1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả phần vần ở lớp 2 - 3 trong nhà trƣờng Tiểu học

52 225 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu mới đề cập đến các biện pháp chữa lỗi chính tả chung cho học sinh mà chưa đi sâu vào tìm hiểu những lỗi chính tả phần vần mà học sinh thường gặp phải

Trang 2

LỜ Ả Ơ

Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu khóa luận này em không khỏi lúng túng và bỡ ngỡ Nhưng dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của TS Lê Thị Thùy Vinh, em đã từng bước tiến hành và hoàn thành khóa luận với đề tài

“Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả phần vần ở lớp 2 - 3 trong nhà

trường Tiểu học”

Qua đây em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Lê Thị Thùy Vinh, các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học, các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn và các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ tạo điều kiện giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Tú Anh

Trang 3

LỜ

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những số liệu trong kết quả này là trung thực Đề tài chƣa đƣợc công bố trong bất kì một công trình khoa học nào khác

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Tú Anh

Trang 4

M C L C

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Bố cục khóa luận 5

NỘI DUNG 6

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6

1.1 Một số vấn đề về chính tả tiếng Việt 6

1.1.1 Khái niệm chính tả 6

1.1.2 Đặc điểm của chính tả tiếng Việt 6

1.1.3 Nguyên tắc dạy học chính tả 7

1.1.4 Lỗi chính tả thường gặp 11

1.2 Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học ở giai đoạn lớp 2 - 3 12

1.2.1 Tri giác 12

1.2.2 Tư duy 13

1.2.3 Tưởng tượng 13

1.2.4 Chú ý của học sinh 14

1.2.5 Trí nhớ của học sinh 14

1.2.6 Ngôn ngữ của học sinh 14

1.3 Việc dạy và học chính tả trong nhà trường Tiểu học 15

1.3.1 Khái quát về việc dạy và học chính tả trong trưởng Tiểu học 15

1.3.2 Việc dạy và học chính tả phần vần ở chương trình Tiểu học lớp 2 và lớp 3 16

Trang 5

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC LỖI CHÍNH TẢ PHẦN VẦN Ở LỚP 2 - 3 TRONG NHÀ TRƯỜNG

TIỂU hỌC 18

2.1 Thực trạng lỗi chính tả phần vần ở học sinh lớp 2- 3 trong nhà trường Tiểu học 18

2.1.1 Thực trạng lỗi chính tả phần vần ở học sinh lớp 2 18

2.1.2 Thực trạng lỗi chính tả phần vần ở học sinh lớp 3 20

2.1.3 Nguyên nhân mắc lỗi chính tả ở học sinh lớp 2 - 3 trong nhà trường Tiểu học 21

2.2 Các biện pháp khắc phục lỗi chính tả phần vần ở học sinh lớp 2 - 3 trong nhà trường Tiểu học 22

2.3 Thực nghiệm sư phạm 30

2.3.1 Mục đích thực nghiệm 30

2.3.2 Nguyên tắc thực nghiệm: 30

2.3.3 Đối tượng thực nghiệm 30

2.3.4 Thời gian thực nghiệm 31

2.3.5 Địa điểm thực nghiệm 31

2.3.6 Nội dung thực nghiệm 31

2.3.7 Dự kiến kết quả thực nghiệm 39

2.3.8 Dự kiến đánh giá kết quả thực nghiệm 39

KẾT LUẬN 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

Trang 6

BẢ Í Ệ V Ế Ắ

HS

GV SGK SGV NXB

QĐ - VPCP

: Học sinh : Giáo viên : Sách giáo khoa : Sách giáo viên : Nhà xuất bản : Qui định văn phòng Chính phủ

Trang 7

Ở Ầ

1 Lí do chọn đề tài

Tiếng Việt là một môn học quan trọng trong chương trình giáo dục ở Tiểu học, dạy học Tiếng Việt có nhiệm vụ hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Từ đó học sinh có thể học tập và giao tiếp một cách có hiệu quả Cùng với việc dạy và học Tiếng Việt, các thao tác tư duy của trẻ dần được hình thành

Tiếng Việt ở Tiểu học được dạy và học thông qua hệ thống các phân môn: Tập viết, Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn, Kể chuyện và Chính

tả Cùng với các phân môn khác, phân môn chính tả góp phần thực hiện nhiệm vụ môn học Tiếng Việt ở Tiểu học Phân môn chính tả có nhiệm vụ rèn

kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Từ quá trình viết đúng, viết đẹp góp phần hình thành ở học sinh tình yêu với tiếng Việt, thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt Trong nhà trường Tiểu học, dạy học chính tả có nhiệm vụ giúp học sinh nắm vững qui tắc và hình thành kĩ năng chính tả, phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ viết vào hoạt động giao tiếp Từ đó hình thành ở học sinh một số phẩm chất tốt đẹp như: cẩn thân, óc thẩm mĩ,

