1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi Nguyễn Châu Thắng, xã Long Hưng huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên (Khóa luận tốt nghiệp)

76 194 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi Nguyễn Châu Thắng, xã Long Hưng huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi Nguyễn Châu Thắng, xã Long Hưng huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi Nguyễn Châu Thắng, xã Long Hưng huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi Nguyễn Châu Thắng, xã Long Hưng huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi Nguyễn Châu Thắng, xã Long Hưng huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi Nguyễn Châu Thắng, xã Long Hưng huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên.Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi Nguyễn Châu Thắng, xã Long Hưng huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên.

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -o0o -

LÊ HẢI NAM

Tên chuyên đề:

“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÕNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI CHĂN NUÔI NGUYỄN CHÂU THẮNG XÃ LONG HƯNG HUYỆN VĂN GIANG

TỈNH HƯNG YÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú Y Khoa: Chăn nuôi - Thú y Khóa học: 2013 – 2017

Thái Nguyên, 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -o0o -

LÊ HẢI NAM

Tên chuyên đề:

“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÕNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI CHĂN NUÔI NGUYỄN CHÂU THẮNG XÃ LONG HƯNG HUYỆN VĂN GIANG

TỈNH HƯNG YÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú Y Lớp: K45 - TY - NO3 Khoa: Chăn nuôi - Thú y Khóa học: 2013 – 2017

Giảng viên hướng dẫn: TS Ngô Nhật Thắng

Thái Nguyên, 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình ho ̣c tâ ̣p và thực tâ ̣p tốt nghiê ̣p được sự giúp đỡ , giảng dạy nhiệt tình của các thầy cô trong khoa Chăn nuôi thú y , đã ta ̣o điều kiê ̣n thuâ ̣n lợi nhất giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề tốt nghiê ̣p ta ̣i cơ sở thực tâ ̣p

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới:

Ban giám hiê ̣u nhà trường, Ban chủ nhiê ̣m khoa, cùng toàn thể các thầy

cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y đã tâ ̣n tình giảng da ̣y , chỉ bảo cho em trong suốt thời gian ho ̣c tâ ̣p ta ̣i trường

Em xin chân thành cảm ơn tới chủ tra ̣i là ông Châu Thắng cùng các anh chị kỹ thuật, công nhân tại tra ̣i

Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm , giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn: Ts Ngô Nhật Thắng đã hướng dẫn chỉ bảo tâ ̣n tình giúp đỡ em trong quá trình thực tâ ̣p và hoàn thành khóa luâ ̣n này

Mô ̣t lần nữa em xin gửi tới các thầy giáo , cô giáo, tất cả các ba ̣n bè , người thân đã luôn bên em , giúp đỡ động viên và khuyến khích em trong quá trình hoàn thành khóa luận lời cảm ơn và lời chúc sức khỏe, cùng mọi điều tốt

đe ̣p nhất

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 20

Sinh viên

Lê Hải Nam

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Lịch sát trùng trại lợn nái 44

Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại Nguyễn Châu Thắng qua 3 năm 2015 - 2017 49

Bảng 4.2 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập 50

Bảng 4.3 Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại 51

Bảng 4.4 Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái 52

Bảng 4.5 Kêt quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 53

Bảng 4.6 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh lợn nái sinh sản và lợncon tại trại 54

Bảng 4.7 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản và lợn con tại trại 55

Bảng 4.8 Kết quả điều trị bệnh trên đàn nái sinh sản và lợn con tại trại 55

Bảng 4.9 Kết quả thực hiện các thao tác trên lợn con 57

Bảng 4.10 Bảng hạch toán kinh tế cho 1174 58

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2

Phần 2:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện của trang trại 3

2.1.2 Đánh giá chung 8

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề thực hiện 8

2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 8

2.2.2 Những hiểu biết về đặc điểm sinh lý tiết sữa của lợn nái và các yếu tố ảnh hưởng 12

2.2.3.Những đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ 20

2.2.4.Những hiểu biết về phòng và trị bệnh cho vật nuôi 24

2.2.5.Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái đẻ nuôi con và lợn con 28

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 36

2.3.1 Tổng quan các nghiên cứu trong nước 36

2.3.2 Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài 38

Trang 7

Phần 3:ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 40

3.1 Đối tượng 40

3.2 Địa điểm và thời gian thực hiện 40

3.3 Nội dung thực hiện 40

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 40

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi thực hiện 40

3.4.2 Phương pháp thực hiện 41

3.4.3 Công thức tính và xử lý số liệu 47

3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 48

Phần 4:KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 49

4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại qua 3 năm từ 2015 – 2017 49

4.2 K ết quả thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng đàn lợn tại trại 50

4.2.1 Số lượng nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại 50

4.2.2 Tình hình sinh sản của đàn lợn nái tại trại được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 51

4.2.3 Một số chỉ tiêu kỹ thuật của đàn lợn nái sinh sản tại trại 52

4.3 Kết quả thực hiện quy trình phòng trị bệnh cho lợn nái tại trại 52

4.3.1 Kết quả công tác vệ sinh phòng bệnh 52

4.3.2 Kết quả công tác tiêm phòng bằng vacxin 53

4.3.3 Kết quả công tác chẩn đoán bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con tại trại 55

PHẦN 5:KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59

5.1 Kết luận 59

5.2 Đề nghị 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Trang 8

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong xu thế hô ̣i nhâ ̣p hiê ̣n nay , phát triển công nghiệp là chiến lược lâu dài, nhưng nông nghiê ̣p vẫn là ngành kinh tế tro ̣ng tâm mà Đảng và Nhà nước ta đă ̣t lên hàng đầu Trong đó ngành chăn nuôi chiếm vi ̣ trí vô cùng quan trọng trong đời sống của nhân dân Chăn nuôi không chỉ góp mô ̣t khối lượng lớn thực phẩm cho đời sống sinh hoa ̣t hàng ngày của con người mà còn cung cấp nguyên li ệu cho ngành công nghiệp chế biến, bên ca ̣nh đó ngành chăn nuôi còn giải quyết công ăn viê ̣c làm cho người dân , góp phần hạn chế thực trạng thiếu việc làm như hiện nay, đồng thời góp phần đẩy ma ̣nh kinh tế của người dân

Ngành chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong nền nông nghiệp nước ta Nó là nguồn cung cấp thực phẩm với tỷ trọng và chất lượng tốt cho con người Hiện nay, nhu cầu người tiêu dùng ngày càng cao, đòi hỏi ngành chăn nuôi lợn không ngừng nâng cao về số lượng và chất lượng của sản phẩm, đem lại nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, đảm bảo vệ sinh

an toàn thực phẩm Để đạt được như vậy các nhà khoa học đã nghiên cứu ra các giống sản xuất tốt, chế biến các loại thức ăn nghiên cứu bổ sung chăm sóc nuôi dưỡng kết hợp với thức ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng cùng vitamin, và khoáng chất ngoài ra trong chăn nuôi thì công tác thú y không thể thiếu được Tuy vậy trong chăn nuôi còn gặp nhiều trở ngại và hạn chế đó là: thông tin khoa học, kỹ thuật chăn nuôi lợn chưa nhanh chóng, kịp thời đến người chăn nuôi, những hiểu biết về dịch bệnh còn hạn chế.Đặc biệt là trong quá trình đẻ lợn nái hay bị nhiễm các loại vi khuẩn như : Streptococcus,

