1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XÁC ĐỊNH MẬT ĐỘ VÀ TẦN SỐ CHO ĂN TRONG ƯƠNG CÁ LĂNG NHA (Mystus wyckioides) GIAI ĐOẠN TỪ 3 NGÀY TUỔI ĐẾN 31 NGÀY TUỔI TRONG HỆ THỐNG NƯỚC TUẦN HOÀN KHÉP KÍN

114 127 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA THỦY SẢN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP XÁC ĐỊNH MẬT ĐỘ VÀ TẦN SỐ CHO ĂN TRONG ƯƠNG CÁ LĂNG NHA Mystus wyckioides GIAI

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA THỦY SẢN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

XÁC ĐỊNH MẬT ĐỘ VÀ TẦN SỐ CHO ĂN TRONG ƯƠNG CÁ

LĂNG NHA (Mystus wyckioides) GIAI ĐOẠN TỪ 3 NGÀY TUỔI

ĐẾN 31 NGÀY TUỔI TRONG HỆ THỐNG NƯỚC

TUẦN HOÀN KHÉP KÍN

Sinh viên thực hiện : TRẦN THỊ THANH TRÚC Ngành : NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Chuyên ngành : NGƯ Y

Niên khóa : 2005 - 2009

Tháng 08/2009

Trang 2

XÁC ĐỊNH MẬT ĐỘ VÀ TẦN SỐ CHO ĂN TRONG ƯƠNG

CÁ LĂNG NHA (Mystus wyckioides) GIAI ĐOẠN TỪ 3 NGÀY TUỔI

ĐẾN 31 NGÀY TUỔI TRONG HỆ THỐNG NƯỚC TUẦN HOÀN KHÉP KÍN

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Tôi xin chân thành cảm ơn:

Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Tp.HCM

Ban Chủ Nhiệm Khoa Thủy Sản đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi hoàn thành khoá học này

Các thầy cô giáo đã giảng dạy chúng tôi trong suốt thời gian còn ngồi trên ghế của Trường Đại học Nông Lâm Tp.HCM

Xin gửi lòng biết ơn đến gia đình đã tạo mọi điều kiện, hỗ trợ vật chất lẫn tinh thần cho chúng tôi từ lúc mới vào ghế nhà trường cho đến khi hoàn thành khoá học Chúng tôi xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Ngô Văn Ngọc đã tận tình chỉ bảo, tạo mọi điều kiện giúp chúng tôi hoàn thành khoá luận này

Chân thành cảm ơn các anh nhân viên trong Trại Thực Nghiệm Thuỷ Sản, Trường Đại học Nông Lâm Tp.HCM đã giúp đỡ chúng tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài này

Cảm ơn các bạn trong lớp DH05NY đã ủng hộ và giúp đỡ chúng tôi trong thời gian qua

Do đây là lần đầu thực hiện đề tài nên không tránh khỏi thiếu sót, chúng tôi xin đón nhận những ý kiến đóng góp, phê bình của quý thầy cô và các bạn để khoá luận này được hoàn chỉnh hơn

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài nghiên cứu “Xác định mật độ và tần số cho ăn trong ương cá lăng nha

(Mytus wyckioides) giai đoạn từ 3 ngày tuổi đến 31 ngày tuổi trong hệ thống nước tuần

hoàn khép kín” được tiến hành tại Trại Thực Nghiệm Thuỷ Sản, Trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh từ tháng 4/2009 đến tháng 8/2009

Thí nghiệm được tiến hành trong hệ thống nước tuần hoàn khép kín, gồm 6 nghiệm thức được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 2 yếu tố là mật độ và tần số cho ăn Mỗi nghiệm thức gồm 3 lô Trong đó:

+ NT I: Mật độ 4 con/L, cho ăn 3 lần/ngày

+ NT II: Mật độ 4 con / L, cho ăn 4 lần/ngày

+ NT III: Mật độ 5 con/L, cho ăn 3 lần/ngày

+ NT IV: Mật độ 5 con/L, cho ăn 4 lần/ngày

+ NT V: Mật độ 6 con/L, cho ăn 3 lần/ngày

+ NT VI: Mật độ 6 con/L, cho ăn 4 lần/ngày

Kết quả nghiên cứu cho thấy:

¾ Về chiều dài:

- Chiều dài trung bình: Khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê giữa NT I so với

NT V (P > 0,05); giữa NT II với NT VI (P > 0,05), với cùng số lần cho ăn nhưng mật

độ nuôi khác nhau đã ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của cá

+ Đợt I: NT I có mức tăng chiều dài trung bình là 4,31cm; NT II là 4,51 cm; NT III là 4,13 cm; NT IV là 4,40 cm; NT V là 3,90 cm; NT VI là 4,14 cm

+ Đợt II: NT I có mức tăng chiều dài trung bình là 4,99 cm; NT II là 4,82 cm;

Trang 5

- Tỷ lệ phân đàn theo chiều dài: Giữa các NT trong cùng đợt khác biệt không có

ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05) Ở Đợt I, tỷ lệ phân đàn thấp nhất là NT V (5,54%), cao nhất là NT III (8,90%) và ở Đợt II, NT II có tỷ lệ phân đàn về chiều dài thấp nhất (5,7%) và cao nhất là NT IV (10,4%)

¾ Tỷ lệ sống:

Ở Đợt I, NT II có tỷ lệ sống cao nhất 85,46 % và thấp nhất là NT I (77,35%) Ở Đợt II, tỷ lệ sống thu nhận được cao hơn Đợt I Tỷ lệ sống thấp nhất là NT V (91,9%), cao nhất là NT I (96,25%), khác biệt giữa các NT là không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05)

Trang 7

2.3.2.3 Sự khử nitrate (quá trình phản nitrat) 9

Chương 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10

4.1 Các Yếu Tố Môi Trường Tác Động lên Sự Tăng Trưởng của Cá 18

Trang 8

5.1 Kết Luận 38

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH SÁCH HÌNH VÀ ĐỒ THỊ

Đồ thị 4.1: Biến động nhiệt độ trong thời gian nuôi ở hai đợt 19

Đồ thị 4.4: Tốc độ tăng chiều dài của cá ở các NT qua hai đợt thí nghiệm 24

Đồ thị 4.5: Mức tăng chiều dài tương đối của các nghiệm thức 25

Đồ thi 4.7: Tốc độ tăng trọng lượng của cá ở các NT qua hai đợt thí nghiệm 30

Đồ thị 4.8: Tỷ lệ tăng trọng tương đối của cá ở các nghiệm thức 31

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Thành phần thức ăn trong ống tiêu hóa của cá lăng (Hemibarus gutatus) trên hệ

Bảng 2.2: Thành phần hóa học của Moina macrocopa được biểu diễn theo phần trăm khối

Bảng 3.1: Công suất của hệ thống lọc sinh học trong hệ thống nước tuần hoàn khép kín 12