Có thể nói chính tả là một vấn đề có tính phổ quát đối với mọi thứ chữ ghi âm được dùng hiện nay trên thế giới Ở mọi thứ chữ ghi âm bao giờ cũng

có vấn đề nên viết thế nào cho đúng chính tả Tiếng Việt cũng không ngoại lệ Việc viết thế nào cho đúng chính tả trong tiếng Việt nhận được rất nhiều sự quan tâm

Trong thực tế, những lỗi chính tả thường gặp trong tiếng Việt rất đa dạng như: các lỗi về thanh điệu, lỗi về phần vần, lỗi phụ âm đầu Các lỗi chính tả ấy phản ánh bức tranh phương ngữ đa dạng của tiếng Việt trên các miền đất nước Việc mắc lỗi khi viết chính tả ảnh hưởng tới kết quả học tập của các em ở môn Tiếng Việt nói riêng và các môn khác nói chung Vì vậy,

Trang 8

để khắc phục những nhược điểm này, chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu đề tài

“Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả phần vần ở học sinh lớp 2 - 3 trong nhà trường Tiểu học”

2 Lịch sử vấn đề

Chính tả là một vấn đề luôn được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và cũng gặt hái được rất nhiều thành quả Ngày nay, có rất nhiều các công trình nghiên cứu về chính tả

Năm 1967, tác giả Hoàng Phê đã bàn về Một số nguyên tắc giải quyết vấn đề để chuẩn hóa chính tả trong Tạp chí ngôn ngữ số 1 Cùng với đó tác

giả đã đề cập đến những qui định về cách viết chính tả, cách viết hoa và cách viết âm, cách phiên âm tiếng nước ngoài

Càng về sau này, vấn đề chính tả được nhiều người quan tâm hơn Năm

1997, từ sự kế thừa các thành tựu đi trước tác giả Nguyễn Minh Thuyết đã nghiên cứu về qui tắc viết hoa và qui tắc về phiên âm tiếng nước ngoài Phân loại lỗi chính tả và đưa ra các biện pháp khắc phục chung Tác giả cũng đưa

ra các mẹo luận nhằm khắc phục những lỗi đấy Những kết quả thu được đã

cùng thể hiện trong cuốn giáo trình Tiếng Việt thực hành A - Nhà xuất bản

đại học quốc gia do chính tác giả chủ biên

Năm 2003, hai tác giả Hoàng Trung Thông - Đỗ Xuân Thảo đã nghiên cứu một số vấn đề quan trọng của chính tả đó là mẹo luật chính tả theo qui tắc

ngữ nghĩa và thói quen Tất cả được in trong cuốn Dạy học Tiếng Việt ở Tiểu

học Nhà xuất bản giáo dục

Năm 2006, tác giả Hoàng Anh đã đưa ra những cặp lỗi tiêu biểu và một

số mẹo nhằm khắc phục chúng trong cuốn Sổ tay chính tả - Nhà xuất bản Đại

học Sư phạm

Năm 2007, cuốn Dùng từ, viết câu và soạn thảo văn bản được tác giả

Nguyễn Thị Kha Ly viết và được in bởi Nhà xuất bản giáo dục Trong cuốn

Trang 9

sách này, tác giả đã đề cập đến các qui tắc viết chính tả Tiếng Việt, cách chữa lỗi thông thường về chính tả và cách qui định tạm thời về cách viết hoa tên riêng trong sách giáo khoa

Gần đây nhất, năm 2009 cuốn Mẹo chữa lỗi chính tả được nhà nghiên

cứu ngôn ngữ tác giả Phan Ngọc viết và được in bởi Nhà xuất bản Khoa học

Xã hội và Nhân Văn Trong cuốn sách này tác giả đã nghiên cứu về qui tắc dạy mẹo chính tả, cách phân biệt từ Hán Việt, tìm hiểu về cấu tạo âm tiết Tiếng Việt Tác giả cũng cung cấp một số mẹo phân biệt chính tả và các dạng bài tập chính tả

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu mới đề cập đến các biện pháp chữa lỗi chính tả chung cho học sinh mà chưa đi sâu vào tìm hiểu những lỗi chính

tả phần vần mà học sinh thường gặp phải trong phân môn Tiếng Việt và các biện pháp khắc phục cụ thể ở khối lớp 2 - 3

Vì thế,chúng tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả phần vần ở học sinh lớp 2 - 3 trong nhà trường Tiểu học”

3 Mục đíc v nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lí luận về chính tả tiếng Việt, các lỗi chính tả tiếng Việt