E.coli xâm nhập và gây mô ̣t số bê ̣nh ở cơ quan sinh dục như: viêm âm đa ̣o , viêm tử cung, viêm vú, mất sữa…Các bệnh này do nhiều yếu tố như điều kiện vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng kém, thức ăn nước uống không đảm bảo vệ

Trang 9

sinh, do vi khuẩn, virus gây nên làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đàn lợn lợn nái

Để nắm bắt được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh

cho lợn nái trong thực tiễn sản xuất, em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi Nguyễn Châu Thắng xã Long Hưng huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên“

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1 Mục đích

- Nắm được tình hình chăn nuôi lợn tại trại

- Nắm được quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản

- Nắm được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần ăn và cách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai

- Nắm được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản và phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề

- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại tra ̣i

- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại

- Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và áp dụng các biện pháp phòng và trị bệnh cho đàn lợn nái tại cơ sở thực tập

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện của trang trại

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Trại chăn nuôi Nguyễn Châu Thắng nằm trên địa phận xã Long Hưng, huyện Văn Giang, nằm ở phía tây bắc tỉnh Hưng Yên Phía bắc và tây bắc giáp thành phố Hà Nội, phía nam giáp huyện Khoái Châu, huyện Văn Lâm, phía đông giáp huyện Yên Mỹ, phía tây giáp tỉnh Hà Tây Có 11 đơn vị hành chính, gồm 10xã và 1 thị trấn với tổng diện tích 71,79 km2

Trại bắt đầu hoạt động từ năm 2005 là trại tư nhân và do ông Nguyễn Châu Thắng làm chủ trại

2.1.1.2 Đặc điểmkhí hậu

Long Hưng là một xã thuộc huyện Văn Giang, nằm ở tỉnh Hưng Yên, trong vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa , một năm có bốn mùa rõ rệt: Xuân, Hạ, Thu, Đông Do đó trại Nguyễn Châu Thắng cũng chịu ảnh hưởng chung của khí hậu vùng

Nhiệt độ: Trại có nhiệt độ cao, chênh lệch nhiệt độ giữa mùa đông và mùa hạ khá lớn.Nhiệt độ trung bình hàng năm là: 23 - 240

C, nhiệt độ cao nhất vào tháng 7 là 390C, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là 150

C Có nét đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều về mùa hè, hanh khô và la ̣nh kéo dài về mùa đông

Tổng số giờ nắng trung bình hàng năm khoảng : 1.450 giờ

Lượng mưa trung bình hàng năm vào khoảng 1400 - 1700mm nhưng lượng mưa phân bố không đều trong năm, phân thành hai mùa rõ rệt đó là mùa mưa và mùa khô

+ Mùa mưa: Từ tháng 4 - tháng 10, lượng mưa chiếm từ 80 - 82% tổng lượng mưa của cả năm Lượng mưa bình quân là 75mm/tháng

Trang 11

+ Mùa khô: Từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, mùa khô trùng với các tháng có nhiệt độ thấp trong năm Lượng mưa bình quân là 25mm/tháng

Độ ẩm không khí ở trại tương đối cao, trung bình từ 83 - 85%, tháng cao nhất là 88% (tập trung vào các tháng 3 và tháng 4), tháng thấp nhất là: 65% (tập trung vào tháng 12)

- Chế độ gió mù a : hướng gió chủ đạo về mùa đông là Đông - Bắc, về mùa hè là Đông – Nam, vâ ̣n tốc gió trung bình năm là 2,4 m/s Vâ ̣n tốc gió cực đa ̣i có thể xảy ra theo chu kỳ thời gian 5 năm là 25 m/s; 10 năm là 32 m/s;

(Nguồn : http://vangiang.hungyen.gov.vn) 2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại

Trại có đội ngũ cán bộ kĩ thuật giỏi, giàu kinh nghiệm thực tế và có

nhiều năm trong nghề

Cơ cấu lao động của trại gồm:

- 01 Chủ trại: Là người làm chủ và điều hành công việc chung

- 01 Quản lý trại: Trực tiếp quản lý các công việc của trại

- 05: Công nhân: Trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn

- 01: Bảo vệ: Chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại

Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các chuồng khác nhau như: chuồng bầu, chuồng đẻ, chuồng hậu bị , chuồng cai sữa và chuồng thi ̣t Mỗi chuồng đều thực hiện công việc hàng ngày một cách nghiêm túc , đúng quy định của trại

2.1.1.4 Cơ sở vật chất của trang trại

Để đảm bảo công tác chăn nuôi và sinh hoạt của công nhân trại được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật gồm:

Khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân, nhà bếp, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại

Trang 12

Khu chăn nuôi xung quanh có hàng rào bao bọc và có cổng ra, cổng vào riêng Chuồng trại được quy hoạch bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi công nghiệp, hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn Trong khu chăn nuôi lợn được bố trí xây dựng chuồng trại cho hơn 100nái sinh sản với các giống sản xuất chính như: Landrace, Yorshire, được nhập từ nước ngoài về Khu chăn nuôi gồm: 1 chuồng đẻ, 1 chuồng bầu, 1 chuồng cai sữa và 4 ô chuồng thi ̣t nhỏ Một số công trình khác phục vụ cho chăn nuôi như: kho cám, kho thuốc, phòng tinh, phòng sát trùng, kho chứa vật liệu

- Hệ thống chuồng được xây dựng khép kín và hoàn toàn tự động Trang thiết bị trong chuồng hiện đại được đầu tư Đầu mỗi chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng là hệ thống quạt thông gió Riêng chuồng đẻ và chuồng bầu thì trong chuồng có hệ thống cảm biến nhiệt độ giúp ta biết rõ nhiệt độ trong chuồng nuôi

- Phòng pha tinh có các dụng cụ hiện đại phục vụ cho việc pha chế tinh như: ống đựng tinh, nhiệt kế kính hiển vi, tủ sấy, tủ bảo quản tinh sau khi pha

và các dụng cụ khác

- Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu đều được đổ bê tông và có hố sát trùng Khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt Mọi công nhân trong trại cho đến khách vào thăm quan trại trước khi vào chuồng đều phải thay quần áo, đeo khẩu trang, ủng chuyên dụng và phải

đi qua hệ thống sát trùng

- Nguồn nước thải rửa chuồng trại, xả gầm đều được xử lý qua hệ thống thoát nước ngầm

- Xung quanh trang trại còn trồng rau xanh, cây ăn quả, đào những hồ sinh học tạo môi trường thông thoáng