Bảng 4.1 Các yếu tố môi trường nước trong suốt quá trình thí nghiệm 18

Bảng 4.2: Chiều dài trung bình (cm) của cá lăng nha qua hai đợt thí nghiệm 22

Bảng 4.3: Tỷ lệ tăng chiều dài tương đối (%) của cá ở các NT 25

Bảng 4.4: Mức tăng chiều dài tuyệt đối (cm/ngày) của cá ở các NT 27

Bảng 4.5: Trọng lượng trung bình (g) của cá lăng nha trong hai đợt thí nghiệm 30

Bảng 4.8: Tỷ lệ sống (%) của cá thí nghiệm ở các nghiệm thức trong Đợt I 33

Bảng 4.9: Tỷ lệ sống (%) của cá thí nghiệm ở các nghiệm thức trong Đợt II 34

Bảng 4.10: Tỷ lệ phân đàn theo chiều dài (%) của cá trong các NT ở Đợt I 35

Bảng 4.11: Tỷ lệ phân đàn theo chiều dài (%) của cá ở Đợt II 35

Bảng 4.12: Tỷ lệ phân đàn theo trọng lượng (%) của cá ở Đợt I 36

Bảng 4.13: Tỷ lệ phân đàn theo trọng lượng (%) của cá ở Đợt II 36

Trang 11

Tuy nhiên nguồn thủy sản ngoài tự nhiên đã giảm mạnh, việc đánh bắt ngày càng sa sút không đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng Chính điều này đã tạo nên động lực cho nghề nuôi trồng thủy sản phát triển và trở thành nghề được nhiều người quan tâm, nhất là trong giai đoạn dân số tăng nhanh như hiện nay

Nắm bắt được nhu cầu trên, ngày càng có nhiều nghiên cứu và phát triển các loài thủy sản mới với sản lượng và chất lượng đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng Trong những năm gần đây cá lăng nha là một đối tượng được người nuôi chú ý với đặc điểm tăng trưởng nhanh, thịt trắng, ngon, đem lại giá trị kinh tế cao

Để có được hiệu quả kinh tế thì bước đầu người nuôi phải có con giống sạch, tốt Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là với những vùng nuôi có diện tích khiêm tốn, nguồn nước bị hạn chế thì việc có thể sản xuất ra những con giống chất lượng cao, chi phí vừa phải và thích hợp với vùng nuôi hay không?

Đáp ứng từ thực tiễn trên, được sự cho phép của Khoa Thuỷ Sản Trường Đại

học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Xác

định mật độ và tần số cho ăn trong ương cá lăng nha (Mystus wyckioides) giai

đoạn từ cá bột 3 ngày tuổi lên cá giống 31 ngày tuổi trong hệ thống nước tuần hoàn khép kín”

Trang 12

1.2 Mục Tiêu Đề Tài

Xác định tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ phân đàn, tỷ lệ sống của cá lăng nha khi ương

ở mật độ và tần số cho ăn khác nhau trong hệ thống nước tuần hoàn khép kín; tìm ra mật độ và tần số cho ăn thích hợp trong việc ương cá lăng nha ở giai đoạn cá bột 3 ngày tuổi đến 31 ngày tuổi nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao trong việc ương ca lăng giống

Trang 13

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Đặc Điểm Sinh Học Cá Lăng Nha

2.1.1 Phân loại

Ngành: Chordata

Ngành phụ: Vertebrata

Lớp: Pisces Lớp phụ: Osteichthyes Bộ: Siluriformes Họ: Bagridae

Giống: Mystus

Loài: Mystus wyckioides (Chaux và Fang, 1949)

Tên tiếng Anh: Asian Red-tailed catfish

Tên Việt Nam: Cá lăng nha

2.1.2 Đặc điểm hình thái

Cá lăng nha có thân dài, đầu dẹp ngang, số lược mang 11 - 15, đuôi dẹp bên Có bốn đôi râu: một đôi râu mũi kéo dài đến mắt, hai đôi râu cằm, một đôi râu hàm trên màu trắng đục, to, kéo dài đến giữa vây hậu môn Miệng ở dưới rộng, hướng ra phía trước Môi trên dày và nhô hơn môi dưới, hàm trên và hàm dưới đều có răng nhỏ, nhọn Khoảng cách hai ổ mắt rộng, màng mang tách khỏi eo mang Vây lưng có một tia cứng to khoẻ, phía sau có răng cưa và 7 - 8 tia mềm, mép vây lưng kéo dài đụng gốc vây mỡ Vây ngực có một tia cứng và 6 - 7 tia mềm Vây hậu môn có 12 - 14 tia mềm Thân màu xám nhạt hoặc xanh đen, phần bụng dưới có màu trắng Vây đuôi và mép các vây như: vây lưng, vây ngực, vây bụng và vây hậu môn ở cơ thể trưởng thành

cá có chiều dài từ 15 cm trở đi có màu đỏ, ở cá ấu niên vây đuôi có màu đen hoặc xanh

Trang 14

đen Cá lăng nha có kích thước khoảng 95 cm (đôi khi tìm thấy cá đạt kích thước 130 cm) (Chaux và Fang, 1949; trích bởi Lê Đại Quan, 2004)

+ Hàm lượng oxy hòa tan: DO > 3 mg/L

2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng

Theo Sterba (1962) (trích bởi Mai Thị Kim Dung, 1998) cá lăng nha thuộc nhóm cá dữ

Khi cá còn nhỏ ăn côn trùng trong nước, ấu trùng muỗi, giun ít tơ, rễ cây, cá lớn ăn tôm, cua, cá con (Ngô Trọng Lư và Thái Bá Hồ, 1998)

Theo Phạm Báu và Nguyễn Đức Tuân (1998), cá lăng có cấu tạo bộ máy tiêu hóa của cá dữ điển hình, miệng rộng, răng hàm sắc, nhọn, dạ dày lớn, tỷ lệ chiều dài ruột trên chiều dài thân là 89,35% Phân tích 25 mẫu thức ăn trong ruột cá, chỉ số no đầy bằng 1,18; thành phần chính là thức ăn động vật (trích bởi Đào Dương Thanh và Đặng Thị Quyên Trinh, 2004)

Trang 15

Bảng 2.1: Thành phần thức ăn trong ống tiêu hóa của cá lăng (Hemibarus gutatus)

trên hệ thống sông Hồng (Nguồn: Phạm Báu và Nguyễn Đức Tuân, 1998)

Loại thức ăn Cá Tôm trùngCôn Cua Giun vật trên Động

cạn khác

Mùn

bã Hạt Tần số bắt gặp

Phần trăm theo

khối lượng 15,8 26,2 36 4 3,2 3,6 3,2 8

(Trích bởi Đồng Thị Hồng Diệp, 2008)

2.1.6 Đặc điểm sinh trưởng

Để đạt được tăng trưởng về chiều dài và trọng lượng thì ngoài yếu tố di truyền (đặc trưng theo từng loài cá) còn phụ thuộc vào điều kiện môi trường sống, tình trạng sức khỏe, giai đoạn sống, giới tính và lượng thức ăn

Cá lăng nha có thể đạt chiều dài 130 cm, thông thường là 50 cm

Theo Ngô Văn Ngọc và Lê Thị Bình (2007), trong lòng hồ Trị An (Đồng Nai) thỉnh thoảng ngư dân có thể bắt được những cá thể nặng đến 10 kg Vào cuối tháng 04/2005, một ngư dân bắt được cá cái lên đến 18 kg (Trích bởi Nguyễn Chí Tâm, 2008)

