XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN Họ và tên sinh viên: NGUYỄN VĂN THANH Tên luận văn: “KHẢO SÁT TỶ LỆ BẢO HỘ SAU TIÊM PHÒNG VACCINE CÚM GIA CẦM Ở MỘT SỐ TRẠI GÀ ĐẺ TRỨNG THƯƠNG PHẨM VÀ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT TỶ LỆ BẢO HỘ SAU TIÊM PHÒNG VACCINE CÚM GIA CẦM Ở MỘT SỐ TRẠI GÀ TRỨNG THƯƠNG PHẨM VÀ TRẠI GÀ THỊT TẠI
HUYỆN BẾN CÁT – TỈNH BÌNH DƯƠNG
Sinh viên thực tâp: Nguyễn Văn Thanh
Ngành : Bác sĩ thú y Khóa : 2003 - 2008
Tháng 02 năm 2010
Trang 2KHẢO SÁT TỶ LỆ BẢO HỘ SAU TIÊM PHÒNG VACCINE CÚM GIA CẦM Ở MỘT SỐ TRẠI GÀ ĐẺ TRỨNG THƯƠNG PHẨM VÀ TRẠI GÀ THỊT TẠI
HUYỆN BÊN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG
Tác giả
NGUYỄN VĂN THANH
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng bác sĩ ngành thú y
Giáo viên hướng dẫn:
ThS NGUYỄN THỊ THU NĂM ThS LƯU ĐÌNH LỆ THÚY
Tháng 02 năm 2010
Trang 3XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên sinh viên: NGUYỄN VĂN THANH
Tên luận văn: “KHẢO SÁT TỶ LỆ BẢO HỘ SAU TIÊM PHÒNG
VACCINE CÚM GIA CẦM Ở MỘT SỐ TRẠI GÀ ĐẺ TRỨNG THƯƠNG PHẨM VÀ TRẠI GÀ THỊT TẠI HUYỆN BÊN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG”
Đã hoàn thành luận văn theo yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến nhận xét, đóng góp của hội đồng chấm thi ngày 04/02/2010
Giáo viên hướng dẫn
ThS NGUYỄN THỊ THU NĂM
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Để hoàn thành báo cáo này, với lòng biết ơn sâu sắc tôi xin gởi đến:
- Gia đình: Má, Ba – Mẹ, các anh chị em đã hết lòng động viên tôi trong suốt thời gian học khóa học này
- Bà Xã, người luôn quan tâm, động viên cả về vật chất và tinh thần giúp tôi hoàn thành khóa học và đề tài báo cáo này
- Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS Nguyễn Thị Thu Năm, cô đã tân tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt thời gian thực hiện
đề tài này
- Chân thành cảm ơn:
Ban Giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng quý thầy cô đã truyền đạt kiến thức giúp tôi trong suốt quá trình học
Ban Giám hiệu, Khoa Nông nghiệp trường Trung Cấp Nông Lâm Bình Dương
Ban lảnh đạo Chi cục thú y, Trạm Chẩn đoán – Xét nghiệm, Phòng dịch tể chi cục thú y Bình Dương
Trạm thú y huyện Bến Cát tỉnh Bình Dương
- Cám ơn các bạn trong và ngoài lớp TY 03 BD đã cùng nhau hổ trợ, động viên nhau trong suốt thời gian học tập và thực hiện hiện đề tài này
Trang 5TÓM TẮT KHÓA LUẬN
ĐỀ TÀI:“KHẢO SÁT TỶ LỆ BẢO HỘ SAU TIÊM PHÒNG VACCINE CÚM
GIA CẦM Ở MỘT SỐ TRẠI GÀ TRỨNG THƯƠNG PHẨM VÀ TRẠI GÀ THỊT TẠI HUYỆN BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG”
Qua xét nghiệm 1320 mẫu huyết thanh, 900 mẫu huyết thanh gà thịt và 420 mẫu huyết thanh gà trứng thương phẩm tại 9 xã thuộc huyện Bến Cát tỉnh Bình Dương tại Trạm Chẩn đoán – Xét nghiệm Chi cục Thú y tỉnh Bình Dương bằng kỹ thuật ngăn trở ngưng kết hồng cầu HI (Hemagglutination Inhibition) để khảo sát tỷ lệ bảo hộ trên đàn gà chống lại virus cúm gia cầm Subtype H5, chúng tôi có kết quả sau:
(1) Tỷ lệ mẫu bảo hộ chống lại virus cúm gia cầm trên gà thịt
- Số mẫu bảo hộ chống lại virus cúm gia cầm là 718 mẫu
- Tỷ lệ mẫu bảo hộ chống lại virus cúm gia cầm trên đàn gà là 79,78%, cao hơn tỷ lệ mà Cục thú y yêu cầu (≥ 70%)
- Tỷ lệ mẫu bảo hộ giữa các trại gà ở các xã khác biệt rất có ý nghĩa, 2 xã
có tỷ lệ bảo hộ cao trên dàn gà là xã Lai Uyên (95%) và xã Trừ Văn Thố (91,67%), 1
xã có tỷ lệ mẫu bảo hộ thấp không đạt bảo hộ là xã Tân Định (56,67%), các xã còn lại
có tỷ lệ mẫu vừa đủ bảo hộ (> 70%)
(2) Tỷ lệ mẫu bảo hộ trên gà trứng thương phẩm
- Số mẫu bảo hộ chống lại virus cúm gia cầm là 415 mẫu
- Tỷ lệ bảo hộ chống lại virus cúm gia cầm là 98,75%
- Tỷ lệ mẫu bảo hộ giữa các trại gà ở các xã khác biệt không có ý nghĩa, 5
xã có tỷ lệ bảo hộ trên đàn gà là 100%, 3 xã còn lại có tỷ lệ mẫu bảo hộ trên đàn gà là 96,67%
(3) Tỷ lệ mẫu bảo hộ giữa gà trứng thương phẩm và gà thịt
- Tỷ lệ mẫu bảo hộ giữa gà thịt và gà trứng thương phẩm là khác biệt rất
có ý nghĩa
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn……….ii
Lời cảm tạ iii
Tóm tắt khóa luận iv
Mục lục v
Chữ viết tắt viii
Danh sách các bảng ix
Danh sách các hình x
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 LỊCH SỬ VÀ TÌNH HÌNH BỆNH CÚM GIA CẤM 3
2.1.1 Lịch sử bệnh 3
2.1.2 Tình hình bệnh cúm gia cầm 4
2.2 CĂN BỆNH HỌC 8
2.2.1 Phân loại 8
2.2.2 Hình thái và cấu trúc vi rut cúm 8
2.2.3 Thành phần hoá học .10
2.2.4 Đặc điểm nuôi cấy 10
2.2.5 Sức đề kháng đối với tác nhân vật lý, hoá học 11
2.2.6 Sự xâm nhập và tái bản của virus cúm vào tế bào vật chủ 11
2.2.7 Cấu trúc kháng nguyên và tính sinh miễn dịch 12
2.3 DỊCH TẾ HỌC 13
2.3.1 Loài nhạy cảm 13
Trang 72.3.2 Đường xâm nhập và phương thức truyền lây mầm bệnh 13
2.4 TRIỆU CHỨNG BỆNH TÍCH 16
