Trong các loài cá nuôi thì cá tra Pangasianodon hypophthalmus là loài cá được nuôi phổ biến nhất ở các tỉnh ĐBSCL và có sản lượng lớn nhất chiếm tới 80% sản lượng chung của cả nước, và
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA THỦY SẢN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÌM HIỂU QUY TRÌNH SẢN XUẤT GIỐNG CÁ TRA LAI
(Pangasianodon sp) VÀ CÁ TRA THƯỜNG (Pangasianodon
Trang 2TÌM HIỂU QUY TRÌNH SẢN XUẤT GIỐNG CÁ TRA LAI
(Pangasianodon sp) VÀ CÁ TRA THƯỜNG (Pangasianodon hypophthalmus)
Trang 3CẢM TẠ
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban Giám Hiệu, Quý Thầy Cô Trường ĐH Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
Ban Chủ Nhiệm, Cùng Toàn Thể Quý Thầy Cô Khoa Thủy Sản đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức khoa học quý báu cho chúng tôi trong suốt những năm học đã qua
Đặc biệt, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Phạm Văn Nhỏ, người đã tận tình hướng dẩn tôi thực hiện đề tài tốt nghiệp này
Ban Giám Đốc Công Ty Cổ Phần Green Feed Việt Nam, cùng toàn thể tất cả anh chị em công nhân viên đang công tác tại trại cá tra giống Ô Môn Cần Thơ
Xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến anh Nguyễn Tấn Lành, người đã luôn theo sát và giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập ở trại
Cảm ơn ban quản lý trại sản xuất cá giống chú Nguyễn Hoàng Minh, Quận Thốt Nốt, Cần Thơ Cảm ơn anh Thiện, quản lý trại cá giống chú Nguyễn Hoàng Minh
đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi thực hiện tốt đề tài này
Cảm ơn tất cả các bạn sinh viên trong lớp đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Do hạn chế về thời gian cũng như về mặt kiến thức nên luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong đón nhận những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài “ Tìm Hiểu Quy Trình Sản Xuất Giống Cá Tra Lai (Pangasianodon sp)
Và Cá Tra Thường (Pangasianodon hypophthalmus)” được thực hiện từ 3/2009 đến
9/2009 tại trại cá tra giống công ty Green Feed và các trại phụ cận, Ô Môn, Cần Thơ
Tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, theo dõi và ghi nhận các chỉ tiêu kỹ thuật liên quan, kết quả được ghi nhận như sau:
Trọng lượng cá cái tham gia sinh sản của cá tra lai là: 4,3 ± 0,7 (kg), (3,5 kg – 6,2 kg); cá tra thường là: 6,4 ± 0,8 (kg), (4,5 kg – 7,5 kg)
Sau thời gian nuôi vỗ có 93,3% cá cái cá tra lai và 89,3% cá cái cá tra thường thành thục Hệ số thành thục trung bình cá tra lai đạt 17,3 ± 2,1%, (13,83% – 21%) và
cá tra thường đạt là 11,2 ± 0,6%, ( 10,0% – 13,0%)
Kích thích sinh sản tỷ lệ cá đẻ của cá tra lai là 100% và cá tra thường là 90%
Tỷ lệ thụ tinh trung bình của cá tra lai là: 79,13 ± 6,32%, ( 70,2% - 88,6%); cá tra thường là: 77,35 ± 7,00%, (70,4% - 87%) và tỷ lệ nở trung bình của cá tra lai là: 97,83
± 1,17%, (96% - 99%); cá tra thường là: 98 ± 2,16%, (95% - 100%)
Kết quả đo phân tích mẩu trứng và cá bột của 2 loài được xác định như sau: đường kính trứng mới đẻ của cá tra lai là: 1,1mm, (1,1 mm – 1,2 mm); cá tra thường là: 1,0 mm, (0,9 mm – 1,1 mm) Chiều dài cá bột mới nở của 2 loài là: 3,0 mm, (2,8
mm – 3,2 mm) Chiều dài cá bột sau 20 giờ tuổi của cá tra lai là: 5,1 mm, (5,0 mm – 5,1 mm); cá tra thường là: 4,7 mm, (4,5 mm – 5,0 mm)
Trang 5MỤC LỤC
ĐỀ MỤC TRANG
Tên đề tài
Cảm tạ i
Tóm tắt ii
Mục lục iii
Danh sách các bảng iv
Danh sách các hình ảnh v
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Đặc điểm sinh học cá tra 3
2.1.1 Phân loại 3
2.1.2 Phân bố 4
2.1.3 Đặc điểm hình thái sinh lý 4
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 4
2.1.5 Đặc điểm sinh sản 5
2.1.6 Tình hình sản xuất giống cá tra 6
2.1.7 Tình hình nuôi thương phẩm cá tra 8
2.1.8 Quy trình sản xuất giống cá tra thường 9
2.1.8.1 Nuôi vỗ cá bố mẹ 9
2.1.8.2 Kỹ thuật cho cá đẻ 11
2.1.8.3 Vuốt trứng và ấp trứng 12
2.1.8.4 Quản lý và thu cá bột 13
2.2 Sơ lược về cá tra dầu 13
2.2.1 Phân loại 13
2.2.2 Phân bố 14
2.2.3 Đặc điểm cá tra dầu 15
Trang 62.2.4 Thực trạng cá tra dầu hiện nay 15
2.3 Nguồn gốc cá tra lai 17
2.3.1 Cấu tạo hình dạng ngoài 17
2.3.2 Quy trình sản xuất giống cá tra lai 18
2.3.2.1 Nuôi vỗ cá bố mẹ 18
2.3.2.2 Kỹ thuật cho cá đẻ 20
2.3.2.3 Vuốt trứng và gieo tinh 21
2.3.2.4 Ấp trứng 22
2.3.2.5 Quản lý và thu cá bột 23
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu 24