2.1.7 Đặc điểm sinh sản

Sinh sản là khâu quan trọng để đảm bảo duy trì nòi giống Khi cá đạt chiều dài

từ 30 cm trở lên thì có thể tham gia sinh sản

Cá vào bờ sinh sản sau khi nước lên, mùa sinh sản từ tháng 6 đến tháng 7 và chỉ sinh sản 1 lần trong năm (Mai Thị Kim Dung, 1998) Cá đẻ trứng dính vào các vật thể trong nước (vật thể nằm ngang) Đường kính trứng chín mùi đạt khoảng 1 mm (theo Smith, 1945; trích bởi Mai Thị Kim Dung, 1998)

Theo Ngô Văn Ngọc (2007) thì:

o Tuổi thành thục của cá lăng nha là 3 tuổi

o Cá bố mẹ có trọng lượng khoảng 1,5 - 2,5 kg

o Sức sinh sản thực tế 15.000 - 20.000 trứng/kg cá cái

Trang 16

o Thời gian phát triển phôi khoảng 24 giờ ở nhiệt độ ấp trứng là 31oC với nước chảy liên tục

o Mùa vụ sinh sản của cá lăng nha có thể từ tháng 3 – 11

o Thời gian tái phát dục là 2,5 - 3 tháng

o Trong điều kiện nuôi nhân tạo có thể cho cá sinh sản quanh năm

Ở cá lăng nha sự phân biệt về giới tính có thể nhận biết thông qua những đặc điểm bên ngoài như: Cá đực có gai sinh dục dài, nhọn ở phần đầu mút, khi thành thục đầu mút ửng hồng; cá cái có phần bụng to bè ra hai bên nếu nhìn thẳng từ trên xuống

có lổ sinh dục tròn màu hồng và hơi lồi ra

2.2 Thức Ăn cho Cá Lăng Nha

Thức ăn là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự tăng trưởng của

cá Muốn đạt được hiệu quả trong ương nuôi thì phải lựa chọn thức ăn phù hợp với tập tính, giai đoạn phát triển, nhu cầu và kích cỡ miệng cá Thức ăn được chia thành 3 loại: thức ăn tươi sống, thức ăn tự chế và thức ăn công nghiệp

Trong đề tài này chúng tôi xin nhắc đến 2 loại thức ăn liên quan đến quá trình ương cá lăng nha đó là:

• Thức ăn tươi sống: Moina, trùn chỉ

• Thức ăn tự chế

2.2.1 Moina

Moina macrocopa (hay còn gọi là bobo, trứng nước) thuộc nhóm giáp xác bậc

thấp Entomostraca, kích thước cơ thể từ 0,7 - 1 mm, xuất hiện với mật độ cao ở các

ao, hồ, vũng nước, dòng chảy chậm và đầm lầy nơi có nhiều chất hữu cơ, tập trung nhiều ở những nơi nước ấm có đầy đủ điều kiện phát triển

Chúng có khả năng thích nghi với nguồn nước kém chất lượng, nơi nồng độ oxy hoà tan từ 0 cho đến bão hoà, thường sinh sôi với số lượng lớn trong môi trường nước ô nhiễm như cống rãnh

Moina có khả năng chịu đựng được nhiệt độ rất cao và biến đổi nhiệt độ trong

ngày từ 5 – 31°C, nhiệt độ tối ưu cho sự phát triển của chúng là 24 – 31°C

Giá trị dinh dưỡng của Moina macrocopa phụ thuộc vào độ tuổi và loại thức ăn, lượng protein ở Moina macrocopa chiếm khoảng 50% trọng lượng khô, cá thể trưởng

Trang 17

thành chứa nhiều chất béo hơn còn non (lượng chất béo chiếm 20 – 27% trọng lượng khô ở cá thể cái trưởng thành và 4 – 6% ở cá thể còn non)

Theo Trần Văn Vỹ (1995), thành phần hóa học của Moina macrocopa được

biểu diễn theo phần trăm khối lượng tươi như Bảng 2.2

Bảng 2.2: Thành phần hóa học của Moina macrocopa được biểu diễn theo phần trăm

khối lượng tươi

Với khả năng chịu đựng tốt, dễ tìm, sẵn có, giá thành rẻ, hiệu quả không thua gì

so với Artemia, Moina là điểm thuận lợi đối với các trang trại sản xuất giống cá

2.2.2 Trùn chỉ (Tubiflex tubiflex)

Tubifex tubifex (thuộc họ Tubificidae) còn được gọi là trùn chỉ, sâu bùn, là loại

thức ăn được sử dụng phổ biến trong các trại sản xuất giống Chúng có đường kính khoảng 0,1 - 0,3 mm, chiều dài khoảng 1 - 5 cm nên thích hợp cho cá con và các loài

cá có kích thước nhỏ

Môi trường sống của chúng là những nơi sông hồ có nhiều chất cặn bã lắng tụ,

vi khuẩn, vật chất lơ lững, nơi có nguồn thức ăn dồi dào Trùn chỉ có thể tồn tại trong môi trường bị ô nhiễm chất hữu cơ nặng, thiếu oxy nhờ vào khả năng vận chuyển oxy của hemoglobin hay khi trong đều kiện môi trường khắc nghiệt như hạn hán, thiếu thức ăn chúng vẫn sống sót do khả năng hình thành nang bảo vệ)

Thành phần dinh dưỡng của Tubifex biểu diễn theo phần trăm khối lượng:được

trình bày qua Bảng 2.3

Bảng 2.3: Thành phần dinh dưỡng của trùn chỉ (Trích bởi Nguyễn Ngọc Diễm, 2005)

2.2.3 Thức ăn tự chế

Thức ăn tự chế sử dụng những nguyên liệu như cá tạp, bột cá, cám gạo, đậu nành, đậu phộng, phối trộn với bột gòn, vitamin, khoáng chất, hóa chất trị bệnh (nếu

Trang 18

có) theo một tỷ lệ hợp lý để đảm bảo vệ sinh, hàm lượng dinh dưỡng nhằm thỏa mãn nhu cầu của cá, đồng thời hạn chế gây ô nhiễm môi trường do thức ăn dư thừa tan rã nhanh

Trong quá trình chế biến thức ăn cho cá cần lưu ý đến nguồn nguyên liệu ban đầu như sau:

• Cá tạp: phải tươi và có chất lượng tốt

• Bột cá: không bị nấm mốc, không có mùi kháng

• Bột đậu nành, đậu phộng, cám gạo,…: không bị nấm mốc, mọt

• Hóa chất sử dụng phải có nguồn gốc rõ ràng, không có trong danh mục cấm Nếu sử dụng kháng sinh thì phải đúng liều lượng, liệu trình

• Nguyên liệu phải được lưu giữ ở nơi khô thoáng, sạch sẽ

• Khu vực chế biến phải được vệ sinh sạch sẽ

• Thức ăn sau khi được chế biến phải được bảo quản đúng phương pháp

2.3 Giới Thiệu Hệ Thống Nước Tuần Hoàn Khép Kín

Hiện nay, mô hình sản xuất trong hệ thống nước tuần hoàn khép kín được sử dụng khá phổ biến, nhất là trong các trại sản xuất giống, bể buôi cá cảnh với đặc điểm hạn chế sự thay nước, giảm nguy cơ lây nhiễm mầm bệnh từ bên ngoài

