TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC ---oOo--- NGUYỄN THỊ MINH GIANG HƯỚNG DẪN HỌC SINH KẾT NỐI THỰC TIỄN VỚI BÀI HỌC TRONG GIỜ TẬP ĐỌC TIẾNG VIỆT LỚP 4 KHÓA LUẬN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
-oOo -
NGUYỄN THỊ MINH GIANG
HƯỚNG DẪN HỌC SINH KẾT NỐI THỰC TIỄN VỚI BÀI HỌC TRONG GIỜ TẬP ĐỌC TIẾNG VIỆT LỚP 4
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Người hướng dẫn khoa học
PGS TS BÙI MINH ĐỨC
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản khóa luận này, lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn tới thầy giáo PGS.TS Bùi Minh Đức đã hướng dẫn và giúp đỡ em tận tình trong suốt quá trình làm khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa đã tận tình dạy bảo, truyền đạt cho em những tri thức quý báu trong quá trình học tập
và hoàn thành khóa luận
Dù đã cố gắng rất nhiều, song khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong được sự xem xét và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo cùng khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày10 tháng 5 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Minh Giang
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của bản thân em dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo PGS.TS Bùi Minh Đức Các số liệu, kết quả có trong khóa luận là trung thực Đề tài chưa được công bố trong bất kì công trình khoa học nào khác
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2018
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Minh Giang
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Lịch sử vấn đề 2
3.Mục đích nghiên cứu 4
4.Đối tượng nghiên cứu đề tài 4
5.Phạm vi nghiên cứu 4
6.Nhiệm vụ nghiên cứu 4
7.Phương pháp nghiên cứu 4
8.Cấu trúc khóa luận 4
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1.Cơ sở lí luận 5
1.1.1 Đặc điểm tâm lí, nhận thức của học sinh lớp 4 5
1.1.2 Đặc điểm dạy Tập đọc lớp 4 7
1.1.3 Đọc hiểu và kết nối thực tiễn trong dạy đọc hiểu văn bản 18
1.1.3.1 Khái niệm đọc 18
1.1.3.2 Đọc hiểu 19
1.2.Cơ sở thực tiễn 20
1.2.1 Thực trạng về việc kết nối thực tiễn của học sinh lớp 4 trong giờ Tập đọc 20
1.2.2 Thực trạng về việc hướng dẫn học sinh kết nối thực tiễn trong giờ Tập đọc lớp 4 của giáo viên qua giáo án 23
CHƯƠNG 2 26
BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH KẾT NỐI THỰC TIỄN VỚI BÀI HỌC TRONG GIỜ TẬP ĐỌC TIẾNG VIỆT LỚP 4 26
Trang 62.1 Nguyên tắc xác định các biện pháp hướng dẫn học sinh kết nối thực
tiễn với bài học trong giờ tập đọc Tiếng Việt lớp 4 26
2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu bài học 26
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức 26
2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo phát huy tính tích cực của học sinh 27
2.2 Biện pháp hướng dẫn học sinh kết nối thực tiễn với bài học trong giờ tập đọc Tiếng Việt lớp 4 27
2.2.1 Xây dựng hệ thống câu hỏi giúp học sinh liên hệ đời sống vào bài học 27
2.2.2 Sử dụng đồ dùng, phương tiện dạy học để hướng dẫn học sinh kết nối thực tiễn 31
2.2.3 Xây dựng một số tình huống thực tiễn 33
2.2.4 Tổ chức cho học sinh đi tham quan, quan sát, trải nghiệm thực tế 39
2.2.5 Tổ chức cho học sinh sưu tầm và đọc sách, báo 40
Tiểu kết chương 2 41
CHƯƠNG 3 42
THIẾT KẾ GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM 42
KẾT LUẬN 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục tiểu học là một bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân, là
cơ sở ban đầu hết sức quan trọng, là nền tảng cho giáo dục phổ thông và đặt những “viên gạch” đầu tiên cho sự phát triển toàn diện của con người Đặc biệt môn Tiếng Việt có vị trí rất quan trọng trong chương trình Tiểu học Nó hình thành cho học sinh khả năng giao tiếp, là cơ sở để phát triển tư duy cho học sinh tiếp thu và học các môn học khác
Tiếng Việt là môn học quan trọng và chiếm nhiều thời gian trong chương trình bậc Tiểu học Trong chương trình Tiểu học, khi dạy môn Tiếng Việt chú ý rèn cho học sinh bốn kỹ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết Các kỹ năng đó được nâng dần theo các lớp, từ lớp 1 đến lớp 5 Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với người đi học Trước hết trẻ phải học đọc sau
đó trẻ mới đọc để học Đọc là công cụ để học các môn học khác Đọc tạo ra hứng thú và động cơ học tập, tạo điều kiện cho học sinh có khả năng tự học
và tinh thần học tập cả đời Vậy nên, phân môn Tập đọc có ý nghĩa rất to lớn trong chương trình Tiểu học Song trong một tiết Tập đọc, GV làm thế nào để học sinh phát huy tốt vốn kiến thức về cuộc sống của mình vào bài Tập đọc là một điều vô cùng khó
Trong thực tế vì nhiều lý do khác nhau, đa số học sinh chưa thực sự liên hệ thực tiễn đời sống của bản thân vào bài học và đôi khi học sinh chưa hiểu rõ về ý nghĩa của bài Tập đọc Điều đó đã phần nào làm hạn chế đi chất lượng của tiết Tập đọc Cũng như ở các lớp dưới, thông qua hệ thống bài đọc theo chủ điểm và những câu hỏi tìm hiểu bài, phân môn Tập đọc lớp 4 cung cấp cho HS những hiểu biết về thiên nhiên, xã hội và con người, cung cấp vốn
từ, tăng cường khả năng diễn đạt, trang bị một số hiểu biết ban đầu về tác phẩm văn học Tuy nhiên, các bài Tập đọc ở lớp 4 có số lượng từ nhiều hơn,
Trang 8việc luyện đọc bắt đầu chú ý đến yêu cầu biểu cảm, câu hỏi tìm hiểu bài chú trọng khai thác ý và nghệ thuật biểu hiện cũng nhiều hơn Ở Tập đọc lớp 4, nội dung phản ánh một số vấn đề cơ bản về đạo đức, phẩm chất, sở thích, thú vui lành mạnh… của con người thông qua ngôn ngữ văn học và những hình ảnh tưởng tượng giàu tính thẩm mĩ và nhân văn Do đó trong giờ Tập đọc lớp 4 có tác dụng mở rộng tầm hiểu biết, tầm nhìn về tự nhiên, xã hội, đời sống, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và nhân cách cho HS Là một giáo viên trẻ trong tương lai, với mong muốn cho các em sự hứng thú, say mê và liên hệ được với
thực tiễn đối với phân môn này, tôi đã nghiên cứu và chọn đề tài: “Hướng dẫn
học sinh kết nối thực tiễn với bài học trong giờ Tập đọc Tiếng Việt lớp 4”
2 Lịch sử vấn đề
Tập đọc là một phân môn thực hành Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó
là hình thành năng lực đọc cho học sinh cao hơn nữa là hình thành cho học sinh kỹ năng đọc có ý thức tức là thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu Vì vậy, có nhiều đề tài khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ hay sáng kiến kinh nghiệm nghiên cứu về nội dung chương trình, biện pháp dạy-học nhằm nâng cao chất lượng dạy-học phân môn Tập đọc lớp
4
Luận án “Rèn kỹ năng đọc hiểu cho học sinh lớp 4 và lớp 5” Nguyễn
Thị Hạnh (1999) đã đề cập chi tiết về các khía cạnh của kĩ năng đọc hiểu Thừa kế và phát huy những nghiên cứu về kĩ năng đọc, tác giả Lê Phương
