy cứ bình
Trang 25tĩnh khi nào có sứ giả nhà vua tới hãy hay Ông bèn xem một quẻ bói, đoán chỉ trong vài ngày sẽ có mệnhvua đến triệu.
Hồi ấy ở đất Phong Châu có hai chị em bà Trưng Trắc, Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa đánh Tô Định.Nghe tiếng Trung Quốc đại vương là bậc hào kiệt bèn cho người đến mời ông cùng hợp tác đánh giặc,phong cho ông làm Đại tướng quân Hai Bà Trưng truyền hịch mời các bậc anh tài khắp đất nước hội tụ ởcửa sông Hát Nhân dân khắp nơi hưởng ứng lời hiệu triệu của Hai Bà kéo nhau tới xin đầu quân có tới 10
vạn Trưng vương cho lập đàn tế trời đất núi sông Bà khấn rằng: "Thiếp tôi là bậc nữ lưu nghĩ đến giang sơn xã tắc mà lòng đau đớn, bởi tên giặc Tô Định lòng dê, dạ chó, chính sự tàn ngược thả chí ngông cuồng, trời người cùng giận Thiếp đây vốn dòng dõi Hùng triều đâu có thể làm thinh cúi đầu mặc cho quân giặc bạo ngược hoành hành Cúi đầu cầu nguyện trời đất bách thần âm phù cho thiếp dấy quân đánh giặc giữ nước, cứu dân, khôi phục lại giang sơn".
Ngay ngày hôm ấy Bà Trưng cho quân tiến đánh Các nữ tướng đi tiên phong, Trung Quốc đạivương chỉ huy toán quân đi giữa, Trưng Trắc chỉ huy toán quân đi sau Quân Tô Định thua to, bỏ chạytan tác, Tô Định phải đền tội1 Quân ta bình định được 65 thành Trưng Trắc lên ngôi vua, phong choTrưng Nhị làm Bình Khôi công chúa, các tướng lĩnh đều được khen thưởng Nguyễn Trung xin Trưng
nữ vương cho được về quê, được vua phê chuẩn và ban cho 100 lạng vàng, 10 bộ áo gấm Vua còn chođất Phú Thiệu là đất hưởng lộc khi sống và là nơi thờ phụng khi về già
Nguyễn Trung về quê, dân chúng nghênh đón rất trọng thể Một hôm bỗng trời đất tối tăm mưa giósầm sập, dân chúng thấy có một con rết rất to bay từ trong mình Nguyễn Trung ra vút lên trời Vừa lúc
đó có ba tiếng sét dữ dội, mây đen tan hết, một luồng hào quang sáng rực bay vút lên trên không biếnmất Nguyễn Trung hóa trong lúc ấy Dân đến xem thì thấy kiến, mối đã xông lên thành mả, bèn dựngmiếu thờ ngay tại nơi đó
Các triều đại sắc phong là: "Trung Quốc Hiển ứng Phụ dân, Dương võ, Oai dũng, Tương nhị, Vọng lập, Thuần tiến, Tế thế, An dân đại vương".
(Thần tích xã Phú Cốc, Kim Động, Hưng Yên)
1 Thần tích viết Tô Định phải đền tội, nhưng thực ra hắn không chết mà trốn thoát về Tàu.
Trang 26Đô thống - Chiêu Hiến - Tam Long
Làng Ngọc Động, xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội có đền thờ ba ông tướng là các ông
Đô Thống, Chiêu Hiến và Tam Long là ba anh em ruột làm Thành hoàng
Theo truyền thuyết, cha mẹ ba ông vốn quê ở trấn Sơn Nam vì hiếm con đã đến cầu tự ở ngôi đền tạitrại Đa Tốn, sau sinh ra ba ông Ba ông sinh và trưởng thành ở trang Ngọc Động, sau đó trở về quê ởSơn Nam
Khoảng đầu năm 39, ba ông trở lại Ngọc Động thăm lại ngôi đền xưa và trang ấp, nơi đã sinh ra vànuôi nấng mình trong thời thơ ấu
Vào thời đó Tô Định thái thú Giao Chỉ vô cùng tàn bạo tham lam, dân ta cơ cực không sao kể xiết
Ba ông nhận thấy Ngọc Động trên bến, dưới thuyền, lại có đường đi các ngả Nam, Bắc, Tây, Đông, dân
cư đông đúc, dân có lòng trung hậu và đều căm thù giặc Hán liền chiêu mộ anh hùng hào kiệt, dựng cờ
tụ nghĩa, xây dựng đồn lũy chống giặc
Chỉ trong một thời gian ngắn, ba ông đã tập hợp được gần 500 tráng sĩ, ba ông chia ra làm hai binhchủng bộ binh và thủy binh, trang bị vũ khí, không ngừng thao luyện cho binh sĩ tinh thông các thế trận.Được tin Hai Bà Trưng khởi nghĩa ở Mê Linh, ba ông đến yết kiến, được Trưng nữ chủ trọng dụnggiao cho về Ngọc Động chiêu mộ thêm quân chờ ngày khởi sự Các ông mộ được 3000 quân
ít lâu sau ba ông nhận được lệnh của Hai Bà về tế cờ khởi nghĩa ở Hát Môn Sau lễ tế cờ ba ôngđược Trưng Trắc giao cho đi đánh phá các huyện thành Các ông đã lập công xuất sắc, sau đó được lệnhcùng đại quân đi hạ thành Tô Định
Sau chiến thắng bà Trưng Trắc lên ngôi vua, phong thưởng cho các tướng sĩ Sau khi nhận phongtước, ba ông xin Trưng vương cho về đóng quân ở đồn cũ là Ngọc Động, được nhà vua ưng thuận.Trong những năm tháng đóng quân ở Ngọc Động, ba ông đã không ngừng củng cố đồn lũy, thao luyệnquân sĩ, ngoài ra còn giúp dân khai hoang mở mang đồng ruộng, mở rộng làng xóm