Tuy nhiên để hoạt động có hiệu quả thì hệ thống phải hội tụ đủ các yếu tố: sục khí, loại bỏ vật chất lơ lửng, lọc sinh học để loại bỏ các khí độc như ammonia, nitrite

và tăng cường hệ đệm (Nguyễn Chí Tâm, 2008)

2.3.1 Nguyên lý

Nguyên lý hoạt động của màng lọc sinh học dựa trên quá trình hoạt động của vi sinh vật ở màng lọc sinh học, oxy hóa các chất bẩn có trong nước Các màng lọc là nơi tập trung vi sinh vật hiếu khí, kỵ khí và kỵ khí tùy nghi Các vi sinh vật hiếu khí tập trung phần lớn ở bên ngoài màng lọc, tại đây chúng phát triển và gắn với các giá mang

là các vật liệu lọc (được gọi là sinh trưởng tăng kết hay sinh trưởng dính bám) (Trịnh Ngọc Tuấn, 2005; trích bởi Nguyễn Chí Tâm, 2008)

2.3.2 Các quá trình sinh hóa xảy ra bên trong màng lọc

Theo Nguyễn Việt Thắng (1996) (trích bởi Nguyễn Chí Tâm, 2008) trong lọc sinh học xảy ra 3 quá trình sinh hóa là: sự khoáng hóa, sự nitrate hóa và sự khử nitrate

Trang 19

2.3.2.1 Sự khoáng hóa

Là giai đoạn đầu tiên của lọc sinh học, được thực hiện bởi nhóm vi sinh vật dị dưỡng và tự dưỡng Chất hữu cơ nhiễm bẩn trong nước thải bị oxy hóa bởi quần thể vi sinh vật ở màng sinh học Màng này thường dày khoảng 0,1 - 0,4 mm Các chất hữa cơ trước hết bị phân hủy bởi vi sinh vật hiếu khí thành ammonia

Vì ammonia có tính độc nên chúng sẽ được chuyển hóa thành dạng ít độc hơn nhờ sự tham gia của một số vi khuẩn nitrat hóa (là loại vi khuẩn tự dưỡng hóa năng bắt buộc)

2.3.2.2 Sự nitrate hóa

Theo Tô Minh Châu và ctv (1999), quá trình nitrate hóa gồm 2 giai đoạn chính, mỗi giai đoạn do một nhóm vi sinh vật chuyên biệt đảm trách như sau:

Giai đoạn nitrite hóa:

NH4+ sinh ra do sự phân giải các hợp chất hữu cơ có chứa nitơ (quá trình thối

rửa) sẽ bị một nhóm các vi khuẩn trong đất (Nitrosomonas, Nitrosococccus (dạng cầu),

Nitrospira (dạng xoắn) oxyd hóa thành NO2-

2 NH4+ +1/2 O2 → NO2-+ 2H+ + Năng lượng

Giai đoạn nitrate hóa:

NO2- vừa được sinh ra trong môi trường sẽ tiếp tục bị oxyd hóa bởi nhóm vi

khuẩn nitrate hóa như: Nitrobacter, Nitrococcus,

NO2- + 1/2O2 → NO3- + Năng lượng

2.3.2.3 Sự khử nitrate (quá trình phản nitrat)

Sau khi bị phân hủy bởi các vi khuẩn hiếu khí, nước hết oxy sẽ thấm sâu bên trong và bị phân hủy bởi các vi sinh vật kỵ khí bắt buộc hoặc các vi khuẩn hiếu khí chuyển sang hô hấp kỵ khí khi thiếu oxy

Theo Vương Thị Việt Hoa và ctv (1999), một số loài trong giống Pseudomonas

và Bacillus có khả năng phản nitrate, điển hình là: Pseudomonas denitificans, P

aeroginosa, P florescens, Bacillus lichenifomis Một số vi khuẩn tự dưỡng hóa năng

cũng có khả năng phản nitrate: Thiobacillus denitrificans, Hydrogennomonas agilis,

Sporovibrio ferroxydans

Trang 20

Chương 3

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời Gian và Địa Điểm Thực Hiện Đề Tài

Đề tài được thực hiện trong thời gian từ ngày 16/04/2009 đến ngày 08/07/2009 tại Trại Thực Nghiệm Khoa Thủy Sản, Trường Đại học Nông Lâm Tp.HCM

3.2 Đối Tượng Nghiên Cứu

Đối tượng nghiên cứu là cá lăng nha giống 3 ngày tuổi Cá giống được sản xuất tại Trại Thực Nghiệm Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Nông Lâm Tp.HCM

3.3 Vật Liệu và Phương Pháp Nghiên Cứu

3.3.1 Hệ thống nước tuần hoàn khép kín

3.3.1.1 Mô tả hệ thống tuần hoàn khép kín

Hình 3.1: Sơ đồ hệ thống tuần hoàn khép kín (Nguyễn Chí Tâm, 2008)

Trang 21

• Máy bơm chìm

• Bộ sưởi nhiệt

• Bể lọc sinh học gồm 3 ngăn: ngăn chứa nước chưa xử lý, ngăn xử lý nước, ngăn chứa nước đã xử lý được phân cách với nhau bởi tấm lọc

Cấu tạo bể lọc sinh học được mô tả như Hình 3.2

Hình 3.2: Cấu tạo hệ thống lọc sinh học (Nguyễn Chí Tâm, 2008)

Trang 22

Nước từ hồ Đất được bơm lên các bồn của trại, tại đây nước được xử lý bằng

BKC với nồng độ 1,5 ppt sau 3 ngày được cấp trực tiếp lên hệ thống các bể nuôi

Nước chảy liên tục trong hệ thống dựa trên áp lực chênh lệch mực nước và máy bơm

chìm

Đầu tiên, nước trong hệ thống nuôi ở vị trí cao hơn nên dễ dàng chảy vào ngăn

chứa nước chưa xử lý Các chất thải như phân và thức ăn thừa sẽ lắng xuống đáy do

dòng chảy xoáy bên trong ngăn này, sau đó chúng sẽ được lấy ra ngoài bằng ống

siphon Nước sẽ tiếp tục đi qua tấm lọc cơ học để đến ngăn xử lý Tấm lọc cơ học

được làm bằng bông vừa có tác dụng lọc các chất bẩn vừa là nơi để các vi khuẩn có lợi

bám vào Bên trong ngăn xử lý là các giá thể bằng PVC Tại đây khí được sục liên tục

để cung cấp đầy đủ oxy cho các phản ứng sinh hóa xảy ra Từ ngăn xử lý nước tiếp tục

đi qua một tấm lọc cơ học rồi mới đến ngăn chứa nước cấp vào hệ thống nuôi Máy

bơm chìm được đặt tại đấy sẽ hút nước lên hệ thống nuôi để bắt đầu một vòng tuấn

hoàn mới

3.3.1.3 Công suất của hệ thống lọc sinh học

Công suất của hệ thống lọc sinh học được trình bày theo Bảng 3.1

Bảng 3.1: Công suất của hệ thống lọc sinh học trong hệ thống nước tuần hoàn khép

kín

(cái)

Diện tích (m2)

Thể tích (m3)

Công suất (W)