3.1.1 Thời gian nghiên cứu 24
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 24
3.1.3 Đối tượng nghiên cứu 24
3.2 Vật liệu 24
3.3 Phương pháp phân tích mẫu 24
3.3.1 Thời gian 24
3.3.2 Phương pháp thu mẩu và xử lý mẫu 24
3.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi 25
3.3.3.1 Tìm hiểu một số chỉ tiêu về cá bố mẹ giữa 2 loài 25
3.3.3.2 Tìm hiểu một số chỉ tiêu về trứng cá giữa 2 loài 25
3.3.3.3 Tìm hiểu một số chỉ tiêu về cá bột giữa 2 loài 26
3.3.3.4 Các chỉ tiêu khác 26
3.3.4 Thu thập số liệu và phân tích 27
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Các chỉ tiêu về cá bố mẹ 28
4.1.1 Đặc điểm bên ngoài 28
4.1.2 Tuyến sinh dục của 2 loài cá 28
4.1.3 Chiều dài và trọng lượng cá bố mẹ sinh sản 29
4.1.4 Tình hình sử dụng kích dục tố (KDT) 30
4.1.5 Tỷ lệ thành thục của 2 loài cá 31
Trang 74.1.6 Hệ số thành thục 33
4.1.7 Tỷ lệ rụng trứng của 2 loài cá 34
4.2 Các chỉ tiêu về trứng của 2 loài cá 35
4.2.1 Đường kính của trứng 35
4.2.2 Tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở 36
4.3 Các chỉ tiêu về cá bột của 2 loài 37
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Công thức thức ăn trong 100 kg thức ăn chế biến 11
Bảng 4.1 Chiều dài và trọng lượng cá bố mẹ sinh sản 29
Bảng 4.2 Tình hình sử dụng kích dục tố của 2 loài 30
Bảng 4.3 Tỷ lệ thành thục của 2 loài cá 31
Bảng 4.4 Các chỉ tiêu môi trường ao nuôi vỗ cá tra lai bố mẹ 32
Bảng 4.5 Tỷ lệ rụng trứng của 2 loài cá 34
Bảng 4.6 Đường kính trứng của 2 loài cá 35
Bảng 4.7 Kết quả sinh sản nhân tạo của 2 loài cá 36
Bảng 4.8 Chiều dài cá bột của 2 loài cá 37
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Cá tra thường bố mẹ 3
Hình 2.2 Ao nuôi vỗ cá bố mẹ 10
Hình 2.3 HCG (Human Chorionic Gonadotrophin) 11
Hình 2.4 Hệ thống ấp bình weis 13
Hình 2.5 Cá tra lai 17
Hình 2.6 Ao nuôi vỗ cá bố mẹ 18
Hình 2.7 Thức ăn nuôi vỗ cá bố mẹ 19
Hình 2.8 Gieo tinh 22
Hình 2.9 Chất khử dính 22
Hình 4.1 Buồng trứng cá tra lai 28
Hình 4.2 Buồng tinh cá tra lai 29
Hình 4.3 Hệ số thành thục của 2 loài cá 33
Hình 4.4 Cá bột mới nở 38
Hình 4.5 Cá bột 20 giờ tuổi 38
Trang 10là nguyên liệu cho xuất khẩu thủy sản
Trong các loài cá nuôi thì cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) là loài cá
được nuôi phổ biến nhất ở các tỉnh ĐBSCL và có sản lượng lớn nhất chiếm tới 80% sản lượng chung của cả nước, và được Bộ Thủy Sản xác định đây là đối tượng nuôi chiến lược trong nước ngọt phục vụ cho xuất khẩu Hiện nay sản phẩm của cá tra Việt Nam đã được xuất khẩu sang nhiều thị trường như: Mỹ, châu Âu, Nhật, các nước châu
Á và Trung Đông…
Một trong những tiền đề góp phần cho sự phát triển của nghề nuôi cá tra phát triển mạnh ở ĐBSCL đó là chúng ta đã chủ động được con giống cung cấp đủ nhu cầu cho người nuôi Quá trình sinh sản nhân tạo cá tra đã thành công từ năm 1978 cho đến khoảng những năm 1998 nghề nuôi cá tra mới thực sự phát triển ồ ạt và được xã hội hóa ở mức độ cao Đến nay, trong vùng đã có 217 cơ sở sản xuất cá tra giống với tổng sản lượng khoảng 1,8 tỉ con, đáp ứng nhu cầu cá giống cho cả khu vực ĐBSCL
(http://www.baocantho.com.vn/?mod=detnews&catid=72&id=37243)
Tuy nhiên hiện nay chất lượng con giống ngày càng kém chất lượng, nguyên nhân là do nguồn cá bố mẹ chưa được quản lý tốt, quy trình nuôi vỗ chưa tốt, sử dụng kích dục tố kém chất lượng và một trong những nguyên nhân quan trọng khác là do hiện tượng cận huyết của đàn cá bố mẹ
Những năm 1998 - 2000 tỉ lệ ương cá tra bột lên cá giống đạt tỉ lệ sống từ 30 - 70% Đáng lẽ với những kinh nghiệm ương tích lũy qua nhiều năm cùng với các tiến
bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới ứng dụng vào sản xuất thì tỉ lệ sống trong khâu
Trang 11ương giống phải tăng lên nhiều lần, nhưng thực tế hiện nay An Giang và Đồng Tháp chỉ có một số ít hộ ương cá tra giống đạt tỷ lệ sống từ 10 - 25%, nhưng có nhiều đợt mất trắng, chỉ còn 1 - 2%, hầu hết các cơ sở ương con giống khác đạt tỷ lệ sống “cực thấp”.(www.vietlinh.com.vn)
Thấy được nguyên nhân này trại sản xuất giống của Công Ty Cổ Phần GREENFEED Việt Nam đã nghiên cứu và đã thành công quy trình sản xuất giống
nhân tạo cá tra lai Đây là loài cá được lai từ loài cá tra thường ♀ (Pangasianodon
(Pangasianodon sp) có những phẩm chất tốt như: có khả năng chịu môi trường khắc