Trang 13

2.1.1.5 Tình hình chăn nuôi tại cơ sở trong những năm qua

* Công tác chăn nuôi

Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuấttheo hướng lấy thịt.Số con sơ sinh là 12,25 con/đàn, số con cai sữa là 11,68 con/đàn, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển từcác chuồng úm sang các chuồng thịt

* Công tác vệ sinh thú y của trại

Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trạiluôn được thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên tại trại

- Công tác vệ sinh:

Chuồng trại được xây dựng thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, xung quanh các chuồng nuôi được trồng cây xanh nhằm tạo sự thoáng mát tự nhiên

Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn, phun thuốc sát trùng, hành lang đi lại được quét dọn và rắc vôi theo quy định

Công nhân, kỹ sư, khách tham quan trước khi vào khu chăn nuôi đều phải sát trùng tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo bảo hộ lao động

- Công tác phòng bệnh:

Trong khu vực chăn nuôi, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại được sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào

Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trang trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực và đến lợn con Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh

Trang 14

truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100%

*Lịch tiêm phòng cho lợn tại trại cụ thể theo giai đoạn sau:

Thời điểm

phòng bệnh

Bệnh được phòng Loại vacxin Liều dùng Đường tiêm

Mang thai

tuần thứ 10

Dịch tả Vacxin Dịch tả

lợn nhược độc đông khô

tuần thứ 12 Khô thai Suvaxyn Parvo

2 ml/con Tiêm bắp Trước đẻ 1

tuần Kí sinh trùng Ivermectin 1ml/30kgTT Tiêm dưới da

14 - 21 ngày

tuổi

Hội chứng còi

28 – 30 ngày

tuổi Dịch tả lần 1

Vacxin Dịch tả

lợn nhược độc đông khô

1 ml/con Tiêm bắp

35 ngày tuổi Lở mồm long

2 ml/con Tiêm bắp

40 – 45 ngày

tuổi Dịch tả lần 2

Vacxin Dịch tả

lợn nhược độc đông khô

1 ml/con Tiêm bắp

- Công tác trị bệnh: cán bộ kỹ thuật có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trại luôn được kỹ thuật

Trang 15

viên phát hiện sớm, cách ly, điều trị ngay ở giai đoạn đầu, vì vậy hiệu quả điều trị thường cao, không gây thiệt hại nhiều cho trang trại

- Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,

do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề thực hiện

2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái

2.2.1.1 Sư ̣ thành thục về tính và thể vóc

* Sự thành thu ̣c về tính

Gia súc phát triển đến mô ̣t giai đoa ̣n nhất đi ̣nh thì sẽ có biểu hiê ̣n về tính dục Tuổi thành thu ̣c về tính là tuổi mà con vâ ̣t bắt đầu có phản xạ tính dục và có khả năng sinh sản theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2005) [22] Khi gia súc đã thành thu ̣c về tính, bô ̣ máy sinh du ̣c đã phát triển hoàn thiê ̣n, dưới tác du ̣ng của thần kinh nội tiết tố con vật bắt đầu xuấ t hiê ̣n các phản xa ̣ về sinh du ̣c Con cái có hiê ̣n tượng đô ̣ng du ̣c, con đực có phản xa ̣ giao phối

Khi đó ở con cái các noãn bào chín và ru ̣ng trứng (lần đầu), con đực có phản xạ sinh tinh Đối với các giống gia súc khác n hau thì thời gian thành

Trang 16

thục về tính khác nhau , ở lợn nội thường từ 4-5 tháng tuổi (120-150 ngày), ở lợn ngoa ̣i (180-210 ngày) (Võ Trọng Hốt và cs (2000) [9])

Tuy nhiên thành thu ̣c về tính sớm hay muô ̣n phu ̣ thuô ̣c vào giống , chế đô ̣ dinh dưỡng, khí hậu, chuồng tra ̣i, trạng thái sinh lý của từng cá thể

Cụ thể lợn Landrace nhập vào nuôi ở Việt Nam có tuổi động dục lần đầu là 208-209 ngày

Tùy theo giống, điều kiê ̣n chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà lợn có tuổi

đô ̣ng du ̣c lần đầu khác nhau Lợn Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4

- 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi), các giống lợn ngoại Yorkshire, Landrace muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi

+ Điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng

Chế đô ̣ dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thu ̣c về tính của lợn nái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thu ̣c về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiê ̣n dinh dưỡng kém

Dinh dưỡng thiếu làm châ ̣m sự thành thu ̣c về tính là do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố , nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng đến sự thành thục là do sự tích lũy xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của trứng , mă ̣t khác do béo qúa ảnh hưởng đến hooc môn oestrogen và progesteron trong máu làm cho hàm lượng của chúng trong cơ thể không đa ̣t mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thu ̣c

+ Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng:

Trang 17

Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng cũng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt đến tuổi

đô ̣ng du ̣c Mùa hè lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu – đông, điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiê ̣t đô ̣ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng tro ̣ng thấp trong các thá ng nóng bức Những con được chăn thả tự do thì xuất hiê ̣n sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân) và

17 ngày (mùa thu ) Mùa đông, thờ i gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm , bóng tối cũng làm châ ̣m tuổi thành thu ̣c về tính

so với những biến đô ̣ng ánh sáng tự nhiên hoă ̣c ánh sáng nhân ta ̣o 112 giờ mỗi ngày (Dwane và cô ̣ng sự, (2000) [7])

+ Mật đô ̣ nuôi nhốt:

Mâ ̣t đô ̣ nuôi nhốt đông trên 1 đơn vi ̣ diê ̣n tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm châ ̣m tuổi đô ̣ng du ̣c Nhưng cần tránh nuôi cái hâ ̣u bi ̣ tách biê ̣t đàn trong thời kỳ phát triển Kết quả nghiên cứu cho thấy viê ̣c nuôi nhốt lợ n cái hậu bị riêng từng cá thể sẽ làm chậm lại thành thục tính so với l ợn cái được nuôi nhốt theo nhóm Bên ca ̣nh những yếu tố trên thì đực giống cũng là một trong những yếu tố ảnh hưở ng đến tuổi đô ̣ng du ̣c của lợn cái hâ ̣u bi ̣ Nếu cái hậu bị thường xuyên tiếp xúc với đực giống sẽ nhanh động dục hơn cái dự bị không tiếp xúc với lợn đực giống Lợn cái hậu bị ngoài 90kg thể tro ̣ng ở

165 ngày tuổi cho tiếp xúc 2 lần trên ngày với lợn đự c, mỗi lần cho tiếp xúc 15-20 phút thì tới 83% lơn cái hâ ̣u bi ̣ đô ̣ng du ̣c lần đầu