Trang 23

3.3.2 Các vật liệu và trang thiết bị khác

- Thau, vợt, xô, muỗng, chén, giấy kẻ ô li

- Cân đồng hồ loại 1 kg

- Cân điện tử hai số lẻ

- Máy đo pH, DO, nhiệt độ

- Máy chụp hình kỹ thuật số

- Ống dùng siphon chất bẩn, bàn chải

- Máy bơm chìm, máy thổi khí, máy phát điện

- Hóa chất sử dụng: Sodium bicarbonate (NaHCO3) để nâng pH và ổn định pH

ở giá trị 7

3.4 Bố Trí Thí Nghiệm

Cá lăng nha giống 3 ngày tuổi có chiều dài trung bình là 0,9 cm trọng lượng trung bình là 0,02 g được cho trực tiếp vào 18 bể Thí nghiệm gồm 6 nghiệm thức (NT), mỗi NT gồm 3 lô được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 2 yếu tố là thức ăn và mật độ ương Toàn bộ thí nghiệm được thực hiện trong hai đợt vào thời điểm khác nhau

Mỗi lô được bố trí trong bể composite với thể tích nước 200 L, thí nghiệm được

bố trí như sau:

- Về mật độ:

+ NT I và NT II: 4 cá bột/L + NT III và NT IV: 5 cá bột/L + NT V và NT VI: 6 cá bột/L

Trang 24

Hình 3.4: Hệ thống bể bố trí thí nghiệm Bảng 3.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm

VI.3 II.1 VI.1 IV.2 I.1 V.1 VI.2 V.2 III.2 VI.3 III.3 I.3 II.3 II.2 IV.1 I.2 V.3 III.1

Ban đầu do cá còn nhỏ nên chúng tôi cho cá ăn Moina đến ngày thứ 7 thì thay

dần bằng trùn chỉ Đến ngày thứ 17 chúng tôi cho cá ăn thức ăn nhân tạo với thành phần 75% cá tạp: 25% thức ăn công nghiệp

Khẩu phần: ban đầu cho ăn với khẩu phần bằng 10% trọng lượng cơ thể sau đó theo dõi để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp với từng lô

Định kỳ 7 ngày kiểm tra trọng lượng (g) và chiều dài (cm) của cá Bắt ngẫu nhiên 10 con trong mỗi lô ra kiểm tra

Tỷ lệ phân đàn, tỷ lệ sống được tính sau khi kết thúc thí nghiệm

3.5 Chuẩn Bị Bể Nuôi và Thức Ăn

3.5.1 Chuẩn bị bể nuôi

Trước khi thả nuôi, chúng tôi tiến hành vệ sinh các bể nuôi, bể lọc sinh học, kiểm tra các đường ống dẫn nước, ống dẫn khí Sau đó cho nước đã được xử lý bằng BKC trước đó vào các bể nuôi, bể chứa, bể lọc Tại ngăn chứa nước đã xử lý của bể lọc chúng tôi đặt thiết bị sưởi nhiệt để giữ ổn định nhiệt độ nước trong hệ thống

Vận hành hệ thống tuần hoàn khép kín trước 15 ngày thả nuôi để hệ thống hoạt động ổn định, để vi sinh vật có lợi tăng sinh giúp duy trì chất lượng nước ổn định

Trang 25

3.6 Chăm Sóc và Quản Lý Cá Thí Nghiệm

Hàng ngày theo dõi hoạt động của cá, chất lượng nước trong bể, lượng thức ăn

để điều chỉnh cho thích hợp với từng lô, đảm bảo cá không bị đói và không còn thức

ăn thừa làm ô nhiễm môi trường nước nuôi ảnh hưởng đến cá

Quan sát hoạt động ăn, bơi lội của cá, số lượng cá chết để kịp thời xử lý

Khi cho ăn chúng tôi tắt máy để kiểm soát lượng thức ăn thừa Theo dõi hoạt động ăn của cá trong vòng 30 phút Sau đó, kiểm tra lượng thức ăn thừa để điều chỉnh lượng cho ngày hôm sau Thức ăn thừa được thu lại bằng cách siphon

Thường xuyên vệ sinh bể nuôi để tránh chất bẩn bám vào thành và đáy bể là nơi

cư trú của mầm bệnh

Định kỳ siphon đáy bể lọc tránh lượng chất hữu cơ trong nước cao

3.7 Các Yếu Tố Theo Dõi

- Chất lượng nước:

Các chỉ tiêu chất lượng nước trong thí nghiệm cần theo dõi như:

+ Nhiệt độ, DO: Đo 2 lần trong ngày vào 7 giờ và 17 giờ bằng máy đo hiệu HANA Đơn vị mg/L

+ pH: Đo 2 lần trong ngày vào 7 giờ và 17 giờ bằng máy đo hiệu Ezdo + Ammonia tổng cộng: Đo 1 tuần/lần vào thứ sáu bằng NH4+/NH3 (Sera

NH3 Test kit-Germany) Đơn vị mg/L

Trang 26

- Tăng trưởng:

Hàng tuần, chúng tôi tiến hành bắt ngẫu nhiên mỗi lô 10 con để kiểm tra tăng

trưởng bằng cách đo chiều dài và cân trọng lượng

Tăng trưởng về chiều dài

Tỷ lệ tăng chiều dài tương đối:

Tỷ lệ tăng chiều dài tương đối (%) = (L2 - L1) * 100 / L1

Tăng chiều dài tuyệt đối:

Tăng chiều dài tuyệt đối (cm/ngày) = (L2 - L1) / (T2 - T1)

Trong đó: L1: Chiều dài lúc cá thí nghiêm (cm)

L2: Chiều dài cá cuối đợt thí nghiệm (cm)

T1: Thời điểm đầu thí nghiệm

T2: Thời điểm cuối thí nghiệm

Tăng trưởng về trọng lượng

Tỷ lệ tăng trọng tương đối:

Tỷ lệ tăng trọng lượng tương đối (%) = (W2 - W1) x 100 / W1

Tăng trọng tuyệt đối:

Tăng trọng tuyệt đối (g/ngày) = (W2 - W1) x (T2 - T1)

Trong đó:

W1: Trọng lượng cá khi thí nghiệm (g)

W2: Trọng lượng cá cuối thí nghiệm (g)

T1: Thời điểm đầu thí nghiệm

T2: Thời điểm cuối thí nghiệm

- Tỷ lệ phân đàn:

Tỷ lệ phân đàn được tính bằng hệ số biến động Hệ số biến động được tính theo công thức:

Cv = S / x * 100 Trong đó:

Cv: hệ số biến động (%)

S: độ lệch chuẩn

x: chiều dài hay trọng lượng trung bình (cm hay g)

Trang 28

Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Các Yếu Tố Môi Trường Tác Động lên Sự Tăng Trưởng của Cá

Nước là môi trường sống của cá Do đó, khi các yếu tố thủy lý hóa thay đổi đều

có tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp lên cá, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng, hoạt động trao đổi chất, hô hấp, bắt mồi và hấp thụ thức ăn, …

Sau đây là kết quả của một số yếu tố thủy lý hóa chủ yếu được đo trong quá trình nuôi được trình bày qua Bảng 4.1

Bảng 4.1 Các yếu tố môi trường nước trong suốt quá trình thí nghiệm

Thời gian Các chỉ tiêu

và đột ngột có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và phát triển của tôm cá (Nguyễn Phú Hòa, 2000)