2.4.1 Triệu chứng 16
2.4.2 Bệnh tích 168
2.5 CHẨN ĐOÁN 18
2.5.1 Chẩn đoán lâm sàng 19
2.5.2 Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm 19
2.6 CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG BỆNH 20
2.6.1 Nguyên lý phòng bệnh cúm gia cầm 20
2.6.1 Các biện pháp phòng chống bệnh cúm gia cầm 21
2.6.2 Phòng bằng vaccine và những yếu tố ảnh hưởng đáp ứng miễn dịch 22
2.7 ĐIỀU TRỊ BỆNH CÚM GIA CẦM 26
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM 29
3.1.1 Thời gian 29
3.1.2 Địa điểm khảo sát 29
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 29
3.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 29
3.4.THIẾT BỊ - DỤNG CỤ 29
3.5 KÍT XÉT NGHIỆM 30
3.6 HÓA CHẤT 30
3.7 PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT 30
3.7.1 Cách bố trí lấy mẫu huyết thanh gà 30
3.7.2 Cách lấy mẫu huyết thanh trên gà 31
3.7.3 Địa điểm xét nghiệm 32
3.8 PHƯƠNG PHÁP XÉT NGHIỆM 32
3.8.1 Phương pháp HA - HI phát hiện kháng thể cúm gia cầm 32
3.8.2 Tiến hành phản ứng HI 33
3.8.3.Kết luận về mẫu xét nghiệm: 35
3.9 CHỈ TIÊU THEO DÕI 35
3.10 PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU 35
Trang 8Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
4.1 KHẢO SÁT TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI GIA CẦM TẠI HUYỆN BẾN CÁT 37
4.1.1 Chăn nuôi hộ gia đình qui mô nhỏ lẻ 37
4.1.2 Chăn nuôi tập trung qui mô trang trại 38
4.2 KHẢO SÁT TÌNH HÌNH TIÊM PHÒNG VACCINE CÚM GIA CẦM QUÝ I/2009 ĐỐI VỚI CÁC HỘ GIA ĐÌNH NHỎ LẺ 41
4.3 KHẢO SÁT TÌNH HÌNH TIÊM PHÒNG VACCINE CÚM GIA CẦM ĐỐI VỚI TRANG TRẠI 43
4.4 KHẢO SÁT HIỆU GIÁ KHÁNG THỂ SAU TIÊM PHÒNG VACCINE CÚM GIA CẦM Ở GÀ TRỨNG THƯƠNG PHẨM VÀ GÀ THỊT 43
4.4.1 Khảo sát tỷ lệ bảo hộ của đàn gà thịt tại huyện Bến Cát .43
4.4.2 Khảo sát tỷ lệ bảo hộ giữa các đàn gà thịt tại các xã huyện Bến Cát .45
4.4.3 Khảo sát tỷ lệ bảo hộ của đàn gà trứng thương phẩm tại huyện Bến Cát 48
4.4.4 Khảo sát tỷ lệ mẫu bảo hộ của đàn gà trứng thương phẩm tại các xã .49
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52
5.1 KẾT LUẬN 52
5.2 ĐỀ NGHỊ 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 9CHỮ VIẾT TẮT
AGP : Agar Gel Precipitation
AI : Avian Influenza
CEF: Chicken Embryo Fibroblast
DIVA : Differenciating Infected from Vaccinated Animals ELISA : Enzyme Linked Immuno Sorbent Assay
EDTA: Ethylen Diamine Tetra Acetat
FAO : Food and Agriculture Organization
GMT : Geometric Mean Titre
HA : Haemagglutination
HI : Haemagglutination Inhibition
HPAL : Highly Pathogenic Avian Influenza
IFT : Immunofluorescent Test
LPAI : Low Pathogenic Avian Influenza
MDCK: Madin Dardy Canine Kidney
MG: Medica Geometrica
NA : Neuraminidase
OIE : Office Interntional des Epizooties
PBS : Phosphate Buffer Saline
PCR : Polymerase Chain Reaction
RBC: Red Blood Cell
RDE: Receptor Destroying Enzyme
RT-PCR: Reverse Transcriptase – Polymerase Chain Reaction WHO : World Health Organization
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Diễn biến dịch cúm gia cầm từ đầu năm 2009 tại Việtnam 7
Bảng 2.2 Chức năng của 8 phân đoạn gen của virus cúm gia cầm 10
Bảng 2.3 Các phân type H và N của virus cúm A 12
Bảng 3.1: Bố trí lấy mẫu huyết thanh cho xét nghiệm .30
Bảng 3.2: Quy trình tiêm phòng vaccine cúm gia cầm tại các trại 30
Bảng 4.1: Khảo sát tình hình chăn nuôi gà vịt hộ gia đình, nhỏ lẻ 37
Bảng 4.2: Khảo sát tình hình chăn nuôi gà thịt qui mô trại 38
Bảng 4.4: Kết quả tiêm phòng cúm gia cầm đợt I năm 2009 42
Bảng 4.5.Tỷ lệ mẫu huyết thanh có kháng thể đủ bảo hộ trên gà thịt 44
Bảng 4.6: Hiệu giá kháng thể sau tiêm phòng vaccine cúm gia cầm trên đàn gà thịt 45
Bảng 4.7: Hiệu giá kháng thể trên đàn gà đẻ trứng thương phẩm 48
Bảng 4.8: Hiệu giá kháng thể đủ khả năng bảo hộ trên đàn gà đẻ theo các xã 50
Trang 11DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Bản đồ các quốc gia xảy ra dịch cúm A/H5N1tính đến 15/09/2008 .4
Hình 2.2 Bản đồ dịch cúm gia cầm tại Việt nam tính đến 14/04/2008 6
Hình 2.3 Cấu tạo virus cúm gia cầm .9
Hình 2.4 Sự xâm nhập và các bước tái bản của viurs cúm 12
Hình 2.5 Mối quan hệ lây nhiễm của virus cúm gia cầm 14
Hình 2.6: Phương thức truyền lây của virus cúm gia cầm 15
Hình 2.7: Triệu chứng gà mắc bệnh cúm 17
Hình 2.8: Xuất huyết màng ngoài tim 18
Hình 2.9: Hoại tử điểm trên tụy tạng 18
Hình 2.10: Xuất huyết cơ đùi 18
Hình 2.11: Xuất huyết dạ dày tuyến 18
Hình 2.12: Nguyên lý phòng bệnh cúm gia cầm 21
Hình 3.1: Lấy mẫu máu từ tĩnh mạch cánh 31
Hình 3.2: Thực hiện phản ứng HI tại Trạm Chẩn đoán – Xét nghiệm 34
Hình 3.3: Kết quả xét nghiêm phản ứng HI 35
Hình 4.1: Chăn nuôi nhỏ lẻ hộ gia đình 38
Hình 4.2: Trại gà thịt (trại lạnh) tại xã Tân Định 39
Hình 4.3: Trại gà thịt nuôi dưới nền 40
Hình 4.4: Trại gà thịt nuôi trên sàn 40