*Sự thành thu ̣c về thể vóc

Sự thành thu ̣c về thể vóc thường diễn ra châ ̣m hơn sự thành thu ̣c về tính Sau mô ̣t thời kỳ sinh trưởng và phát t riển, đến một thời điểm nhất định con

vâ ̣t đa ̣t tới đô ̣ trưởng thành về thể vóc Tuổi thành thu ̣c về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh , xương đã được cốt hóa hoàn toàn, tầm vóc ổn đi ̣nh Tuổi thành thu ̣c về thể vóc thường châ ̣m hơn so với tuổi thành thu ̣c về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng

Trang 18

hiê ̣n tượng đô ̣ng du ̣c lần đầu tiên Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục , trong giai đoa ̣n lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt Vì lợn mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt , nên chất lượng đời con kém Đồng thời cơ quan sinh dục, đă ̣c biê ̣t là xương châ ̣u vẫn còn he ̣p dễ gây hiê ̣n tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Do đó không nên cho phối giống quá sớm Đối với lợn cái nội khi được 7-8 tháng khối lượng đạt 40-50kg nên cho phối , đối vớ i lợn ngoa ̣i khi được 8-9 tháng tuổi, khối lượng đa ̣t 100-110 kg mới nên cho phối

2.2.1.2 Những hiểu biết về sinh lý đẻ

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6] gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tùy từng loài gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ, dưới tác động của cơ chế thần kinh - thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài

Đẻ là quá trình đưa thai đã phát triển thành thục theo đường sinh dục của

mẹ ra ngoài Nếu không đủ hai điều kiện trên tức là đẻ không bình thường

Trước khi đẻ, cơ thể mẹ có nhiều thay đổi quan trọng có liên quan tới việc đẩy thai ra ngoài như: dây chằng xương chậu giãn, gia tăng chiều dài từ

25 - 30% so với bình thường (người ta gọi là hiện tượng sụt lưng), nút cổ tử cung loãng Trước khi đẻ từ 12 - 48 giờ thân nhiệt hơi hạ xuống Cổ tử cung

mở, sữa bắt đầu tiết

Đẻ là một quá trình sinh lý phức tạp chịu sự điều hòa của cơ chế thần kinh - thể dịch.Khi thai đã thành thục thì quan hệ sinh lý giữa mẹ và nhau thai không còn cần thiết nữa, lúc này thai đã trở thành như một ngoại vật trong tử cung nên được đưa ra ngoài bằng động tác đẻ Khi lợn đẻ toàn thân co bóp, thường gọi là cơn đau, lúc này áp lực bên trong tăng cao đẩy thai ra ngoài Khi thai ra rốn thai tự đứt, lợn là một loài đa thai nên đẻ từng con một, cách khoảng 10-15

Trang 19

hoặc 20 phút đẻ 1 con Thời gian đẻ của lợn trung bình kéo dài từ 1-6 giờ, nếu quá 6 giờ mà thai chưa ra thì cần xem xét để có biện pháp tác động ngay

2.2.2 Những hiểu biết về đă ̣c điểm sinh lý tiết sữa của lợn nái và các yếu tố ảnh hưởng

* Sinh lý tiết sữa của lợn nái

Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2005) [22] sữa là sản phẩm tiết ra từ tuyến

vú, là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa, hấp thu, rất cần thiết cho gia súc non đang bú sữa và là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao đối với con người

Đối với heo bầu vú không có bể sữa Sữa được sản xuất ra từ các tuyến bào và được tích lũy trong các xoang tuyến bào Việc tiết sữa của chúng được thực hiện theo cơ chế thần kinh, thể dịch và theo ba pha

Sự tiết sữa của lợn nái trong quá trình nuôi con là một quá trình sinh lý phức tạp Khi heo con mút bú, đầu tiên heo con ngậm và thúc vào vú mẹ, luồng xung động hưng phấn thần kinh theo dây thần kinh hướng tâm truyền về vỏ não, rồi tới vùng dưới đồi, tiết các yếu tố giải phóng, các yếu tố giải phóng tác động lên thùy sau tuyến yên, kích thích tiết kích tố oxytoxin, oxytoxin đi tới tuyến vú

và làm co bóp tế bào biểu mô, cơ tuyến bào và cơ tuyến vú Nhờ vậy sữa được thải ra từ các xoang tuyến bào, qua ống dẫn sữa nhỏ, rồi ống dẫn sữa lớn và chảy

ra ngoài theo ống tiết sữa, từ đó heo con mới bú được Do vậy, khi heo con bú sữa, chúng được thực hiện theo ba pha như sau: Pha ngậm và thúc vú (80-100s), pha nằm im (20s) và pha mút vú (20s) Do tác động của oxytoxin trong máu khác nhau cho nên các vú khác nhau và cho sản lượng sữa khác nhau

Sản lượng sữa và chất lượng sữa ở các vị trí khác nhau của bầu vú cũng không giống nhau: các vú trước ngực sản lượng sữa cao, phẩm chất tốt, các vú phía sau nhìn chung kém (Nguyễn Khánh Quắc và cs, 1995) [19] Theo Trương Lăng (2000) [10] vú nằm ở trước ngực sản lượng sữa tiết nhiều hơn, trong thời

Trang 20

kỳ tiết sữa lợn con bú ở vú sau được 32 - 39 kg thì vú trước cho 36 - 45 kg sữa vì oxytoxin theo máu đến vú trước sớm hơn Vì vậy để đảm bảo tính đồng đều của toàn ổ lợn ta nên cố định những con nhỏ hơn bú vú trước, nhất thiết phải cho lợn con bú sữa đầu chậm nhất là 2 giờ sau đẻ để lợn con có đủ kháng thể trong năm đầu sau khi sinh vì trong sữa đầu của lợn mẹ có chứa globulin giúp cho cơ thể lợn con có sức đề kháng với ngoại cảnh Theo Phan Đình Thắm (1996) [21] thì nhất thiết phải cho lợn con bú sữa đầu vì trong sữa đầu có hàm lượng globulin cao hơn sữa thường và đây là chất chủ yếu giúp lợn con có sức đề kháng

Lượng sữa của lợn nái tiết sữa tăng cao dần từ lúc mới đẻ, cao nhất lúc

21 ngày sau khi đẻ, sau đó giảm dần Do đó ở tuần thứ tư có sự khủng hoảng

vì thiếu sữa mẹ khi đàn heo con đangsức tăng trưởng cao Để tránh hiện tượng đàn con tăng trưởng chậm lại, tập cho heo con ăn sớm là một biện pháp kỹ thuật cần thiết

* Sữa lợn mẹ

Sữa lợn mẹ có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao tỷ lệ nuôi sống của lợn con Để heo con phát triển tốt thì cần rất nhiều sữa, lượng sữa mẹ sau khi sinh đến khoảng 3 tuần sẽ đạt mức cao nhất, sau đó sẽ từ từ giảm dần Việc cai sữa cho lợn con có thể thực hiện được ngay từ khi đẻ ra, tuy nhiên sữa lợn mẹ luôn được coi là nguồn thức ăn lý tưởng cho lợn con Nguyên liệu để tạo nên sữa đều được lấy từ máu, phải có một máu rất lớn chảy qua bầu vú mới đảm bảo cho nhu cầu tạo sữa: khoảng 540 lít máu chảy qua bầu vú mới tạo được thành 1 lít sữa lợn mẹ Sữa lợn mẹ tiết ra trong vòng 2-3 ngày đầu sau khi đẻ gọi là sữa đầu Theo Trịnh Văn Thịnh (1978) [23] cho rằng thức ăn đầu tiên của lợn con là sữa đầu Sữa đầu có đặc điểm là màu vàng đặc và hơi mặn, khi đun dễ ngưng kết Thành phần dinh dưỡng của sữa đầu khác hẳn so với sữa thường, trong sữa đầu các thành phần như protein, vitamin… đều cao hơn so với sữa thường Trong