Nga đã cho ra đời cuốn sách “Dạy học Tập đọc ở Tiểu học” xuất bản 2001
được xem là tài liệu tham khảo chính và được sử dụng rộng rãi trong dạy học Tập đọc hiện nay ở tiểu học Cuốn sách đã đi sâu nghiên cứu tất cả các vấn đề
về kĩ năng đọc từ các vấn đề về lý luận đến các phương pháp dạy đọc và các dạng bài tập rèn kĩ năng đọc
Trang 9Hay trong cuốn “ Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học II” (Giáo trình dành cho hệ đào tạo cử nhân ngành Giáo dục Tiểu học) do Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội xuất bản năm 2011, đã nêu phương pháp giảng dạy ở các phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn Ở phân môn Tập đọc, tác giả Lê Phương Nga đã nêu rõ vị trí, nhiệm vụ, cơ sở khoa học và nguyên tắc dạy học của phân môn này, giúp cho sinh viên nắm được chương trình, nội dung, phương pháp tổ chức dạy học phân môn này và trang bị cho sinh viên kĩ năng tổ chức quá trình dạy học một cách khoa học và hiệu quả
“Dạy đọc hiểu cho học sinh khối lớp 4-5”, Nguyễn Văn Trí, 2007
(Luận văn thạc sĩ) công trình nghiên cứu này chủ yếu đưa ra các cách thức dạy học đọc hiểu thông qua hệ thống các bài tập cho học sinh Tiểu học, cũng như các cơ chế của việc đọc hiểu, từ đó đề xuất các biện pháp dạy học thích hợp
“ Dạy học Tập đọc lớp 4 theo quan điểm tích hợp”, Lê Thị Thương Hằng,
2010, khóa luận đã đưa ra được các biện pháp dạy học tích hợp, làm cho giờ Tập đọc hấp dẫn, giúp học sinh liên hệ các kiến thức đã có vào phân môn Tập đọc
Khóa luận tốt nghiệp đại học “Thực trạng dạy đọc lớp 4 và một số đề
xuất thay đổi nhằm giúp học sinh đạt chuẩn và rèn kĩ năng sống“ của Nguyễn
Thị Vân Anh (2012) có đi sâu vào việc xem thực tế dạy đọc lớp 4 có thực sự giúp học sinh đạt Chuẩn kiến thức kỹ năng đọc do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định hay không Nghiên cứu này cho thấy, HS đạt chuẩn trong lĩnh vực đọc thành tiếng và gặp khó khăn trong lĩnh vực đọc hiểu
Ngoài ra còn khá nhiều công trình nghiên cứu khác đề cập trực tiếp hay gián tiếp vấn đề dạy Tập đọc nói chung và dạy học phân môn Tập đọc lớp 4 nói riêng ở những mức độ khác nhau Các tác giả đã tìm hiểu về thực trạng dạy Tập đọc ở trường Tiểu học Từ đó các tác giả đề xuất biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn này Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về phân môn Tập đọc nhưng về vấn đề kết nối thực tiễn vào bài Tập đọc lớp 4 thì chưa được nhiều tác giả quan tâm
Trang 103 Mục đích nghiên cứu
Tìm ra các biện pháp hướng dẫn học sinh kết nối thực tiễn với bài học, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Tập đọc Tiếng Việt lớp 4, tạo hứng thú học tập cho học sinh
4 Đối tượng nghiên cứu đề tài
Các biện pháp giúp học sinh kết nối thực tiễn với bài học trong giờ Tập đọc Tiếng Việt lớp 4
5 Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động dạy học của GV và HS trong giờ Tập đọc lớp 4
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận
- Tìm hiểu thực trạng về việc hướng dẫn học sinh kết nối thực tiễn trong giờ Tập đọc lớp 4 của giáo viên
- Đề xuất các biện pháp hướng dẫn học sinh kết nối thực tiễn với bài học
- Xây dựng giáo án thực nghiệm
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp lý luận
- Phương pháp khảo sát thực trạng
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung của khóa luận gồm các chương sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Biện pháp hướng dẫn học sinh kết nối thực tiễn với bài học trong giờ tập đọc Tiếng Việt lớp 4
Chương 3: Thiết kế giáo án thực nghiệm
Trang 11NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Đặc điểm tâm lí, nhận thức của học sinh lớp 4
Giai đoạn tiểu học là giai đoạn phát triển quan trọng nhất của con người Tuổi tiểu học được hầu như tính từ 6 tuổi đến 11 tuổi Ở giai đoạn này, hoạt động học là hoạt động chủ đạo Để quá trình bồi dưỡng có hiệu quả thì việc nắm rõ đặc điểm tâm sinh lí của HS là rất quan trọng
1.1.1.1 Tri giác ở học sinh tiểu học
Tri giác của H S tiểu học phản ánh những thuộc tính trực quan, của sự vật, hiện tượng và xảy ra khi chúng trực tiếp tác động lên giác quan
Ở các lớp đầu tiểu học, tri giác thường gắn với hành động, hoạt động thực tiễn của trẻ em Đến cuối tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc, hấp dẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng Tri giác có chủ định (trẻ biết lập
kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, sắp xếp các bài tập từ dễ đến khó…)
1.1.1.2 Sự chú ý của học sinh tiểu học
Ở giai đoạn này chú ý được chia làm 2 loại bao gồm: chú ý không chủ định và chú ý có chủ định
Với những trẻ ở lớp đầu tiểu học, sự chú ý có chủ định còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Đối với học sinh lớp cao hơn, nhất là lớp 4 sự chú ý dần hoàn thiện hơn Chú ý chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học
1.1.1.3 Trí nhớ của học sinh tiểu học
Trí nhớ của học sinh tiểu học nhìn chung là rất tốt bao gồm trí nhớ có chủ định và không có chủ định
Trang 12+) Trí nhớ có chủ định: Là loại trí nhớ có mục đích đặt ra từ trước và sử dụng biện pháp để ghi nhớ
+) Trí nhớ không chủ định: Là loại trí nhớ không có mục đích đặt ra từ trước, không cần sự nỗ lực của ý chí
1.1.1.4 Tưởng tượng của học sinh tiểu học
Trong quá trình học tập sự tưởng tượng được hình thành dựa trên những hình ảnh đã biết để tạo ra những hình ảnh mới bao gồm có tưởng tượng tái tạo (là những tưởng tượng được hình dung ra đã được nhìn thấy, cảm nhận, đã trải qua) và tưởng tượng sáng tạo (là quá trình hình thành những hình ảnh hoàn toàn mới)
Sự tưởng của các em phát triển theo lứa tuổi, càng lên cao sự tưởng tượng của các em càng phong phú và đa dạng hơn Những hình ảnh gần gũi với thực tiễn cuộc sống sẽ giúp các em dễ tưởng tượng hơn
1.1.1.5 Tư duy của học sinh tiểu học
Tư duy là hạt nhân của hoạt động trí não, kỹ năng này bắt đầu phát triển ở giai đoạn ấu thơ Khi trẻ trong độ tuổi tiểu học, khả năng tư duy đã phát triển, trẻ đã có ý thức ghi nhớ, tư duy tổng hợp, phát triển và đánh giá
Tư duy của học sinh tiểu học được chuyển dần từ trực quan cụ thể sang
tư duy trừu tượng, khái quát nhờ vào khả năng ngôn ngữ của các em Tư duy của học sinh tiểu học chia làm 2 giai đoạn
Giai đoạn 1(lớp 1,2,3): Tư duy trực quan hành động chiếm ưu thế Trẻ học chủ yếu bằng phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu dựa trên các đối tượng hoặc những hình ảnh trực quan
Giai đoạn 2 (lớp 4,5): Tư duy trực quan hình tượng chiếm ưu thế Trẻ nắm được các mối quan hệ của khái niệm Những thao tác về tư duy như phân loại, phân hạng tính toán, không gian, thời gian, được hình thành và phát triển mạnh