- Khảo sát số liệu thống kê về việc mắc lỗi chính tả phần vần ở học sinh lớp 2 - 3 trong trường Tiểu học, trên cơ sở đó phân tích nguyên nhân mắc lỗi

- Đề xuất một số biện pháp chữa lỗi chính tả phần vần ở học sinh lớp 2 -

3 trong nhà trường Tiểu học

Trang 10

4 ối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 ối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các biện pháp chữa lỗi chính tả phần vần ở học sinh lớp 2 - 3 trong nhà trường Tiểu học

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Thời gian: Năm học 2017 - 2018

Địa điểm: Tại trường Tiểu học Liên Bảo, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc

Giới hạn chương trình: Phân môn chính tả trong chương trình khối lớp 2

- 3 trường Tiểu học Liên Bảo, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc

Đề xuất các biện pháp khắc phục lỗi chính tả phần phần vần ở học sinh lớp 2 - 3 trong nhà trường Tiểu học

5 ươn p áp n i n cứu

Để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu chúng tôi đã xây dựng các nhóm phương pháp sau:

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết:

+ Nghiên cứu các tài liệu, văn bản liên quan và văn bản chỉ đạo các cấp

có liên quan đến đề tài

- Nhóm phương pháp hỗ trợ:

+ Thống kê

+ Phân tích

+ Phân loại

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

+ Phương pháp thu thập thông tin

+ Phương pháp quan sát

+ Phương pháp điều tra

+ Phương pháp trò chuyện

+ Phương pháp thực nghiệm

Trang 11

6 Bố cục khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung khóa luận gồm 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Thực trạng và một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả phần vần ở lớp 2 - 3 trong nhà trường Tiểu học

Trang 12

NỘI DUNG

C ươn 1

Ơ Ở LÍ LU N VÀ THỰC TIỄN 1.1 Một số vấn đề về chính tả tiếng Việt

1.1.1 Khái niệm chính tả

Thuật ngữ chính tả hiểu theo nghĩa gốc là “phép viết đúng” hoặc “lối

viết hợp chuẩn”

Cụ thể, chính tả là hệ thống các quy tắc về cách viết thống nhất cho các

từ của một ngôn ngữ, cách viết hoa tên riêng, cách phiên âm tiếng nước ngoài… Nói cách khác chính tả là các qui ước của xã hội trong ngôn ngữ; mục đích của nó làm phương tiện truyền đạt thông tin bằng chữ viết, bảo đảm cho người viết và người đọc đều hiểu thống nhất nội dung cơ bản

Chính tả trước hết là sự qui định có tính chất xã hội , nó không cho phép vận dụng qui tắc một cách linh hoạt có tính chất sáng tạo cá nhân

Một ngôn ngữ văn hoá không thể không có chính tả thống nhất Chính tả thống nhất thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ mới không bị trở ngại giữa các địa phương trong cả nước, cũng như giữa các thế hệ đời trước với thế hệ đời sau Chính tả thống nhất là một trong những biểu hiện của trình độ văn hoá phát triển của một dân tộc

1.1.2 Đặc điểm của chính tả tiếng Việt

- Chữ viết tiếng Việt (chữ quốc ngữ) được xây dựng trên cơ sở hệ thống chữ cái La - tinh Với 29 chữ cái và 5 dấu thanh, ta có thể ghi tất cả các âm tiết Tiếng Việt So với nhiều chữ viết khác như chữ Anh, chữ Pháp,… thì chữ quốc ngữ do được chế tác sau nên có cách viết sát với phát âm và giản tiện hơn Vì thế việc dạy học chính tả tiếng Việt cho học sinh thuận lợi hơn nhiều

- Những qui định về chính tả, trước hết là qui định cách viết các từ ngữ tiếng Việt, được thống nhất trong cả nước Mặc dù tiếng Việt có ba vùng

Trang 13

phương ngữ chính là phương ngữ Bắc Bộ, phương ngữ Bắc Trung Bộ, phương ngữ Nam Trung Bộ và Nam Bộ cùng nhiều thổ ngữ với cách phát âm giữa các vùng miền có khác nhau, nhưng về chính tả thì vẫn qui định một

cách viết thống nhất từ Bắc chí Nam Ví dụ: người nói phương ngữ Bắc Bộ phát âm không phân biệt r/d/gi xong khi viết chính tả vẫn phải theo qui tắc chính tả (như: da thịt, ra vào, gia đình,…); người Nam Bộ phát âm không phân biệt v/r

Song khi viết vẫn viết như các vùng khác trong cả nước (đọc day dốn nhưng viết là vay vốn)