Trang 21

sữa đầu lượng vật chất khô đạt 22,3 %, cao hơn sữa thường chỉ có 19,6 % Hàm lượng protein cũng cao hơn là 11,5 % so với 6,8 % của sữa thường, tuy nhiên hàm lượng khoáng, chất béo và đường lactose lại thấp hơn

Đặc biệt trong sữa đầu có chứa nhiều kháng thể globulin (gama globulin)

và các chất khác bảo vệ lợn con mới đẻ chống lại sự tấn công của các vi rút, vi trùng gây bệnh Lượng globulin chiếm khoảng 50% tổng số protein của sữa đầu, sau đó giảm dần Khả năng hấp thụ globulin của lợn con chỉ xảy ra trong những giờ đầu sau khi sinh (trong vòng 24 giờ đầu tiên) Do vậy sữa đầu đóng vai trò quan trọng đối với lợn con theo mẹ

* Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái

Theo Trương Lăng (2000) [10], khả năng tiết sữa của lợn mẹ phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng thức ăn, giống lợn và số lượng lợn con và một số yếu tố khác

+ Giống và cá thể

Các giống lợn khác nhau có khả năng tiết sữa khác nhau Các giống lợn được cải tạo có năng suất sữa cao hơn các giống lợn chưa được cải tạo Ví như lợn Ỉ có sản lượng sữa bình quân là 20,1-25 kg, lợn Móng Cái là 27,5-29,1 kg, lợn Đại Bạch nuôi tại Việt Nam có sản lượng sữa bình quân là 40-50 kg Các tài liệu gần đây cho biết heo nái Yorkshire và Landrace có thể tiết >10 lít sữa / ngày

Thể trạng của lợn mẹ cũng ảnh hưởng đến năng suất sữa trong thời kỳ đầu của quá trình tiết sữa Lợn mẹ gầy yếu thì khả năng tiết sữa kém hơn lợn mẹ có thể trạng trung bình Chúng ta có thể tăng lượng thức ăn sử dụng cho lợn mẹ trong những ngày đầu tiên sau khi đẻ, tuy nhiên nếu lợn mẹ gầy yếu được ăn thức ăn cao chỉ có thể làm tăng tỷ lệ mỡ sữa mà không làm tăng sản lượng sữa Đối với lợn có thể trạng trung bình, nếu cho ăn nhiều thức ăn trong giai đoạn đầu của quá trình tiết sữa sẽ làm tăng sản lượng sữa và có xu hướng làm giảm hao hụt của lợn mẹ trong quá trình tiết sữa

Trang 22

+ Tuổi và lứa đẻ lợn mẹ

Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [4], lứa đẻ tốt nhất là lứa thứ 2 đến lứa thứ 6-7 Tuổi sinh sản ổn định từ năm tuổi thứ 2 đến năm tuổi thứ 4, sang năm đẻ thứ 5 lợn có thể đẻ tốt nhưng con đẻ ra bị còi cọc, chậm lớn, nái già thường hay đẻ khó, thai chết lưu và cắn con

Sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần từ lứa thứ 1 -3, ổn định từ lứa 3 -8, sau đó giảm dần theo sự tăng lên của tuổi Đó là do lợn nái đẻ lứa đầu, các tuyến bào chưa phát dục hoàn chỉnh, chưa có thói quen cho lợn con bú nên sản lượng sữa ở lứa đầu thấp nhất Còn ở lứa đẻ tiếp theo sản lượng sữa bắt đầu tăng, đạt đỉnh cao ở lứa thứ 3, sau đó ổn định và giảm dần từ lứa thứ 8,9 trở đi Do vậy hiện nay nhiều nước loại thải heo mẹ sau khi đẻ 7 -8 lứa

Trong một chu kỳ tiết sữa, lượng sữa tăng dần sau khi đẻ và đạt cao nhất ở tuần thứ 3, sau đó giảm dần đến tuần thứ 8

+ Nuôi dưỡng và chăm sóc

Là yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến sản lượng sữa của lợn nái Nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và sản lượng sữa vì những chất dinh dưỡng cần thiết để tạo thành sữa đều lấy từ thức ăn Tỷ lệ nuôi sống ở lợn con được tăng lên nếu chúng ta cho lợn mẹ ăn khẩu phần ăn có nhiều chất béo ở giai đoạn cuối của giai đoạn chửa và thời kỳ tiết sữa đầu Cơ sở của vấn đề này là khi cho lợn mẹ ăn nhiều chất béo sẽ làm tăng tỷ lệ mỡ sữa, do vậy cung cấp cho lợn con nhiều năng lượng hơn

Khẩu phần ăn của lợn nái trong quá trình có chửa và tiết sữa có ảnh hưởng đến các thành phần hóa học của sữa Khi cho lợn nái ăn tăng khẩu phần ăn, sẽ làm tăng thành phần hóa học của sữa thông qua tăng quá trình trao đổi đến bầu

vú lợn mẹ Quá trình hình thành các chất dinh dưỡng của sữa lợn mẹ được thông qua quá trình tổng hợp, một số thông qua quá trình lọc và một số chuyển thẳng trực tiếp từ máu Hàm lượng các vitamin của sữa phụ thuộc vào hàm lượng các

Trang 23

vitamin trong thức ăn và cả lượng vitamin dự trữ ở gan hoặc các tế bào

2.2.3 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con

2.2.3.1 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ

- Quy trình nuôi dưỡng

Theo Trần Văn Phùng và cs, 2004 [18], thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao,dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt

Trước khi sinh 3 ngày phải giảm thức ăn xuống từ 3-1kg/ngày Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức

ăn, đẻ trước 2-3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa

Lợn nái sắp đẻ có những biểu hiện: ỉa đái vặt, bầu vú căng mọng, bóp đầu vú sữa chảy ra, khi thấy có nước ối và phân xu, lợn nái rặn từng cơn là lợn con sắp ra Ngày lợn nái đẻ có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2-3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4-5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn

- Quy trình chăm sóc

Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Cần phải vệ sinh chuồng trại, tắm chải heo mẹ sạch sẽ, diệt ký sinh trùng ngoài da Cần giữ vệ sinh sạch sẽ vùng giữa âm hộ với hậu môn, vùng này thường chứa nhiều lớp nhăn, da chết bẩn hoặc dính phân, chúng dễ vấy nhiễm vào âm đạo khi can thiệp móc thai