Trang 13Ở cuối giai đoạn này tư duy ngôn ngữ bắt đầu hình thành Trẻ am hiểu nguyên lý bảo tồn và khái niệm nghịch đảo Tuy nhiên năng lực tư duy của trẻ còn bị hạn chế, trẻ gặp nhiều khó khăn trong tư duy trừu tượng Trẻ khó có thể hiểu rõ những bài học trong sách nếu giáo viên không giải thích kĩ và trẻ khó có thể ứng dụng vào thực tiễn
1.1.1.6 Về mặt tình cảm
Tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với các sự vật hiện tượng sinh động Lúc này khả năng kiềm chế cảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện cụ thể là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư
Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi Trong quá trình hình thành và phát triển tình cảm của học sinh tiểu học luôn luôn kèm theo sự phát triển năng khiếu, trẻ nhi đồng có thể xuất hiện các năng khiếu như thơ, ca, hội họa, kĩ thuật, khoa học, khi đó GV cần phát hiện và bồi dưỡng kịp thời cho trẻ sao cho vẫn đảm bảo kết quả học tập mà không làm thui chột năng khiếu của trẻ
Chính vì thế, việc giáo dục tình cảm cho học sinh tiểu học cần ở nhà giáo dục sự khéo léo, tế nhị khi tác động đến các em; nên dẫn dắt các em đi từ hình ảnh trực quan sinh động, hấp dẫn và đặc biệt phải luôn chú ý củng cố tình cảm cho các em thông qua các hoạt động cụ thể như trò chơi nhập vai, đóng các tình huống cụ thể, các hoạt động tập thể ở trường lớp, khu dân cư,
1.1.2 Đặc điểm dạy Tập đọc lớp 4
1.1.2.1 Những đặc điểm chung của kiểu bài dạy học Tập đọc
Các đặc điểm chung của kiểu bài dạy học Tập đọc chính là các tiêu chuẩn chung để lựa chọn văn bản Tập đọc Những văn bản tập đọc dù là thơ hay văn xuôi đều có những tiêu chuẩn sau:
Trang 14 Văn bản Tập đọc phải phù hợp với chủ điểm học tập của SGK, văn bản học ở tuần nào phải phù hợp với tuần đó
Các văn bản được sắp xếp nằm trong các chủ điểm Những bài Tập đọc được bố trí, tuyển chọn phù hợp với hệ thống chủ điểm của sách và chủ điểm của tuần Với những trường hợp có sự cân nhắc giữa hai hay nhiều văn bản cùng có nội dung phù hợp với chủ điểm, bài được chọn sẽ là bài bổ sung được những khía cạnh mới, làm phong phú hơn nội dung của chủ điểm đó
Văn bản Tập đọc phải đáp ứng yêu cầu rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt đã qui định trong chương trình tiểu học mới
Chương trình tiểu học mới đã xác định mục tiêu số một của môn Tiếng Việt là hình thành và phát triển ở HS những kỹ năng sử dụng Tiếng Việt với những yêu cầu rất cụ thể về trình độ đọc, viết, nghe, nói ở từng khối lớp Nhiệm vụ của phân môn Tập đọc là rèn cho HS kĩ năng nghe, nói và đọc Các văn bản trong SGK Tiếng Việt rất phong phú và đa dạng, từ đó giúp HS tiếp xúc với mảng hiện thực, mở rộng tầm nhìn cuộc sống, đồng thời giúp HS làm quen với phong cách tạo lập văn bản, ứng dụng được những kiểu văn bản đã học vào trong giao tiếp
Văn bản Tập đọc phải đáp ứng yêu cầu về tính tư tưởng, tính nghệ thuật phù hợp với trình độ nhận thức của HS
Tuy SGK Tiếng Việt tiểu học không đạt yêu cầu giới thiệu những tác phẩm, tác giả tiêu biểu cho các thể loại như SGK bậc trung học, nhưng để thực hiện mục tiêu rèn luyện kỹ năng, phát triển tư duy trang bị kiến thức, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, nhân cách cho HS thì các văn bản được chọn dạy trong sách phải đáp ứng được yêu cầu cao về tính tư tưởng và tính nghệ thuật
Các truyện kể trong sách giáo khoa bao gồm ngụ ngôn, cổ tích, truyện khoa học và truyện vui dân gian cùng với các tác giả quen thuộc với thiếu nhi như Xuân Quỳnh, Trần Đăng Khoa… Bên cạnh đó còn có sự góp mặt của tác
Trang 15giả văn học nổi tiếng nước ngoài như Tuốc-ghê-nhép, Xu-khôm-lin-xki, téc-lích, Xti-ven-xơn,… thông qua những hình ảnh, chi tiết hấp dẫn, cảm động, các truyện kể khắc sâu vào tâm trí HS những tình cảm thiêng liêng như tình cảm gia đình, bạn bè, thầy cô, tình yêu quê hương, đất nước giáo dục các
Mát-em tính thật thà, khiêm tốn, đức tính siêng năng, cần cù, chăm chỉ, nhân ái…
Mảng truyện vui đã đem đến cho các em những tiếng cười hóm hình, rèn cho các em trí thông minh và góp phần không nhỏ trong việc trau dồi kiến thức, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm Đọc những truyện vui trong SGK chúng
ta có thể thấy có nhiều truyện dạy các em chăm chỉ học tập, tình thần lạc quan
và yêu đời Đối với mỗi người, yêu đời là một hương vị vô cùng quan trọng trong cuộc sống
Về thơ các bài được đưa vào sách là những sáng tác giàu tính nhân văn, tính nghệ thuật của nhiều tác giả như Hồ Chí Minh, Nguyễn Duy, Định Hải, Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa… Những nét thơ mộc mạc càng làm tâm hồn của các em trở nên giàu có, sinh động hơn
Các tác giả văn học trên đều là những sáng tác giàu hình tượng và cảm xúc, cách diễn đạt trong sáng phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh và
có ý nghĩa giáo dục sâu sắc Không chỉ những tác phẩm trong nước và những tác phẩm nước ngoài cũng có lối diễn đạt và tư tưởng cũng được đề cao
Văn bản tập đọc phải đáp ứng yêu cầu về tính tích hợp
Mỗi văn bản đều được lựa chọn để đảm bảo tính yêu cầu về việc tích hợp dọc và tích hợp ngang Trên tích hợp ngang, ngoài mục đích rèn luyện kỹ năng đọc và trang bị một số kiến thức về chủ điểm, bài tập đọc phải đáp ứng yêu cầu về làm vật liệu mẫu để mở rộng vốn từ, rèn luyện kỹ năng viết chính
tả hay làm văn Tích hợp dọc, mỗi văn bản mới được kế thừa, tiếp nối kiến thức kỹ năng đã học trước đó và là bước chuẩn bị cho những kiến thức kỹ năng sẽ xuất hiện phía sau
Trang 161.1.2.2 Vị trí, vai trò của phân môn Tập đọc lớp 4
Phân môn Tập đọc trong việc thực hiện mục tiêu học Tiếng Việt
Tập đọc giúp hình thành và phát triển các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho HS Thông qua những bài Tập đọc cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt từ đó giúp học sinh hướng tới vẻ đẹp của văn chương, bồi dưỡng cho học sinh tình yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước, gia đình, bạn bè, thầy cô Những bài Tập đọc giúp cho học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp Dạy tốt phân môn Tập đọc cũng là góp phần dạy tốt môn Tiếng Việt
Phân môn Tập đọc với tư cách là phân môn tổng hợp giúp học sinh
phát triển toàn diện Tiếng Việt ở cấp độ bước đầu về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, phong cách làm văn và các kĩ năng thực hành Tiếng Việt
Ban đầu, HS được luyện phát âm đúng các âm vị tiếng mẹ đẻ sau đó học sinh mới hình thành được các kỹ năng đọc như đọc đúng, đọc lưu loát, đọc hiểu và đọc diễn cảm Đọc đúng và đọc diễn cảm là mục đích mà dạy đọc hướng tới chính là nội dung của việc luyện đọc thành tiếng Đọc đúng trước hết là đọc đúng chính âm