- Việc hình thành các chuẩn mực về chính tả là một quá trình lâu dài Bên cạnh những cách viết đã ổn định, đã được coi là chuẩn, cũng còn những hiện tượng đang trong quá trình chuẩn hóa Chẳng hạn:

 Trong tiếng Việt hiện nay vẫn tồn tại những trường hợp có hai cách

viết, ví dụ: dập dờn/ rập rờn, sum suê/ xum xuê, nhơ bẩn/ dơ bẩn,…

 Cách viết hoa tên riêng, viết các từ ngữ phiên âm tiếng nước ngoài

cũng đang còn một số điểm chưa thống nhất Ví dụ: căn cứ Qui định tạm thời

về viết hoa trong văn bản của Chính phủ và Văn phòng Chính phủ ban hành

theo quyết định số 09/1998/QĐ - VPCP ngày 22/11/1998 của Văn phòng Chính phủ, tên của tỉnh có tỉnh lị là thành phố Buôn Ma Thuột được viết là

Đắk Lắk trong khi ấy cũng tên tỉnh đó được báo viết là Đắc Lắc hay Đác Lắc

Trong các trường hợp trên SGK phải chọn cách viết được khẳng định

trong những tài liệu đáng tin cậy (như Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn học

hay văn bản đã nêu của Chính phủ)

1.1.3 Nguyên tắc dạy học chính tả

Một số nguyên tắc dạy học chính tả:

1.1.3.1 Nguyên tắc dạy học chính tả theo khu vực

Dạy học chính tả theo khu vực nghĩa là nội dung dạy học chính tả phải

Trang 14

sát với phương ngữ Nói cách khác phải xuất phát từ thực tế mắc lỗi chính tả của học sinh ở từng khu vực, từng miền để hình thành nội dung giảng dạy,

phải xác định được trọng điểm chính tả cần dạy cho học sinh ở từng khu vực,

từng địa phương.Ví như ta biết cách phát âm ở từng địa phương có ảnh hưởng trực tiếp đến chính tả Đối chiếu với âm, ta thấy cả ba vùng phương ngữ chính đều có những âm chưa chuẩn xác, còn sai lệch Cụ thể:

- Phương ngữ Bắc Bộ: Chưa phát âm rõ các cặp phụ âm đầu: tr/ ch; s/ x;

r/ d/ gi và một số cặp vần: ưu/ iu; ươu/ iêu,…

- Phương ngữ Bắc Trung Bộ: Chưa phân biệt rõ hai thanh điệu: thanh hỏi

và thanh ngã

- Phương ngữ Nam Bộ: Có hiện tượng đồng nhất hoa hai phụ âm đầu /v/

và /z/ khi phát âm Cũng tương tự đồng nhất hóa hai cập phụ âm cuối /n/, /?/

và /t/, /k/ (ví dụ: phát âm luôn luôn thành luông luông, tuốt tuột thành tuốc

tuộc…) Hoặc biến chính âm /ă/ trong trong âm tiết thành / a:/, cho nên không

phân biệt tay và tai khi phát âm… Như vậy, mỗi địa phương có một trọng

điểm chính tả riêng Vì vậy, giáo viên cần vận dụng nguyên tắc dạy chính tả theo địa phương, theo khu vực

Nguyên tắc này yêu cầu giáo viên trước khi dạy, cần tiến hành điều tra cơ bản để nắm lỗi chính tả phổ biến của học sinh, từ đó lựa chọn nội dung giảng dạy thích hợp (nhất là đối với loại hình chính tả so sánh) Nguyên tắc này cũng lưu ý giáo viên cần tăng cường tính linh hoạt, sáng tạo trong dạy học, cụ thể trong việc xây dựng nội dung bài sao cho sát với đối tượng học sinh mà mình dạy Ở một chừng mực nào đó có thể lược bớt các nội dung giảng dạy trong SGK khi xét thấy không phù hợp với học sinh lớp mình dạy, đồng thời bổ sung những nội dung giảng dạy cần thiết mà SGK chưa đề cập tới

1.1.3.2 Nguyên tắc kết hợp chính tả có ý thức và chính tả không có ý

thức

Trang 15

Từ các đặc điểm, ưu thế của phương pháp có ý thức và không có ý thức trong việc dạy học chính tả.Vấn dề đặt ra là trong quá trình dạy học chính tả cho học sinh, giáo viên không chỉ sử dụng một phương pháp, mà phải sử dụng phối hợp hai phương pháp này một cách hợp lí nhằm đạt tới dạy học hiệu quả cao Cũng cần nói rõ ràng, trong điều kiện nhà trường, việc sử dụng phương pháp có ý thức vẫn được coi là chủ yếu Phương pháp không có ý thức cần được khai thác, sử dụng hợp lí ở các lớp đầu bậc Tiểu học, gắn với các kiểu bài như tập viết, tập chép,… Các kiểu bài này nhằm giúp học sinh nhanh chóng làm quen với hình thức các con chữ, hình thức chữ viết của các từ Đây