Trang 29

Nhiệt độ trong quá trình thí nghiệm dao động trong khoảng từ 27 – 31oC Có những ngày nhiệt độ xuống thấp chúng tôi quan sát thấy hoạt động của cá bị ảnh hưởng như: cá giảm ăn, ít hoạt động

Đồ thị 4.1: Biến động nhiệt độ trong thời gian nuôi ở hai đợt 4.1.2 Độ pH

pH là chỉ tiêu thủy lý quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng nước Nó liên quan đến hàm lượng oxy hòa tan trong nước cũng như CO2, liên quan đến tính độc của NH3, H2S

Khi pH thấp (pH < 5) cá khó thải CO2 qua mang, tính độc của H2S tăng

Khi pH tăng cao (pH > 9) sẽ làm phá hủy cấu trúc mô và các tế bào ở ngoài mang, làm tăng tính độc của NH3

Thí nghiệm được bố trí trong hệ thống tuần hoàn khép kín, được đặt trong nhà nên thiếu ánh sáng mặt trời, tảo kém phát triển và do không thay nước nên lượng chất hữu cơ sinh ra (thức ăn thừa, phân cá) khi bị phân hủy làm cho pH giảm Khi đó, chúng tôi tiến hành bổ sung NaHCO3 vào trong hệ thống nuôi

Sự biến động pH trong suốt quá trình thí nghiệm được trình bày ở Đồ thị 4.2

Trang 30

Đồ thị 4.2: Biến động pH trong quá trình nuôi ở hai đợt

Qua Đồ thị 4.2, chúng tôi nhận thấy sự biến động pH trong quá trình nuôi là không đáng kể, dao động từ 6 – 7,5 Giá trị này nằm trong khoảng thích hợp cho sự tăng trưởng ( 6 < pH < 9) (Nguyễn Phú Hòa, 2000) Do các chỉ tiêu chất lượng nước được đo thường xuyên nên khi thấy pH giảm chúng tôi tiến hành bổ sung NaHCO3 để

ổn định mức pH phù hợp cho sự hoạt động của cá

4.1.3 Hàm lượng oxy hoà tan trong nước (DO)

Theo Nguyễn Phú Hòa (2000), hàm lượng oxygen là yếu tố quan trọng cho việc duy trì sự sống của thủy sinh vật Nhu cầu oxygen của các loài tôm cá khác nhau tùy thuộc vào giống loài, giai đoạn sống (trứng, ấu trùng, trưởng thành), hoạt động sống (ăn, tăng trưởng, sinh sản), … Nếu lượng oxygen thấp kéo dài trong nhiều ngày cá sẽ chết Những loài cá không có cơ quan hô hấp phụ như cá lăng nha rất nhạy cảm đối với sự thiếu oxygen

Ở cuối Đợt I do máy bơm chìm hư dẫn đến nước không tuần hoàn, hàm lượng oxy hòa tan trong nước thấp ảnh hưởng đến hoạt động sống của cá Chúng tôi quan sát thấy cá giảm ăn rõ rệt do phải tập trung cho hô hấp

Trong quá trình thí nghiệm, DO trung bình trong ngày dao động không đáng kể Ban đầu do cá còn nhỏ, hoạt động ít, lượng chất thải chưa nhiều nên ít sử dụng oxy dẫn đến hàm lượng oxy hòa tan trong nước còn cao Về sau, do cá lớn hơn nên nhu cầu oxygen tăng cao cộng với lượng chất thải nhiều làm cho hàm lượng oxygen hòa tan trong nước giảm

Trang 31

Đồ thị 4.3: Biến động DO trong quá trình nuôi ở hai đợt 4.1.4 Hàm lượng amonia trong nước

Ammoniac (NH3) là một bazơ yếu nên khi tồn tại trong môi trường nước nó có thể tồn tại ở dạng trung hòa là ammoniac (NH3) hoặc dạng amoni (NH4+) Đối với các loài thủy sản thì dạng trung hòa có tính độc cao hơn dạng có tích điện dương

Trong suốt quá trình thí nghiệm, hàm lượng N-NH3 trong khoảng 0 – 0,075 (mg/L) Bang đầu, hàm lượng N – NH3 trong hệ thống hơi cao do hệ thống hoạt động chưa ổn định (N – NH3 = 0,075 mg/L) Về sau khi hệ thống hoạt động ổn định, lượng

vi sinh vật có lợi tăng sinh đủ khả năng hấp thụ NH3 làm cho hàm lượng NH3 được khống chế ở mức cho phép (N – NH3 <0,1 mg/L)

4.2 Sự Tăng Trưởng của Cá

Tăng trưởng là sự gia tăng về kích thước và trọng lượng cơ thể theo thời gian Trong thí nghiệm này chúng tôi ghi nhận sự tăng trưởng của cá như sau:

4.2.1 Tăng trưởng về chiều dài

- Chiều dài trung bình của cá ở các nghiệm thức

ƒ Ảnh hưởng của tần số cho ăn lên chiều dài cá thí nghiệm

Lần kiểm tra thứ nhất và thứ hai, ở cả hai đợt, tần số cho ăn không ảnh hưởng đến mức tăng chiều dài của cá (P < 0,05)

Lần kiểm tra thứ ba ở cả hai đợt, các NT cho ăn tần số 4 lần/ngày cho kết quả tăng trưởng tốt hơn NT cho ăn với tần số 3 lần/ngày

Lần kiểm tra thứ tư ở Đợt I, NT cho ăn tần số 4 lần/ngày cho kết quả tăng chiều dài tốt hơn tần số 3 lần/ngày Ở Đợt II, các NT tăng trưởng tương đương nhau

⇒ Cá được cho ăn với tần số 4 lần/ngày cho tăng trưởng chiều dài tốt hơn tần số

Trang 32

ƒ Ảnh hưởng của mật đô ương lên chiều dài cá thí nghiệm

- Lần kiểm tra đầu tiên, sự khác biệt giữa các NT không có ý nghĩa về mặt thống kê ở cả hai đợt

- Lần kiểm tra thứ hai ở Đợt I, NT được ương với mật độ 4 con/L ( CDTB là 2,81 cm) cho kết quả tăng trưởng tốt hơn NT được ương với mật độ 6 con/L (CDTB là 2,59 cm) Ở Đợt II, các NT cho kết quả tăng trưởng tương đương nhau

- Hai lần kiểm tra cuối, ở Đợt I cho thấy sự khác biệt giữa các NT khác nhau mật độ ương NT được ương với mật độ càng thấp cho kết quả tăng trưởng càng cao Kết quả Đợt II cho thấy sự khác biệt giữa mật độ ương 4 con/L với mật độ ương 5 con/L, 6 con/L Chúng tôi có thể giải thích như sau: ở cuối Đợt I (giai đoạn cá 24 – 31 ngày tuổi), hàm lượng oxy hòa tan trong nước giảm dẫn ảnh hưởng đến tăng trưởng của cá Những NT được ương với mật độ càng cao thì viêc cạnh tranh nguồn oxygen càng cao, dẫn đến sự khác biệt rõ rệt giữa các NT khác nhau mật độ ương

⇒ Cá được ương với mật độ ương càng thấp thì cho kết quả tăng trưởng chiều dài càng cao