Phân môn Tập đọc trang bị những tri thức cơ bản cho học sinh Tiểu
học về khoa học, nghệ thuật và lối sống
Qua những hệ thống văn bản Tập đọc thuộc loại hình nghệ thuật, báo chí, khoa học… đã được đưa vào các chủ điểm, phản ánh những vấn đề gần gũi với cuộc sống của các em, giúp cho các em có môi trường giao tiếp, hiểu biết về thế giới xung quanh Những bài Tập đọc thuộc văn bản nghệ thuật có thể là tác phẩm trọn vẹn hay đoạn trích hoặc biên soạn từ một tác phẩm văn học đem đến cho các em sự nhận biết về cái đẹp, cái chân – thiện – mĩ, biết về văn hóa ứng xử của dân tộc cũng như vẻ đẹp của Tiếng Việt trong khi giao tiếp Những bài Tập đọc giúp các em có kiến thức về thiên nhiên, cuộc sống Các em hiểu biết thêm về xã hội, lịch sử, những chuẩn mực xã hội, những
Trang 17hành vi đạo đức, ứng xử, đồng thời giáo dục tư tưởng, tình cảm và trau dồi nhân cách cho các em
Phân môn Tập đọc góp phần rèn năng lực cảm thụ văn học cho học sinh
Phân môn Tập đọc giúp bồi dưỡng năng lực cảm thụ cho học sinh Thông qua các bài Tập đọc, học sinh có thể cảm thụ được cái hay, cái đẹp những giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của văn học Theo tác giả Lê Phương Nga – Nguyễn Trí: “Khi tiếp cận các văn bản nghệ thuật, học sinh không chỉ phải hiểu nội dung sự việc là cái làm nên thiên chức thông báo sự việc của văn bản mà còn phải nắm nội dung cá nhân, giá trị biểu hiện, chất trữ tình, tức là thái độ tình cảm đánh giá sự việc của tác giả, cái làm nên chức năng bộc lộ của văn bản, cũng là cái làm nên vẻ đẹp riêng của từng bài tập đọc Vì vậy, đích cuối cùng của dạy cảm thụ văn học trong giờ Tập đọc không chỉ cho thấy bài văn đã ghi chép hiện thực gì mà trước hết phải cho thấy bài văn là kết quả của một hành động tự nhận thức, nơi bộc lộ, thái độ của nhà văn trước hiện thực”
1.1.2.3 Nhiệm vụ của dạy đọc ở tiểu học
Những điều vừa nêu trên khẳng định sự cần thiết của việc hình thành và phát triển một cách có hệ thống và có kế hoạch năng lực đọc cho học sinh Tập đọc với tư cách là một phân môn của môn Tiếng Việt ở Tiểu học có nhiệm vụ đáp ứng các yêu cầu này đó là hình thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh
Hình thành năng lực đọc cho học sinh
Tập đọc là phân môn thực hành Nhiệm vụ quan trọng nhất đó là hình thành năng lực đọc cho học sinh Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kĩ năng cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của “đọc”: đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm Bốn kĩ năng này được hình thành trong hai hình thức đọc: đọc thành tiếng và đọc thầm Chúng được rèn
Trang 18luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau Sự hoàn thiện một trong những kĩ năng này sẽ có tác động tích cực đến những kĩ năng khác Ví dụ, đọc đúng là tiền
đề của đọc nhanh cũng như cho phép thông hiểu nội dung văn bản Ngược lại, nếu không hiểu điều mình đang đọc thì không thể đọc nhanh và diễn cảm được Vậy nên, nhiều khi chúng ta khó mà nói được rạnh ròi kĩ năng nào làm
cơ sở cho kĩ năng nào, nhờ đọc đúng mà hiểu đúng hay chính nhờ hiểu đúng
mà đọc được đúng Vì vậy, chúng ta không thể xem nhẹ yếu tố nào
Giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành phương pháp và thói quen
làm việc với văn bản, làm việc với sách cho học sinh
Làm cho sách trở thành một sự tôn sùng ngự trị trong nhà trường, đó là một trong những điều kiện để trường học thực sự trở thành trung tâm văn hóa Nói cách khác, thông qua việc dạy học, phải làm cho học sinh thích thú đọc
và thấy được rằng khả năng đọc là có lợi ích cho các em trong cả cuộc đời, phải làm cho học sinh thấy đó là một trong những con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và phát triển
Những nhiệm vụ khác
Vì việc đọc không thể tách rời khỏi những nội dung được đọc nên bên cạnh nhiệm vụ rèn kĩ năng đọc, giáo dục lòng yêu sách, phân môn Tập đọc còn có nhiệm vụ:
- Làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho học sinh
- Phát triển ngôn ngữ và tư duy cho học sinh
- Giáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh
1.1.2.4 Nội dung chương trình Tập đọc lớp 4
Thời lượng
Đối với Tập đọc ở lớp 3 là hình thành những kĩ năng giao tiếp cho học sinh, những yêu cầu về đọc đúng, đọc rõ ràng và chính xác các văn bản Lên
Trang 19lớp 4, chương trình Tập đọc được bố trí xen kẽ các thể loại văn xuôi, thơ (một phần nhỏ kịch), bao gồm cả văn bản nghệ thuật (truyện, thơ, kí…) và các nhóm văn bản khác như văn bản khoa học, văn bản nhật dụng, truyền thông, phản ảnh nhiều lĩnh vực đời sống trong thực tiễn của học sinh lớp 4 được gắn vào các chủ điểm Chủ điểm là một hệ thống chung của các phân môn nhưng biểu hiện chung nhất là ở Tập đọc Đối với Tập đọc lớp 4, hệ thống chủ điểm
có tính khái quát, đi vào bản chất các hiện tượng đời sống, đề cập trực tiếp đến đời sống tinh thần của con người hơn so với Tập đọc lớp 3 và các khối lớp dưới Gồm 10 chủ điểm chính sau:
- Thương người như thể thương thân : Nói về lòng nhân ái, ca ngợi tấm lòng hiệp nghĩa, bênh vực kẻ yếu (Dế mèn bênh vực kẻ yếu) Thể hiện tình cảm sâu nặng tình làng xóm, tình máu mủ (Mẹ ốm) Tình cảm bạn bè biết chia sẻ đau buồn cùng bạn khi bạn gặp đau thương, mất mát trong cuộc sống (Thư thăm bạn) Ca ngợi cậu bé có tấm lòng nhân hậu biết đồng cảm, thương xót trước nỗi bất hạnh của ông lão ăn xin nghèo khổ (Người ăn xin)…
- Măng mọc thẳng: Nói về tính trung thực và lòng tự trọng Ca ngợi sự chính trực, thanh liêm, tấm lòng vì dân vì nước của Tô Hiến Thành – vị quan nổi tiếng cương trực thời xưa (Một người chính trực) Thể hiện tình cảm yêu thương và ý thức trách nhiệm với người thân, lòng trung thực, sự nghiêm khắc với lỗi lầm của bản thân (Nỗi dằn vặt của An – đrây – ca)…
- Trên đôi cánh ước mơ: Nói về ước mơ, khát vọng của con người về một cuộc sống tương lai hạnh phúc, đầy đủ, làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn Tình thương yêu các em nhỏ của anh chiến sĩ, mơ ước của anh về tương lai của các em trong đêm trung thu độc lập đầu tiên của đất nước (Trung thu độc lập) Ước mơ của các bạn nhỏ về một cuộc sống đầy đủ và hạnh phúc, ở
đó trẻ em là những nhà phát minh giàu trí sáng tạo, góp sức mình phục vụ cuộc sống (Ở vương quốc tương lai) Bài thơ Nếu chúng mình có phép lạ nói
Trang 20về ước mơ của các bạn nhỏ muốn có phép lạ để làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn…
- Có chí thì nên: Giới thiệu về những tấm gương có ý chí, giàu nghị lực, kiên trì, bền bỉ vượt khó, vươn lên trở thành những tên tuổi lừng lẫy Ca ngợi chú bé Nguyễn Hiền thông minh, có ý chí vượt khó nên đã đỗ Trạng nguyên khi mới 13 tuổi (Ông trạng thả diều) Ca ngợi Bạch Thái Bưởi, từ một cậu bé