Cần giữ không khí yên tĩnh, thoáng mát vì khi nhiệt độ cao, không khí

Trang 24

nóng, không thông thoáng sẽ làm nái thở mệt, lười rặn, đẻ chậm gây ngộp thở nhiều heo con Bên cạnh đó sự ồn ào, lạ người chăm sóc sẽ làm nái hoảng sợ hoặc hung dữ, ngưng đẻhoặc đẻ chậm dẫn đến số lợn con tử vong lúc đẻ tăng cao Trước khi lợn đẻ 10-15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con

và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Chuồng đẻ cần phải trải đệm lót, có che chắn và thiết bị sưởi ấm trong những ngày mùa đông giá rét Trước khi đẻ 1 tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ những đất hoặc phân bám dính trên người, tắm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh

Ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó cũng là một quá trình quan trọng trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ Ô úm có tác dụng phòng ngừa lợn

mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện đểkhống chế nhiệt độ thích hợp, giúp giữ ấm nhiệt độ cho heo con đặc biệt vào mùa đông

Theo dõi thường xuyên sức khỏe của lợn mẹ, quan sát bầu vú ,thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện sót nhau, sốt sữa hoặc nhiễm trùng để có biện pháp xử lý kịp thời

2.2.3.2 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái nuôi con

- Quy trình nuôi dưỡng

Lợn nái đẻ xong nên cho ăn tăng dần, từ ngày thứ 3 hoặc thứ 4 trở đi cho ăn tự do (4-6kg/ngày/nái) Đảm bảo đủ nước uống cho nái vì lợn tiết sữa

sẽ uống rất nhiều nước, từ 30-50 lít nước mát, sạch/ngày/nái

Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải đủ và cân bằng dưỡng chất, phải là

Trang 25

những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Máng ăn phải sạch sẽ, không để thức ăn mốc, thừa, không nên thay đổi thức ăn của lợn nái Vì trong thời gian nuôi con, lớp mỡ bọc thân của nái bị mất đi do phải rút lượng Canxi, Phospho, chất béo dự trữ trong cơ thể để hỗ trợ cho sự tiết sữa,

do đó sau khi đẻ nái nhanh gầy, xương trở nên xốp, chân dễ bại liệt Nếu cung cấp dư thừa sắt trong khẩu phần ăn của nái nuôi con cũng không đảm bảo đủ lượng sắt mà lợn con nhận được, mà còn dẫn đến tình trạng lợn conthiếu sắt ở tuần tuổi thứ 2, thứ 3 trở đi Vì vậy cần bổ sung đầy đủ sắt trong khẩu phần ăn của heo nái từ giai đoạn mang thai để đảm bảo cung cấp đủ sắt cho lợn con sau khi sinh Việc bổ sung chế phẩm Iod cho nái để tăng hoạt động của tuyến giáp cũng giúpcho nái tiết sữa nhiều, nhưng cần phải thận trọng vì nếu dùng quá liều sẽ dẫn đến các triệu chứng viêm vú, sốt sữa, tuyến sữa bị teo, tắc sữa

Có thể tiêm thêm các vitamin ADE, cho nái sau khi đẻ, thức ăn nái nuôi con cần có Crom hữu cơ giúp nái hấp thu tốt tối đa lượng đường, bảo toàn thể trạng khi nuôi con Cần bổ sung các loại thức ăn là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, các loại thức ăn bổ sung đạm thực vật, khoáng, vitamin Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn

Trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:

- Đối với lợn nái ngoại

+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do

+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn

từ 1-2-3kg tương ứng

Trang 26

+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: cho ăn 4kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày

+ Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức:

Lượng thức ăn/nái/ngày = 2kg +(số con x 0,40kg/con)

+ Số bữa ăn trên ngày: 3 (sáng, chiều và đêm)

+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ngày

+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30% + Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn

- Đối với lợn nái nội

+ Công thức tính nhu cầu thức ăn cho lợn nái nội nuôi con/1 ngày đêm Lợn nái nội có khối lượng cơ thể dưới 100 kg, mức ăn trong 1 ngày đêm được tính như sau:

Thức ăn tinh = 1,2 kg + ( số lợn con theo mẹ x 0,18 kg )

Thức ăn thô xanh: 0,3 đơn vị

Lợn nái nội có khối lượng cơ thể từ 100 kg trở lên, mức ăn cho 1 ngày đêm giai đoạn nuôi con được tính như sau:

Thức ăn tinh = 1,4 kg + ( số con theo mẹ x 0,18 kg )

Thức ăn thô xanh: 0,4 đơn vị

- Quy trình chăm sóc

Sau khi nái đẻ xong cần theo dõi nhiệt độ cơ thể (giai đoạn sau đẻ 7 ngày), thường thì thân nhiệt nái ở khoảng 390

C, nếu thân nhiệt trên 400C nái sốt cao,bỏ

ăn là tình trạng báo động có viêm nhiễm trùng sau đẻ (cần phân biệt hội chứng viêm vú- viêm tử cung- mất sữa (MMA) với sốt sữa- milk fever).Vì vậy giai đoạn này cần phải có biện pháp vệ sinh sát trùng khu vực nái đẻ, theo dỗi để phát hiện kịp thời và điều trị bệnh một cách thích hợp Cần phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt các chất khoáng và vitamin

Trang 27

Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt Do vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp

là 18 - 200C, độ ẩm 70 - 75% và ánh sáng phải chiếu 24/24 giờ

2.2.3.Những đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ

2.2.3.1.Đặc điểm về sinh trưởng và phát dục

Đối với chăn nuôi lợn con nói riêng và gia súc nói chung, thời kì gia súc mẹ mang thai được chăm sóc chu đáo, bào thai sẽ phát triển tốt sinh con khoẻ mạnh

Theo Nguyễn Khánh Quắc và cs (1995) [19] so với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5-6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7-8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12-14 lần

Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đều qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần Có sự giảm này là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm Thời gian bị giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho ăn sớm Do lợn con sinh trưởng nhanh nên quá trình tích luỹ các chất dinh dưỡng mạnh

Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích luỹ được 9-14 gam protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích luỹ được 0,3-0,4 gam protein/1kg khối lượng cơ thể theo Trần Văn Phùng và cs (2004)[18]

Hơn nữa để tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần rất ít năng lượng, nghĩa là tiêu tốn năng lượng ít hơn lợn trưởng thành Vì vậy, cơ thể lợn con

Trang 28

chủ yếu là nạc, mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc thì cần ít năng lượng hơn để sản xuất ra 1kg mỡ

2.2.3.2 Đặc điểm về cơ quan tiêu hoá

Đặc điểm chung về giải phẫu cơ quan tiêu hoá của lợn: Miệng, hầu, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, hậu môn

Cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn chỉnh, các tuyến tiêu hoá phát triển chưa đồng bộ, dung tích của bộ máy tiêu hoá còn nhỏ, thời kỳ bú sữa cơ quan phát triển hoàn thiện dần