Khi Hán Quang Vũ cho Mã Viện sang xâm lược nước ta, ba ông đã tham gia các trận đánh ở hồLãng Bạc rồi về lập phòng tuyến ở Cấm Khê cầm cự với giặc gần một năm, ba ông còn tiếp tục chiếnđấu, các ông đã xây dựng trận địa trên bờ Tả ngạn sông Hồng từ trang Ngọc Động đến trang Phú Viên(xã Bồ Đề, Gia Lâm ngày nay) Quân giặc kéo đến đánh đều bị ba ông chỉ huy quân sĩ đánh cho đại bại
Mã Viện huy động đại quân đánh phá Trong trận quyết chiến ngày 12 tháng 7 năm 43, cả ba ông đềuanh dũng hy sinh
Theo Thần tích đình làng Ngọc Động thì khi ấy có đoàn rùa, rắn từ sông Hồng nổi lên rước ba ông
đi Nhân dân Ngọc Động tôn ba ông làm Thành hoàng, ông Cả và ông Ba thờ ở đình Ngọc Động, ôngHai là Chiêu Hiến thờ ở Nghè
Trong đình có đôi câu đối:
"Tượng quận Dương uy nghiêm tướng lược,
Bồ Tân tuẫn tiết tận thần trung"
Dịch:
"Quận Tượng oai hùng nhiều tài tướng lược
Trang 27Bến Bồ tuẫn tiết tận nghĩa trung thần"
Và:
"Tái Bắc túc chinh trần, công cao trục Định
Hồ Tây dựng nộ lãy, nghĩa trọng phù Trưng"
Dịch:
"ải Bắc yên gió bụi can qua, công đầu đuổi Tô Định
Hồ Tây nổi ba đào căm giận nặng nghĩa phù Trưng"
ở cạnh nghè thờ ông Chiêu Hiến, ngành khảo cổ học đào được một dùi đồng, một giáo đồng cùngmột số đồ gốm thuộc nền văn hóa Đông Sơn Thôn Đào Xuyên cùng xã Đa Tốn với Ngọc Động cũngđào được một thạp đồng Điều đó chứng minh làng Ngọc Động cũng như cả xã Đa Tốn là một làng cổbên bờ Tả ngạn sông Hồng
Trang 28Lũ Lũy
Cổ Lôi trang sau này trở thành làng Văn Lôi nằm ở phía Tây bắc làng Hạ Lôi, quê hương Hai BàTrưng, gần làng Liễu Trì quê hương Thánh Cốt Tung ở huyện Yên Lãng, tỉnh Vĩnh Phúc có ngôi đềnthờ Lũ Lũy là tướng của Hai Bà Trưng
Thuở ấy Cổ Lôi trang có nàng Tứ là con một Lạc tướng, nàng nhan sắc yểu điệu, má thắm môi son,ngọc thốt đoan trang Năm nàng 18 tuổi nhiều con trai nhà quyền quí hỏi nhưng nàng chẳng ưng ai vẫntreo giá ngọc Cho đến một đêm trăng thanh gió mát, nàng đang mơ màng ngủ thì mơ thấy một đám mâyngũ sắc bay tới chạm vào bụng mà có mang Nàng sợ hãi đem chuyện đó thưa lại với cha mẹ Ông bà an
ủi con cho đó là điềm lành chớ có sợ hãi Từ đó nàng mang thai, tới năm Quí Mão, ngày 7 tháng giêngnàng sinh một quí tử, khôi ngô tuấn tú, nàng đặt tên là Lũ Lũy Năm Lũ Lũy 13 tuổi thì nàng Tứ độtngột không bệnh mà qua đời
Nước ta khi đó bị nhà Đông Hán cai trị chia làm quận huyện, miền Bắc Bộ ngày nay gọi là quậnGiao Chỉ do Tô Định làm Thái thú Tô Định là kẻ bạo ngược, tham lam, ngay Mã Viện cũng phải nói
"Tô Định giương mắt lên vì tiền" Dân ta điêu đứng trăm bề, khốn khổ không sao kể xiết Khi chúng đánh
hơi thấy chồng bà Trưng Trắc là Thi Sách đang tập hợp lực lượng vũ trang chống chúng, chính Tô Địnhđem quân đến vây đánh Chu Diên Thi Sách thua phải chạy rồi bị giết trên đường cùng với nhiều ngườikhác
Bà Trưng phẫn chí thù chồng, thương dân cơ cực lầm than vì nước mất, bà liền cùng em gái là TrưngNhị chiêu mộ anh hùng hào kiệt khởi nghĩa, thủ lĩnh các cuộc khởi nghĩa nhất tề hưởng ứng
Lũ Lũy từ khi mẹ chết ở với ông ngoại được ông dạy cả văn lẫn võ Lũ Lũy là người có chí căm thùgiặc lại thông minh nên học đâu biết đó Vừa nhận được tin Hai Bà khởi nghĩa, Lũ Lũy đã chiêu tậpnhững người cùng chí hướng được vài ba trăm người rồi đến Hát Môn đầu quân tụ nghĩa
Lũ Lũy là người cầm quân có tài, có công trong cuộc chiến đấu hạ 65 thành trì của giặc Hán, khiến
Tô Định phải liều chết phá vây, luồn qua lỗ chó chui thay áo, cắt râu trốn về Nam Hải
Thắng giặc ngoại xâm, bà Trưng Trắc lên ngôi vua phong thưởng cho các tướng sĩ, phong cho LũLũy chức Đại tướng quân cử về đóng đồn ở Cổ Lôi trang phòng thủ phía đông - nam kinh thành MêLinh
Lũ Lũy về xây dưng đồn lũy, được dân trong vùng giúp đỡ nên chẳng bao lâu đã xây xong Lũ Lũy
mổ trâu lợn khao thưởng quân sĩ, mở hội vui chơi 3 ngày Vua Trưng trị nước được 3 năm thì Hán Vũ
đế sai Phục Ba tướng quân Mã Viện lại đem binh sang xâm lược nước ta lần nữa Lũy công chia quân 2đạo tiến dánh Mã Viện Quân bà Trưng chống với quân xâm lược một thời gian yếu sức phải lui Lũycông rút quân về cố thủ ở trại Cổ Lôi thì bị giặc vây Sau một trận kịch chiến, Lũy công phá được vòngvây nhưng tới đầu làng thì bị giặc đuổi theo vây chặt Lũy công vung kiếm chém được đầu mấy têntướng giặc sau đó chém ngựa mình rồi dùng kiếm đâm cổ mà hóa, hôm đó là ngày 3 tháng 3 - 43 Nhân dân lập đền thờ ông ngay trên nền doanh trại cũ ở Cổ Lôi trang nay là thôn Văn Lôi xã TamĐồng huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 29Nay ở Cổ Lôi (Văn Lôi) còn các di tích như cánh đồng Dinh là nơi ông đóng quân, cánh đồng Xạ làcánh đồng trũng, tương truyền là nơi Lũ Lũy luyện quân bắn cung nỏ, Bãi Cấm là nơi có mộ Lũ Lũy không