là những tiền đề, những xuất phát điểm rất cần thiết với học sinh mới làm quen hệ thống chữ viết của tiếng Việt Phương pháp không có ý thức còn phát huy tác dụng của giáo viên hướng dẫn cho học sinh ghi nhớ các hiện tượng chính tả có tính chất võ đoán, không gắn với một qui luật, qui tắc nào như: d/

gi; ch/ tr; l/n…

Trong nhà trường, giáo viên cần sử dụng, khai thác tối đa phương pháp

có ý thức Muốn vậy, giáo viên cần phải được trang bị tối đa những kiến thức

về ngữ âm học, từ vựng ngữ nghĩa học có liên quan đến chính tả Cụ thể, giáo viên cần vận dụng các kiến thức về ngữ âm học tiếng Việt vào phân loại lỗi chính tả, phát hiện các đặc điểm của từng loại lỗi; nhất là việc xây dựng qui tắc chính tả, các “mẹo” chính tả giúp học sinh ghi nhớ một cách khái quát, có

Trang 16

âm “gờ” viết là g

âm “ngờ” viết là ng

Ngoài ra, người ta còn dựa vào các kiến thức về từ vựng - nhữ nghĩa để

lập ra các qui tắc, các “mẹo” chính tả Ví dụ: Những từ nghi nhờ viết tr hay

ch, nếu chúng chỉ các đồ dùng trong gia đình thì được viết là ch chai, chén chăn chiếu,…

Tóm lại, phát huy tính có ý thức trong dạy học sẽ tiết kiệm được thì giờ,

và mang lại các kết quả nhanh chóng, chắc chắn, cụ thể, hơn nữa còn gây hứng thú cho học sinh Nguyên tắc kết hợp chính tả có ý thức và chính tả không có ý thức được coi là nguyên tắc cơ bản, chủ đạo trong việc dạy học chính tả cho học sinh

1.1.3.3 Nguyên tắc phối hợp giữa phương pháp tích cực với phương

pháp tiêu cực (xây dựng cái đúng loại bỏ cái sai)

Bên cạnh phương pháp tích cực (cung cấp cho học sinh các qui tắc chính

tả, hướng dẫn học sinh thực hành luyện tập nhằm hình thành các kĩ xảo chính

tả), cần phối hợp áp dụng các phương pháp tiêu cực (tức là đưa ra những

trường hợp viết sai chính tả, hướng dẫn học sinh phát hiện sửa chữa, rồi từ đó hướng học sinh đến cái đúng) Nói cách khác, việc hướng dẫn học sinh viết đúng chính tả cần tiến hành đồng thời với việc hướng dẫn học sinh loại bỏ các lỗi chính tả trong các bài viết

Về các loại lỗi chính tả của học sinh, trên đại thể có ba loại lỗi cơ bản sau:

- Lỗi chính tả do không nắm vững chính tự Loại lỗi này thường gặp khi

viết các phụ âm đầu: d/ gi, tr/ ch, ng/ ngh, s/ x… Để sửa loại lỗi này, học sinh cần nắm vững các qui tắc chính tả, nhớ kĩ mặt chữ trong các từ có phụ âm đầu

dễ lẫn lộn,…

- Lỗi chính tả do không nắm vững cấu trúc âm tiết tiếng Việt.Vì không hiểu cấu trúc nội bộ âm tiết tiếng Việt nên học sinh viết thừa, viết sai (Ví dụ:

Trang 17

quyet sạch, qoanh co, khúc khủy, ngoằn ngèo,…) Để sửa các loại lỗi này, học

sinh cần hiểu âm tiết tiếng Việt được cấu thành bởi mấy thành phần, là những

thành phần nào, vị trí của từng thành phần trong âm tiết,…

- Lỗi chính tả do viết theo lối phát âm địa phương hoặc do không nắm

vững chính âm Loại lỗi này ở mỗi địa phương sai một khác Có vùng viết d

thành r, có vùng viết l thành n,… Để sửa loại lỗi này, học sinh cần nắm vững

chính âm trong tiếng Việt, cần tập phát âm đúng chuẩn, tập viết nhiều lần những lỗi địa phương mình thường mắc giáo viên có thể xây dựng “mẹo” để

giúp học sinh viết đúng

Để học sinh sửa các loại lỗi chính tả theo hướng loại bỏ cái sai, xây dựng cái đúng, đi từ cái sai đến cái đúng, giáo viên có thể nêu ra những đoạn văn,