Dung tích bộ máy tiêu hoá tăng nhanh trong 60 ngày đầu : Dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi có thể tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc

60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít) Dung tích ruột non của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích ruột non lúc sơ sinh khoảng 0,11 lít) Còn dung tích ruột già lúc 10 ngày tuổi gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 2,5 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích ruột già lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít) theo Trần Văn Phùng và cs (2004)[18] Sự tăng về kích thước cơ quan tiêu hoá giúp lợn con tích luỹ được nhiều giúp lợn con tích luỹ được nhiều thức ăn và tăng khả năng tiêu hoá các chất

Mặc dù vậy, ở lợn con các cơ quan chưa thành thục về chức năng , đặc biệt là hệ thần kinh Do đó, lợn con phản ứng rất chậm chạp đối với các yếu tố tác động lên chúng Do chưa thành thục nên cơ quan tiêu hoá của lợn con cũng rất dễ mắc bệnh, dễ rối loạn tiêu hoá

Khả năng tiêu hoá của lợn con rất hạn chế Theo Hoàng Toàn Thắng và cs, 2005 [22] cho rằng: Lợn con dưới 1 tháng tuổi, dịch vị không có HCl tự do, lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng kết hợp với dịch nhày của dạ dày, hiện tượng đó gọi là hypohydric Do dịch vị chưa có HCl tự

do nên men pepsin trong dạ dày lợn chưa có khả năng tiêu hoá protein của

Trang 29

thức ăn Vì HCl tự do có tác dụng kích hoạt men pepsinnogen không hoạt động thành men pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hoá protein

Enzym trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên lợn trước 20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hoá thực tế của dịch vị có enzym, sự tiêu hao của dịch vi tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn các loại thức ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh Hơn nữa dịch vị thu được khi cho thức ăn hạt kích thích HCl nhiều hơn và sự tiêu hoá nhanh hơn dịch vị thu được khi cho uống sữa Đây là cơ sở cho việc bổ sung sớm thức ăn và cai sữa sớm cho lợn con

Thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã sinh

ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh, khi lợn con sinh ra hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển đầy đủ số lượng vi khuẩn có lợi, chưa có khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh nên rất dễ nhiễm bệnh đường tiêu hoá

2.2.3.3 Đặc điểm về cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con

Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại não của lợn con chưa phát triển hoàn thiện Do đó việc điều tiết thân nhiệt và năng lực phản ứng kém, dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường ( nhiệt độ, đổ ẩm)

Ở lợn con, khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh, yêu cầu về dinh dưỡng ngày càng tăng cao Trong khi đó sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần đến 2 tuần sau khi đẻ và sau đó giảm dần cả về chất và lượng Đây là mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con và khả năng cung cấp sữa của lợn

mẹ Nếu không kịp thời bổ sung thức ăn cho lợn con thì lợn thiếu dinh dưỡng dẫn đến sức đề kháng yếu, lợn con gầy còm, nhiều lợn con mắc bệnh Vì vậy nên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm để khắc phúc tình trạng khủng hoảng trong thời kỳ 3 tuần tuổi và giai đoạn sau cai sữa

Trang 30

Lợn con dưới 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt chưa ổn định, nghĩa là sự thải nhiệt và sinh nhiệt chưa cân bằng

Khi còn là bào thai, các chất dinh dưỡng được mẹ cung cấp qua nhau thai, điều kiện sống tương đối ổn định Lợn con sơ sinh gặp điều kiện sống hoàn toàn mới, nếu chăm sóc không tốt rất dễ mắc bệnh còi cọc và chết

Ngoài ra lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng mỡ glycogen dự trữ trong cơ thể lợn con còn thấp, trên cơ thể lợn lông còn thưa, mặt khác diện tích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao nên lợn con dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét còn thấp dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi

Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăng toả nhiệt ở lợn con bằng phương thức bức xạ Vì thế ở nước ta vào cuối mùa đông đầu mùa xuân, khí hậu lạnh và ẩm, lợn con sẽ bị toả nhiệt theo phương thức này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn bị lạnh Đây là điều kiện thuận lợi dẫn đến phát sinh bệnh, nhất là bệnh đường tiêu hoá

Cần phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt các chất khoáng và vitamin

Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt Do vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ, phun sát trùng, rắc vôi theo định kỳ Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và lắp máng tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 - 200C, độ ẩm 70 - 75% và ánh sáng phải chiếu 24/24 giờ

Trang 31

2.2.4.Những hiểu biết về phòng và trị bệnh cho vật nuôi

2.2.4.1 Phòng bệnh

Như ta đã biết “Phòng bệnh hơn chữa bệnh’’, nên khâu phòng bệnh được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh được tổng hợp được đưa lên hàng đầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ Do vậy,việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau:

- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:

Bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kếp hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng bệnh tật xảy ra trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của lợn

Theo Lê Văn Năm và cs, 2009 [15], vi khuẩn E.coli gây bệnh ở lợn là

vi khuẩn tồn tại trong môi trường, đường tiêu hoá của vật chủ.Khi môi trường quá ô nhiễm do vệ sinh chuồng trại kém,nước uống thức ăn bị nhiễm vi khuẩn, điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bị cảm nhiễm E.coli, bệnh sẽ nổ ra vì vậy mà khâu vệ sinh, chăm sóc có một ý nghĩa to lớn trong phòng bệnh Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kĩ thuật là điều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phải được vệ sinh tiêu độc trước khi vào đẻ Nhiệt độ trong chuồng phải đảm bảo 27-30ºC với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo, không thấm ướt Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm áp vào mùa đông và đầu xuân Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để

đề phòng bệnh lợn con phân trắng mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi

Trang 32

- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi

Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi,thoáng mát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp : Rửa sạch, để khô sau đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản.Với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc những chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần phải vệ sinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ ( pha dung dịch sát trùng và phun theo hướng dẫn khi chống dịch ) toàn bộ chuồng nuôi

từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học, chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phải phun sát trùng 1-2 lần/ tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần phải rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng quanh chuồng nuôi

Trang 33

khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật

có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng

Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay mà phải sau 7-21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch

2.2.4.2 Điều trị bệnh

Theo Đoàn Thị Kim Dung và cs, 2002 [5] nguyên tắc để điều trị bệnh là:

+ Toàn diện: Phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng, đúng thuốc

+ Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế lây lan

+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền

+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa nhưng gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa

+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa

Các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là :

+ Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân , nước tiểu phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó.Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh

+ Dùng kháng huyết thanh: chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)

Trang 34

+ Dùng hóa dược:phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau.Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị,vì nếu một loại thuốc chưa có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn

+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn.Tuy nhiên sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng, do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh.Vì vậy, khi dung thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây :

- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dung đúng thuốc, dung sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn

- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng

- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh

- Phải dung phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc

- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dung thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…

Trang 35

2.2.5Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái đẻ nuôi con và lợn con