ƒ Ảnh hưởng của tần số cho ăn và mật độ ương lên chiều dài cá thí nghiệm

- Lần kiểm tra đầu tiên, chiều dài của cá ở các NT gần như tương đương nhau trong cả hai đợt Kết quả xử lý thống kê cho thấy các NT sai khác không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05)

- Lần kiểm tra thứ hai, các NT ở Đợt I khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống

kê (P > 0,05) Ở Đợt II đã có sự sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê giữa NT II và NT III (P = 0,0125 < 0,05), NT II với NT V (P = 0,0328 <0,05) Do ở NT II, cá được nuôi với mật độ thấp (4 con/L) và tần số cho ăn là 4 lần/ngày nên cho kết quả tăng trưởng cao hơn hai NT còn lại

- Lần kiểm tra thứ ba (cá 24 ngày tuổi), các NT ở Đợt I đã có sự sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê giữa những NT có cùng tần số cho ăn 3 lần/ngày nhưng khác nhau về mật độ nuôi như: NT I và NT III (P = 0,0171 < 0,05), NT I và NT V (P = 0 < 0,001), NT II và NT VI (P = 0 <0,001) Trong đó, NT có mật độ càng thấp thì cho tăng trưởng càng cao Đối với các NT có cùng mật độ nuôi nhưng khác nhau về tần số cho

ăn, NT cho ăn với tần số 4 lần/ngày cho kết quả tăng trưởng tốt hơn so với những NT cho ăn với tần số 3 lần/ngày (P <0,05) Ở Đợt II, NT III và NT IV (cùng mật độ ương)

Trang 33

sai biệt rất có ý nghĩa về mặt thống kê (P = 0,007 < 0,05) Cá ở NT IV cho kết quả tăng trưởng tốt hơn cá ở NT III Các NT có cùng tần số cho ăn nhưng khác mật độ ương cũng có sự sai khác giữa NT I và NT III (P = 0,007 < 0,001), NT I và NT V (P =

0 < 0,001), NT II và NT VI (P = 0,0001), NT IV và NT VI (P = Trong đó, NT I cho tăng trưởng cao hơn NT III, NT V; NT II cho tăng trưởng tốt hơn NT VI

- Lần kiểm tra thứ tư, NT II của Đợt I tăng trưởng tốt hơn cá ở các NT khác, kế đến là NT IV, NT I , NT VI, NT III và thấp nhất là NT V Cụ thể như sau: cá ở NT II

có chiều dài trung bình (CDTB) là 4,51 cm; NT IV là 4,40 cm; NT I là 4,31 cm; NT

VI là 4,14 cm; NT III là 4,13 cm và NT V là 3,90 cm Ở Đợt II, cá ở NT I có CDTB cao nhất (4,99 cm), kế đến là NT II (4,82 cm), NT III (4,71 cm), NT IV (4,66 cm), NT

V (4,61 cm) và NT VI (4,49 cm Kết quả xử lý thống kê cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê giữa NT I và NT V, NT II và NT VI (P < 0,05) ở cả hai đợt (Phụ lục 2.2.1) Với cùng tần số cho ăn, NT I cho tăng trưởng tốt hơn NT V; NT II cho tăng trưởng tốt hơn NT VI

Do sự cố máy bơm chìm ở cuối Đợt I, để biết DO đã ảnh hưởng như thế nào đến tăng trưởng chúng tôi tiến hành so sánh hai lần đo thứ ba và thứ tư của cả hai đợt Kết quả thu được như sau: Ở lần đo thứ ba, chúng tôi ghi nhận sự khác biệt giữa các

NT tương ứng ở hai đợt là không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05) Đến lần đo thứ tư chúng tôi ghi nhận có sự sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê giữa các NT tương ứng ở hai đợt với nhau (P < 0,01) (xem chi tiết ở Phụ lục 2.3.1)

Như vậy, hàm lượng DO giảm đã ảnh hưởng đến tăng trưởng về chiều dài của cá, dẫn đến các NT ở Đợt I có mức tăng trưởng thấp hơn ở Đợt II

Chiều dài trung bình của cá ở các nghiệm thức trong hai đợt nuôi được chúng tôi tính

toán và trình bày qua Bảng 4.2

Trang 34

Bảng 4.2: Chiều dài trung bình (cm) của cá lăng nha qua hai đợt thí nghiệm

Thời gian nuôi (ngày)

Trang 35

- Tỷ lệ tăng chiều dài tương đối ở các NT

Để thấy rõ ảnh hưởng của tần số cho ăn cũng như mật độ nuôi đến tốc độ tăng chiều dài của cá, chúng tôi tiến hành tính tỷ lệ tăng chiều dài tương đối của cá và kết quả được trình bày qua Bảng 4.3

Bảng 4.3: Tỷ lệ tăng chiều dài tương đối (%) của cá ở các NT

Thời gian (ngày tuổi) Thời gian (ngày tuổi)

IV 85,56 51,50 42,29 22,22 92,22 67,63 32,41 21,35

V 85,56 52,69 36,86 11,70 94,44 62,29 21,48 33,62

VI 91,11 53,49 40,91 11,29 100,00 55,56 30,00 23,35

Đồ thị 4.5: Mức tăng chiều dài tương đối của các nghiệm thức

Qua Bảng 4.3 và Đồ thị 4.5, chúng tôi thấy rằng ban đầu chiều dài tương đối của các NT đều tăng cao sau đó giảm dần theo thời gian nuôi Điều này phù hợp với quy luật phát triển của cá Nghĩa là cá nhỏ thì chiều dài tăng càng nhanh vì như thế cá

sẽ dễ dàng tồn tại và tránh bị sinh vật dữ đe dọa

Trang 36

Kết quả xử lý thống kê cho thấy:

Trong lần kiểm tra đầu tiên, ở Đợt I chúng tôi ghi nhận NT I có mức tăng chiều dài tương đối cao nhất (94,44%) tiếp đến là NT II, NT III (92,22%), NT VI (91,11%), cuối cùng là NT IV, NT V (85,56%) Ở Đợt II, NT II có tỷ lệ tăng chiều dài tương đối cao nhất (106,67%), kế đến là NT VI (100%), NT V (94,44%), NT II (93,33%), cuối cùng là NT III và NT IV (92,22%)

Từ lần kiểm tra thứ 2 (cá 17 ngày tuổi), chúng tôi nhận thấy tỷ lệ tăng chiều dài tương đối ở các NT đã giảm

Đến lần kiểm tra thứ 4, NT IV của Đợt I có mức tăng trưởng cao nhất 22,22%, các NT còn lại cho tăng trưởng tương đương nhau Trong khi đó, ở Đợt II các NT có cùng mật độ nhưng tần số cho ăn khác nhau có mức tăng trưởng chiều dài tương đối khác nhau, cụ thể là NT I (29,27%) cao hơn NT II (20,2%), NT III (30,05%) cao hơn

NT IV (21,35%), NT V (33,62%) cao hơn NT VI (23,35%)

- Tăng chiều dài tuyệt đối

Lần kiểm tra thứ hai, NT II cho tăng trưởng tốt nhất ở Đợt I (0,16 cm/ngày); kế đến là NT I, NT III (0,15 cm/ngày); NT V và NT VI (0,13 cm/ngày), NT IV (0,12 cm/ngày) Ở Đợt II, NT II có mức tăng trưởng cao nhất (0,19 cm/ngày) kế tiếp là NT