nghiệt và có kích thước lớn và tốc độ sinh trưởng nhanh Với mong muốn đưa loài cá tra lai này vào nuôi trồng để thay thế cho cá tra thường ngày càng kém chất lượng Góp phần làm đa dạng thêm đối tượng nuôi và sản phẩm mới trên thị trường xuất khẩu của thủy sản Việt Nam, thì trước hết phải tìm hiểu kỹ loài cá này, nhất là đặc điểm sinh sản phục vụ cho quá trình sinh sản Và so sánh với những đặc điểm sinh sản của
cá tra thường để nhận xét những điểm khác nhau giữa hai loài để biết được những ưu
và nhược điểm của từng loài
Xuất phát từ nhu cầu này, và được sự phân công của khoa thủy sản, trường ĐH Nông Lâm TP Hồ Chí Minh và sự tài trợ của công ty cổ phần GREENFEED Việt
Nam, nay đề tài “Tìm hiểu quy trình sản xuất giống cá tra lai (Pangasianodon sp) và
cá tra thường (Pangasianodon hypophthalmus)” được chúng tôi thực hiện tại trại cá
giống thuộc công ty cổ phần GREENFEED Việt Nam, huyện Ô Môn, TP Cần Thơ
1.2 Mục tiêu đề tài
Đề tài được thực hiện với các mục tiêu:
Tìm hiểu những chỉ tiêu hình thái giải phẫu, đặc tính sinh sản của cá tra lai và
cá tra thường
Tìm hiểu một số chỉ tiêu trên trứng và cá bột của cá tra lai và cá tra thường
→ Nhằm đánh giá ưu và nhược điểm giữa 2 loài cá để phục vụ cho quá trình sản xuất giống
Trang 12Giống cá tra dầu: Pangasianodon
Loài cá tra: Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878
Tên tiếng anh: Sutchi River Catfish, Tra Catfish
Tiếng Campuchia: Trey pra
Tiếng Lào: Pa suay kheo
Tiếng Thái: Plasawai, Pla Sangkawart tong
Tiếng Việt: Cá tra
Trang 132.1.2 Phân bố
Cá tra phân bố ở lưu vực sông Mekong, có mặt ở cả 4 nước Lào, Việt Nam, Campuchia và Thái lan Ở Thái Lan còn gặp cá tra ở lưu vực sông Mekong và Chao Phraya Ở nước ta những năm trước đây khi chưa có cá sinh sản nhân tạo, cá bột và cá tra giống được vớt trên sông Tiền và sông Hậu Cá trưởng thành chỉ thấy trong ao nuôi, rất ít gặp trong tự nhiên địa phận Việt Nam, do cá có tập tính di cư ngược dòng sông Mekong để sinh sống và tìm nơi sinh sản tự nhiên Khảo sát chu kỳ di cư của cá tra ở địa phận Campuchia cho thấy cá ngược dòng từ tháng 10 đến tháng 5 và di cư về
hạ lưu từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm (
http://agriviet.com/nd/573-%C3%90ac-%C3%90iem-sinh-hoc-ca-tra-va-ca-ba-sa/))
2.1.3 Đặc điểm hình thái sinh lý
Cá tra là cá da trơn, thân dài, lưng xám đen, bụng hơi bạc, miệng rộng, có 2 đôi râu dài Cá tra sống chủ yếu trong nước ngọt, có thể sống được ở vùng nước hơi lợ (nồng độ muối 7 – 10 ‰), có thể chịu đựng được nước phèn với pH >5, dễ chết ở nhiệt
độ thấp dưới 15oC, nhưng chịu nóng tới 39oC Cá có cơ quan hô hấp phụ và còn có thể
hô hấp bằng bóng khí và da nên chịu đựng được môi trường nước thiếu oxy hòa tan
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá tra khi hết noãn hoàng thì thích ăn mồi tươi sống, vì vậy chúng ăn thịt lẫn nhau ngay trong bể ấp và chúng vẫn tiếp tục ăn nhau nếu không được cho ăn đầy đủ, thậm chí cá vớt trên sông vẫn thấy chúng ăn nhau trong đáy vợt Ngoài ra khi khảo sát
cá bột vớt trên sông, còn thấy trong dạ dày của chúng có rất nhiều phần cơ thể và mắt
cá con các loài cá khác Dạ dày của cá phình to hình chữ U và co giãn được, ruột cá tra ngắn, không gấp khúc lên nhau mà dính vào màng treo ruột ngay dưới bóng khí và tuyến sinh dục
Dạ dày to và ruột ngắn là đặc điểm của cá thiên về ăn động vật Ngay khi vừa hết noãn hoàng cá thể hiện rõ tính ăn thịt và ăn lẫn nhau, do đó để tránh hao hụt do ăn nhau trong bể ấp, cần nhanh chóng chuyển cá ra ao ương
Trang 14Trong quá trình ương nuôi thành cá giống trong ao, chúng ăn các loại phù du động vật có kích thước vừa cỡ miệng của chúng và các thức ăn nhân tạo Khi cá lớn thể hiện tính ăn rộng, ăn đáy và ăn tạp thiên về động vật nhưng dễ chuyển đổi loại thức
ăn
Trong điều kiện thiếu thức ăn, cá có thể sử dụng các lọai thức ăn bắt buộc khác như mùn bã hữu cơ, phiêu sinh động vật Trong ao nuôi cá tra có khả năng thích nghi với nhiều loại thức ăn khác nhau như cám, rau, động vật đáy
2.1.5 Đặc điểm sinh sản
Tuổi thành thục của cá tra khoảng 3 – 4 tuổi, khi cá đạt 3 – 5 kg
Cá tra không có cơ quan sinh dục phụ (thứ cấp), nên nhìn hình dáng ngoài khó phân biệt đực - cái
Ở thời kì thành thục, tuyến sinh dục ở cá đực phát triển lớn gọi là buồng tinh, ở
cá cái gọi là buồng trứng
Mùa vụ thành thục của cá trong tự nhiên bắt đầu từ tháng 5 - 6 (dương lịch), cá