rõ xây từ đời nào
Trang 30Dương học
Tương truyền vào thời Hai Bà Trưng, tướng Học công tên thật là Dương Học còn có tên là Vĩ Lượcsinh ngày 16 tháng giêng năm Mậu Dần (18) con ông Dương Bảo và bà Hà Thị Cầu ở làng Xanh (nay làthôn Ngô Khê, xã Bình Nghĩa, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam) Ông bà vốn là người hiền đức thườnggiúp những người nghèo khó trong vùng Ông Dương Bảo là bạn thân với ông Đào Từ Hải, người cùnglàng, khi chưa có con đã hẹn kết giao làm thông gia Sau đó ông Dương Bảo sinh con trai, còn ông Đào
Từ Hải, sinh đôi, 2 gái, giữ lời hứa bèn gả cả 2 con gái cho Dương Học, là Nga nương và Hồng nương.Hồi đó đất nước đang bị nhà Hán cai trị, Thái thú Tô Định thấy hai người con gái nhà ông Đào Từ Hảixinh đẹp nên muốn lấy làm vợ nhưng ông Đào Từ Hải từ chối vì đã hứa gả con gái cho gia đình ôngDương Bảo Tô Định liền đem lính đến giết chết ông Dương Bảo, bố của Học công Ông Đào Từ Hảibèn đem gia đình chạy lên núi Yên Tử (Quảng Ninh) Học công cùng hai vợ là Nga nương và Hồngnương chiêu tập nghĩa binh trong mấy năm trời, sau đó kéo về lập doanh trại ở làng Xanh (Ngô Khê),nhiều lần tiến đánh phủ Đọi Sơn làm cho quân Tô Định hoảng sợ
Lúc bấy giờ Hai Bà Trưng đã khởi nghĩa ở Hát Môn nghe tiếng đồn về chiến tích của Học công, liềnphái người đến bàn việc hợp tác khởi nghĩa chống quân Tô Định Ông đã nhận lời, Hai Bà Trưng chọn
vợ chồng ông Học công làm Phó tướng Quân Tô Định thua to, phải rút quân về nước Khi khởi nghĩathành công, Hai Bà Trưng lập ra triều đình, Bà Trưng phong em gái Trưng Nhị làm Bình Khôi (vị đứngđầu) Ông Học công làm Đại nguyên soái và 2 vợ ông làm công chúa Sau đó Học công xin phép Trưngvương trở về làng Xanh (Ngô Khê) sống cuộc đời bình dị với dân làng
Theo truyền thống ông Học công và 2 bà mất ngày 6 tháng chạp năm Quý Mão (43) Sau khi ông mất,
Bà Trưng phong ông Học công làm Đại vương, bà Nga nương là Quyết Nga công chúa và còn phong
chung vợ chồng ông Học công là "Học công phu phụ uy linh vệ quốc" (Vợ chồng Học công linh thiêng cứu
nước) Đến các đời vua Đinh, Lý, Trần, Lê cũng phong sắc chỉ giữ nguyên như cũ Đền thờ ông Học côngcùng hai bà Hồng nương và Nga nương hiện nay vẫn còn ở thôn Ngô Khê, xã Bình Nghĩa, huyện Bình Lục,tỉnh Hà Nam
Thần phả làng Ngô Khê xã Bình Nghĩa.
Trang 31Thượng tướng quân Phạm gia pháp
Làng Tràng Kỹ, tên Nôm là làng Giã, tổng Tràng Kỹ, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương Làng cómột ngôi đình ở đầu làng về phía Bắc, gần chợ, trông thẳng xuống sông Trường Giang về phía Tây
Sự tích Thành hoàng lược chép như sau:
"Nguyên có một người ở quận Cửu Chân tên là Đặng Minh vợ là Trương Thị Tạo Ông lúc thiếu thờilàm nghề thuốc và có nhiều âm đức, cứu dân độ thế, mãi ngoài 40 tuổi chưa có con trai Nhà rất giàu có,
vợ chồng nghĩ rằng có của, không có con cũng chẳng làm gì bèn đem chia hết gia tài làm phúc cho kẻbần hàn, được ba, bốn năm gia tài khánh kiệt Mãi sau mới sinh một con trai, diện mạo khôi ngô, hìnhdung khác thường Ông đặt tên là Đại công Đến năm Đại công 13 tuổi, cha mẹ mất cả, Đại công cưtang xong, định chí tìm thầy học võ, bèn đến nhà ông Phạm Gia ở trang Hát Môn, huyện Phúc Thọ, đạoSơn Tây là một nhà võ nghệ cao cường để xin học, học được hơn một năm, Đại công học thông thuộc
đủ các khoa võ nghệ Phạm Gia có con gái tên là Phạm Gia Pháp võ nghệ rất giỏi bèn gả cho Đại công.Khi Phạm Gia mất rồi hai vợ chồng đưa nhau đi mộ quân ở Hải Dương và Tràng Kỹ đem đến đạo SơnTây theo bà Trưng Trắc để bình giặc Tô Định Hai ông bà đều được phong là Đại đô thượng tướngquân Bình Tô Định xong được ba năm, bên Tàu lại sai Mã Viện sang đánh báo thù Bà Trưng Trắcchống lại không được bèn tự tử, vợ chồng ông tự tử theo Có mấy người quân tàn ở Tràng Kỹ về báocho dân làng biết, dân làng bèn lập đền ở chỗ hành dinh cũ của ông làm Thành hoàng"
Trong đình còn hai đôi câu đối:
"Giang chi bắc, hải chi đông trượng nghĩa binh tàn kinh bách chiến
Lê dĩ tiền, Hùng dĩ hậu đồng tâm báo quốc hiển tam trung".