Hình 4.5: Trại gà trứng thương phẩm 41
Hình 4.6: Kết quả xét nghiệm tại Trạm Chẩn đoán – Xét nghiệm 43
Hình 4.7: Trại gà thịt chuồng lạnh, với qui mô > 15.000 con 47
Hình 4.8: Trại gà thịt được đầu tư đơn giản 48
Hình 4.9: Trại gà trứng thương phẩm tại xã Long Nguyên 49
Hình 4.10: Trại gà trứng thương phẩm 50
Trang 12gà vịt, chim, vịt trời, le le …) và kể cả người Bệnh nằm trong danh sách bảng A của tổ
chức dịch tễ thế giới OIE Số lượng gia cầm bị chết ở nước ta từ cuối năm 2003 đến đầu năm 2004 đã lên đến hơn 40 triệu con (Nguyễn Tiến Dũng và ctv, 2004), gây thiệt hại nặng nề về kinh tế và quan trọng hơn là nguy hiểm cho sức khỏe cộng đồng
Chính phủ Việt Nam đã chi hàng chục tỷ đồng cho công tác phòng và chống dịch Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, mà vai trò chính là Cục Thú y Việt Nam đã dùng mọi cách nhằm khống chế dịch bệnh cúm A (H5N1), trong đó biện pháp
sử dụng vaccine đã được chú ý áp dụng điển hình là “Dự án sử dụng vaccine nhằm khống chế và thanh toán bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao giai đoạn I từ năm 2005-
2006, giai đoạn II từ năm 2007-2008 và giai đoạn III từ năm 2009-2010”
Tuy nhiên, dù đã tiến hành triển khai tiêm phòng vaccine trên toàn quốc nhưng một số địa phương vẫn còn xảy ra dịch Vì thế ngày 13 tháng 06 năm
2007, Cục trưởng Cục thú y đã ký ban hành văn bản số 850/TY-DT về việc chủ động giám sát hiệu quả sử dụng vaccine phòng bệnh cúm gia cầm tại các địa phương với những nội dung cụ thể như:
Giám sát, đánh giá hiệu quả của chiến dịch tiêm phòng vaccine tại các địa phương dựa trên:
+ Tỷ lệ gia cầm được tiêm phòng vaccine của các địa phương
+ Mức độ đáp ứng miễn dịch (tỷ lệ đạt mức bảo hộ) của gia cầm được tiêm phòng + Xác định nguyên nhân gây ra kết quả đáp ứng miễn dịch thấp và có kế hoạch khắc phục, tiêm phòng bổ sung ngay cho đàn gia cầm được kiểm tra giám sát
Trang 13Xuất phát từ vấn đề đó được sự phân công của Khoa Chăn nuôi thú y, Bộ môn
Vi sinh truyền nhiễm Trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn của ThS Nguyễn Thị Thu Năm cùng với sự chấp thuận của Trạm Chẩn Đoán – Xét nghiệm thú y trực thuộc Chi cục thú y tỉnh Bình Dương do ThS Lưu Đình Lệ Thúy
phụ trách, nay chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Khảo sát tỷ lệ bảo hộ sau tiêm
phòng vaccine cúm gia cầm ở một số trại gà trứng thương phẩm và trại gà thịt tại huyện Bến Cát – tỉnh Bình Dương”
Thu thập mẫu huyết thanh gà đã tiêm phòng ở trại gà trứng thương phẩm và trại
gà thịt trên 15 xã – thị trấn thuộc huyện Bến Cát gởi về Trạm Chẩn đoán – Xét nghiệm Chi cục Thú y tỉnh Bình Dương
Thực hiện kỹ thuật ngăn trở ngưng kết hồng cầu HI (Hemagglutination Inhibition) để phát hiện kháng thể chống virut cúm Subtype H5
Trang 14Chương 2
TỔNG QUAN
Cúm gia cầm (Avian influenza) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính của mọi loài chim, kể cả gia cầm và thủy cầm, do các phân type khác nhau thuộc nhóm virus cúm A
(Infuenzavirus A) họ Orthomyxoviridae gây nên
Những loài chim di cư cũng mang mầm bệnh và thường không biểu hiện triệu chứng lâm sàng và bệnh tích do chúng có sức đề kháng tự nhiên Những loài thủy cầm mang mầm bệnh, cho dù là biến chủng có độc lực thấp, vẫn là nguồn tàng trữ và trở nên mối nguy hiểm lan truyền cho các loài gia cầm khác (Lê Thanh Hoà, 2004)
2.1 LỊCH SỬ VÀ TÌNH HÌNH BỆNH CÚM GIA CẤM
2.1.1 Lịch sử bệnh
Năm 1878, ở Ý bệnh cúm gia cầm đầu tiên được Perroncito mô tả như là bệnh dịch tả gia cầm Khi đó bệnh bị nhầm lẫn với dạng nhiễm trùng huyết cấp tính của bệnh tụ huyết trùng gia cầm
Hai năm sau: Năm 1880, Rivolto và Delprato đã phân biệt hai bệnh này dựa vào đặc điểm lâm sàng và bệnh lý học
Năm 1901, Centanni và Savonuzzi đã chứng minh bệnh do “virus có thể qua lọc” gây ra và năm 1955 virus được giám định là virus cúm, cùng type A với cúm ở người, ngựa và heo (Trần Thanh Phong, 1996)
Năm 1981, hội nghị quốc tế đầu tiên về bệnh cúm gia cầm ở Besltaville (Mỹ) đã lấy tên là bệnh cúm truyền nhiễm cao ở gia cầm HPAI (Highly Pathogentic Avian Influenza) để chỉ các virus type A có độc lực mạnh, lây lan nhanh, tỷ lệ tử vong cao Bên cạnh đó, virus cúm gia cầm độc lực thấp LPAI (Low Pathogentic Avian Influenza) cũng được định danh vào năm 1960 (Lê Văn Năm, 2004)
Trang 152.1.2 Tình hình bệnh cúm gia cầm
Theo tài liệu tổng hợp của Phạm Sỹ Lăng (2005)
Bệnh cúm gia cầm phân bố ở nhiều nước, đặc biệt ở các nước nuôi gà công nghiệp phát triển Hoà Kỳ, Anh, Pháp, Úc, Hà Lan, Nhật Bản, Trung Quốc, Tây Ban
Nha, Braxin
Năm 1983 – 1984, dịch cúm đã xảy ra ở gà, gà tây do chủng vius H5N2 tại: Virginia, Pensylvamia và New – Jersey làm chết 10 triệu con gà làm thiệt hại 60 triệu USD do gà chết và chi phí tiêu độc Chính phủ Hoa Kỳ đã chi 349 triệu USD để hỗ trợ các chủ trang trại tiêu hủy đàn gà