đoạn thơ trong đó có nhiều từ viết sai chính tả để học sinh tự mình phát hiện lỗi, tìm hiểu nguyên nhân sai và chữa lại cho đúng

Phương pháp tiêu cực giúp học sinh phát hiện óc phân tích, xét đoán, đồng thời kiểm tra, củng cố được kiến thức về chính tả của học sinh.Phương pháp tiêu cực chỉ nên coi là thứ yếu, có tính chất bổ trợ cho phương pháp tích cực.Trong quá trình giảng dạy chính tả, giáo viên cần phối hợp một cách hợp

lí, hài hòa và có hiệu quả hai phương pháp này

1.1.4 Lỗi chính tả thường gặp

1.1.4.1 Lỗi về thanh điệu

Đây chủ yếu là lỗi lẫn lộn thanh hỏi với thanh ngã, một lỗi rất phổ biến

ở Trung bộ và Nam bộ, nơi mà phát âm không có sự phân biệt hai thanh này với nhau Chỉ ở đồng bằng Bắc bộ mới có sự phân biệt rõ ràng hai thanh này trong phát âm, chữ viết Tuy nhiên, đối với một số từ Hán - Việt ít gặp thì người Bắc bộ cũng có thể lẫn lộn thanh hỏi/ ngã

1.1.4.2 Các lỗi về vần

Các lỗi về vần được quan sát ở cả ba miền đất nước Có điều, mỗi

Trang 18

miền mỗi khác nhau Chẳng hạn, người Hà Nội lẫn lộn vần iu/ ưu và iêu/

ươu Người Sài Gòn lẫn lộn iu/ iêu và ươu/ ưu, người Huế lẫn lộn ang/ an

và iết/ iếc,…

Dưới đây là một số lỗi được coi là tiêu biểu:

- Lẫn lộn iêu/ iu/ ưu

- Lẫn lộn iêu/ ươu/ ưu

Tri giác là hình thức nhận thức cao hơn cảm giác, phản ánh trực tiếp và

trọn vẹn sự vật, hiện tượng bên ngoài với đầy đủ các đặc tính của nó (theo Từ

điển tiếng Việt - 2004 - NXB Đà Nẵng)

Tri giác là quá trình tâm lí phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào giác quan của chúng

ta (theo Tâm lí học đại cương - NXB Giáo dục)

Học sinh ở giai đoạn này, tri giác mang tính chất không chủ định, phụ thuộc vào đặc điểm chính của đối tượng Tri giác của các em mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết, gắn liền với hành động cụ thể, tri giác không gian, thời gian còn bị hạn chế Nét đặc trưng của tri giác là tính ít phân hóa của nó, các

em phân biệt đối tượng giống nhau còn sai lầm và chưa chính xác, chưa phân biệt được khái niệm Ví dụ: cái bàn và diện tích của cái bàn, thước kẻ và độ dài của cái thước,…

Trang 19

Tri giác của học sinh phát triển dưới các tác động của hoạt động học tập

Ở lớp 2 - 3, các em tri giác dượm màu theo cảm xúc, số lượng các chi tiết tri giác ít, trẻ chú ý đến các chi tiết ngẫu nhiên mà chưa có khả năng tổng hợp, quan sát tinh tế Việc tri giác chưa có mục đích, kế hoạch Dựa vào đặc điểm này, giáo viên có thể thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tính chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận tri

giác tích cực và chính xác

1.2.2 Tư duy

Tư duy của học sinh tiểu học là quá trình các em hiểu được, phản ánh được bản chất của đối tượng của các sự vật hiện tượng được xem xét, nghiên cứu trong quá trình học tập của học sinh Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ

tư duy cụ thể sang trừu tượng khái quát

Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lên đến lớp 4 - 5 bắt đầu biết khái quát hóa lí luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học

Trong dạy học, để phát triển tư duy cho học sinh giáo viên cần biến các

kiến thức “khô khan” thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt câu hỏi cho học

sinh mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có thể phát triển tư duy một cách toàn diện

Khi dạy học người giáo viên phải đặc biệt quan tâm đến sự hình thành và phát triển tính sáng tạo trong tưởng tượng của học sinh

Trang 20

1.2.4 Chú ý của học sinh

Chú ý là sự tập chung của ý thức vào một hay một nhóm sự vật, hiện tượng, để định hướng hoạt động, đảm bảo điều kiện thần - kinh tâm lí cần thiết cho hoạt động có hiệu quả