"Vị đức vị dân, vạn lý tràng thành Nam khổn trọng,
Toàn trung, toàn nghĩa, thiên thu chính khí Hát giang lưu".
Triều đại nào cũng có sắc phong ban mỹ tự, khói hương không bao giờ dứt.
Trang 32Vua bà Cung Cai
Thời Bắc thuộc, ở đạo ái Châu, phủ Thiệu Thiên, huyện Hoằng Hóa, trang Vĩnh Lộc có một quanlang bộ đạo họ Hùng, húy Đức Hùng Đức lấy vợ người họ Trần ở cùng trang, hai vợ chồng sống rất hòathuận Vào một ngày mùa hạ nóng nực, hai ông bà ra sân ngồi hóng mát, nhìn ra con sông xanh trướcnhà, bà nảy ra ý định xuống sông tắm Trong khi bà đang tắm bỗng một con giao long dài hơn mộttrượng từ đáy sông nổi lên quấn quanh người bà ba vòng Bà hoảng sợ kêu cứu, giao long thả bà ra lặnxuống đáy sông Sau đó một tháng, bà sinh hạ được hai người con một trai, một gái Cả hai đẹp như tiênđồng, ngọc nữ Người con trai được gọi là Định Triết công, người con gái được gọi là Cung Cai nương.Hai ông bà yêu quý các con như châu ngọc Khi lớn lên hai anh em được cha mẹ cho đi học Cả hai đềuvăn võ song toàn
Sau khi cha mẹ qua đời, hai anh em xuống một con thuyền đi chu du khắp nơi tìm thiên địa Mộtngày nọ thuyền đi qua xã Hương Cát huyện Tây Chân phủ Thiên Trường, đạo Sơn Nam, họ thấy nơi đâyvật thịnh dân an, có thế đất rồng vây hổ chầu rất đẹp, hai người bèn quyết định dừng lại để dựng nhà ở,
họ được nhân dân nơi đây rất quý mến
Lúc bấy giờ Hai Bà Trưng đang dấy binh ở Hát Môn chống lại Tô Định Hai Bà cử người đi khắpthiên hạ chiêu dụ nhân tài Biết tin, hai anh em đưa nhau đến yết kiến Trưng Trắc Thấy cả hai ban văn
võ kiêm toàn, Hai Bà vô cùng mừng rỡ cử hai anh em thống lĩnh một đạo binh
Sau khi Tô Định đại bại, Trưng Trắc phong cho người anh là Phù Quốc Định Triết Đại vương vàngười em là Vua Bà Hoàng hậu Cung Cai Đại vương
Thiên hạ thái bình, hai anh em xin với Trưng vương được trở về Hương Cát Về Hương Cát họ tụ tậpdân làng mở tiệc khao thưởng rồi đem vàng bạc vua ban phân phát cho nhân dân Sau đó hai anh em chobiết mình là con vua Thủy Tề được cử lên giúp vua chống giặc, nay giặc đã tan xin được trở về Thủyquốc Dân làng tiễn hai anh em ra bến sông, hai người xuống long thuyền, ra đến giữa sông, rẽ mộtđường nước mà đi mất
Nhân dân nơi đây lập đền thờ hai anh em hương khói quanh năm không dứt Người anh được phong
là Đương Cảnh thành hoàng phò quốc Hiền Tá Trực Triết Đại vương Người em được phong là "Đươngcảnh Thành hoàng Vua Bà Cung Cai Đại vương"
(Thần tích xã Hương Cát, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định)
Trang 33Nguyệt Thai - Nguyệt Độ
Làng Hoạch Trạch tên Nôm là làng Vạc, xưa là xã Hoạch Trạch, huyện Đông An, phủ ThượngHồng, đầu thời Nguyễn thuộc tổng Bình An, huyện Năng An, phủ Bình Giang Xưa phủ Bình Giangđóng ở Hoạch Trạch, đến thời Pháp huyện lỵ Bình Giang mới chuyển về phố Sặt thì Phủ Vạc gọi là Phủcũ
Làng Hoạch Trạch có tấm bia ở chùa Thánh Thọ khắc năm 1579 đã ghi là Hoạch Trạch xã, nayHoạch Trạch là một trong năm thôn của xã Thái Học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương
Làng Hoạch Trạch là đất khoa bảng, có nhiều dòng họ đỗ đạt cao trong đó có họ Nhữ, có nhiềungười có công với nước như Nhữ Tiến Dụng, đỗ tiến sĩ năm 1664, làm quan đến Hình Bộ Thượng thư,Nhữ Đình Toản đỗ tiến sĩ năm 1736, Nhữ Đình Hiền đỗ tiến sĩ năm 1860…
Làng Hoạch Trạch có đền thờ Hai Bà Nguyệt Thai, Nguyệt Độ nữ tướng của Hai Bà Trưng làmThành hoàng Ngôi đình này do quận Quế phu nhân, em của Nhữ Đình Toản có công giúp người nghèo
ở Thượng du Thanh Hóa và bỏ tiền của ra xây dựng đình làng
Hai chị em Nguyệt Thai, Nguyệt Độ là hai chị em sinh đôi, quê ở huyện Khoái Châu, tỉnh HưngYên1 Năm Hai Bà 18 tuổi đã đứng lên hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, chiêu mộ 2000quân chiến đấu dưới cờ Các thôn Tân Trường, Lương Điền, Thái Hòa, Bình Xuyên sau này vào thời đó
là nơi luyện quân của Hai Bà Mùa xuân năm 40, khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa ở Hát Môn, hai bà đemdân binh phá tan thành Yên Định Cũng thời gian đó tướng quân Lã Văn ất quê ở Văn Giang cũng đembinh đến hạ thành Kênh Cầu Sau khi đánh chiếm được hai thành này hai bà Nguyệt Thai, Nguyệt Độ và
Bà Trưng công phá thành Luy Lâu Thành bị phá, Tô Định phải lột áo bào, cắt râu luồn qua lỗ chó chuirồi thay quần áo của tên lính, trốn chui, trốn lủi về Trung Quốc
1 Có sách viết hai bà quê ở huyện Vụ Bản, Nam Định Làng Me, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương cũng thờ Nguyệt
Thai, Nguyệt Độ làm Thành hoàng.