mồ côi cha, nhờ giàu nghị lực và ý chí vươn lên đã trở thành một nhà kinh doanh tên tuổi lừng lẫy (“Vua tàu thủy” Bạch Thái Bưởi) Nhờ khổ công rèn luyện, Lê-ô-nác-đô đa Vin-xi đã trở thành một họa sĩ thiên tài (Vẽ trứng)…
- Tiếng sáo diều: Giúp các em đến với thế giới tươi vui, ngộ nghĩnh qua nhiều trò chơi của trẻ em Thông qua đó thể hiện tinh thần thượng võ, niềm vui tuổi thơ Chú bé Đất can đảm, muốn trở thành người khỏe mạnh, làm được nhiều việc có ích đã dám nung mình trong lửa đỏ (Chú Đất Nung) Niềm vui sướng và những khát vọng tốt đẹp mà trò chơi thả diều mang lại cho đám trẻ mục đồng khi các em lắng nghe tiếng sáo diều, ngắm những cánh diều bay lơ lửng trên bầu trời (Cánh diều tuổi thơ) Cậu bé tuổi Ngựa thích bay nhảy, thích du ngoạn nhiều nơi nhưng cậu yêu mẹ, đi đâu cũng nhớ đường về với mẹ (Tuổi ngựa)…
- Người ta là hoa đất: Nói về năng lực, tài chí của con người như sức mạnh, tài năng và lòng nhiệt tình Giúp học sinh khám phá những vẻ đẹp mà thiên nhiên tạo ra Ca ngợi sức khỏe, tài năng, lòng nhiệt thành làm việc nghĩa của bốn anh em Cẩu Khẩy (Bốn Anh Tài) Mọi vật được sinh ra trên trái đất này là vì con người, vì trẻ em Hãy dành cho trẻ em mọi điều tốt đẹp nhất (Chuyện cổ tích về loài người) Bộ sưu tập trống đồng Đông Sơn rất phong phú, đa dạng với hoa văn rất đặc sắc, là niềm tự hào chính đáng của người Việt Nam (Trống đồng Đông Sơn) Ca ngợi Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa đã có những cống hiến xuất sắc cho sự nghiệp quốc phòng và xây dựng nền khoa học trẻ của đất nước (Anh hùng Lao động Trấn Đại Nghĩa)…
Trang 21- Vẻ đẹp muôn màu: Nói sự rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước, biết sống đẹp Bức tranh chợ Tết miền trung du giàu màu sắc và vô cùng sinh động đã nói về cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc của những người dân quê (Chợ Tết) Cảm nhận được vẻ đẹp độc đáo của hoa phượng qua ngòi bút miêu tả tài tình của tác giả, hiểu ý nghĩa của hoa phượng – hoa học trò, đối với những học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường (Hoa học trò) Ca ngợi tình yêu nước, yêu con sâu sắc của người phụ nữ Tà-ôi trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước (Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ)…
- Những người quả cảm: Giới thiệu những con người có lòng dũng cảm, gan dạ, dám hy sinh bản thân vì người khác Ca ngợi hành động dũng cảm của bác sĩ Ly trong cuộc đối đầu với tên cướp biển hung hãn Ca ngợi sức mạnh chính nghĩa chiến thắng sự hung ác, bạo ngược (Khuất phục tên cướp biển) Nói về tinh thần dũng cảm, lạc quan của các chiến sĩ lái xe trong những năm tháng chống Mĩ cứu nước (Bài thơ về tiểu đội xe không kính) Ca ngợi lòng dũng cảm, ý chí quyết thắng của con người trong cuộc đấu tranh chống thiên tai, bảo vệ con đê, bảo vệ cuộc sống yên bình (Thắng biển), ca ngợi những nhà khoa học chân chính đã dũng cảm, kiên trì bảo vệ chân lí khoa học (Dù sao Trái Đất vẫn quay!)…
- Khám phá thế giới: Giới thiệu cho các em những miền đất lạ mà các
em chưa biết, nơi có những sản vật, những công trình kiến trúc Ca ngợi vẻ đẹp độc đáo của Sa Pa, thể hiện tình cảm yêu mến thiết tha của tác giả đối với cảnh đẹp đất nước (Đường đi Sa Pa) Bài thơ thể hiện tình cảm yêu mến, sự gần gũi của nhà thơ với trăng (Trăng ơi… từ đâu đến?) Nói về lòng dũng cảm vượt bao khó khăn, hi sinh, mất mát để hoàn thành sứ mạng lịch sử của Man-gen-lăng và đoàn thám hiểm, khẳng định trái đất hình cầu, phát hiện Thái Bình Dương và những vùng đất mới (Hơn một nghìn ngày vòng quanh Trái Đất) Ca ngợi vẻ đẹp của dòng sông quê hương (Dòng sông mặc áo) Hình
Trang 22ảnh Ăng-co Vát một công trình kiến trúc và điêu khắc tuyệt diệu của nhân dân Cam-pu-chia (Ăng-co Vát)…
- Tình yêu cuộc sống: Bồi dưỡng cho học sinh về tinh thần lạc quan, yêu đời Tác phẩm “Vương quốc vắng nụ cười” cho chúng ta biết cuộc sống thiếu tiếng cười sẽ vô cùng tẻ nhạt, buồn chán Hai bài thơ nói lên tinh thần lạc quan yêu đời, yêu cuộc sống, bất chấp mọi hoàn cảnh khó khăn của Bác từ
đó, khâm phục, kính trọng và học tập Bác: luôn yêu đời, không nản chí trước khó khăn (Ngăm trăng-Không đề) Hình ảnh con chim chiền chiện tự do bay lượn, hát ca giữa không gian cao rộng, trong khung cảnh thiên nhiên thanh bình là hình ảnh của cuộc sống ấm no, hạnh phúc, gieo trong lòng người đọc cảm giác thêm yêu đời, yêu cuộc sống (Con chim chiền chiện)
Xoay quanh các chủ điểm đó có 62 bài tập đọc thuộc các loại hình văn bản khác nhau gồm có 46 bài văn xuôi, 17 bài thơ (có 2 bài thơ ngắn là Ngắm trăng và Không đề của Hồ Chí Minh được dạy trong 1 tiết) Trong 62 văn bản
đó thì có 57 văn bản là văn bản nghệ thuật, có 5 văn bản không phải văn bản nghệ thuật
Mỗi chủ điểm được dạy trong 3 tuần riêng có chủ điểm Tiếng sáo diều được dạy trong 4 tuần Mỗi tuần có hai tiết tập đọc được sắp xếp theo trình tự: Tập đọc – Chính tả - Luyện từ và câu – Kể chuyện – Tập đọc – Tập làm văn – Luyện từ và câu – Tập làm văn Đa số các bài tập đọc đều được dạy trong 1 tiết nhưng có một số bài được dạy trong 2 tiết như : Dế mèn bênh vực kẻ yếu, Vương quốc vắng nụ cười, Chú Đất Nung, Bốn anh tài Mỗi chủ điểm lại có những bài Tập đọc có nội dung như nhau, nói về một khía cạnh khác nhau trong chủ điểm
Ví dụ như chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” được sắp xếp ở các tuần
7, tuần 8, tuần 9 có các bài tập đọc: Nếu chúng mình có phép lạ nói về ước
mơ của các bạn nhỏ muốn có những phép lạ để làm cho thế giới tốt đẹp hơn
Trang 23Đặc biệt là lần đầu tiên ở phân môn Tập đọc trong SGK Tiếng Việt được dạy một văn bản kịch Đó là trích đoạn Ở vương quốc Tương Lai được trích trong vở kịch Con chim xanh của tác giả Mát-téc-lích, một nhà văn nổi tiếng đã từng đạt giải Nô-ben Đây chính là điểm mới trong chương trình tập đọc lớp 4 so với tập đọc lớp 3
Nội dung phân môn Tập đọc lớp 4
Nội dung phân dạy học của phân môn Tập đọc trong SGK Tiếng Việt 4
là sự cụ thể hóa những quy định trong chương trình tiểu học ban hành kèm theo quyết định số 48/2001/QĐ-BGD&DDT ngày 9/11/2001 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Phân môn Tập đọc củng cố, nâng cao kĩ năng đọc trơn, đọc thầm đã được hình thành từ lớp dưới, cùng với các kĩ năng đó phân môn Tập đọc còn rèn luyện thêm kỹ năng đọc diễn cảm (thông qua giọng đọc để thể hiện được tình cảm, thái độ sao cho phù hợp với nội dung bài học, ý nghĩa mà tác giả muốn gửi gắm) Sau mỗi bài tập đọc là phần hướng dẫn sư phạm bao gồm các nội dung giải nghĩa từ, câu hỏi và bài tập tìm hiểu bài Sự hướng dẫn này giúp học sinh nâng cao kĩ năng đọc-hiểu văn bản, cụ thể là:
- Nhận biết được đề tài, cấu trúc của bài
- Biết cách tóm tắt bài, làm quen với thao tác đọc lướt để nắm ý
- Phát hiện giá trị của một số biện pháp nghệ thuật trong các văn bản văn chương Kết hợp với phân môn Kể chuyện, Tập làm văn, phân môn Tập đọc hình thành cho học sinh thói quen tìm đọc sách ở thư viện, dùng các công cụ (từ điển, sổ tay từ ngữ, ngữ pháp) và ghi chép những thông tin cần thiết khi đọc
- Một trong những nội dung quan trọng của phân môn Tập đọc là bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, nhân cách cho HS Những bài Tập đọc phản ánh những vấn đề của xã hội, đạo đức, thẩm mĩ, cuộc sống xung quanh của con người bằng ngôn ngữ văn học và những hình ảnh giàu tính chất giáo dục,
Trang 24nhân văn Thông qua đó, HS sẽ hình thành được những tư tưởng đúng đắn, cách ứng xử và nhân cách của bản thân Phân môn Tập đọc còn cung cấp cho
HS năng lực diễn đạt, vốn từ ngữ rộng và giúp HS hiểu biết hơn về tác phẩm văn học
- Như vậy, thông qua nội dung của phân môn Tập đọc HS có thể liên
hệ kết nối với đời sống thực tiễn, vận dụng vào chính cuộc sống của các em
Và ngược lại từ đời sống thực tiễn các em biết liên hệ vào bài tập đọc đã học trong chương trình Tiếng Việt lớp 4
1.1.3 Đọc hiểu và kết nối thực tiễn trong dạy đọc hiểu văn bản
1.1.3.1 Khái niệm đọc
Có rất nhiều định nghĩa về đọc và mỗi định nghĩa thường chú ý về những khía cạnh khác nhau của đọc
Trong cuốn “Sổ tay thuật ngữ phương pháp dạy học tiếng Nga” (1988),
Viện sĩ M.R.Lơvôp đã định nghĩa: “Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là
quá trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu
nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng), la quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm)”
“Đọc là quá trình tương tác, trong quá trình đó, tri thức có trước về thế giới của người đọc tương tác với thông điệp được truyền đạt một cách trực tiếp hoặc gián tiếp bằng văn bản” (Smith, 1995)
Trong 2 định nghĩa nêu trên, tôi cho rằng ý kiến của M.V.Lơvôp phù hợp với việc dạy học Tập đọc ở Tiểu học Định nghĩa này thể hiện một quan điểm đầy đủ về đọc Bởi vì trong ý kiến của mình Lơvôp xem đọc là một quá trình tổng hợp của việc chuyển tải từ chữ viết sang âm thanh và giải mã chữ viết (âm thanh) - ý nghĩa Vì vậy, đọc không chỉ là “đánh vần”, phát âm thành tiếng theo đúng các kí hiệu chữ viết, cũng không phải chỉ là quá trình nhận thức để có khả năng thông hiểu những gì được đọc Đó chính là sự tổng hợp của cả hai quá trình
Trang 25họ về thế giới nói chung
“Đọc hiểu là năng lực nhận thức phức tạp yêu cầu khả năng tích hợp thông tin trong văn bản với tri thức có trước của người đọc” (Anderson và Pearson, 1984; Afflerbach, 1990; Meneghetti, Carretti và De Beni, 2006)
Thời gian gần đây, người ta đã chú trọng hơn đến những mối quan hệ quy định lẫn nhau của việc hình thành kĩ năng đọc, kĩ năng làm việc với văn bản, nghĩa là đòi hỏi tổ chức giờ tập đọc sao cho việc phân tích nội dung của bài đọc đồng thời hướng đến việc hoàn thiện kĩ năng đọc, hướng đến đọc có ý thức bài đọc Việc đọc như thế nhằm vào sự nhận thức Chỉ có thể xem là đứa trẻ biết đọc khi nó đọc mà hiểu được điều mình đọc Đọc là hiểu nghĩa của chữ viết Nếu trẻ không hiểu những điều ta đưa vào cho chúng đọc, chúng sẽ không có hứng thú học tập và không có khả năng thành công Do đó, hiểu những gì được học sẽ tạo ra động cơ, hứng thú cho việc đọc
Đọc là một quá trình biến hình thức chữ viết của văn bản thành hình thức
âm thanh Gần đây, đọc còn được biết đến là quá trình tiếp thu văn bản Người đọc phải thông hiểu nội dung, tư tưởng các kiến thức trong văn bản đã đọc
Hiệu quả của việc đọc hiểu được đo bằng khả năng thông hiểu nội dung
Trang 26đọc hiểu phải giúp cho người đọc hiểu được ý nghĩa của từ, cụm từ, câu, đoạn cũng như hiểu toàn bộ nội dung văn bản Giáo viên cần có những biện pháp giúp học sinh hiểu bài đọc và biết cách liên hệ cuộc sống vào bài đọc
1.1.3.3.Kết nối thực tiễn trong dạy đọc hiểu
Kết nối thực tiễn trong đọc hiểu văn bản là một trong những hoạt động dạy học mà ở đó GV – thông qua các PP, BP, KT dạy học – hướng dẫn HS huy động vốn sống, trải nghiệm vào quá trình đọc hiểu đồng thời vận dụng kết quả đọc hiểu vào giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn học tập và cuộc sống Hoạt dộng này không chỉ có tác dụng giúp học sinh hiểu được ý nghĩa của văn bản trên cơ chế của sự liên tưởng và nhập thân trải nghiệm mà còn mở ra cơ hội phát huy vai trò bạn đọc sáng tạo của các em Thiếu kết nối thực tiễn, bài học có nguy cơ mất đi tính ích dụng, dần dần làm giảm ý nghĩa của môn học và sự hứng thú của HS Không chú ý vấn đề kết nối thực tiễn,
GV có thể sẽ khước từ một cách vô tình mong muốn, nhu cầu được đối thoại với nhà văn, với nhân vật, được sống thêm một cuộc đời của mỗi HS
Kết nối thực tiễn trong đọc hiểu văn bản đòi hỏi GV phải tìm ra những điểm giao kết giữa văn bản và đời sống, phải phát hiện ra sợi dây liên hệ giữa
ý nghĩa của văn bản và thực tiễn cuộc sống của mỗi HS
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng về việc kết nối thực tiễn của học sinh lớp 4 trong giờ Tập đọc
Để tìm hiểu thực trạng kết nối thực tiễn của học sinh lớp 4 trong giờ
Tập đọc trong SGK Tiếng Việt 4 có đưa ra những câu hỏi để giúp học sinh kết nối với thực tiễn như sau:
Trang 27lòng nhân hậu của người Việt Nam ta
2 Tre Việt Nam (Nguyễn
Duy)
- Những hình ảnh nào của tre gợi lên những phẩm chất tốt đẹp của người Việt Nam:
+ Cần cù + Đoàn kết + Ngay thẳng
3 Những hạt thóc giống
(Truyện dân gian Khmer)
- Theo em, vì sao người trung thực là người đánh quý?
4 Chị em tôi (Theo Liên
+ Có chí thì nên + Công thành danh toại
7 Có chí thì nên (Tục ngữ) - Theo em, học sinh phải rèn luyện ý chí
gì? Lấy ví dụ về những biểu hiện của một học sinh không có ý chí
8 Tuổi Ngựa (Xuân Quỳnh) - Nếu vẽ một bức tranh minh họa bài
thơ này, em sẽ vẽ như thế nào?
9 Kéo co (Theo Toan Ánh) - Ngoài kéo co, em còn biết những trò
chơi dân gian nào khác?
Trang 2810 Chuyện cổ tích về loài
người (Xuân Quỳnh)
- Sau khi trẻ sinh ra, vì sao cần có ngay người mẹ?
11 Anh hùng Lao động Trần
Đại Nghĩa (theo Từ điển
nhân vật lịch sử Việt Nam)
- Em hiểu “nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc” nghĩa là gì?
12 Bè xuôi sông La (Vũ Duy
Thông)
- Hình ảnh “Trong đạn bom đổ nát; Bừng tươi nụ ngói hồng” nói về điều gì?
13 Sầu riêng (Mai Văn Tạo) - Sầu riêng là đặc sản của vùng nào?
14 Hoa học trò (Xuân Diệu) - Tại sao tác giả lại gọi hoa phượng là
16 Ga-vrốt ngoài chiến lũy
19 Tiếng cười là liều thuốc bổ
(Theo báo Giáo dục và
thời đại)
- Vì sao nói tiếng cười là liều thuốc bổ?
Qua sự khảo sát những bài Tập đọc trong SGK, tôi tìm thấy một số câu hỏi trong 19 bài Tập đọc có đề cập tới vấn đề kết nối thực tiễn cho học sinh Tuy đã có đề cập tới nhưng những câu hỏi còn chưa nhiều Hầu như câu hỏi
Trang 29thường rất đi sâu vào bài Tập đọc nhưng chưa có sự kết nối với cuộc sống hằng ngày của học sinh Học sinh khó có thể hiểu rõ bài Tập đọc, khó liên tưởng, tưởng tượng khi chưa liên hệ được với thực tiễn xung quanh
1.2.2 Thực trạng về việc hướng dẫn học sinh kết nối thực tiễn trong giờ Tập đọc lớp 4 của giáo viên qua giáo án
Để tìm hiểu về thực trạng hướng dẫn học sinh kết nối thực tiễn trong giờ Tập đọc lớp 4 của giáo viên qua giáo án tôi đã trực tiếp khảo sát 20 giáo án của các thầy cô trong các khu vực Hà Nội, Thanh Hóa, Thái Bình… Tôi đã tìm hiểu được như sau:
- Giáo án bài “Nếu chúng mình có phép lạ” của cô Phạm Thị Ánh Tuyết trường Tiểu học Thị Trấn A - Đông Anh - Hà Nội có câu hỏi hướng dẫn HS
kết nối thực tiễn ở cuối bài đó là: “Nếu chúng mình có phép lạ, em sẽ ước
điều gì?”
- Giáo án bài “Trăng ơi… từ đâu đến” của cô Nguyễn Thu Hằng trường Tiểu học Thị Trấn A - Đông Anh - Hà Nội đã đưa ra tranh minh họa trong bài
và hỏi: “Bức tranh trên bảng vẽ cảnh gì?”
- Giáo án bài “Hoa học trò” của cô Nguyễn Thị Kim Lan trường tiểu
học Phương Trung I - Thanh Oai - Hà Nội có đưa ra câu hỏi: “Em hiểu “Đỏ
rực” có nghĩa là như thế nào?”, “Hoa phượng nở gợi cho mỗi người học trò cảm giác gì? Vì sao?”
- Giáo án bài “Đường đi Sa Pa” của cô Nguyễn Thị Thảo trường Tiểu
học Thị Trấn A - Đông Anh - Hà Nội có đưa ra câu hỏi “Các em đã từng
được lên Sa Pa chưa? Cảnh vật ở đó như thế nào?”
- Giáo án bài “Dù sao trái đất vẫn quay!” của cô Bùi Thị Thanh Hằng
đã hướng dẫn các em liên hệ vào thực tiễn bằng cách cho học sinh xem video
về hệ mặt trời
Trang 30- Giáo án bài “Dế mèn bênh vực kẻ yếu” của cô Lê Thị Thắm đã đưa ra
cho các em câu hỏi sau: “Qua câu chuyện trên, khi em nhìn thấy bạn mình bị
bắt nạn em sẽ xử lí ra sao”
- Giáo án bài “Có chí thì nên” của cô Lê Thị Hường có hướng dẫn học sinh liên hệ vào cuộc sống bằng cách cho học sinh tìm những câu ca dao, tục ngữ nói về sự kiên trì sẽ thành công của con người
- Giáo án bài “Tre Việt Nam” của cô Nguyễn Thị Châu trường tiểu học Hòa Thạch B – Quốc Oai - Hà Nội đã đưa ra cho học sinh những hình ảnh về
cây tre Việt Nam và đưa ra câu hỏi: “Em thấy cây tre trông như thế nào?”
- Giáo án bài “Gà Trống và Cáo” của cô Nguyễn Thị Hiền trường tiểu học Hòa Thạch B – Quốc Oai - Hà Nội có giới thiệu cho học sinh những hình
ảnh về con gà trống và con cáo và đưa ra câu hỏi: “Con Gà Trống và cáo
trông như thế nào? Em có rút ra tính cách gì của hai nhân vật trên?”
Qua việc khảo sát 20 giáo án, tôi thấy có 9 giáo án có sử dụng biện pháp hướng dẫn học sinh kết nối thực tiễn trong giờ Tập đọc lớp 4 Trong 9 giáo án việc sử dụng biện pháp giúp học sinh liên hệ thực tiễn còn rất hạn chế chủ yếu giáo viên sử dụng câu hỏi và tranh ảnh minh họa Câu hỏi trong một giáo án còn rất ít, chỉ từ 1 câu tới 2 câu, tranh ảnh chủ hầu như là tranh minh họa trong sách giáo khoa vì vậy học sinh khó có thể vận dụng được những tri thức trong cuộc sống vào bài Tập đọc cũng như từ bài Tập đọc để liên hệ vào cuộc sống
Trang 31và quan tâm Đó là những cơ sở để có thể đưa ra những biện pháp hướng dẫn học sinh kết nối thực tiễn vào bài Tập đọc Tiếng Việt lớp 4
Trang 32CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH KẾT NỐI THỰC TIỄN VỚI
BÀI HỌC TRONG GIỜ TẬP ĐỌC TIẾNG VIỆT LỚP 4
2.1 Nguyên tắc xác định các biện pháp hướng dẫn học sinh kết nối thực tiễn với bài học trong giờ tập đọc Tiếng Việt lớp 4
2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu bài học
Đảm bảo mục tiêu bài học có nghĩa là khi sử dụng các biện pháp hướng dẫn học sinh trong quá trình dạy học phải phù hợp với mục tiêu bài học Sử dụng các biện pháp thường xuyên, thay đổi các biện pháp trong những giờ Tập đọc khác nhau để phù hợp với sự lĩnh hội tri thức của học sinh Vậy nên, lựa chọn biện pháp hướng dẫn học sinh phải bám sát mục tiêu, nội dung đề ra của bài học nhằm tạo điều kiện để các em phát triển tư duy một cách tối đa
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức
Đảm bảo tính vừa sức là đảm bào trong dạy học những tri thức khoa học mà học sinh cần nắm vững, phải phù hợp với trình độ, khả năng, năng lực của học sinh Nghĩa là cần phải được học sinh nắm vững trên cơ sở học sinh
đã phát huy tối đa năng lực của mình Trong quá trình dạy lớp 4, các em đang
ở trong giai đoạn cuối của bậc Tiểu học khả năng chú ý và tập trung cao nhưng tuy nhiên khi sử dụng các biện pháp thì cần lựa chọn sao cho phù hợp với trình độ nhận thức, đặc điểm tâm sinh lí và năng lực của mỗi học sinh Đảm bào tính vừa sức cho mỗi học sinh làm cho các em phát huy hết tối đa khả năng của mình
Nếu thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ thúc đẩy mạnh mẽ về mặt trí tuệ và nhân cách cho học sinh Sẽ giúp học sinh phát huy tính tích cực và tính tự giác khi học
Trang 332.1.3 Nguyên tắc đảm bảo phát huy tính tích cực của học sinh
Đảm bảo phát huy tính tích cực của học sinh đòi hỏi những biện pháp được sử dụng vào bài Tập đọc phải tạo nên sự hứng thú cho mỗi học sinh Trong quá trình dạy học, GV phải cho HS trực tiếp tham gia vào các hoạt động đó Ví dụ như khi sử dụng hệ thống câu hỏi giúp học sinh liên hệ vào đời sống thì HS phải được tham gia trả lời một cách tích cực Câu hỏi phải làm cho HS cảm thấy thích khi được trả lời
2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với đặc điểm tâm lí, nhận thức của học sinh tiểu học
Các biện pháp được sử dụng vào bài Tập đọc phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của các em Ở độ tuổi lớp 4, các em đã có tư duy hoàn thiện hơn nhưng vẫn rất dễ mất tập trung vì vậy giáo viên không nên lạm dụng các biện pháp để tránh tình trạng học sinh không đi vào nội dung của bài học Các biện pháp đưa ra không được vượt quá sự tưởng tượng, tư duy tri thức của học sinh Ví dụ khi xây dựng câu hỏi phải lấy từ thiên nhiên, cuộc sống những
sự vật, hiện tượng gần gũi với các em
2.1.5 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với đặc trưng dạy đọc hiểu
Biện pháp sử dụng phải phù hợp với đặc trưng giờ dạy Tập đọc, phù hợp với đặc thù của quá trình đọc hiểu của HS lớp 4 cũng như mối quan hệ giữa văn học và cuộc sống Trong đó, cần chú tới đặc trưng của dạy đọc hiểu
để đảm bảo tính thích hợp và hiệu quả của việc kết nối, tránh so sánh hình tượng văn học với cuộc sống, tránh tản mạn, phi văn bản
2.2 Biện pháp hướng dẫn học sinh kết nối thực tiễn với bài học trong giờ tập đọc Tiếng Việt lớp 4
2.2.1 Xây dựng hệ thống câu hỏi giúp học sinh liên hệ đời sống vào bài học
Những câu hỏi yêu cầu HS tái hiện lại bài đọc thông qua từ ngữ, hình ảnh, chi tiết mà HS cần phải ghi nhớ Những câu hỏi giúp học sinh liên tưởng,
Trang 34tưởng tượng về ý nghĩa của tác phẩm, giúp HS hiểu được đích thông báo của văn bản Câu hỏi yêu cầu đánh giá được nhân vật, thái độ, tình cảm, tư tưởng của tác giả Từ đó, dẫn dắt học sinh liên tưởng vào thực tế cuộc sống
Những câu hỏi gợi sự kết nối vào bài học ở dạng đơn giản nhất, đó là những câu hỏi ngắn ngọn về thế giới xung quanh Những câu hỏi này có thể kiểm tra phản ứng tình cảm của học sinh, ngoài ra nó còn giúp kiểm tra sự hiểu biết của HS về xã hội, thiên nhiên, con người Ví dụ như trong bài Tập đọc “Người ăn xin” của Tuốc-ghê-nhép, giáo viên có thể hỏi: Em đã gặp người ăn xin ngoài đời bao giờ chưa? Hay GV hỏi: Em thấy người ăn xin đó như thế nào? Lúc đó em có cảm xúc ra sao? Từ đó GV dẫn dắt HS vào bài tập đọc Sau khi học xong bài tập đọc “Người ăn xin” GV có thể đưa ra các câu hỏi: Nếu em là cậu bé trong bài, em sẽ làm như thế nào? Hay chi tiết nào trong bài làm em cảm động nhất? Hay qua bài Tập đọc trên, nếu đi đường có gặp người ăn xin em sẽ xử lí ra sao?
Mặt khác, GV có thể dùng những câu hỏi khơi gợi sự tưởng tượng của
HS Sự tưởng tượng càng cao thì sự hiểu về văn bản càng sâu sắc, người đọc
có thể quên đi thực tại và đắm chìm trong sự tưởng tượng của nhà văn sáng tạo ra
GV có thể đưa ra một số câu hỏi như sau
Câu 1: Qua bài tập đọc vừa học, nếu em gặp tình huống bạn mình bị người khác bắt nạt em sẽ làm gì? (Dế Mèn bênh vực kẻ yếu, TV4, tập 1)
Câu 2: Trong gia đình, người chăm lo cho gia đình nhiều nhất là ai? Hay qua bài tập đọc trên em nên làm gì để đáp trả tình yêu thương của những người luôn bên cạnh, quan tâm chúng ta? (Mẹ ốm, TV4, tập 1)
Câu 3: Em hãy kể tên những câu chuyện cổ tích mà em biết? (Truyện
cổ nước mình, TV4, tập 1)
Câu 4: Em đã từng làm gì để giúp đỡ người gặp hoàn cảnh khó khăn? (Thư thăm bạn, TV4, tập 1)
Trang 35Câu 5: Theo em, người chính trực là người như thế nào? (Một người chính trực, TV4, tập 1)
Câu 6: Em đã thấy cây tre bao giờ chưa? Trông nó như thế nào? (Tre Việt Nam, TV4, tập 1)
Câu 7: Trong cuộc sống, đã bao giờ em thấy con cáo và con gà trống chưa? Em nghĩ tính cách của hai con vật đó như thế nào? (Gà Trống và Cáo, TV4, tập 1)
Câu 8: Đã bao giờ em nói dối ba mẹ chưa? Em nghĩ nói dối sẽ gây ra những hậu quả như thế nào? (Chị em tôi, TV4, tập 1)
Câu 9: Trung Thu được tổ chức vào ngày nào? Cảm nhận của em về Trung Thu bây giờ ra sao? (Trung thu độc lập, TV4, tập 1)
Câu 10: Nếu có phép lạ em sẽ làm gì? (Nếu chúng mình có phép lạ, TV4, tập 1)
Câu 11: Trong lớp mình, bạn nào có giày ba ta không? Hãy giới thiệu cho
cô và cả lớp nghe về đôi giày của em (Đôi giày ba ta màu xanh, TV4, tập 1)
Câu 12: Sau này lớn lên em muốn làm nghề gì? (Thưa chuyện với mẹ, TV4, tập 1)
Câu 13: Nếu em được một điều ước em sẽ ước điều gì? Vì sao em lại muốn ước điều ước đó? (Điều ước của vua Mi-đát, TV4, tập 1)
Câu 14: Em sẽ làm gì để được thành tích cao trong học tập? (Ông Trạng thả diều, TV4, tập 1)
Câu 15: Tìm một số câu ca dao tục ngữ nói về việc cần có ý chí, giữ vững mục tiêu đã chọn và không nản lòng khi gặp khó khăn? (Có chí thì nên, TV4, tập 1)
Câu 16: Ước mơ sau này của em là gì? Em sẽ làm gì để thực hiện ước
mơ của mình? (Người tìm đường lên các vì sao, TV4, tập 1)
Câu 17: Qua bài tập đọc “Văn hay chữ tốt”, em rút ra bài học gì cho mình? (Văn hay chữ tốt, TV4, tập 1)
Trang 36Câu 18: Đã có em nào được chơi thả diều bao giờ chưa? Con diều của
em trông như thế nào? (Cánh diều tuổi thơ, TV4, tập 1)
Câu 19: Các bạn trong lớp mình tuổi gì? Đã bạn nhỏ nào thấy con ngựa chưa? Trông nó như thế nào? (Tuổi ngựa, TV4, tập 1)
Câu 20: Đã bạn nào chơi trò kéo co chưa? Nó được diễn ra ở đâu? Vào thời gian nào? (Kéo co, TV4, tập 1)
Câu 21: Em thường thấy quả sầu riêng ở đâu? Em được ăn nó bao giờ chưa? Có có hình dáng và mùi vị như thế nào? (Sầu riêng, TV4, tập 2)
Câu 22: Em được đi chợ Tết bao giờ chưa? Trông nó như thế nào? (Chợ Tết, TV4, tập 2)
Câu 23: Bạn nào cho cô biết loài hoa nào tượng trưng cho tuổi học trò? (Hoa học trò, TV4, tập 2)
Câu 24: Có bạn nào đã từng lên vùng núi chơi chưa? Các em đã thấy hình ảnh người mẹ địu người con trên lưng chưa? (Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ, TV4, tập 2)
Câu 25: Các em đã tham gia cuộc thi vẽ nào chưa? Cuộc thi có ý nghĩa gì? (Vẽ về cuộc sống an toàn, TV4, tập 2)
Câu 26: Qua bài thơ trên, chúng ta học hỏi được những gì từ những người chiến sĩ? (Bài thơ về tiểu đội xe không kính, TV4, tập 2)
Câu 27: Qua bài Tập đọc Thắng Biển các em biết được tinh thần của con người trước khó khăn? (Thắng biển, TV4, tập 2)
Câu 28: Chúng ta học tập những đức tính gì của cậu bé Ga-vrốt? vrốt ngoài chiến lũy, TV4, tập 2)
(Ga-Câu 29: Trong thực tiễn đời sống, Các em cần làm gì để bảo vệ ý kiến của mình? (Dù sao trái đất vẫn quay! , TV4, tập 2)
Câu 30: Qua bài Tập đọc, hình ảnh con sẻ mẹ dũng cảm lao xuống cứu con làm em nghĩ tới điều gì? (Con sẻ, TV4, tập 2)