đẻ tự nhiên trên sông ở những khúc sông có điều kiện sinh thái phù hợp Cá không đẻ
ở phần sông của Việt Nam Ở Campuchia, bãi đẻ của cá nằm từ khu vực ngã tư giao tiếp 2 con sông MeKong và Ton Le Sap, từ Sombor, tỉnh Crache trở lên
Trong sinh sản nhân tạo, ta có thể nuôi thành thục sớm và cho đẻ sớm hơn trong tự nhiên (tháng 3)
Trong tự nhiên không gặp tình trạng tái phát dục Chỉ có trong điều kiện nuôi nhân tạo, cá tra có thể tái phát dục 1 - 2 lần trong năm Sức sinh sản tuyệt đối của cá tra có thể từ 200.000 đến vài triệu trứng
2.1.6 Tình hình sản xuất giống cá tra
Nghiên cứu sản xuất nhân tạo cá tra được bắt đầu tiến hành từ năm 1978 đến năm 1998 thì đưa vào sản xuất giống đại trà, và đến năm 2000 việc sản xuất giống cung cấp đủ cho nhu cầu nuôi cá thịt Hiện nay ở An Giang, Đồng Tháp…có gần 90 cơ
Trang 15sở sản xuất cá tra giống sẵn sàng cung ứng đủ số lượng cá bột, cá giống cho yêu cầu phát triển chăn nuôi của xã hội (www.vietlinh.com)
Do giá cá tra bột và con giống cá tra sụt giảm nghiêm trọng: năm 1998 giá cá tra bột 24 giờ tuổi từ 50 - 70 đồng/con, người mua phải đăng ký trước hoặc phải đấu giá mới có được, những năm gần đây chỉ còn 1 - 3 đồng/con, chất lượng con giống cũng giảm theo
Nguyên nhân chất lượng con giống cá tra giảm
Cá bố mẹ được nuôi và chăm sóc tốt thì chất lượng con giống thế hệ sau mới cao
Do giá con giống quá thấp nên ở các cơ sở sản xuất giống cho cá bố mẹ ăn cầm chừng, thậm chí cắt mồi không cho ăn một thời gian dài Với giá bán con giống cá tra hiện nay trên thị trường chỉ còn 1 - 3 đồng/con Với giá này người sản xuất chỉ đủ tiền mua thuốc kích dục tố, tiền thuê nhân công, điện nước…Vì vậy càng đầu tư nuôi vỗ cá
bố mẹ nhiều thì cơ sở càng lỗ nhiều
Tóm lại: Giá bán con giống giảm → không nuôi vỗ cá bố mẹ → chất lượng con giống không tốt
Cùng với tình trạng cận huyết trong di truyền làm giảm sức sống và giảm khã năng chống chịu môi trường bệnh tật của các thế hệ sau…Trong sinh sản nhân tạo cá tra ở các cơ sở, do vô tình hoặc sự hạn chế của đàn cá bố mẹ đã tạo tỷ lệ cận huyết của một quần đàn thường rất xảy ra, làm cho tỷ lệ sống cá nuôi đạt thấp Hiện nay, tỷ lệ cá nuôi hao hụt 34 - 36%, trong quá trình nuôi cá có nhiều bệnh tật, trong đó có nhiều yếu
tố nhưng yếu tố con giống đóng vai trò rất quan trọng
Tháng 3/2006, Trung Tâm Khuyến Ngư Và Giống Thủy Sản An Giang (TT KN>SAG) (cập nhật: 30/5/2006) đã đón nhận một sự kiện có ý nghĩa quan trọng, đánh dấu quá trình phát triển đi lên của ngành sản xuất giống thủy sản An Giang và góp phần tạo nên hiệu quả cho hoạt động của các liên hợp sản xuất cá sạch trong tỉnh
đó là các trại và các cơ sở sản xuất giống cá tra, basa trực thuộc trung tâm đã được công ty SGS (Mỹ) chứng nhận đạt tiêu chuẩn SQF 1000 (Safe quality food)
Trang 16Đây là đơn vị đầu tiên trong ngành sản xuất giống cá tra, basa ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được chứng nhận đạt tiêu chuẩn quốc tế về quy trình sản xuất
Sau những vất vả, khó khăn do biến động giá cả thị trường và rào cản kỹ thuật
từ phía đối tác nước ngoài (rõ nhất là tình hình sản xuất và tiêu thụ cá tra trong năm 2005), vấn đề chất lượng sản phẩm được đặt ra và trở thành tiêu điểm chính để tất cả các nhà trong mối liên kết bốn Nhà (Nhà nước – Nhà khoa học – Nhà doanh nghiệp – Ngư dân) cùng nhau giải quyết
Một chủ trương mới về vấn đề này của ban điều hành sản xuất và tiêu thụ cá tra
ở ĐBSCL đã nhanh chóng được các doanh nghiệp và ngư dân đón nhận, đó là phải xây dựng một hệ thống quản lý chất lượng từ khâu sản xuất cá giống đến sản xuất cá thương phẩm theo một tiêu chuẩn quốc tế, điều này cũng đồng nghĩa với việc sản phẩm khi đã đưa ra thị trường không chỉ được 2 bên đối tác chấp nhận mà phải có chứng nhận của một bên thứ ba
Sản xuất thủy sản sạch là hướng đi mà ngành thủy sản cả nước nói chung và ĐBSCL nói riêng phải vươn tới Mô hình liên kết 5 Nhà ( Nhà sản xuất giống – Nhà cung cấp thức ăn – Nhà cung cấp thuốc thú y thủy sản – Nhà doanh nghiệp và Ngư dân) của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản ở ĐBSCL như Navico, Agifish, Afiex, Cataco với tên gọi "Liên hợp sản xuất cá sạch" lần lượt ra đời là một mô hình hiệu quả
và bền vững đáp ứng được yêu cầu cấp thiết của thị trường về vấn đề nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo đảm tính cạnh tranh lành mạnh Các liên hợp muốn phát triển bền vững đòi hỏi từng thành viên trong liên hợp phải giữ vững và không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm của mình, để cùng tạo nên một sản phẩm chất lượng hoàn toàn có thể cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước
Để có được một sản phẩm cá sạch đáp ứng được tiêu chuẩn quốc tế, người sản xuất phải thực hiện tốt nhiều khâu từ con giống, thức ăn, phương pháp phòng, trị bệnh cho đến công nghệ chế biến… Một điều dễ thấy là trong chuỗi các yếu tố cấu thành sản phẩm thì con giống có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tuy chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong chuỗi giá trị sản xuất (khoảng 10% cơ cấu trong giá thành) nhưng nó có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, sản lượng nuôi Chọn con giống tốt là biện pháp loại từ
Trang 17đầu một trong những rủi ro trong quá trình nuôi, là điều kiện bắt buộc để đảm bảo hiệu quả sản xuất
Theo đó các trại giống khi tham gia vào hệ thống này phải đáp ứng một số điều kiện trong sản xuất giống như các yêu cầu về diện tích nuôi, nguồn nước cấp, thoát đảm bảo vệ sinh môi trường, truy xuất nguồn gốc của đàn cá bố mẹ… và đặc biệt cơ
sở phải được chứng nhận đã qua đào tạo các lớp huấn luyện “Kỹ năng nuôi thủy sản an toàn và chất lượng theo tiêu chuẩn SQF 1000”
2.1.7 Tình hình nuôi thương phẩm cá tra
Từ nửa đầu thế kỷ 20, nuôi cá trong ao mới bắt đầu xuất hiện ở đồng bằng Nam
bộ và đối tượng nuôi chính là cá tra Tài liệu thống kê của tỉnh An Giang cho thấy năm
1985 có hơn 90% diện tích ao nuôi cá ở nông thôn của tỉnh lúc bấy giờ là nuôi cá tra Tài liệu của Ủy Hội sông Mekong cũng đề cập về hiện trạng nuôi cá tra ở miền Nam Việt Nam những thập niên 50 - 70 Từ trước những năm 1970, kỹ thuật nuôi còn hạn chế, thì nghề nuôi cá còn mang tính chất đơn điệu với đối tượng nuôi chủ yếu là cá tra, các đối tượng khác rất ít
Hiện nay nuôi cá tra và ba sa đã phát triển ở nhiều địa phương, không chỉ ở Nam bộ mà một số nơi ở miền Trung và miền Bắc cũng bắt đầu quan tâm nuôi các đối tượng này Nuôi thương phẩm thâm canh cho năng suất rất cao, cá tra nuôi trong ao đạt tới 200 - 300 tấn/ ha, cá tra và ba sa nuôi trong bè có thể đạt tới 100 - 300 kg/ m3
bè Ðồng bằng sông Cửu long và các tỉnh Nam bộ mỗi năm cho sản lượng cá tra và ba
Trong khoảng 7 năm gần đây, nhất là từ năm 2006 đến nay, nghề nuôi cá tra đã phát triển mạnh ở ĐBSCL và cả nước Năm 2006, diện tích nuôi cá tra của ĐBSCL chỉ
Trang 183.797 ha, năm 2008 đã tăng lên đến 5.700 ha Diện tích đã thu hoạch đến ngày 19- 6-
2006 là 1.133 ha, với sản lượng 312.337 tấn, năng suất bình quân 240 tấn/ha Không tính lượng cá tồn đọng gần 7.000 tấn, sản lượng đến kỳ thu hoạch tính đến nay đã gần 120.000 tấn (http://tintuc.xalo.vn/04-136295712/nguoi_nuoi_ca_tra_kiet_suc.html)
Tuy nhiên từ năm 2007 trở lại đây giá nuôi cá tra có nhiều biến động lớn, giá thành cao hơn giá bán làm cho người dân bị lỗ nặng làm ảnh hưởng đến sản lượng nuôi cá ở ĐBSCL Cụ thể:
Tháng 6 - 2009, giá cá tra nguyên liệu tại TP Cần Thơ và các tỉnh ĐBSCL đã giảm 800 – 1.600 đồng/kg Giá cá tra nguyên liệu loại tốt (thịt trắng, trọng lượng 800 g – 1 kg/con) đang ở mức 14.400 - 15.600 đồng/kg; còn cá loại xấu hơn chỉ còn 12.000 - 14.200 đồng/kg
Trong khi đó, giá thức ăn còn tăng lên 300 đồng - 500 đồng/kg, khiến người nuôi cá tra càng kiệt sức vì bị đẩy vào thế bế tắc Sản lượng tiêu thụ cá tra trong khu vực hiện chỉ đạt khoảng 10.000 tấn/tuần, giảm 30% so với cùng kỳ năm 2008 Diện tích nuôi cá tra tại ĐBSCL đang giảm khoảng 30% so với cùng kỳ năm trước, do nhiều người treo ao hoặc giảm lượng ao nuôi Riêng tại TP Cần Thơ, diện tích nuôi cá tra trong 5 tháng đầu năm 2009 là 972,6 ha, giảm 27% diện tích so với cùng kỳ năm trước, và sản lượng cá giảm 25% so với năm trước
Trước tình hình đó đòi hỏi chính phủ phải can thiệp để giúp đỡ nông dân, cụ thể: Xử lý hàng tồn kho của doanh nghiệp Đề nghị hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp tồn kho và cho nông dân vay mới để tái đầu tư sản xuất
2.1.8 Quy trình sản xuất giống cá tra thường
2.1.8.1 Nuôi vỗ cá bố mẹ
Nuôi vỗ cá bố mẹ
Ao đất: Diện tích 1200 m2, độ sâu 1,5 - 2 m Nguồn nước cấp cho ao phải chủ động, sạch, không bị ô nhiễm bởi nước thải sinh hoạt hay nước thải công nghiệp, hoá chất Ao có cống tháo nước và cấp nước dễ dàng
Trang 19Hình 2.2 Ao nuôi vỗ cá bố mẹ
Lựa chọn cá bố mẹ nuôi vỗ
Độ tuổi: Cá đực phải từ 2 năm tuổi và cá cái 3 năm tuổi trở lên Chọn cá khỏe mạnh, ngoại hình hoàn chỉnh không bị dị hình, dị tật, trọng lượng cá từ 4 - 6 kg trở lên đưa vào nuôi vỗ
Mật độ thả nuôi vỗ:
Nuôi trong ao: 2 kg cá bố mẹ/ m2
Có thể nuôi chung đực, cái trong ao Tỷ lệ nuôi đực : cái là 1:1
Thức ăn cho cá bố mẹ
Nhu cầu thức ăn của cá bố mẹ: Để cá phát triển và có sản phẩm sinh dục tốt, cần phải cung cấp thức ăn cho cá đủ về số lượng, cân đối về thành phần dinh dưỡng Thức ăn phải cung cấp hàng ngày cho cá Nhu cầu về hàm lượng dinh dưỡng cho cá tương đối cao, phải có đủ đạm, đường, mỡ, vitamin, chất khoáng… Đặc biệt hàm lượng đạm (Protêin) phải đảm bảo từ 30% trở lên thì cá mới thành thục tốt
Nguyên liệu làm thức ăn cho cá: Cá tạp tươi, bột cá lạt, cám gạo, bột đậu nành, bột bắp, rau xanh (muống, lang),…
Để thức ăn có đủ hàm lượng đạm cho cá, ta phải chọn 1 số thành phần trên và trộn chúng với nhau và chế biến thành thức ăn
Trang 20Bảng 2.1 Công thức thức ăn trong 100 kg thức ăn chế biến bao gồm
Thành phần Tỷ lệ (%)
Bột cá lạt 60
Cám gạo 19 Premix 1
Khẩu phần ăn hàng ngày từ 1 - 2% trọng lượng cá Mỗi ngày cho ăn 1 lần vào
buổi chiều
2.1.8.2 Kỹ thuật cho cá đẻ
a) Chọn cá bố mẹ:
Cá bố mẹ được tuyển chọn phải khoẻ mạnh, bơi lội nhanh nhẹn
Cá cái: Lỗ sinh dục có màu ửng hồng, bụng to, mềm, hạt trứng đều, màu vàng
hoặc vàng nhạt
Cá đực: khi vuốt nhẹ gần lỗ sinh dục thấy tinh dịch chảy trắng đục và đặc như
sữa
b) Các kích dục tố sử dụng và phương pháp tiêm cho cá đẻ:
Các kích dục tố sử dụng: qua nhiều năm sản xuất giống và đúc rút những kinh
nghiệm, hầu hết các cơ sở sản xuất giống cá tra thường đều sử dụng 1 loại kích dục tố
đó là:HCG
Trang 21Phương pháp tiêm:
Đối với cá tra dùng phương pháp tiêm nhiều lần, đối với cá cái thì 3 liều dẫn và
1 liều quyết định Với cá đực thì không cần tiêm vì đã thành thục tốt Khoảng cách giữa các liều dẫn là 24 giờ Giữa liều dẫn và liều quyết định cách nhau 12 giờ
Tùy theo chất lượng trứng và chủng loại kích dục tố ta áp dụng các liều tiêm thích hợp:
Liều dẫn 200 UI/kg cá cái
Liều quyết định 3000 UI /kg cá cái
Vị trí tiêm: Tiêm ở cơ, gốc vây lưng Ở các lần tiêm khác nhau nên tiêm ở vị trí khác nhau
Thời gian hiệu ứng từ 8 - 12 giờ sau khi tiêm liều quyết định tùy thuộc vào nhiệt độ nước Thời gian hiệu ứng tỷ lệ nghịch với nhiệt độ của nước khi nhiệt độ nước thấp thì thời gian hiệu ứng sẽ lâu và ngược lại Nhiệt độ thích hợp là từ 28 - 300C
2.1.8.3 Vuốt trứng và ấp trứng
Đối với cá tra khi đẻ dùng phương pháp vuốt trứng và gieo tinh khô Trứng được khử dính sau đó cho vào bình weis để ấp
Ấp trứng:
Trứng cá tra thuộc loại trứng dính nên ta sẽ khử dính
Dùng tanin để tiến hành khử dính Sau khi cho chất khử vào trứng ta dùng lông
gà khuấy đều trong khoảng 30 giây thì ta chắt nước đó ra và dùng nước sạch rửa nhiều lần cho sạch sau đó cho vào bình weis để ấp trứng Điều chỉnh nước trong bình weis, lưu tốc 2 m/s để trứng đảo đều Sau khoảng 18 - 24 giờ thì trứng bắt đầu nở Thời gian
để trứng nở hết có khi kéo dài 30 giờ tùy theo nhiệt độ và khoảng cách giữa các lần cho trứng vào bể ấp
Trang 22ao thì sẽ hạn chế sự ăn nhau của chúng
2.2 Sơ lược về cá tra dầu (Pangasianodon gigas)
Năm 1931, Chevey cho rằng cá tra dầu có tên khoa học là: Pangasianodon
gigas hoặc Pangasius gigas
Trang 23Năm 1949, Fang và Chaux lại định danh tên khoa học của cá tra dầu là:
Pangasius paucidens
Tuy nhiên theo nhiều tài liệu nghiên cứu về cá tra dầu được công bố thì các nhà
khoa học đã sử dụng tên Pangasianodon gigas như là một tên chính thức để chỉ loài cá
Tên tiếng anh: Giant Mekong catfish
Tên tiếng khơme: Trey reach
Tên tiếng Lào: Pa beuk
Tên tiếng Thái: Pla beuk
Tên tiếng Việt: Cá tra dầu, cá hát
2.2.2 Phân bố
Môi trường sống: Cá tra dầu là loài cá nước ngọt, chưa bao giờ bắt được cá ở vùng cửa sông Mekong Môi trường sống được biết của loài cá này là nơi có dòng chảy chính, nơi có mực nước sâu 10 m hoặc hơn Đặc biệt, cá thích nơi có nhiều đá hay sỏi nền và thỉnh thoảng ở hang nước sâu
Theo ủy hội sông Mekong (2005), cá tra dầu phân bố rộng trên khắp khu vực
kể cả phần sông trên lãnh thổ Trung Quốc Hiện nay tất cả mọi nơi đều hiếm, chỉ phát hiện ở tầng giữa đến tầng đáy trên dòng chính của sông Mekong
Trong mấy năm trở lại đây, người ta chỉ đánh được chỉ ở hai nơi thuộc hạ lưu sông Mekong với số lượng rất ít Một là ở sông Ton Le Sap của Campuchia, và một nơi khác là Chiềng-Không và Huổi-Xay trên dòng chính sông Mekong, biên giới Lào, Thái Hiện nay không rõ cá ở hai nơi này có phải cùng một đàn không
Trang 242.2.3 Đặc điểm cá tra dầu
Cá tra dầu là cá da trơn, không vảy, miệng rộng, thân thon dài, phần sau hơi dẹp bên Chiều cao lớn nhất của thân khoảng 26% chiều dài chuẩn, Chiều dài đầu khoảng 28% chiều dài chuẩn Thân thon dài, phần trước có tiết diện tròn, phần đuôi hơi dẹp bên Mắt nhỏ nằm phía trên đường ngang qua gốc miệng và không bị nếp da che khuất Miệng rộng, màng mang tách rời khỏi eo mang Chỉ có một đôi râu hàm trên ngắn và bé, không có răng hàm và răng trên khẩu cái Vây ngực bé, vây bụng lớn, vây đuôi phân thùy sâu Mặt lưng cá có màu nâu thẫm, mặt bụng và các vây có màu nhạt hơn
Thức ăn của cá là các loài thực vật thủy sinh Để sinh sản cá di cư lên thượng nguồn sông MeKong Cá có buồng trứng phát triển gặp ở Luang Prabang (Lào) Trước lúc di cư sinh sản cá rất béo Sau khi sinh sản (tháng 6) cá xuôi về dòng hạ lưu sông MeKong
2.2.4 Thực trạng cá tra dầu hiện nay
Ở hạ lưu sông MeKong chỉ gặp những cá thể có kích thước lớn Cá tra dầu ở phần sông MeKong thuộc nước ta thuộc loại hiếm, thỉnh thoảng mới đánh bắt được Mức đe dọa: Bậc R
Cá tra dầu sông Mekong (Pangasianodon gigas) biểu trưng cho sự nguyên
trạng về sinh thái của sông Mekong và sự phong phú của những loài cá khác được xem như nguồn sinh kế cho người dân sống trên lưu vực sông Với kích thước to lớn, có thể dài 3 m và nặng đến 250 kg nên loài cá này được xem là một trong những loài cá nước ngọt lớn nhất thế giới Cá tra dầu mang một ý nghĩa văn hóa cho khu vực sông MeKong nhưng số lượng của chúng trong tự nhiên lại đang giảm một cách đáng kể Trong sách đỏ của IUCN năm 2004, loài cá này đã được xếp vào loài đang gặp nguy hiểm nghiêm trọng
Tình trạng trên của cá tra dầu cho thấy, tính tự nhiên bị xáo trộn trong toàn bộ lưu vực sông MeKong Tính phức tạp này làm sự sống và số lượng của loài cá tra dầu
ở khu vực hạ lưu sông bị ảnh hưởng do những thay đổi của khu vực thượng lưu và ngược lại, do cá tra dầu được xem là động vật chỉ thị đánh giá về tình trạng hệ sinh
Trang 25thái và thủy sản của sông MeKong nên tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) đang rất quan tâm tới tình trạng của loài cá này
Có nhiều nguyên nhân làm giảm số lượng cá tra dầu, trong đó sự thay đổi nhanh chóng về môi trường ở lưu vực sông đã và đang tác động lớn đến loài cá Do vậy, IUCN đã phối hợp với chương trình "Bảo tồn đa dạng sinh học và sử dụng bền vững đất ngập nước lưu vực sông MeKong" (MWBP - gồm 4 quốc gia thuộc hạ lưu sông MeKong: Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam) chỉ ra tình trạng đặc biệt nghiêm trọng của cá tra dầu
Cá tra dầu, đặc trưng cho tính đa dạng sinh học của khu vực vì nó là một trong
4 loài chính được sự quan tâm, bảo vệ của chương trình MWBP Đây là loài di cư xuyên biên giới được tìm thấy tại Campuchia, Lào và Thái Lan Chính điểm này sẽ mở
ra cơ hội cho sự hợp tác khu vực trong các vấn đề quản lý nguồn thủy sản Mục tiêu của MWBP là nêu ra những vấn đề về quản lý, bảo tồn có ảnh hưởng tới loài cá tra dầu thông qua việc xây dựng và thực hiện các kế hoạch hành động bảo tồn loài (SCAP)
Để bảo tồn cá tra dầu với các vấn đề liên quan tới sự suy giảm về số lượng của loài cá này, Chương trình của MWBP sẽ làm việc với các bên liên quan để giảm việc đánh bắt cá tra dầu tự nhiên trên sông MeKong Phối hợp với các đối tác của dự án nhằm hỗ trợ chương trình nhân rộng và đưa vào áp dụng các kết quả nghiên cứu có cơ
sở khoa học Xác định, quản lý các sinh cảnh đang bị nguy kịch Bên cạnh đó, thông qua MWBP, IUCN tiếp tục chú trọng vào hoạt động bảo tồn loài cá tra dầu bằng cách: Thu thập dữ liệu từ Bộ Thủy Sản để phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch hành động bảo tồn Cải thiện các điều kiện thuận lợi việc đánh bắt và thả cá tra dầu trở lại
Trang 262.3 Nguồn gốc cá tra lai
Hình 2.5 Cá tra lai
Cá tra lai là sản phẩm lai giữa cá tra thường ♀ (Pangasianodon hypophthalmus)
và cá tra dầu ♂ (Pangasianodon gigas)
2.3.1 Cấu tạo hình dạng ngoài
Đầu dẹp bằng, không rộng, hơi nhỏ và gọn hơn so với cá tra thường
Miệng rộng ở ngay đầu mõm, mõm hơi nhọn
Răng hàm và răng vòm miệng nhỏ, rất mịn, các răng khẩu cái và răng lá mía tạo thành hai đám dạng hình lưỡi liềm, đa số dính liền nhau, còn ở cá tra thì răng nhám thấy rõ và răng lá mía tạo thành 2 đám dạng hình lưỡi liềm nhưng đa số tách rời nhau
Có hai đôi râu, râu mép kéo dài chưa chạm đến gốc vi ngực, và dài hơn 1/2 râu cằm, râu cằm ngắn dài khoảng 1/5 chiều dài đầu
Thân thon dài, viền lưng từ mõm đến gốc vi lưng không dốc bằng cá tra Trên
và dưới đường bên có hai vân sáng, ánh bạc chạy dọc cơ thể
Vi hậu môn tương đối dài và bầu hơn so với cá tra, tia vi phân nhánh Vi đuôi phân thùy sâu
Trang 27Ở giai đoạn cá nhỏ (kích thước 180 mm) mặt lưng của đầu và thân có màu xanh sậm, ánh vàng và nhạt dần xuống mặt bụng
Gốc vi bụng và vi hậu môn có màu vàng kết hợp với những chấm đen thấy rõ
Ở giai đoạn cá lớn (kích thước 528 mm) mặt lưng và đầu có màu nâu đen và nhạt dần xuống mặt bụng Vi lưng, vi ngực có màu nâu đen Vi bụng và 1/3 vi hậu môn có màu trắng ngà kết hợp với những chấm đen
Cá tra lai có khã năng chịu đựng được môi trường khắc nghiệt cao với các yếu tố: nhiệt độ, pH, độ mặn…
2.3.2 Quy trình sản xuất giống cá tra lai
2.3.2.1 Nuôi vỗ cá bố mẹ
Nuôi vỗ cá bố mẹ
Ao đất: diện tích nhỏ nhất từ 500 m2 trở lên, có độ sâu 2 - 3 m Ao được xây dựng gần sông, nguồn nước cấp cho ao sạch, không bị ô nhiễm bởi nước thải sinh hoạt hay nước thải công nghiệp, hoá chất Ao có cống tháo nước và cấp nước dễ dàng Nhiệt độ nước ao thích hợp từ 26 - 300C, pH thích hợp từ 7 – 8, hàm lượng oxy hòa tan từ 2 mg/l trở lên Ao được trang bị hệ thống giữ ấm vào mùa lạnh nên các yếu tố môi trường ở trong ao ít bị biến động nên đảm bảo cho cá thành thục tốt
Hình 2.6 Ao nuôi vỗ cá tra lai bố mẹ
Trang 28Lựa chọn cá bố mẹ nuôi vỗ
Cá bố mẹ nuôi vỗ được chọn từ Thái Lan có nguồn gốc xa nên tránh được hiện tượng cận huyết, và được nuôi làm cá dự bị ở trong ao đất Đàn cá hậu bị được nuôi đến năm thứ 2 thì lựa chọn những cá thể tốt nhất để làm đàn cá bố mẹ chính thức Chọn cá khoẻ mạnh, ngoại hình hoàn chỉnh không bị dị hình, dị tật, trọng lượng
cá từ 2 kg trở lên đưa vào nuôi vỗ Những cá khỏe và thể trọng lớn sẽ thành thục tốt,
hệ số thành thục và sức sinh sản cao Không nên chọn cá quá nhỏ để đưa vào nuôi vỗ,
vì cá nhỏ sẽ có chất lượng sản phẩm sinh dục kém
Mật độ thả nuôi vỗ:
Nuôi trong ao: 1 - 2 kg cá bố mẹ/ m2
Có thể nuôi chung đực, cái trong ao Tỷ lệ nuôi đực : cái là 1:1
Thức ăn cho cá bố mẹ
Nhu cầu thức ăn của cá bố mẹ: Để cá phát triển và có sản phẩm sinh dục tốt, cần phải cung cấp thức ăn cho cá đủ về số lượng, cân đối về thành phần dinh dưỡng Thức ăn phải cung cấp hằng ngày cho cá Nhu cầu về hàm lượng dinh dưỡng cho cá tương đối cao, phải có đủ đạm, đường, mỡ, vitamin, chất khoáng…., thức ăn viên sử dụng cho cá phải đảm bảo hoàn toàn không chứa các hoá chất hoặc thuốc kháng sinh
bị cấm sử dụng và dư lượng các chất được phép sử dụng phải trong mức giới hạn cho phép
Trại sử dụng thức ăn viên của Cty Cổ Phần GREENFEED, với 26% độ đạm Định kỳ sử dụng vitamin C và các enzyme tiêu hóa 1 tuần 2 - 3 lần
Khẩu phần ăn hằng ngày từ 1 - 2% trọng lượng cá Mỗi ngày cho ăn 2 lần
Trang 29
Cho cá ăn ở nhiều điểm khác nhau để cá ăn đều, sau khi ăn 2 tiếng thì kiểm tra mức ăn của cá để đánh giá mức độ ăn của cá và kịp thời đều chỉnh
Ao nuôi vỗ cá bố mẹ phải thay nước thường xuyên để giữ cho môi trường ao nuôi sạch và cá khỏe mạnh
Phải theo dõi chặt chẽ các yếu tố thủy lý hóa như: nhiệt độ, pH, hàm lượng
NH3, oxy… ở trong ao nuôi để kịp thời điều chỉnh Các yếu tố môi trường trong ao nuôi ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sự phát dục của cá Chẳng hạn trong điều kiện pH nhỏ hơn 5 thì cá sẽ chết, pH nhỏ hơn 6 cá sẽ khó phát dục thành thục Khi nhiệt độ nước tăng cao trên 320C, cá dễ bỏ ăn, tuyến sinh dục dễ bị thoái hoá
b Các kích dục tố sử dụng và phương pháp tiêm cho cá đẻ:
Cá tra lai và cá tra thường đều khó đẻ, chúng không thể tự đẻ mặc dù thành thục tốt, vì vậy để kích thích cá đẻ thì sử dụng kích dục tố để kích thích cá rụng trứng
và đẻ
Các kích dục tố sử dụng:
Sau nhiều lần thử nghiệm với nhiều loại kích dục tố khác nhau, và đến nay trại
đã sử dụng có hiệu quả với kích dục tố:
HCG
Não thùy tuyến yên của các loài cá (mè trắng, chép, trôi…)