Trang 34Tướng Tam Trinh
Làng Mai Động xưa nay là hương Cổ Mai, tục gọi là Kẻ Mơ, nằm liền với cửa ô phía Nam thànhThăng Long Sau thuộc xã Hoàng Văn Thụ quận Hai Bà Trưng Từ năm 1982, Mai Động trở thànhphường Mai Động, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
Mai Động thờ Đô úy Tam Trinh, một danh tướng của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (39-43) làmThành hoàng
Theo Thần tích, Tam Trinh vốn người huyện Đông Sơn, Thanh Hóa1
Tam Trinh từ bé đã thông minh, dĩnh ngộ, giỏi cả văn lẫn võ Vào những năm đầu Công nguyên, ôngđến làng Mai Động dạy học cả văn lẫn võ Ông mở lò vật, lò vật của ông sau này trở nên nổi tiếng gọi là
lò vật Kẻ Mơ tức Mai Động Năm nào Tam Trinh cũng mở hội thi võ, thi vật vào ngày mùng 6 thánggiêng Đó cũng là lúc hoa mai ở Ngọc Động và cả vùng Hoàng Mai nở rộ, tô thắm cho sắc xuân của trờiđất
Tương truyền Tam Trinh còn dạy dân Mai Động Mơ, Táo làm đậu phụ chế biến từ đỗ tương ở bãisông Hồng, sau nghề này mở rộng ra Bạch Mai, Hoàng Mai
Cuối năm 39, nhận được tin Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa ở Hát Môn, Tam Trinh chiêu mộđược 3000 quân giương cao cờ khởi nghĩa đến Hát Môn yết kiến Hai Bà Trưng Bà Trưng giao cho ôngđánh phá các đồn quân Hán đóng ở Long Biên và vùng chung quanh Đây là nơi các đô vật nay là tướngcủa ông cũng như quân sĩ thông thuộc địa hình, địa vật, lại nhận mặt được cả bọn người trong nước camtâm làm tay sai cho chúng, nên quân ông đánh đâu được đó Khí thế quân thanh càng mạnh, trai tránggia nhập đội nghĩa binh càng đông Sau đó Tam Trinh đưa quân đến phối hợp với các cánh quân do các tướng khác chỉ huy dưới quyền tổng chỉ huy của Hai Bà Trưng hạ thành Luy Lâu đánh đuổi TôĐịnh ra khỏi bờ cõi
Bà Trưng lên ngôi vua, giao cho tướng Tam Trinh lập đồn binh ở trang Mai Động, tiếp tục mở lò võ
để kén chọn nhân tài bổ sung cho quân đội Tam Trinh đã cung cấp hàng trăm suất đội, đội trưởng, lực
sĩ cho quân đội của Hai Bà Trưng
Năm 42 Mã Viện đem quân sang đánh báo thù, sau khi đánh thành Mê Linh bị thua Mã Viện rútquân về Lãng Bạc (miền Tiên Du - Từ Sơn ngày nay), Hai Bà đưa quân đến đánh bị thua phải rút vềCấm Khê, Mã Viện đưa quân đến bao vây, đánh đồn Mai Động Quân giặc đông, khí thế hung hăng,quân của Tam Trinh ít lại bị tổn thất trong trận đánh ở Lãng Bạc, số còn lại thì bị thương tích, mệt mỏi.Song Tam Trinh vẫn chỉ huy quân sĩ đánh trả địch, giữ vững đồn trong nhiều ngày, đến khi thế cùng,lực kiệt Tam Trinh phá vòng vây ra ngoài thì bị trọng thương, chạy tới Khu Đống thì hóa Hôm đó làngày 10 tháng hai năm 43
Nhân dân Mai Động lập đền thờ sau tôn làm Thành hoàng Hàng năm mở hội vào ngày 6 thánggiêng
Mai Động với Hoàng Mai thờ tướng Trần Khát Chân thời Trần mở chung hội một ngày đều rước giaohiếu Thoạt đầu làng Hoàng Mai rước bài vị của tướng Trần Khát Chân lên hội ở đình Mai Động, rồi rước
cả hai thần đi du xuân Đám rước có ba kiệu đi trên các con đường khúc khuỷu của hai làng lên đê sông
1 Có tài liệu viết Tam Trinh là con ông Triệu Cẩn và bà Tạ Thị Thành ở huyện Long Biên, nay thuộc Gia Lâm, Hà Nội.
Hai ông bà tu nhân tích đức cả đời năm 60 tuổi mới sinh ra ông.