2.2.5.1 Bệnh viêm tử cung

Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ và được đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung đều ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản theo Nguyễn Văn Thanh, (2004) [20]

Chính vì vậy bệnh viêm tử cung đã được nhiều tác giả nghiên cứu Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2004) [20] viêm tử cung là một hội chứng thường xuất hiện trên lợn nái sau khi đẻ Lợn nái viêm tử cung sẽ bị tổn thương lớp niêm mạc Từ đó gây ảnh hưởng sự tiết Prostagladin F2α và làm xáo trộn chu kỳ động dục làm tăng tình trạng chậm sinh và vô sinh

Theo các tác giả Nguyễn Xuân Bình (2000) [1]; Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [11], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm

Trang 36

- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ

- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát

- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung

- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm, Phó thương hàn, bệnh Lao… gây viêm

- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau

đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm

Theo Đoàn Kim Dung và cs (2002) [5], cho biết , nguyên nhân gây viêm tử cung là do vi khuẩn tu ̣ cầu vàng (Staphylococcus aureus), Liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E.coli…

Theo Lê Văn Năm và cs (1999) [14], cho rằng, có rất nhiều nguyên nhân từ ngoại cảnh gây bệnh như: Do thứ c ăn nghèo dinh dưỡng, do can thiê ̣p đỡ đẻ bằng du ̣ng cu ̣ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuâ ̣t dẫn đến phá hủy hoặc kết tủa của chất nhày muxin cơ quan sinh du ̣c , kết hợp với viê ̣c chăm sóc nuôi dưỡng bất hợp lý và thiếu vâ ̣n đô ̣ng đã làm châ ̣m quá trình thu teo sinh lý của dạ con (trong điều kiê ̣n cai sữa bình thường da ̣ con trở về khối lượng kích thước ban đầu khoảng 3 tuần sau đẻ ) Đây là điều kiê ̣n tốt để vi khuẩn xâm nhâ ̣p vào tử cung gây bệnh Biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhâ ̣p vào dạ con gây lên trong thời gian động đực (vì lúc đó tử cung mở ) và do thụ tinh nhân ta ̣o sai kỹ thuâ ̣t

Trang 37

Bê ̣nh còn xảy ra do thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý: Khẩu phần thiếu hay thừa protein , trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tử cung Lợn nái sử du ̣ng quá nhiều tinh bô ̣t gây đẻ khó , viêm tử cung do xây xát Khoáng chất, vitamin cũng ảnh hưởng đến viêm tử cung

* Triệu chứng:

Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4-5 ngày cá biệt tới 6-7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sang vàng hay trắng và trong Trong trường hợp viêm thì sản dịch có thể có màu đen hôi thối, mùi tanh rất khó chịu

Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:

+ Thể cấp tính: Con vật sốt 41-42˚C trong vài ngày đầu âm môn sưng tấy đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra trắng đục đôi khi có máu lờ nhờ

+ Thể mãn tính: Không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch nhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không liên tục mà chỉ chảy ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần Lợn nái thường thụ tinh không có kết quả hoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo tử cung lan sang thai làm chết thai

Khi bị bệnh, gia súc có biểu hiện một số triệu chứng chủ yếu : Thân nhiệt hơi cao, ăn uống giảm, lượng sữa giảm Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, đôi khi cong lưng rặn tỏ vẻ không yên tĩnh Từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ…

Khi con vật nằm, dịch viêm thải ra ngoài càng nhiều hơn.Xung quanh

âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm,có khi nó khô lại thành từng đám vẩy, màu trắng xám Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch niêm thải ra nhiều Cổ tử cung hơi mở và có mủ chảy qua cổ tử cung Niêm mạc âm đạo bình thường

Trang 38

* Hậu quả

Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6]; Trần Thị Dân (2004) [3], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:

- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn đến sảy thai

Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co

thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của progesterone, nhờ vậy phôi có

thể bám chặt vào tử cung

Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử

cung tiết nhiều Prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân huỷ thể vàng

ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng

máu đi đến thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết progesterone nữa, do đó hàm lượng Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ

tử cung tăng, nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai

- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng

progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung

giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ

mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu

- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy

Ngày đăng: 14/09/2018, 09:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Lê Văn Năm (1999), Cẩm nang bác sĩ thú y hướng dẫn phòng và trị bệnh lợn cao sản. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang bác sĩ thú y hướng dẫn phòng và trị bệnh lợn cao sản
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
15. Lê Văn Năm (2009), Hướng dẫn điều trị một số bệnh ở gia súc, gia cầm, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều trị một số bệnh ở gia súc, gia cầm
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2009
16. Nguyễn Tài Năng, Phạm Đức Chương, Cao Văn, Nguyễn Thị Quyên (2016), Giáo trình Dược lý học thú y, Nxb Đại học Hùng Vương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Dược lý học thú y
Tác giả: Nguyễn Tài Năng, Phạm Đức Chương, Cao Văn, Nguyễn Thị Quyên
Nhà XB: Nxb Đại học Hùng Vương
Năm: 2016
17. Popkov (1999), “Điều trị bệnh viêm tử cung”, Tạp chí Khoa học kỹ thuậtThú y, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều trị bệnh viêm tử cung
Tác giả: Popkov
Nhà XB: Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y
Năm: 1999
18. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2004), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
19. Nguyễn Khánh Quắc, Từ Quang Hiển, Nguyễn Quang Tuyên, Trần Văn Phùng (1995),Giáo trình chăn nuôi lợn, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Nguyễn Khánh Quắc, Từ Quang Hiển, Nguyễn Quang Tuyên, Trần Văn Phùng
Nhà XB: Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Năm: 1995
20. Nguyễn Văn Thanh (2004), Phòng và trị một số bệnh thường gặp ở giasúc, gia cầm, Nxb Lao động và xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị một số bệnh thường gặp ở giasúc, gia cầm
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Lao động và xã hội
Năm: 2004
21. Phan Đình Thắm (1996), Giáo trình chăn nuôi lợn cao học, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn cao học
Tác giả: Phan Đình Thắm
Năm: 1996
22. Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2005), Giáo trình sinh lý học động vậtnuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh lý học động vậtnuôi
Tác giả: Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
23. Trịnh Văn Thịnh (1978),Sổ tay chăn nuôi thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. II. Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay chăn nuôi thú y
Tác giả: Trịnh Văn Thịnh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1978
24. Gardner J.A.A., Dunkin A.C., Lloyd L.C. (1990), “Metritis - Mastitis - Agalactia”, in Pig production in Autralia. Butterworths, Sydney, pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pig production in Australia
Tác giả: Gardner J.A.A., Dunkin A.C., Lloyd L.C
Nhà XB: Butterworths
Năm: 1990
25. Smith B.B., Martineau G., BisaillonA. (1995), “Mammary gland and lactaion problems”, In disease of swine, 7 th edition, Iowa state university press, pp. 40- 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Disease of Swine
Tác giả: Smith B.B., Martineau G., Bisaillon A
Nhà XB: Iowa State University Press
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w