Từ 10/2003 – 4/2005, dịch cúm gia cầm đã bùng phát ở một số nước: Thái Lan, Việt Nam, Campuchia, Indonesia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Pakistan Có khoảng 120 triệu gà phải tiêu hủy, gây thiệt hại hàng chục tỷ USD
Có 29 người chết do mắc bệnh cúm gia cầm, trong đó có 25 người Việt Nam
Từ 01/2006 đến nay dịch cúm gia cầm đã bùng phát hầu hết các nước trên thế giới như: Thái Lan, Việt Nam, Campuchia, Indonesia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Pakistan, Israel, Thổ Nhi Kỳ, Rumani, Bungari, Hy lạp,
Ý, Pháp, Áo, Thụy Sĩ, Nigeria, Ấn Độ, Iraq….(thống kê theo OIE năn 2008)
Hình 2.1 Bản đồ các quốc gia xảy ra dịch cúm A/H5N1tính đến 15/09/2008
Nguồn: www.impe-qn.org.vn/impe-qn/vn/portal/InfoDeta
Vùng dịch cúm xảy ra trên gia cầm
Vùng dịch cúm xảy ra trên chim hoang dã
Trang 16 Tình hình nhiễm cúm gia cầm ở Việt Nam từ 2004 đến 2008
Dịch cúm gia cầm A/H5N1 bùng phát tại Việt Nam vào cuối tháng 12/2003 ở các tỉnh phía Bắc, sau đó đã nhanh chóng lan tới hầu hết các tỉnh/thành trong cả nước chỉ trong một thời gian ngắn Đây là lần đầu tiên dịch cúm gia cầm A/H5N1 xảy ra tại Việt Nam, có tới hàng chục triệu gia cầm bị tiêu hủy, gây thiệt hại nặng nền tới nền kinh tế quốc dân Tính đến nay (tháng 06/2009), dịch cúm gia cầm liên tục tái bùng phát hàng năm tại nhiều địa phương trong cả nước, có thể phân chia thành các đợt dịch lớn như sau:
- Đợt dịch thứ nhất từ tháng 12/2003 và 30/03/2004, dịch cúm xảy ra ở các tỉnh
Hà Tây, Long An và Tiền Giang Dịch bệnh lây lan rất nhanh, chỉ trong vòng hai tháng
đã xuất hiện ở 57/64 tỉnh thành trong cả nước Tổng số gà và thủy cầm mắc bệnh, chết
và tiêu hủy hơn 43,9 triệu con, chiếm 17% tổng đàn gia cầm Trong đó, gà chiếm 30,4 triệu con, thủy cầm 13,5 triệu con Ngoài ra, có ít nhất 14,8 triệu chim cút và các loại khác bị chết hoặc tiêu hủy Đặc biệt, có 3 người được xác định nhiễm virus cúm A/H5N1 và cả 3 đã tử vong trong đợt dịch này (http://www.cucthuy.gov.vn)
- Đợt dịch thứ 2 từ tháng 4 đến tháng 11/2004: dịch bệnh tái phát tại 17 tỉnh, thời gian cao điểm nhất là trong tháng 7, sau đó giảm dần đến tháng 11/2004 chỉ còn một điểm phát dịch Tổng số gia cầm tiêu hủy được thống kê trong vụ dịch này là 84.078 con Trong đó, có gần 56.000 gà; 8.132 vịt; và 19.950 chim cút Và đã có tới 27 người mắc bệnh virus cúm A/H5N1, trong đó có 9 ca tử vong (http://www.cucthuy.gov.vn)
- Đợt 3 từ tháng 12/2004 cho đến tháng 15/12/2005: dịch cúm gà xảy ra trên 36 tỉnh thành trong cả nước Số gia cầm bị tiêu hủy được Cục thú y thống kê là 1,846 triệu con (gồm 470.000 gà, 825.000 thủy cầm và 551.000 chim cút) Vào những tháng cuối năm 2005, dịch cúm gà xảy ra trong tháng 10/2005 lan nhanh trong gần 40 tỉnh thành
và giảm dần trong tháng 12/2005 (http://www.cucthuy.gov.vn)
- Sau một năm (2006), do áp dụng chương trình tiêm phòng vaccine rộng rãi cho các đàn gia cầm trong cả nước, cùng với các biện pháp phòng chống dịch quyết liệt, dịch cúm gia cầm A/H5N1 không xảy ra ở Việt Nam Mặc dù vậy, đến 06/12/2006 dịch cúm gia cầm A/H5N1 đã tái bùng phát ở Cà Mau, sau đó lan sang các tỉnh Bạc Liêu, Hậu Giang, Vĩnh Long và Cần Thơ (http://www.cucthuy.gov.vn)
- Trong năm 2007, theo báo cáo của Cục thú y (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) đến ngày 10/06/2007 dịch đã xảy ra trên 16 tỉnh, thành phố (Nghệ An,
Trang 17Quảng Ninh, Cần Thơ, Sơn La, Nam Định, Đồng Tháp, Hải Phòng, Bắc Giang, Ninh Bình, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Quảng Nam, Hưng Yên, Thái Bình và Phú Thọ),
và chỉ được khống chế hoàn toàn vào 8/2007
- Trong năm 2008, dịch bệnh lại tiếp tục tái bùng phát ở một số tỉnh phía Bắc vào tháng 3/2008 Cho đến tháng 6/2008, dịch cúm gia cầm A/H5N1 về cơ bản đã được khống chế trên toàn quốc (http://www.cucthuy.gov.vn)
Nguồn: (http://www.impe-qn.org.vn/impe-qn/vn/portal/InfoDetail.jsp?area=58&cat=1101&ID=3194)
Hình 2.2 Bản đồ dịch cúm gia cầm tại Việt nam tính đến 14/04/2008
http://www.cucthuy.gov.vn/index.php?option=com_remository&Itemid=72&func=fileinfo&id=212)
Từ đầu năm 2009 đến ngày 30/06/2009, theo số liệu thống kê của Cục thú y Việt Nan cả nước có 16 tỉnh thành báo cáo nhiễm cúm A/H5N1 trên nhiều tỉnh thành
Trang 18 Diễn biến dịch cúm gia cầm từ đầu năm 2009 tại Việt Nam
STT Thời gian Tình hình nhiễm cúm A/H5N1 trên toàn quốc
01 01/01/09 Cả nước có Tỉnh Thái Nguyên chưa qua 21 ngày
02 15/01/09 Cả nước có 2 tỉnh Thái Nguyên và Thanh Hóa chưa qua 21 ngày
03 30/01/09 Cả nước còn tỉnh Cà Mau có dịch Cúm gia cầm chưa qua 21
ngày
04 14/02/09 Cả nước có 7 tỉnh có dịch cúm chưa qua 21 ngày: Cà Mau, Sóc
Trăng, Nghệ An, Hậu Giang, Quảng Ninh, Quảng Trị và Bắc Ninh