Trang 35Hồng Sau đó kiệu dừng lại ở Trại Nhãn trên đê, đợi các chàng trai đem ba choé xuống sông Hồng lấy nước
về là lễ mộc dục Sau đó rước về làng Mai Động Đám rước lại tiến hành vào ban đêm, đi trước đám rước
là các cặp nam đóng giả nữ múa xinh tiền, sau đó là các đấu sĩ biểu diễn bài quyền trung bình tiên bằngnhững chiếc gậy dài tới 4 mét Đám rước tiến về đình Mai Động, sau đó làng Hoàng Mai rước kiệu củalàng mình về Hôm sau hai làng còn tổ chức thi thả diều, thả chim, đấu vật Ban đêm hát trống quân, hát đúm
Trang 36Thành Công Tương Liệt Đại Vương
Các thôn Trạm Thôn, Tư Đình, Nha Thôn nay thuộc xã Long Biên, thôn Sài Đồng nay thuộc phườngPhúc Đồng, thôn Ô Cách nay thuộc xã Việt Hưng trước thuộc huyện Gia Lâm, nay thuộc quận LongBiên thành phố Hà Nội, vào thời Hai Bà Trưng (39-43) gọi là hương Cổ Linh Đây là nơi sau khi đánhđuổi Tô Định ra khỏi bờ cõi, Trưng vương sai tướng Thành Công Tương Liệt Đại vương về đóng quânxây dựng đồn lũy ở đây Nhân dân nhiệt tình giúp quan quân xây dựng đồn lũy, tiếp tế quân lương, phụcdịch việc quân Tướng Thành Công cũng ban cấp cho cư dân vàng bạc để khai hoang, mở rộng đồngruộng, đào hồ ao thả cá, đắp đường, đào mương để nâng cao cuộc sống
Khi tướng Thành Công hy sinh, nhân dân cả 5 thôn đều lập đền thờ Đến thời Lê có tục thờ Thànhhoàng, nhân dân cả 5 thôn đều tôn ông là Thành hoàng, thôn nào cũng xây đình thờ Năm thôn lại cùngnhau xây một ngôi đình chung Đến ngày hội cả 5 thôn đều rước kiệu về đình chung tế Hội đồng, sau đómới rước về tế ở đình làng mình
Theo thần tích ở đình Trạm Thôn do Hàn Lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn nămHồng Phúc nguyên niên (1572) thì Trạm Thôn là nơi chủ yếu của Cổ Linh có dựng ngôi sinh từ của
Thành Công Tương Liệt Đại vương, được đại vương ưu ái, tâu với Trưng vương xin cho làm " Hộ nhi"
lại được cung cấp vàng bạc để dân làm vốn đào ao, san ruộng canh tác
Về thân thế đại vương, bản Thần tích viết:
Đại vương họ Nguyễn tên là Thành Công, quê ở trang Bích Thủy, huyện Thanh Miện, phủ HồngChâu, đạo Hải Dương Thuở thơ ấu đã nổi tiếng là Thần đồng giáng thế, văn võ toàn tài, có chí khí.Năm ông 16 tuổi, cha mẹ đều về cõi trời Cư tang 3 năm xong, ngài tập hợp một số tráng đinh trongvùng, luyện tập võ nghệ, sắm sửa khí giới chờ thời cơ nổi dậy đánh giặc Đông Hán
Thái thú Tô Định ngày càng bạo ngược, giết người, cướp của, đốt nhà, bắt gái đẹp về thỏa mãn thútính Tội ác của hắn chất cao như núi, dài như sông Thành Công đã chỉ huy một số trai tráng trong trang
ấp, phục kích giết hết bọn lính vào làng cướp phá Bọn chúng cho quân đi lùng sục tìm thấy xác nhữngtên lính chết do các ông vùi dưới một cái chuôm Chúng nghi cho ông chủ mưu, đem quân đến vây bắt.Ông phải trốn lên vùng rừng núi Chí Linh Hai Bà Trưng khởi nghĩa ở Mê Linh, tin truyền đến HảiDương Thành Công liền trở về quê dựng cờ, đánh trống tuyển quân hưởng ứng Chỉ trong vài ngày ông
đã chiêu mộ được hơn 500 tráng sĩ, biên chế thành đội ngũ, trang bị vũ khí, sửa soạn đi hạ thành lũygiặc, đóng trên địa bàn huyện Thanh Miện Đúng lúc đó ông nhận được tin Hai Bà Trưng triệu tập
tướng lĩnh các miền đến hội quân ở "Hát Môn giang khẩu" lập đàn tế Bách thần sông núi và xuất quân
đánh đuổi Tô Định Thành Công liền cùng đại đội binh mã đi gấp lên Hát Môn tụ nghĩa Hai Bà Trưng
thấy ông tướng mạo đường hoàng, oai phong lẫm liệt thì cả mừng, nói: "Trời vì ta mà cho người hiền phò tá", liền phong cho ông là Tương Liệt Đại Tướng quân, cho lĩnh ấn Nguyên nhung và thêm chức
tổng đốc hai đạo bộ binh, thủy binh
Trong cuộc khởi nghĩa đánh đuổi Tô Định, Hai Bà Trưng giao cho ông đánh phá các đồn binh giặc ởĐông bắc thành Đại La (Hà Nội ngày nay) Với tài cầm quân lại có đội ngũ nghĩa binh thiện chiến, đượcnhân dân hết lòng ủng hộ, nên chỉ trong vài ngày ra quân, ông đã quét sạch bọn giặc ở vùng Gia Lâm,
Trang 37Đông Anh ngày nay.
Hai Bà Trưng lệnh cho ông đem quân tiếp ứng cho đại quân đánh phá thành Luy Lâu hang ổ của Tháithú Tô Định, cũng là thành cuối cùng của 65 thành trì ở quận Giao Chỉ
Bà Trưng Trắc lên ngôi vua, phong thưởng cho các tướng sĩ Tương Liệt Đại tướng quân đượchưởng thực ấp ở huyện Gia Lâm ngày nay
Thời gian rỗi rãi ông đến trang Cổ Linh chơi, thấy địa hình, địa vật sơn thủy hữu tình, cư dân chấtphác, phong tục thuần hậu bèn thiết lập một ngôi sinh từ trên đất Trạm, chu cấp 12 nén vàng cho dânkhai hoang, san ruộng canh tác trên bãi sông, đào ao nuôi cá Ông lại tâu với vua Trưng cho dân nơi đâysau được làm hộ nhi thờ cúng ông, được miễn phu phen tạp dịch
Đầu năm 42, Hán Quang Vũ sai Mã Viện tấn công nước Âu Lạc, hướng tấn công là vùng biên giớiLạng Sơn Trưng nữ vương sai Thành Công, Thánh Thiên và một số tướng nữa lên Lạng Sơn đánh địch.Ông cùng bà Thánh Thiên đánh cho đội tiên phong của giặc tổn thất nặng nề, Mã Viện phải vội vã rútquân về Song Mã Viện là một tên tướng gian ngoan, xảo quyệt hắn để lại một số quân nghi binh ở biêngiới, còn lặng lẽ kéo đại đội binh mã về vùng ven biển Khâm Châu, Phòng Thành rồi chia thành haicánh thủy bộ đi theo đường biển và ven biển, tập trung quân ở Cửa Rừng (sông Bạch Đằng) rồi ngượcsông Rừng đánh chiếm Lục Đầu giang Trưng vương vội vã điều động các tướng ở Lạng Sơn về gấp rồi
mở một trận lớn đánh vào vùng hồ Lãng Bạc Trận này quân Hai Bà thua to, Trưng vương phải rút quân
về lập phòng tuyến Cấm Khê Sau mấy tháng cầm cự, quân ta thất trận cả trên bộ lẫn dưới sông Trưng
nữ vương hy sinh, bà Trưng Nhị nhảy xuống sông tuần tiết Các tướng khác cũng đều hy sinh hoặc tuầntiết Đạo quân của ông bị tử thương hầu hết, chỉ còn lại 5 người, ngựa phải phá vòng vây chạy vào áiChâu hợp sức với Đô Dương, Nàng Tía xây dựng căn cứ đánh Mã Viện Quân Mã Viện đuổi theo rấtgấp ở phía sau Trong một trận kịch chiến ở trang Tam Quy, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung thì ônghóa Hôm ấy là ngày 15 tháng 7 Trời đất tối tăm mù mịt, mưa gió dữ dội giữa ban ngày mà như đêm tốinhư bưng Ông ngã ngựa, khi trời quang, mây tạnh thì mối đã đắp lên thành gò cao
Nhân dân Cổ Linh trang lo lắng theo dõi diễn biến của các trận đánh, thấy quân ta đều thua thì lolắng cho ông Mấy ngày sau khi ông hóa, gia thần chạy về trang Cổ Linh cấp báo
Cư dân 5 thôn ở Cổ Linh trang nghe tin vô cùng đau xót, khóc lóc khôn nguôi, liền lập đàn chiêuhồn ông Mọi người sửa sang sinh từ, viết Thần hiệu để thờ Thành Công Tương Liệt Đại vương đượcthờ cả ở 5 thôn thuộc trang Cổ Linh
Thần rất linh thiêng, thường hiển hóa âm phù cho nhà Lý, nhà Lê thắng giặc Tống và giặc Minh Các
triều đại đều phong là "Thượng đẳng phúc thần" Đình Thôn Trạm có bức hoành phi: "Nam Giao danh tướng" và nhiều câu đối, trong đó có câu:
"Kỷ tải dực Trưng vương, Tô tặc bình dư long tướng ấn;
Ngũ thiên chiêm thánh ngưỡng, Quy trang hóa hậu ngật thần từ
Nghĩa là:
"Mấy năm thờ vua Trưng, dẹp tan giặc Tô Định rõ ràng ấn tướng,
Ngũ Thiền nhuần đức Thánh, đất Tam Quy hiển linh vòi vọi đền thờ"
(Theo thần tích đình thôn Trạm, thôn Nha và truyền thuyết ở địa phương)
Trang 38Đặng Khoan Nhân - Đặng Vạn Phúc
Ông Đặng Tri quê gốc ở Trường Yên, nay thuộc tỉnh Ninh Bình Đến năm Đinh Sửu (017), ông dờiđến xóm Kênh Cạn, xã Cẩm Bối, phủ Lỵ Nhân, đạo Sơn Nam (nay là xóm Kênh Cạn, xã Thanh Lưu,huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam) làm nghề dạy học Ông đẹp duyên với bà Nguyễn Thị Lưu là ngườixóm Kênh Cạn Hai ông bà ăn ở hiền lành, ông ngồi dạy học, bà hái dâu, nuôi tằm, dệt cửi Lấy nhauđược ba năm, ngày 16 tháng 3 năm Kỷ Mão (019), bà sinh được một trai khôi ngô, tuấn tú, đặt tên làĐặng Khoan Nhân Hai năm sau, ngày 24 tháng 6 năm Canh Thìn (021), bà sinh một gái mặt hoa daphấn, mắt phượng, mày ngài đặt tên là Đặng Vạn Phúc Đến năm Đặng Khoan Nhân 14 tuổi, Đặng VạnPhúc 12 tuổi thì cha mẹ đều mất Hai anh em phụng thờ hương hỏa đủ lễ nghi rồi cùng đi tìm thầy theohọc, cả hai đều văn võ song toàn, được bạn bè mến phục
Lúc bấy giờ đất Giao Chỉ đang bị nhà Hán cai trị Thái thú Tô Định bạo ngược, dân tình đói khổ Cảhai anh em đều say sưa học tập, theo đường võ nghệ, luyện rèn ý chí, chưa ai tính đến chuyện lấy vợ,lấy chồng Đến năm 040, Nhân 22 tuổi, Phúc 20 tuổi thì anh em nghe tin Hai Bà Trưng ở Mê Linh phất
cờ khởi nghĩa chống Thái thú Tô Định, trả thù nhà, đền nợ nước, đang chiêu mộ những người hiền tài,thao lược Hai anh em làm lễ bái tổ đường, đắp phần mộ cha mẹ, rồi cùng một số bạn hữu thân tín đến
Mê Linh yết kiến Hai Bà Trưng Hai Bà mừng rỡ giao cho hai anh em về bản quán chiêu mộ quân nghĩadũng
Mùa xuân năm 40, Hai Bà triệu tập đại hội tướng sĩ, lập đàn thề ở Hát Môn Giang khẩu tế cáo trờiđất, làm lễ xuất quân Sau đó phân phái các tướng sĩ đi đánh phá 65 thành trì của bọn Đô hộ nhà Hán,rồi thống lĩnh thủy bộ chia quân hạ thành Luy Lâu, hang ổ của Thái thú Tô Định Trong đại quân giảiphóng đó có đạo quân của Đặng Khoan Nhân, Đặng Vạn Phúc xuất quân từ đồn binh Kênh Cạn thamgia đánh phá các thành trì của giặc và hạ thành Luy Lâu Tô Định phải cắt râu, thay áo luồn qua lỗ chóchui trốn thoát về Tàu
Đất nước sạch bóng quân thù, Trưng Trắc lên làm vua, lấy danh hiệu là Trưng vương, phong ĐặngKhoan Nhân chức Đại vương, phong Đặng Vạn Phúc chức công chúa Hai người cùng vâng mệnh, lậy
tạ trước vua rồi rước sắc về làng Kênh Cạn, vui mở tiệc mừng công Tháng 4 năm 42, Hán Vũ Đế sai
Mã Viện mở cuộc tấn công, chiếm lại nước ta Trưng vương chỉ huy các tướng lĩnh đánh trả bảo vệ bờcõi
Ông Đặng Khoan Nhân và bà Đặng Vạn Phúc đã đem quân cùng bà Thánh Thiên đã đem quân tậpkích vào đội tiền quân của Mã Viện ở Lạng Sơn Mã Viện thực hiện gian kế để một bộ phận nhỏ nghibinh ở biên giới Lạng Sơn còn đại quân lặng lẽ tiến về các huyện Khâm Châu, Phòng Thành chia haiđường thủy bộ men theo vùng biển vịnh Bái Tử Long và Hạ Long vào cửa Bạch Đằng rồi đánh chiếmLục Đầu giang Mã Viện đem đại quân tấn công thành Cổ Loa là một vị trí quân sự quan trọng, songhắn bị thất bại, phải lui quân về vùng hồ Lãng Bạc, nay là vùng chiêm trũng huyện Quế Võ, nam huyệnTiên Du, bắc huyện Từ Sơn để củng cố lực lượng Hai Bà Trưng liền điều động các tướng ở Lạng Sơn
về đưa đại quân đánh vào hồ Lãng Bạc Song quân Hai Bà bị thất bại nặng nề, phải lui về lập phòngtuyến Cấm Sơn Quân ta lại bị thua to, Trưng vương hy sinh tại trận, Trưng Nhị tuẫn tiết
Đặng Khoan Nhân, Đặng Vạn Phúc phá được vòng vây chạy về đến xóm Kênh Cạn thì hóa, hôm đó
là ngày mùng 2 tháng 10 năm Giáp Thìn (044)
Trang 39Nhân dân Kênh Cạn nhớ công ơn lập đền thờ Đến thời Lê, tôn làm Thành hoàng, xây đình thờ Đếnnay trong đình vẫn còn hai pho tượng Đặng Khoan Nhân, Đặng Vạn Phúc Các triều đại đều có sắc
phong "Thượng đẳng phúc thần" Trong đình có đôi câu đối:
"Phù chủ Trưng vương trừ Tô Định
Hộ dân Nam quốc hóa Thành hoàng"
(Theo Thần phả đình làng Kênh Cạn)
Trang 40Quách Lãng - Đinh Bạch nương
Đinh Tĩnh nương
Các thôn Đông Ba, Thượng Cát, Hạ Cát sau đổi là Đại Cát, nay thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội, vốnxưa có chung một tên là làng Kẻ Cả ba thôn đều thờ Quách Lãng - Đinh Bạch nương - Đinh Tĩnhnương làm Thành hoàng Mẹ Quách Lãng là chị của bố Bạch nương, Tĩnh nương Cả ba người đều quê
ở động Hoa Lư (Ninh Bình) và đều tinh thông võ nghệ Quách Lãng giỏi môn giáo dài, Bạch nương,Tĩnh nương lại thạo nghề sông nước, giỏi thủy chiến Nhờ có dân ủng hộ thuyền bè, hai cô gái họ Đinhdẫn thủy quân ngược dòng sông Hồng lên Cửa Hát trước, Quách Lãng ở lại thao luyện quân bộ rồi tớisau Ba người đã có mặt trong Lễ Tế cáo trời đất thần kỳ sông núi do Hai Bà Trưng tổ chức tại cửa SôngHát
Ba vị đều lập được công lớn hạ 65 thành trì, đánh đuổi Tô Định chạy về nước Đất nước độc lập, BàTrưng lên ngôi vua, xưng là Trưng vương, đóng đô ở Mê Linh Trưng vương phong cho Quách Lãnglàm Đô Chiêu Thảo sứ, Đinh Bạch nương và Đinh Tĩnh nương đều được phong là Bình Khấu côngchúa
Ba anh em được vua Trưng giao cho về Thượng Cát lập đồn lũy, luyện tập thủy quân, trấn giữ phíanam Kinh đô Mê Linh Quách Lãng đóng đồn trên bộ, Bạch nương, Tĩnh nương xây dựng doanh trại ngaytrên bờ sông Hồng, thuyền chiến, thủy trại san sát trên mặt sông
Ngày 10 tháng 3 khi hai công chúa đang luyện tập thủy quân trên sông Hồng, bỗng trời đất tối sầm,một trận cuồng phong nổi lên, làm lật thuyền hai bà mất tích
Tháng 4 năm 42 Mã Viện đem quân sang đánh ở biên giới Lạng Sơn, bị quân ta đánh cho thua phảichạy Mã Viện dùng gian kế nghi binh ở biên giới Lạng Sơn, còn đại quân chia làm hai đường thủy bộtheo Vịnh Bắc Bộ và đường số 4, số 18 hiện nay đột nhập vào sông Lục Đầu Trưng vương vội điều cáctướng ở biên giới về đánh trận hồ Lãng Bạc Quân ta thua to phải rút về phòng tuyến Cẩm Khê Do lựclượng quá chênh lệch, Trưng vương hy sinh ở cửa sông Hát, Quách Lãng cũng hy sinh trong một trận tửchiến với giặc
Nhân dân các làng Đông Ba, Thượng Cát, Hạ Cát nhớ công ơn ba vị với nước với dân đều lập đềnthờ, sau tôn làm Thành hoàng thờ ở ba đình
Trước tháng 8 năm 1945, ba làng Kẻ mở hội vào ngày 10 tháng 3, ngày giỗ của Đinh Bạch nương,Đinh Tĩnh nương Lễ hội mở đầu bằng rước kiệu Khi tế, chủ tế phải nhắc lại lễ tuyên thệ của ba vịtrước lúc ra quân, sau đó diễn lại sự tích luyện binh ngày trước Làng Thượng Cát tổ chức bơi thuyềntrên sông Hồng Hội còn thi đấu vật, chọi gà, thi nấu cơm Trước đây dân vùng Kẻ vẫn có câu ca:
"Chiêng làng Đống (Thu quân)
Trống Trị Trì (Tiến quân)
Mõ Tây Đàm (Cầm Canh)
Tù và Thượng Cát (Tợp hợp)"