IV (0,17 cm/ngày); NT V (0,16 cm/ngày); NT I, NT III (0,15 cm/ngày) và cuối cùng là

NT VI (0,14 cm/ngày)

Đến lần kiểm tra thứ tư chúng tôi ghi nhận ở Đợt I, NT IV có mức tăng chiều dài tuyệt đối cao (0,11 cm/ngày) trong khi các NT còn lại là tương đương nhau Điều này cho thấy rằng cá NT IV đã có sự phân đàn rõ rệt và quá trình lấy mẫu của chúng tôi là hoàn toàn ngẫu nhiên Ở Đợt II, với cùng một mật độ nhưng tần số cho ăn khác nhau, những NT được cho ăn 3 lần/ngày có tốc độ tăng chiều dài tuyệt đối cao hơn so với các NT cho ăn với tần số 4 lần/ngày Qua phân tích thống kê cho thấy sự sai khác

giữa các NT là không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05)

Trang 37

Mức tăng chiều dài tuyệt đối được tính toán và trình bày theo Bảng 4.4

Bảng 4.4: Mức tăng chiều dài tuyệt đối (cm/ngày) của cá ở các NT

Thời gian (ngày tuổi) Thời gian (ngày tuổi)

- Trọng lượng của cá ở các nghiệm thức

ƒ Ảnh hưởng của tần số cho ăn lên tăng trọng cá thí nghiệm

Lần kiểm tra thứ hai ở Đợt I, các NT cho ăn với tần số 4 lần/ngày (TLTB là 0,19 g) cho kết quả tăng trưởng tốt hơn các NT cho ăn với tần số 3 lần/ngày (TLTB 0,17 g)

Lần kiểm tra thứ ba, các NT ở Đợt I cho kết quả tăng trưởng tương đương nhau Nguyên nhân do máy bơm chìm bị hư, nguồn oxy hòa tan trong nước giảm, cá tập trung cho hô hấp dẫn đến tăng trưởng giảm Ở Đợt II., các NT đã có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,05) NT được cho ăn với tần số 4 lần/ngày cho kết quả tăng trưởng tốt hơn

Trang 38

Chúng tôi có thể giải thích như sau: Do cá còn nhỏ nên nhu cầu dinh dưỡng cao, việc cho ăn với tần số nhiều lần trong ngày giúp cá sử dụng thức ăn hiệu quả hơn, hạn chế được thức ăn dư thừa

Lần kiểm tra thứ tư, ở Đợt I các NT được cho ăn tần số 4 lần/ngày cho kết quả tăng trưởng tốt hơn Trong khi đó các NT ở Đợt II tăng trưởng tương đương nhau

⇒ Cá được cho ăn với tần số cho ăn 4 lần/ngày cho kết quả tăng trong tốt hơn 3 lần/ngày

ƒ Ảnh hưởng của mật độ ương lên tăng trọng cá thí nghiệm

- Lần kiểm tra thứ hai ở Đợt I, cá ở NT được ương với mật độ 4 con/L (TLTB

là 0,2 g) và 5 con/L (TLTB là 0,19 g) cho kết quả tăng trưởng tốt hơn mật độ 6 con/L (TLTB là 0,16 g) Kết quả ở Đợt II cho thấy sự khác biệt giữa cá ở NT được ương với mật độ 4 con/L và mật độ 5 con/L, mật độ 5 con/L và mật độ 6 con/L Mật độ ương càng thấp thì tăng trọng cá càng cao

- Lần kiểm tra thứ ba, các NT ở Đợt I cho kết quả tương đương Kết quả Đợt II cho thấy sự khác biệt giữa cá ở mật độ ương 4 con/L với mật độ 5 con/L, mật độ 6 con/L Trong đó , cá được ương với mật độ 4 con/L cho kết quả tốt nhất

- Lần kiểm tra thứ tư, ở Đợt có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê giữa cá ương với mật độ 4 con/L, mật độ 5 con/L với mật độ 6 con/L Trong khi đó, ở Đợt II, chúng tôi ghi nhận sự khác biệt giữa cá ở mật độ ương 4 con/L với mật độ 5 con/L, mật độ 6 con/L

⇒ Cá được ương với mật độ càng thấp cho kết quả tăng trọng càng cao

ƒ Ảnh hưởng của tần số cho ăn và mật độ ương lên tăng trọng cá thí nghiệm

Trong quá trình thí nghiệm khảo sát sự tăng trưởng thì sự tăng trọng lượng được theo dõi song song với sự tăng trưởng về chiều dài Sau 4 tuần nuôi, tăng trưởng

về trọng lượng của cá lăng nha ở các NT được trình bày qua Bảng 4.5

- Lần kiểm tra đầu tiên, sai biệt giữa các NT ở cả hai đợt đều không có ý nghĩa

Trang 39

II có TLTB cao hơn NT VI Ở Đợt II, có sự khác biệt về mặt thống kê giữa NT II với

NT III (P = 0,0151 <0,05) Hai NT khác nhau về mật độ lẫn tần số cho ăn

- Lần kiểm tra thứ ba, giữa các NT ở Đợt I khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05) Ở Đợt II, với cùng tần số cho ăn 3 lần/ngày nhưng khác nhau về mật độ nuôi NT I (0,49 g)cho kết quả tăng trưởng tốt hơn NT III (0,43 g) (P = 0,0081

< 0,05), NT I tăng trưởng tốt hơn NT V (0,40 g) (P = 0,0035 < 0,05)

- Lần kiểm tra thứ tư, ở cả hai đợt đều thu được kết quả cho thấy sự khác biệt về mặt thống kê giữa NT I với NT V (P = 0 < 0,001), NT II với NT VI (P = 0,0142 < 0,05) ở Đợt I và Đợt II sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê giữa NT I với NT V (P

= 0,0148 < 0,05), NT II với NT VI (P = 0,0461 < 0,05) Riêng ở Đợt I, chúng tôi ghi nhận NT III cho kết quả tăng trưởng tốt hơn NT V (P =0,0124 <0,05) Cùng tần số cho

ăn nhưng mật độ nuôi khác nhau đã dẫn đến tốc độ tăng trưởng khác nhau ở các NT,

cụ thể là cùng tần số cho ăn 3 lần/ngày nhưng cá ở NT I cho tăng trưởng tốt hơn so với

cá ở NT V, trong khi đó NT II lại cho tăng trưởng tốt hơn so với NT VI khi được cho

ăn với tần số 4 lần/ngày

So sánh từng NT tương ứng ở hai đợt với nhau chúng tôi ghi nhận sự khác biệt

có ý nghĩa giữa các NT (P < 0,05) (Phụ lục 2.3.2) Từ kết quả trên cho thấy: hàm lượng oxy hòa tan giảm đã ảnh hưởng đến tăng trưởng của cá, dẫn đến kết quả mức

tăng trưởng của cá ở Đợt I thấp hơn so với cá ở Đợt II

Trang 40

Bảng 4.5: Trọng lượng trung bình (g) của cá lăng nha trong hai đợt thí nghiệm

Thời gian nuôi (ngày tuổi)

Ngày đăng: 14/09/2018, 14:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w