05 28/02/09 Cả nước có 7 tỉnh có dịch Cúm gia cầm chưa qua 21 ngày: Bắc
Ninh, Ninh Bình, Khánh Hòa, Cà Mau, Sóc Trăng, Hậu Giang, Quảng Ninh, Bạc Liêu và Điện Biên
06 24/04/09 Cả nước có tỉnh Quảng Ngãi có dịch Cúm gia cầm chưa qua 21
09 01/06/09 Cả nước còn 02 tỉnh là Đồng Tháp(20 ngày) và Vĩnh Long (18
ngày) có dịch Cúm gia cầm chưa qua 21 ngày
10 30/06/09 Cả nước còn tỉnh Quảng Ninh (10 ngày) có dịch Cúm gia cầm
chưa qua 21 ngày
Bảng 2.1 Diễn biến dịch cúm gia cầm từ đầu năm 2009 tại Việtnam
(http://www.cucthuy.gov.vn)
Tình hình nhiễm cúm gia cầm tại Bình Dương
Trong tháng 2 trên địa bàn ấp 2 xã Thới Hòa đã có 01 hộ chăn nuôi 700 con vịt thịt chưa tiêm phòng vắc xin cúm gia cầm Từ ngày 6/02 đến ngày 16/02/2009 số vịt trên đã chết rải rác khoảng 625 con Chi cục thú y đã phối hợp với Trạm thú y Bến Cát, chính quyền địa phương kiểm tra, mổ khám và lấy mẫu bệnh phẩm gởi xét nghiệm cúm gia cầm Kết quả có 03 mẫu dương tính với cúm gia cầm subtype H5 Trước tình
Trang 19hình đó, Chi cục Thú y chỉ đạo Trạm Thú y huyện Bến Cát tiêu hủy toàn số vịt còn lại, phun xịt khử trùng liên tục 10 ngày xung quanh khu vực hộ nuôi và tiến hành tiêm phòng lại cho toàn đàn gia cầm của xã Thới Hòa Sau đó, không phát hiện thêm gia cầm ốm chết trong khu vực ổ dịch ( Theo Sở NN & PTNT Việt Nam)
Thiệt hại do dịch cúm gia cầm
Kinh tế: Gây thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi cũng như người kinh
doanh sản phẩm gia cầm Bệnh cúm kéo dài chính phủ phải nỗ lực để dập tắt dịch bệnh, đồng thời phải chi một khoảng chi phí rất lớn để giúp người dân giảm bớt thiệt hại khi tiêu huỷ gia cầm bệnh Ở nước ta, qua 3 đợt dịch (từ tháng 12/2003 – 5/2005)
đã gây thiệt hại về kinh tế khoảng 3.500 tỷ đồng (Phạm Sỹ Lăng, 2005)
Theo ước tính của Ngân hàng thế giới (World Bank) thiệt hại kinh tế do dịch cúm gia cầm gây ra cho các nước vào khảng 2000 tỷ USD một năm
Xã hội: Người lao động trong ngành chăn nuôi bị mất việc, làm cho cuộc
sống trở nên khó khăn hơn Một số trường hợp virus đã gây ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Theo báo cáo của WHO, tổng số trường hợp nhiễm cúm gia cầm A phân tuýp H5 ở người từ tháng 12/2003 đến 16/03/2009 là 411 ca, trong đó có 256 ca tử vong (theo http://www.who.int/csr/disease/avian_influenza/country/en/index.html)
2.2 CĂN BỆNH HỌC
2.2.1 Phân loại
Theo Nguyễn Thị Phước Ninh (2007), virus cúm gà thuộc:
- Họ Orthomyxoviridae, là virus có RNA 1 sợi, có vỏ bọc (trên vỏ bọc có 2 gai HA và NA)
- Giống Influenzavirus A, có 3 type A, B và C Virus cúm type A bao gồm các virus cúm ở người và tất cả các virus cúm trong thú y: virus cúm gia cầm, virus cúm heo và virus cúm ngựa Ngược lại, virus cúm type B và type C có khả năng gây bệnh thấp
2.2.2 Hình thái và cấu trúc virus cúm
- Virus cúm gia cầm có cấu hình bầu dục hay có thể dạng sợi nhỏ, đường kính từ
80 - 120nm, nucleocapside hình xoắn ốc
- Bề mặt được bao bọc bởi hai loại glycoprotein (dài 10 - 14nm, đường kính 4 - 6nm) gồm Haemagglutinin (H hoặc HA) và Neuraminidase (N hoặc NA) Vai trò của
Trang 20H là giúp virus gắn lên thể thụ cảm trên tế bào vật chủ, còn N có chức năng là một enzyme phá huỷ thành tế bào động vật giúp phóng thích virus đã nhân lên từ tế bào bị nhiễm (Lê Thanh Hòa, 2005)
Hình 2.3 Cấu tạo virus cúm gia cầm
(http://dicos.ens-lyon.fr/vie/image/V05_2F1_Orthomyxo_StructVirus.jpg)
Trang 21Bảng 2.2 Chức năng của 8 phân đoạn gen của virus cúm gia cầm
Phân đoạn gen Phân tử lượng
(1000 Da)
Số acid amin (acid amin) Vai trò sinh học Phân đoạn 1
(PB1)
hoạt tính enzyme endonuclease
hoạt động tổng hợp RNA virus
thể khi hạt virus chui ra khỏi tế bào, giải phóng hạt virus
Phân
đáp ứng với interferon
Phân
đoạn 8
gia trong việc bài xuất phức hợp RNP ra ngoài nhân
2.2.3 Thành phần hoá học
Thành phần virion bao gồm: 0,8 – 1% RNA, 5 – 8% carbohydrate, 20% lipid và 70% protein Vỏ bọc có bản chất là lipid (Trần Thanh Phong, 1996)
2.2.4 Đặc điểm nuôi cấy
Virus cúm phát triển tốt trong xoang niệu mô của phôi gà 9 – 11 ngày tuổi, đường tiêm xoang niệu mô gây bệnh tích tế bào, gây chết phôi, sung huyết ở các mô
Trang 22đặc biệt là da và cơ Virus cúm nhân lên giới hạn ở một số môi trường tế bào như nguyên sợi bào phôi gà CEF (Chicken Embryo Fibroblast) và đặc tính tạo Plaque trên môi trường tế bào có thể sử dụng dòng tế bào thận chó MDCK (Madin Darby Canine Kidney) khi có trypsin (Trần Thanh Phong, 2001)
2.2.5 Sức đề kháng đối với tác nhân vật lý, hoá học
Virus cúm A tương đối nhạy cảm với các tác nhân bất hoạt vật lí hay hóa học Các hạt virus tồn tại thích hợp trong khoảng pH từ 6,5 đến 7,9 Ở pH quá acid hay quá kiềm, khả năng lây nhiễm của virus bị giảm mạnh (Fang và ctv, 2008) Lớp vỏ ngoài của virus bản chất là lớp lipid kép, có nguồn gốc từ màng tế bào nhiễm, dễ bị phá hủy bởi các dung môi hòa tan lipid, chất tẩy rửa và các chất sát trùng: formaldehyde, phenol, β-propiolacton, sodium hypochloride, acid loãng và hydroxylamine Virus bị bất hoạt dưới ánh sáng trực tiếp sau 40 giờ, tồn tại được 15 ngày ánh sáng thường, tia