Ở giai đoạn lớp 2 - 3, chú ý của trẻ chưa bền vững Chú ý không chủ định phát triển mạnh và chiếm ưu thế Chú ý phụ thuộc vào nhịp độ học tập, khối lượng chú ý hạn hẹp, sự phân phối chú ý của trẻ diễn ra một cách khó khăn Sức chú ý của trẻ chỉ kéo dài trong một thời gian nhất định, đối với học sinh lớp 2 - 3 chỉ khoảng từ 20 - 25 phút Khả năng phát triển chú ý chủ định

và chú ý sau chủ định trong quá trình học tập là rất cao Điều này phụ thuộc vào việc tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh của người giáo viên, đặc biệt là hình thành và phát triển động cơ học tập mang tính chất xã hội cao, mang tính ý thức trách nhiệm đối với kết quả học tập cũng như mang tính nhận thức ở các em sao cho trẻ tập trung vào hoạt động, học tập không chỉ vì cái mà các em thích mà còn vì cái mà các em không thích

và biết sử dụng các biện pháp ghi nhớ phù hợp

1.2.6 Ngôn ngữ của học sinh

Trang 21

Ở giai đoạn lớp 2 - 3, ngôn ngữ của học sinh phát triển mạnh ở cả ngữ

âm, ngữ pháp, từ vựng Vốn từ của các em tăng lên một cách đáng kể do được học nhiều môn và phạm vi tiếp xúc được mở rộng, khả năng hiểu nghĩa của từ cũng phát triển Hình thức mới của ngôn ngữ - ngôn ngữ viết cũng được hình thành và phát triển mạnh tuy nhiên ngôn ngữ viết nghèo hơn so với ngôn ngữ nói

1.3 Việc dạy và học chính tả tron n trường Tiểu học

1.3.1 Khái quát về việc dạy và học chính tả trong trưởng Tiểu học

1.3.1.1 Việc dạy chính tả của giáo viên

- Ở các trường Tiểu học, trước hết phải nói đến trình độ đào tạo của giáo viên không đồng đều và việc tổ chức dạy - học của môn chính tả chưa khoa học Các tiết dạy học chính tả của giáo viên chưa được đầu tư cao mà phần lớn đều dựa vào SGK và SGV là chính

Một số giáo viên chưa chú ý đến nguyên tắc dạy học chính tả theo khu vực Cụ thể là tại địa phương nơi mình giảng dạy, khi giáo viên không xác định rõ các lỗi cơ bản của học sinh trong lớp nên việc rèn chính tả không đi vào trọng điểm, học sinh không được củng cố nắm sâu các qui tắc, mẹo luật chính tả thông qua các bài tập Nói cách khác, phải xuất phát từ thực tế mắc lỗi chính tả của học sinh từng khu vực, vùng miền để hình thành nội dung giảng dạy Để làm được như vậy thì việc giáo viên phát âm chuẩn là điều rất quan trọng

- Bên cạnh đó còn tồn tại thực trạng phổ biến hiện nay là: Giáo viên chỉ

để ý việc phát âm chuẩn ở các giờ học chính tả, tập đọc còn các phân môn khác thì phát âm bình thường theo kiểu của người địa phương Và trong chính

tả, việc phát âm không đúng chuẩn gây ảnh hưởng rất to lớn

Ví dụ:

Phát âm”con hiêu” thực chất là “con hươu”

Trang 22

Phát âm “mầu sắc” thực chất là “màu sắc”

Phát âm “đất đay” thực chất là “đất đai”

Vì vậy, ta không phát âm chuẩn thì thật khó mà viết đúng.Việc phát âm chuẩn diễn ra trước học sinh trong lớp học, trong trường học và ngoài xã hội

1.3.1.2 Việc học chính tả của học sinh

Đối với học sinh Tiểu học thì khả năng chính tả của các em còn hạn chế Các em chỉ chú ý viết đúng chính tả trong giờ học Chính tả, còn trong những giờ học khác các em không chú ý đến việc mắc lỗi hay sửa lỗi chính tả Có rất nhiều học sinh được điểm cao trong giờ Chính tả nhưng lại hay mắc lỗi về chính tả trong các môn học khác

Nhiều học sinh chưa nắm vững các qui tắc, các mẹo luật chính tả, có em phát âm sai dẫn đến bài viết nhiều lỗi chính tả

Đôi khi, nhiều em không cẩn thận viết thừa thiếu một số nét dẫn đến sai

chính tả (các lỗi về dấu thanh,…)

1.3.2 Việc dạy và học chính tả phần vần ở chương trình Tiểu học lớp 2

Trang 23

liên quan đến vần mà học sinh của mình mắc phải

VD: Đối với học sinh của phương ngữ Bắc bộ các em hay nhầm lẫn giữa

iêu/ ươu có thể đưa ra dạng bài tập như sau:

Tuy nhiên, ở nhiều địa phương giáo viên chưa thực sự quan tâm trong dạy học Chính tả Nguyên tắc dạy học chính tả theo khu vực chưa được quan tâm, giáo viên chưa nắm rõ các lỗi học sinh lớp mình hay mắc phải Để từ đó đưa ra các biện pháp khắc phục lỗi chính tả phù hợp cho học sinh

Học sinh chưa nắm vững các qui tắc, các mẹo luật chính tả để viết đúng các phần vần trong Chính tả Tiếng Việt Kiến thức về phần vần trong Chính tả của các em còn hạn chế Nhiều học sinh chỉ chú ý viết đúng chính tả trong giờ học Chính tả còn trong các giờ học khác lại hay mắc lỗi chính tả Điều này cũng một phần lỗi của giáo viên chưa chú ý trong việc khắc phục lỗi chính tả cho học sinh

Trang 24

C ươn THỰC TR NG VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PH C LỖI CHÍNH

TẢ PHẦN VẦN Ở LỚP 2 - 3 TRONG ƯỜNG TI U HỌC 2.1 Thực trạng lỗi chính tả phần vần ở học sinh lớp 2 - 3 trong nhà trường Tiểu học

Qua tìm hiểu từ thực tế ở trường Tiểu học, em nhận thấy tỉ lệ học sinh mắc các lỗi về chính tả phần vần là rất cao Nó có tác động rất lớn đến hiện

tương phát âm sai ở các địa phương Học sinh mắc lỗi ở các vần: ay/ ây; ăn/

ăng; ong/ oong,… là chiếm tỉ lệ cao Học sinh mắc lỗi ở các vần: ia/ ya; en/ eng,… do được rèn luyện kĩ nên tỉ lệ mắc lỗi thấp hơn

2.1.1 Thực trạng lỗi chính tả phần vần ở học sinh lớp 2

Ở học sinh lớp 2, tỉ lệ các em thường mắc lỗi về chính tả phần vần là rất cao Trong số học sinh khảo sát, số học sinh mắc lỗi chiếm 65% trong tổng

số Việc mắc lỗi chính tả ảnh hưởng trực tiếp đến phát âm, nói ngọng của học sinh Để nắm rõ hơn thực trạng lỗi chính tả phần vần ở học sinh lớp 2, chúng tôi đã tiến hành khảo sát

Tiến hành khảo sát, thông qua các dạng bài tập:

Trang 25

b) (tai, tay)

Đôi … của mèo con rất thính ; trên … của bé là một quả táo

Dạng 3:Thi tìm nhanh, viết đúng:

a) Tìm các từ chứa vần en:

b) Tìm các từ chứa vần eng:

Dạng 4: Khảo sát một số vần qua một đoạn (bài) Tập đọc lớp 2

Thực hiện khảo sát ở học sinh lớp 2E, 2G thuộc khối lớp 2, trường Tiểu học Liên Bảo, phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc Thu được kết quả như sau:

Ăn/ ăng Ia/ ya Ươn/

ương Ai/ ay En/ eng Im/ iêm

(100%)

40 (51,9%)

2 (2,59%)

6 (7,79%)

6 (7,79%)

4 (5,19%)

16 (20,77%)

Từ kết quả khảo sát trên, ta có thể thấy được tỉ lệ học sinh mắc lỗi các vần:

ăn/ ăng; im/ iêm là rất cao

 Một số lỗi chính tả phần vần của học sinh:

+ Vần ăn/ ăng: gắn sức, gắng bó,…

+ im/ iêm: con tiêm, khim tốn,…

Học sinh mắc lỗi chính tả ở các vần: ia/ ya; ươn/ ương; ai/ay; en/ eng

chiếm tỉ lệ thấp hơn

 Một số lỗi chính tả phần vần của học sinh:

+ Vần ia/ ya: đêm khuia, cây mí, tya nắng,…

+ Vần ươn/ ương: vươn vãi, bay lượng, vương vai,…

+ vần ai/ ay: bàn tai, đăng cay, lay xe,…

Vần en/ eng: len keng, nghe léng, chập chen,…

Trang 26

2.1.2 Thực trạng lỗi chính tả phần vần ở học sinh lớp 3

Tương tự như đối với khối lớp 2, tỉ lệ học sinh mắc lỗi chính tả ở khối lớp 3 cũng rất cao Số học sinh mắc lỗi chiếm 77,67% số học sinh được khảo sát Để nắm rõ hơn các lỗi chính tả phần vần ở học sinh lớp 3, chúng tôi đã tiến hành khảo sát Khảo sát được tiến hành thông qua các dạng bài tập:

Dạng 1: Em chọn từ nào trong ngoặc điền vào chỗ chấm:

a) Điền ay hay ây:

Bãi s………… ; ch…… giã gạo

Ngày đăng: 14/09/2018, 20:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w