tử ngoại bất hoạt được virus nhưng không phá hủy được kháng nguyên của virus Tuy nhiên, virus cúm A dễ dàng bị tiêu diệt hoàn toàn ở 100oC và ở 60oC/30 phút, tồn tại ít nhất 3 tháng ở nhiệt độ thấp (trong phân gia cầm), và tới hàng năm ở nhiệt độ bảo quản (−70oC) Trong phủ tạng gia cầm (40oC), virus tồn tại 25 - 30 ngày, nhưng chỉ tồn tại 7
- 8 ngày ở nhiệt độ cơ thể người (37oC); trong nước, virus có thể sống tới 4 ngày ở nhiệt độ 30oC (Murphy, Webster, 1996; Webster, 1998)
2.2.6 Sự xâm nhập và tái bản của virus cúm vào tế bào vật chủ
- Đầu tiên thông qua vai trò của glycoprotein hemagglutinin, virus cúm bám dính vào các receptor bên ngoài kết dính vào màng tế bào và chui vào bên trong của tế bào cảm thụ Các tế bào biểu mô của đường hô hấp và phổi là các tế bào chịu tác động tấn công đầu tiên của virus
- Trong tế bào cảm thụ, virus cúm dựa vào sự tổng hợp protein, ARN của tế bào cảm thụ để tổng hợp và nhân lên các protein, ARN của mình Đây là giai đoạn virus
dễ bị biến thể nhất Thông thường độc tính của virus sau biến thể cao hơn nhiều lần so với nguyên thể
- Sau cùng, thông qua vai trò của glycoprotein neuraminidase các virus cúm mới được hình thành sẽ phóng thích ra khỏi tế bào đã nhiễm để xâm nhập vào các tế bào khác của cơ thể Như vậy, virus cúm chỉ có thể nhân lên ở tế bào sống (tế bào đang hoạt động và tổng hợp protein, ARN)
Trang 23Hình 2.4 Sự xâm nhập và các bước tái bản của viurs cúm
Theo Nguyễn Thị Phước Ninh (2007) các kháng nguyên được phân chia theo bảng 2.4 như sau
Bảng 2.3 Các phân type H và N của virus cúm A Đối tượng
Trang 24gồm IgM, IgA và IgG Kháng thể kháng HA có vai trò trung hoà virus và xuất hiện trong vòng 2 tuần sau khi tiêm vaccine Sự phát triển của kháng thể kháng HA thì song song với sự xuất hiện của kháng thể ức chế ngưng kết hồng cầu Chuẩn độ hiệu giá kháng thể cao nhất ở tuần thứ 4 – 7 sau khi nhiễm
Kháng thể kháng NA không trung hoà virus nhưng thay vào đó nó ức chế sự nhân lên của virus, kết quả là làm giảm lượng virus nhân lên và giảm triệu chứng lâm sàng của bệnh
Kháng thể kháng protein M2 của virus cúm cũng có vai trò tương tự như kháng thể kháng NA nhưng nó bị mất đi nhanh chóng Do vậy kháng thể kháng protein M2 không có vai trò quan trọng trong miễn dịch bảo vệ tế bào vật chủ chống lại virus cúm
Phản ứng niêm mạc chống lại virus cúm: dịch nhầy bao phủ trên bề mặt biểu
mô có tác dụng ngăn chặn sự xâm nhập vào thụ thể acid sialic Do đó, acid sialic có trong dịch nhầy sẽ cạnh tranh với thụ thể acid sialic của tế bào và làm giảm mức độ xâm nhiễm của virus
Có thể gây bệnh cho gà, gà tây, vịt và chuột (Trần Thanh Phong, 1996)
2.3.2 Đường xâm nhập và phương thức truyền lây mầm bệnh
Virus cúm gia cầm được bài thải qua đường hô hấp, đường niêm mạc, trong phân (1 gram phân có thể chứa tới 107 virus gây nhiễm) và trong trứng được đẻ ra sau khi nhiễm virus 3 đến 4 ngày (Laval, 2005)
Trang 25Hình 2.5 Mối quan hệ lây nhiễm của virus cúm gia cầm
(http://vietnamnet.vn/suckhoe/tintuc/2004/02/47576/) Mầm bệnh xâm nhập vào gia cầm theo hai đường: đường hô hấp do không khí
có mầm bệnh và đường tiêu hoá do thức ăn, nước uống có mầm bệnh (Phạm Sỹ Lăng, 2005)
Sự lây nhiễm virus giữa các loài chim xảy ra thông qua sự tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với thú bệnh hoặc với môi trường đã bị nhiễm virus Các loài chim hoang hay bị lây nhiễm qua đường tiêu hoá do tiếp xúc với nước nhiễm virus
Virus nhân lên so với số lượng lớn trong đường tiêu hoá của chúng, nhưng thường không có dấu hiệu lâm sàng Do vậy, virus sẽ được bài thải qua phân với nồng
độ cao, làm ô nhiễm môi trường và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lây lan Mặt khác virus có thể tồn tại hơn 3 tháng trong nước ngọt có độ kiềm nhẹ và ở nhiệt độ vừa phải Vì vậy, loài chim hoang dã thường là mối đe hoạ nguy hiểm, chúng là nguồn lưu trữ mầm bệnh
Trang 26 Phương thức truyền lây của virus cúm gia cầm
Trong quốc gia có bệnh, thì khả năng truyền lây từ
- Trại này sang trại khác
- Không khí
Hình 2.6: Phương thức truyền lây của virus cúm gia cầm
(Nguồn: Nguyễn Thị Phước Ninh, 2007)
Trong quốc gia có bệnh, thì khả năng truyền lây từ
- Trại này sang trại khác
- Không khí
- Các phương tiện bị vấy nhiễm virus, xe cộ, thức ăn, quần áo…
- Vector trung gian (chuột, côn trùng…)
Từ quốc gia này sang quốc gia khác
- Chim di trú: chim hoang dã, thủy cầm, chim biển và chim dọc bãi biển
- Giao thương quốc tế: chim sống và thịt chưa chế biến
2.3.3 Sinh bệnh học
Khi xâm nhiễm vào cơ thể gia cầm, virus cúm sẽ nhân lên trong đường hô hấp
và đường tiêu hóa Qua đường hô hấp hay đường tiêu hóa, virus nhân lên trên lớp tế bào niêm mạc Tùy theo độc lực và ái lực của virus (hướng đường ruột, hướng hô hấp,
Trang 27hướng thần kinh hay đa hướng), virus theo máu và đến cơ quan hô hấp, tiêu hóa, sinh sản gây triệu chứng và bệnh tích, hoặc có thể không có biểu hiện nào Trong phòng thí nghiệm có thể gây trên gà, gà tây, vịt và chuột (Trần Thanh Phong, 1996)
Ở các ổ cúm gia cầm thể độc lực cao thường bắt đầu bằng việc một virus có độc lực thấp xâm nhập vào đàn Virus độc lực thấp này thường có nguồn gốc là chim hoang Sau đó, virus lưu hành vài tháng trong quần thể gia cầm nuôi và đột biến từ chủng có khả năng gây bệnh nhẹ thành chủng có độc lực cao với tỷ lệ chết có thể lên đến 100%
2.4 TRIỆU CHỨNG BỆNH TÍCH
2.4.1 Triệu chứng
Triệu chứng bệnh thay đổi tùy thuộc vào độc lực của virus, loài mắc bệnh, lứa tuổi, giới tính, tình trạng bệnh ghép, khả năng miễn dịch của cơ thể, các yếu tố môi trường…
Bệnh nhiễm virus độc lực thấp (MPAI - Mildly Pathogenic Avian Influenza)
- Chim hoang dã nhiễm virus cúm độc lực thấp không có dấu hiệu lâm sàng, gia cầm nuôi có biểu hiện bất thường trong cơ quan hô hấp, tiêu hóa, bài tiết, sinh dục Dấu hiệu phổ biến nhất là ở đường hô hấp với các triệu chứng: ho âm rale, hắt hơi, chảy nước mắt…
- Trên gà đẻ và gà giống: gà mái ủ rủ, giảm sản xuất trứng
- Ngoài ra, gia cầm nuôi có các dấu hiệu như nằm dồn đống, xù lông, ủ rủ, giảm hoạt động, giảm ăn uống, thỉnh thoảng tiêu chảy, gầy ốm
- Tỷ lệ mắc bệnh cao nhưng tỷ lệ tử vong thấp (khoảng 25%)
Bệnh nhiễm virus độc lực cao (HPAI - Highly Pathogenic Avian Influenza)
- Trên chim hoang và vịt nuôi ít có dấu hiệu lâm sàng Trên gà, gà tây có sự nhân lên của virus gây phá hủy nhiều cơ quan nội tạng, hệ thống tim mạch và thần kinh Thường gia cầm chết nhanh đột ngột mà không có triệu chứng Nếu bệnh tiến triển chậm và phục hồi sau 3-7 ngày thì có biểu hiện rối loạn thần kinh như run rẩy đầu
và cổ, trẹo cổ, rối loạn vận động…
- Trên gà đẻ và gà giống xuất hiện các triệu chứng bất thường: giảm ăn, giảm uống, giảm sản xuất trứng, có thể ngừng sản xuất trứng trong vòng 6 ngày Dấu hiệu
hô hấp ít rõ hơn khi nhiễm chủng độc lực thấp nhưng có thể có hắt hơi, ho
Trang 28- Tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong cao từ 50% - 89%, một số đàn có thể lên đến 100%
Hình 2.7: Triệu chứng gà mắc bệnh cúm (Nguyễn Thị Phước Ninh, 2007) 2.4.2 Bệnh tích
Nhiễm virus động lực thấp
- Thường bệnh tích ở đường hô hấp, đặc biệt là ở mũi như: viêm nhày, viêm sợi huyết, viêm có mủ nhày… Niêm mạc khí quản có thể phù, tụ huyết, xuất huyết, có tiết dịch từ trong đến đục, thỉnh thoảng gây ngạt thở do tắc đường dẫn khí Viêm túi khí
sợi huyết hay viêm sợi huyết có mủ (trong trường hợp có phụ nhiễm E.coli,
Pasteurella multocida…)
- Viêm xoang bụng, viêm ruột nhày hay sợi huyết
- Ống dẫn trứng trên gà đang đẻ có thể chưa dịch tiết, vỏ trứng mỏng, méo mó mất màu, buồng trứng xuất huyết trong các nang lớn
- Thận sưng, tích urat trong một số trường hợp
Nhiễm virus độc lực cao
- Xuất hiện triệu chứng phù, xuất huyết các cơ quan nội tạng và da Ở thể quá cấp thường không thấy bệnh tích
- Trên gà thường bị sưng đầu, mặt, cổ, chân do phù dưới da và có thể đi kèm theo xuất huyết điểm Chỗ da không lông (đặc biệt mào và tích) thường bị hoại tử, xuất huyết, xanh tím
Trang 29Hình 2.8:Xuất huyết màng ngoài tim Hình 2.9: Hoại tử điểm trên tụy
(Nguồn: Nguyễn Thị Phước Ninh, 2007)
- Bệnh tích trên cơ quan nội tạng thường thay đổi tùy theo chủng virus nhưng
có xuất huyết trên bề mặt thanh mạc hay niêm mạc và các ổ hoại tử trong nhu mô Đặc biệt xuất huyết ở màng ngoài tim, trong cơ ngực, trong niêm mạc dạ dày tuyến và da dày cơ, hoại tử và xuất huyết mảng Peyer Ngoài ra còn có các ổ hoại tử trên tụy, lách, tim, gan và thận
Trang 302.5.1 Chẩn đoán lâm sàng
Chẩn đoán lâm sàng dựa vào đặc điểm về triệu chứng, bệnh tích và dịch tể học Cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh gây xáo trộn hô hấp như: bệnh Newcastle, bệnh
do Chlamydia, bệnh do Mycoplasma gallisepticum, bệnh viêm thanh khí quản truyền
nhiễm, bệnh do Reovivus, bệnh viêm phế quản truyền nhiễm (Trần Thanh Phong, 1996)
2.5.2 Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm
- Đối với gia cầm, thủy cầm, chim và động vật có vú đã chết: khí quản, dịch khí quản, phổi, não, gan, lách, thận, tuyến tụy
2.5.2.2 Phương pháp chẩn đoán trong phòng thí nghiệm
Phân lập virus
Tiêm khoảng 0,2ml mẫu (đã được xử lý) vào xoang niệu mô của phôi trứng gà
09 - 11 ngày tuổi Những phôi chết trong vòng 24 giờ sau khi tiêm truyền thường do bị tạp nhiễm hoặc thao tác sai nên phải loại bỏ Một số virus có thể mọc nhanh và gây chết phôi trước 48 giờ Sau 72 giờ tại thời điểm phôi chết sẽ được thu hoạch dịch niệu
mô Sự hiện diện của virus được chứng minh bằng hoạt tính ngưng kết hồng cầu (HA) trong dịch niệu mô
Phát hiện kháng nguyên
- Test Directigen phát hiện kháng nguyên virus cúm trong mẫu bệnh phẩm và dịch niệu mô của trứng gà đã được tiêm truyền virus Ưu điểm của Test Directigen là tốn ít thời gian, thao tác đơn giản, dễ thực hiện, tuy nhiên, hạn chế của Test Directigen
là chỉ phát hiện được virus cúm type A mà không xác định được phân type
- Kỹ thuật dùng kháng thể huỳnh quang phát hiện nhanh virus cúm gia cầm trong dịch niệu mô
Trang 31- Kỹ thuật dùng kháng thể đơn dòng phát hiện kháng nguyên virus trong mô bằng nhuộm immunoperoxidase
- Phản ứng Real time RT-PCR (Reverse Transcriptase- Polymerase Chain Reaction): PCR là một kỹ thuật tiên tiến nhằm phát hiện và xác định hệ gen của virus cúm đặc biệt là khi chúng hiện diện với một lượng rất thấp Do hệ gen của virus cúm là một chuỗi RNA đơn nên cần tổng hợp một DNA bổ sung (cDNA) trước khi được nhân lên Enzym RT (Reverse Transcriptase) là một polymerase được dùng để tổng hợp nên cDNA Do đó quá trình nhân hệ gen RNA của virus cúm được gọi la RT-PCR (Cục thú y, 2004)
Phát hiện kháng thể
- Phản ứng ELISA phát hiện kháng thể kháng virus type A Kháng nguyên là virus cúm được gắn dưới đáy của đĩa 96 giếng, kháng nguyên sẽ kết hợp đặc hiệu với kháng thể có trong huyết thanh mẫu xét nghiệm Phản ứng ELISA chỉ thích hợp để kiểm tra trên gà và gà tây Phát hiện kháng thể trong vòng 1 tuần sau khi nhiễm virus cúm
- Kỹ thuật khuyếch tán trên thạch AGP (Agar Gel Precipitation Test): Phát hiện kháng thể kháng virus cúm gia cầm type A trong vòng 1 tuần sau khi nhiễm
- Phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu HI (Hemagglutination Inhibition): Phát hiện kháng thể kháng virus cúm type A phân type H5 ở gia cầm sau khi nhiễm hoặc sau khi tiêm vắc xin Khi gặp kháng thể đặc hiệu thì kháng nguyên sẽ kết hợp với kháng thể, do vậy hồng cầu sẽ tụ lại đáy giếng Dựa vào mức độ lắng của hồng cầu mà chúng ta có thể xác định hàm lượng kháng thể kháng virus cúm Ưu điểm của phản ứng là dễ thực hiện và cho kết quả chính xác
2.6 CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG BỆNH
2.6.1 Nguyên lý phòng bệnh cúm gia cầm
Áp dụng nguyên lý phòng chống dịch bệnh: là xóa bỏ một hay nhiều khâu của vòng truyền lây, hoặc xóa bỏ mối quan hệ giữa các khâu đó (nguồn bệnh là khâu quan trọng nhất) Phòng dịch và chống dịch là 2 nội dung khác nhau nhưng có mối liên hệ mật thiết với nhau: phòng dịch tốt sẽ làm giảm nguồn bệnh nên việc chống dịch sẽ nhẹ nhàng hơn; ngược lại việc chống dịch tốt sẽ làm giảm nguồn bệnh nên việc phòng dịch
sẽ thuận lợi hơn (Lê Anh Phụng, 2002)
Trang 32Hình 2.12: Nguyên lý phòng bệnh cúm gia cầm 2.6.1 Các biện pháp phòng chống bệnh cúm gia cầm
Đối với bệnh cúm gia cầm áp dụng các biện pháp phòng bệnh là chủ yếu
Theo Nguyễn Thị Phước Ninh (2007), những biện pháp phòng bệnh cúm gia cầm bao gồm:
- Thực hiện an toàn sinh học trong khu vực chăn nuôi là tiêu chí hàng đầu
- Nhập thú phải qua kiểm dịch rồi mới nhập đàn
- Nuôi cách ly và không nuôi chung nhiều lứa tuổi, không nuôi chung nhiều loài thú khác nhau
- Tiêm phòng vaccine
Theo Phạm Sỹ Lăng (2004) ở Việt Nam biện pháp chống cúm gia cầm như sau:
(1) Đối với nguồn bệnh
- Cần nhanh chóng chẩn đoán xác định bệnh
- Cách ly toàn bộ khu vực có bệnh
- Tiêu hủy toàn bộ gia cầm trong ổ dịch
(2) Đối với yếu tố trung gian truyền lây
- Tiêu độc phương tiện vận chuyển, dụng cụ chăn nuôi từ vùng dịch đi ra
- Tiêu diệt côn trùng, tiết túc
NGUỒN BỆNH (Mầm bệnh)
BỆNH CÚM GIA CẦM
ĐỘNG VẬT CẢM
THỤ (Vật nuội & động vật hoang dã)
MÔI TRƯỜNG (Yếu tố truyền lây)
Trang 33- Kiểm soát động vật hoang mang mầm bệnh
2.6.2.2 Sự cần thiết của tiêm vaccine phòng bệnh cúm gia cầm
Trong thực tế sản xuất, có nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho các biện pháp
an tòan sinh học không đủ mạnh để khống chế sự lây lan của các chủng virus độc lực cao hoặc xuất hiện kẽ hở nào đó mà bệnh có nguy cơ xâm nhập vào đàn gây bệnh Lúc nầy việc sử dụng vaccine có thể là một giải pháp có ích, làm giảm thiệt hại kinh
tế và góp phần khống chế bệnh có hiệu quả
Những nghiên cứu thực nghiệm và các nghiên cứu thực địa (Tô Long Thành, 2006), cho thấy việc tiêm phòng vaccine đúng sẽ đạt được một số mục đích như:
- Bảo hộ gia cầm không xuất hiện các triệu chứng lâm sàng và chết
- Giảm thiểu sự bài thải virus ra môi trường ngoài làm giảm sự lây lan
- Giảm tình trạng mẫn cảm của đàn gia cầm với các chủng virus gây bệnh
Do đó khi quyết định sử dụng vaccine trong chiến lược phòng chống cúm gia cầm trên một quốc gia cần phải làm rõ một số vấn đề: