Nghiên cứu tình hình bệnh đường hô hấp và khả năng điều trị của kháng sinh Florfenicol và Tiamulin đối với đàn lợn nuôi tại trại Tân Thái Đồng Hỷ Thái Nguyên.Nghiên cứu tình hình bệnh đường hô hấp và khả năng điều trị của kháng sinh Florfenicol và Tiamulin đối với đàn lợn nuôi tại trại Tân Thái Đồng Hỷ Thái Nguyên.Nghiên cứu tình hình bệnh đường hô hấp và khả năng điều trị của kháng sinh Florfenicol và Tiamulin đối với đàn lợn nuôi tại trại Tân Thái Đồng Hỷ Thái Nguyên.Nghiên cứu tình hình bệnh đường hô hấp và khả năng điều trị của kháng sinh Florfenicol và Tiamulin đối với đàn lợn nuôi tại trại Tân Thái Đồng Hỷ Thái Nguyên.Nghiên cứu tình hình bệnh đường hô hấp và khả năng điều trị của kháng sinh Florfenicol và Tiamulin đối với đàn lợn nuôi tại trại Tân Thái Đồng Hỷ Thái Nguyên.Nghiên cứu tình hình bệnh đường hô hấp và khả năng điều trị của kháng sinh Florfenicol và Tiamulin đối với đàn lợn nuôi tại trại Tân Thái Đồng Hỷ Thái Nguyên.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
- -
DƯƠNG THỊ HUỆ Tên chuyên đề:
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH BỆNH ĐƯỜNG HÔ HẤP VÀ KHẢ NĂNG ĐIỀU TRỊ CỦA KHÁNG SINH FLORFENICOL VÀ TIAMULIN ĐỐI VỚI ĐÀN LỢN NUÔI TẠI TRẠI TÂN THÁI, ĐỒNG HỶ, THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2013 - 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
- -
DƯƠNG THỊ HUỆ Tên chuyên đề:
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH BỆNH ĐƯỜNG HÔ HẤP VÀ KHẢ NĂNG ĐIỀU TRỊ CỦA KHÁNG SINH FLORFENICOL VÀ TIAMULIN ĐỐI VỚI ĐÀN LỢN NUÔI TẠI TRẠI TÂN THÁI, ĐỒNG HỶ, THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2013 - 2017 Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Trần Văn Phùng
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3đỡ em trong suốt quá trình thực tập Đặc biệt, thầy giáo hướng dẫn PGS.TS
Trần Văn Phùng đã chỉ bảo và trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành bản khóa
luận tốt nghiệp này
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo trại lợn giống Tân Thái, các cán bộ kĩ thuật cùng toàn thể anh chị em, cô chú công nhân trong trại đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập tại cơ sở
Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân cùng bạn bè đã giúp đỡ, động viên em trong suốt thời gian hoàn thành khóa luận này
Em xin chúc các thầy giáo, cô giáo luôn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc
và thành đạt trong cuộc sống, có nhiều thành công trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học
Trong quá trình viết khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các thầy cô để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Dương Thị Huệ
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình đào tạo trong nhà trường, thực hiện phương châm “Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn với thực tiễn sản xuất”, thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình học tập của tất cả các trường Đại học nói chung và trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng
Giai đoạn thực tập chiếm một vị trí hết sức quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là khoảng thời gian để sinh viên củng cố
và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh viên làm quen với thực tiễn sản xuất, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được phương thức tổ chức và tiến hành công việc nghiên cứu, ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, góp phần xứng đáng vào
sự nghiệp phát triển đất nước ngày càng đi lên
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự phân công của thầy giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của trại lợn giống Tân Thái, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên em đã tiến hành thực
tập tốt nghiệp tại cơ sở với đề tài: “Nghiên cứu tình hình bệnh đường hô
hấp và khả năng điều trị của kháng sinh Florfenicol và Tiamulin đối với
đàn lợn nuôi tại trại Tân Thái, Đồng Hỷ, Thái Nguyên”
Được sự quan tâm tận tình của thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Trần Văn Phùng, cùng sự cố gắng của bản thân, em đã hoàn thành khóa luận
Nhưng do bước đầu tiến hành làm nghiên cứu khoa học và thời gian thực tập có hạn nên bản khóa luận của em không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Vì vậy em kính mong nhận được sự quan tâm giúp đỡ của quý thầy cô
để bản khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1: Tỷ lệ lợn con mắc bệnh đường hô hấp theo đàn và cá thể 34
Bảng 4.2:Tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp ở các tháng 35
Bảng 4.3: Tỷ lệ lợn con mắc bệnh đường hô hấp theo tháng tuổi 36
Bảng 4.4: Tỷ lệ lợn mắc bệnh đường hô hấp theo tính biệt 37
Bảng 4.5: Tỷ lệ lợn con chết do bệnh đường hô hấp ở các tháng 38
Bảng 4.6 Tính mẫn cảm của vi khuẩn Streptococcus suis phân lập được với kháng sinh được thử nghiệm 39
Bảng 4.7 Hiệu lực điều trị bệnh đường hô hấp của hai phác đồ 40
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI NÓI ĐẦU ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu .2
1.2.2 Yêu cầu .2
1.3 Ý nghĩa của đề tài .2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học .2
PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập .3
2.2 Cơ sở khoa học .8
2.2.1 Đặc điểm hô hấp của lợn con 8
2.2.2 Các thời kì quan trọng của lợn .10
2.2.3 Đặc điểm và khả năng miễn dịch .11
2.2.4 Bệnh đường hô hấp ở lợn con .11
2.2.5 Nguyên tắc sử dụng kháng sinh .27
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong nước và ngoài nước 29
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước .29
2.3.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới .30
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNGVÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31 3.1 Đối tượng nghiên cứu .31
3.2 Địa điểm, thời gian tiến hành 31
3.3 Nội dung thực hiện 31
Trang 73.4 Các chỉ tiêu và phương pháp nghiên cứu 31
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 31
3.4.2 Các công thức tính 31
3.4.3 Phương pháp nghiên cứu tình hình mắc bệnh đường hô hấp của lợn con 32
3.4.4 Phương pháp xác định kháng sinh đồ .32
3.4.5 Phương pháp khảo nghiệm hiệu quả điều trị bệnh đường hô hấp bằng kháng sinh trên đàn lợn nuôi tại trại Tân Thái 33
3.4.6 Phương pháp xử lý số liệu 33
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 Kết quả nghiên cứu tình hình mắc bệnh đường hô hấp trên đàn lợn 34
4.1.1 Tỷ lệ lợn mắc bệnh đường hô hấp theo đàn và cá thể 34
4.1.2 Tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp ở lợn ở các tháng theo dõi .35
4.1.3 Tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp theo tháng tuổi 36
4.1.4 Tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp ở lợn theo tính biệt 37
4.1.5 Tỷ lệ lợn con chết do bệnh đường hô hấp .38
4.2 Kết quả kháng sinh đồ 39
4.3 Kết quả nghiên cứu hiệu lực điều trị của kháng sinh đối với hội chứng đường hô hấp 40
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 42
5.1 Kết luận 42
5.2 Đề nghị 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 8
Pasteurella multocida P multocida
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Ngành chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi
ở các nước trên thế giới cũng như nước ta, vì đó là một nguồn cung cấp thực phẩm với tỷ trọng cao và chất lượng tốt cho con người, là nguồn cung cấp phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt và là nguồn cung cấp các sản phẩm phụ như da, mỡ… cho ngành công nghiệp chế biến
Với vị trí quan trọng hàng đầu trong việc cung cấp thực phẩm cho người dân, nền chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đang được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm và hướng đến phát triển bền vững Bên cạnh đó là việc áp dụng phương thức chăn nuôi theo hướng công nghiệp, quy mô chăn nuôi lớn, áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng tiên tiến, chế biến thức ăn với chất lượng cao, các loại thức ăn thay thế, thức ăn bổ sung, phối hợp khẩu phần ăn có đầy đủ các chất dinh dưỡng
Bệnh đường hô hấp ở lợn xảy ra ở tất cả các giống lợn, ở các nơi trên thế giới, gây nhiều thiệt hại cho chăn nuôi lợn Bệnh hô hấp ở lợn do nhiều nguyên nhân gây ra như môi trường, mật độ đông làm gia tăng các yếu tố stress, nhiệt độ môi trường cao, nhiệt độ chênh lệch ngày và đêm cao, vi sinh vật (vi khuẩn, virus), quản lý và chăm sóc Những lợn con điều trị khỏi cũng còi cọc chậm lớn ảnh hưởng đến năng suất chăn nuôi Do đó phòng bệnh cho lợn con góp phần làm tăng hiệu quả chăn nuôi lợn sinh sản, đảm bảo cung cấp con giống chất lượng tốt
Trại chăn nuôi lợn Tân Thái là cơ sở sản xuất giống lợn ngoại của tỉnh Thái Nguyên Trong những năm vừa qua, trại cũng bị ảnh hưởng nhiều của hội chứng hô hấp trên đàn lợn Trong các bệnh xảy ra trên đàn lợn, bệnh đường hô hấp thường diễn biến phức tạp, được coi là một hiểm họa trong chăn nuôi lợn, gây ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất và hiệu quả chăn nuôi Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, có nhiều loại vi khuẩn gây ra các bệnh
này, trong đó phải kể đến các loại như Mycoplasma hyopneumoniae (M
Trang 10hyopneumoniae), Actinobacillus pleuropneumoniae (A Pleuropneumoniae)
và Streptococcus suis (S suis) Việc điều trị bệnh đường hô hấp do các loại
vi khuẩn này gây ra gặp khá nhiều khó khăn do tính kháng thuốc của tác nhân gây bệnh
Để giảm thiểu những thiệt hại do bệnh đường hô hấp lợn con gây ra đối với trại chăn nuôi sinh sản tập trung, em tiến hành nghiên cứu chuyên
đề: “ Nghiên cứu tình hình bệnh đường hô hấp và khả năng điều trị của kháng sinh Florfenicol va ̀ Tiamulin đối với đàn lợn con nuôi tại trại Tân Thái, Đồng Hỷ, Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu
- Nghiên cứu tình hình mắc bệnh đường hô hấp ở đàn lợn
- Nghiên cứu kháng sinh đồ của hai loại kháng sinh Florfenicol vàTiamulin
- Khảo nghiệm khả năng mẫn cảm của kháng sinh Florfenicol và lin với vi khuẩn bệnh đường hô hấp ở lợn
Tiamu-1.2.2 Yêu cầu
- Đánh giá được tình hình mắc bệnh đường hô hấp ở lợn
- Đánh giá độ nhạy cảm của vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp với hai loại kháng sinh Florfenicol và Tiamulin
- Thử nghiệm tính mẫn cảm của kháng sinh Florfenicol và Tiamulin với
vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp ở lợn
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài xác định một số thông tin có giá trị khoa học bổ sung thêm những hiểu biết về bệnh đường hô hấp ở lợn và kháng sinh điều trị đạt hiệu quả cao, là cơ sở khoa học cho những biện pháp phòng trị bệnh
Trang 11PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
cư, bệnh viện, trường học và đường giao thông chính nhưng vẫn thuận tiện cho việc giao thông vận tải và thông thương
* Điều kiện khí hậu thủy văn
Theo phân vùng của trung tâm khí hậu thủy văn thành phố, trại giống lợn Tân Thái nằm trong khu vực có khí hậu đặc trưng của khu vực Trung du miền núi phía Bắc, đó là nóng ẩm, mưa nhiều và chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc
- Mùa mưa: Đây là mùa nóng ẩm và mưa nhiều (kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9)
Trang 12Về thủy văn, trại Tân Thái có nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm tương đối phong phú Nguồn nước trong chăn nuôi được lấy từ giếng khoan, nguồn nước dùng trồng trọt được lấy từ ao nuôi cá Với điều kiện khí hậu thủy văn như vậy nhìn chung là thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp cả
về trồng trọt lẫn chăn nuôi tuy nhiên cũng có những giai đoạn điều kiện khí hậu thay đổi thất thường như hạn hán, lũ lụt, mùa hè có ngày nhiệt độ lên rất cao đến (38-390C), mùa đông có lúc nhiệt độ xuống rất thấp (dưới 100C) đã ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp
* Giao thông, thủy lợi
Giao thông: Huyện Đồng Hỷ có hệ thống giao thông khá tốt, hầu hết các đường giao thông đều được rải nhựa và bê tông hóa Trại Tân Thái ở vị trí khá thuận lợi về giao thông, nằm ngay gần đường quốc lộ Vì vậy, rất thuận lợi cho việc vận chuyển thức ăn, thuốc thú y cũng như tiêu thụ sản phẩm
Thủy lợi: Hệ thống thủy lợi tương đối rộng khắp và phần lớn đã được kiên cố hóa hệ thống kênh mương Diện tích trồng trọt của trại sử dụng nguồn nước hệ thống thủy lợi và những ao hồ chứa nước để phục vụ trồng trọt
* Điều kiện kinh tế - xã hội
Trại Tân Thái thuộc địa bàn xã Hóa Thượng là một xã nông nghiệp của huyện Đồng Hỷ cho nên dân cư xung quanh trại chủ yếu làm nông nghiệp Ngoài ra, còn một phần ít dân cư sống bằng nghề thủ công, buôn bán nhỏ và một số gia đình viên chức nhà nước
Với tình hình dân cư, dân trí như vậy rất thuận lợi để tuyên truyền, khuyến khích người dân phát triển chăn nuôi, nhất là chăn nuôi lợn để cải
Trang 13thiện thêm mức thu nhập của người dân nơi đây và cũng phát huy hơn nữa vai trò cung cấp giống lợn của trại Tân Thái
* Cơ cấu tổ chức
Trại có đội ngũ cán bộ khoa học, kĩ thuật giỏi, giàu kinh nghiệm thực
tế, có ban lãnh đạo năng động, nhiệt tình và giàu năng lực Hơn nữa, trại có một đội ngũ công nhân giỏi, yêu nghề và có kinh nghiệm nhiều năm trong nghề Tổng nhân lực của trại gồm 13 người, trong đó:
- Lao động gián tiếp 3 người, gồm có:
+ Trại trưởng: là kỹ sư chăn nuôi chịu trách nhiệm quản lý và điều hành sản xuất
+ Trại phó: là kỹ sư chăn nuôi
+ Kế toán kiêm thủ quỹ: 1 người Cán bộ kế toán kiêm thủ quỹ có trình độ trung cấp tài chính kế toán, chịu trách nhiệm hạch toán ngân sách, quản lý thu chi
Trại được nhà nước và tỉnh hỗ trợ kinh phí để nâng cấp hệ thống chuồng trại Hiện nay, trại đã xây dựng xong với quy mô phù hợp theo hướng chăn nuôi kiểu công nghiệp Hệ thống chuồng lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái chờ
Trang 14phối và lợn nái chửa Chuồng lồng, nền sàn nhựa cho lợn nái đẻ, lợn con và lợn sau cai sữa cùng với hệ thống nước uống tự động Hệ thống mái che 2 ngăn có
độ thông thoáng tốt, có tường rào bao quanh để ngăn chặn dịch bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào khu chăn nuôi Ở cuối mỗi ô đều có hệ thống thoát phân
và nước thải Hệ thống nước sạch được đưa về từng ô chuồng đảm bảo cho việc cung cấp nước uống tự động cho lợn, nước tắm cho lợn và nước rửa chuồng hằng ngày Trại đã lắp đặt hệ thống nước máy đảm bảo cung cấp đủ nước sạch cho lợn uống, tắm và vệ sinh chuồng trại
* Các công trình khác:
Gần khu chuồng, trại cho xây dựng 1 phòng kĩ thuật, 1 nhà kho, phòng thay đồ, phòng tắm, nhà vệ sinh Phòng kĩ thuật được trang bị đầy đủ dụng cụ thú y như: panh, dao mổ, bơm tiêm kìm bấm số tai, kìm bấm nanh, bình phun thuốc sát trùng, cân, các loại thuốc thú y đồng thời cũng là phòng trực của các cán bộ kĩ thuật
Nhà kho được xây dựng gần khu chuồng là nơi chứa thức ăn và các chất độn chuồng phục vụ cho sản xuất
Bên cạnh đó, trại còn cho xây dựng 1 giếng khoan, bể chứa nước, máy bơm nước đảm bảo cung cấp nước sạch cho sản xuất sinh hoạt
Khu hành chính của trại gồm có: 1 phòng làm việc của ban lãnh đạo trại cùng cán bộ hành chính, 1 phòng hội trường rộng rãi làm nơi hội họp học tập cho các cán bộ công nhân viên
2.1.2 Tình hình sản xuất
* Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi
Trại giống lợn Tân Thái là 1 trại giống trực thuộc trung tâm giống vật nuôi tỉnh Thái Nguyên, có chức năng và nhiệm vụ chính:
Trại là 1 cơ sở cung cấp con giống nên được giao nhiệm vụ nuôi giữ, nhân giống và chọn lọc đàn lợn ông bà giống ngoại để sản xuất đàn lợn giống bố mẹ, cung cấp giống cho bà con nông dân và các cơ sở chăn nuôi khác quanh vùng và khu vực lân cận Nhằm mục đích tăng đàn nái ngoại
Trang 15trong nhân dân, cung cấp đủ đực giống cho lai kinh tế và 1 phần nhân thuần nuôi thịt để tăng tỉ lệ nạc trong thịt lợn, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Trại có đội ngũ kĩ thuật giỏi chuyên môn, trại còn tham gia chuyển giao các tiến bộ khoa học kĩ thuật cho chăn nuôi cho các hộ gia đình quanh vùng, hướng dẫn, giúp đỡ người dân chăn nuôi về khâu kĩ thuật, chăm sóc nuôi dưỡng và cung cấp thú y
* Tình hình sản xuất ngành trồng chọt
Nhiệm vụ chính của trại Tân Thái là chăn nuôi cho nên những năm vừa qua phát triển ngành trồng trọt chỉ là một lĩnh vực phụ nhằm phục vụ cho chăn nuôi và tận dụng chất thải của chăn nuôi là chủ yếu
Trại khoán cho các hộ gia đình là công nhân viên trong trại để tăng thêm thu nhập gia đình, phần còn lại triển khai trồng cây ăn quả như: vải, nhãn, xoài, chuối… nhằm xây dựng thành một mô hình sản xuất khép kín, cân bằng sinh thái
2.1.3 Đánh giá chung
* Thuận lợi: Được sự quan tâm, tạo điều kiện và có chính sách hỗ trợ của các ngành các cấp có liên quan như: Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, Trung tâm khuyến nông, Chi cục thú y, Công ty vật tư nông nghiệp cho nên trại thường được áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kĩ thuật trong sản xuất và phục vụ sản xuất Trại có vị trí địa lý khá thuận lợi về giao thông vận tải và giao lưu với dân cư quanh vùng Đồng thời sản phẩm của trại là lợn nái ngoại hậu bị, lợn thịt có tỉ lệ nạc cao phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng hiện nay
* Khó khăn: Kinh phí đầu tư cho sản xuất còn hạn hẹp, trang thiết bị thú y còn thiếu và chưa đồng bộ, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất
Do là 1 cơ quan nhà nước hoạt động trong cơ chế thị trường cho nên sản xuất của trại cũng gặp không ít khó khăn Một mặt phải đảm bảo chức năng chuyển giao khoa học kĩ thuật tới tay người dân, mặt khác phải tự hoạch toán kinh doanh sao cho có lãi để đứng vững và phát triển
Trang 16Điều kiện nhiệt độ cao, ẩm độ cao trong mùa mưa đã tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn nói chung và vi khuẩn đường hô hấp nói riêng phát triển mạnh, dẫn đến vật nuôi dễ bị mắc bệnh đường hô hấp và bệnh tiêu
chảy với tỉ lệ nhiễm rất cao
2.2 Cơ sở khoa học
2.2.1 Đặc điểm hô hấp của lợn con
2.1.1.1 Đặc điểm hình thái của hệ hô hấp
Bộ máy hô hấp là cơ quan chủ yếu của cơ thể làm nhiệm vụ trao đổi khí giữa cơ thể và môi trường bên ngoài Nhờ có sự trao đổi đó mà cơ thể hấp thu được oxy và thải khí cacbonic
Đối với tất cả các loài động vật thì một trong những yếu tố quyết định đến sự sống là có đủ lượng oxy trong mỗi phút, cơ thể động vật có vú cần 6-
8 ml oxy và thải trừ 250 ml khí cacbonic Để có được lượng oxy thiết yếu này và thải được lượng cacbonic ra khỏi cơ thể phải thực hiện động tác hô hấp
Theo Nguyễn Xuân Bình(2005), hô hấp của cơ thể lợn chia thành 3 quá trình:
- Hô hấp ngoài: là quá trình trao đổi khí giữa cơ thể và môi trường được thực hiện ở phổi thông qua các phế nang
- Hô hấp trong: là quá trình sử dụng oxy của mô bào
- Quá trình vận chuyển khí cacbonic và oxy từ mô bào và ngược lại Động tác hô hấp được điều khiển bằng cơ chế thần kinh- thể dịch và được thực hiện bởi cơ quan hô hấp Cơ quan hô hấp của lợn gồm đường dẫn khí (mũi, hầu, thanh quản, khí quản, phế quản) và phổi
Dọc đường dẫn khí có hệ thống thần kinh và hệ thống mạch máu phân
bố dày đặc có tác dụng sưởi ấm không khí trước khi vào đến phổi Trên niêm mạc đường hô hấp cũng có lớp lông rung luôn cuyển động hướng ra ngoài do đó có thể đẩy các dị vật và bụi ra ngoài
Trang 17Cơ quan cảm thụ trên niêm mạc đường hô hấp rất nhạy cảm với các thành phần lạ có trong không khí Khi có vật lạ, có thể có phản xạ ho, hắt hơi nhằm đẩy vật lạ ra ngoài, không cho xâm nhập sâu vào đường hô hấp
Khí oxy sau khi vào phổi và khí cacbonic thải ra được trao đổi tại phế nang Phổi lợn bao gồm rất nhiều phế nang làm tăng bề mặt trao đổi khí Diện tích phổi đạt 100- 200 m2 tùy theo lứa tuổi
Nhịp thở trung bình của lợn là 20-30 lần/ phút Lợn con có nhịp thở nhiều hơn khoảng 50 lần/ phút và ở lợn nái nhịp thở ít hơn 13-15 lần/ phút Trong trường hợp gia súc mắc bệnh hoặc bị tác động mạnh thì tần số hô hấp
có thể tăng lên hoặc giảm đi
2.1.1.2 Cấu trúc sinh lý của hệ hô hấp ở lợn
- Xoang mũi: không khí trước khi vào phổi phải qua xoang mũi, ở đây không khí được lọc sạch, tẩm ướt và sưởi nóng Xoang mũi còn là cơ quan cảm giác khứu giác
- Thanh quản: là một xoang ngắn nằm giữa yết hầu và khí quản, cấu tạo gồm cốt sụn và cơ
- Khí quản: là một ống dẫn khí lớn nối tiếp từ sau thanh quản cho đến phân nhánh ngã ba tạo thành 2 phế quản gốc Khí quản gồm nhiều vòng sụn nối tiếp nhau, khí quản chia làm 2 đoạn
- Phế quản: nối tiếp từ ngã ba khí quản chia làm 2 nhánh đi vào rốn phổi, sau khi vào rốn phổi lại tiếp tục phân nhánh
- Phổi: là bộ phận quan trọng nhất của cơ quan hô hấp có nhiệm vụ trao đổi khí trực tiếp giữa máu và môi trường ngoài Phổi gồm 2 lá phổi Mỗi lá nằm trong bao bọc riêng do lá phế mạc tạo thành, phổi có màu hồng nhạt, đàn hồi, xốp nhẹ nổi trên mặt nước
Lá phổi phải lớn hơn lá phổi trái, phổi phải có thùy phụ Azygol
+ Vị trí phía trước là cạnh sau xương bả vai và xương cánh tay, phía sau ở trên khoảng gian sườn 11 và mỏm ngang đốt sống lưng 11 Trọng lượng của 2 lá phổi so với cơ thể lợn 0,8- 0,85%
Trang 18+ Hình dạng nhìn bề ngoài phổi như hình chóp đáy rộng, 2 lá phổi to không bằng nhau Hình dạng ngoài phổi có 3 mặt 1 đỉnh
Mặt ngoài cong lồi giáp xương sườn gọi là mặt sườn, mặt trong phẳng
áp vào nhau có lá tung cánh mạc ngăn giữa Mặt sau còn gọi là mặt hoành hay mặt đáy cong lõm giáp cơ hoành bên phải, mặt sau giáp dạ dày và 1 phần gan Đỉnh hướng về trước lồng ngực sát hạch giao cảm Bên ngoài phổi có các mẻ chia phổi làm nhiều thùy, số lượng thùy tùy theo lá phổi của loài gia súc Gồm có 1 thùy trước còn gọi là thùy đỉnh, 1 hoặc 2 thuỳ giữa gọi là thùy tim, thùy sau gọi là thùy đáy
Lá phổi phải có 3 thùy chính và 1 thùy phụ, lá phổi trái có 3 thùy + Cấu tạo mặt ngoài có 1 lớp tương mạc bao trùm đó là lá tạng phế mạc Trong là mô phổi cấu tạo bởi các phế nang, tổ chức liên kết, mạch quản, thần kinh cùng hệ thống ống dẫn to nhỏ khác nhau Phế nang là nơi trao đổi khí chính của phổi, trong có các biểu mô đặc biệt, số lượng có hàng trăm, hàng nghìn triệu Nhiều phế nang chung lại thành chùm phế nang, chùm phế nang tập hợp lại thành tiểu thùy phổi, nhiều tiểu thùy phổi tạo thành thùy phổi
2.2.2 Các thời kì quan trọng của lợn
2.2.2.1 Thời kì 1 tuần tuổi
Là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn
về môi trường sống, bởi vì lợn con chuyển từ điều kiện sống ổn định trong
cơ thể mẹ sang điều kiện tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài Do vậy, nếu chăm sóc nuôi dưỡng không tốt lợn con dễ bị mắc bệnh, còi cọc, tỷ
lệ sống thấp
Mặt khác lúc này lợn con mới đẻ còn yếu ớt, chưa nhanh nhẹn, lợn
mẹ vừa đẻ xong, cơ thể còn mệt mỏi, đi đứng còn nặng nề vì sức khỏe chưa hồi phục nên dễ đè chết lợn con Cần nuôi dưỡng chăm sóc chu đáo lợn con
ở giai đoạn này
Trang 192.2.2.2 Thời kì 3 tuần tuổi
Là thời kỳ khủng hoảng thứ hai của lợn con do quy luật tiết sữa của lợn mẹ gây nên Sản lượng sữa của lợn nái tăng dần từ sau khi đẻ và đạt cao nhất ở giai đoạn ba tuần tuổi Sau đó, sản lượng sữa của lợn mẹ giảm nhanh trong khi nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng và phát dục nhanh Đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu Để giải quyết mâu thuẫn cần cho lợn con tập ăm sớm vào 7 - 10 ngày tuổi
2.2.2.3 Thời kì sau cai sữa
Là thời kỳ khủng hoảng thứ ba do môi trường sống thay đổi từ sữa
mẹ sang cai sữa hoàn toàn Mặt khác thức ăn thay đổi chuyển từ thức ăn chủ yếu là sữa mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp nên giai đoạn này thiếu dinh dưỡng, chăm sóc không chu đáo, lợn con rất dễ bị còi cọc, mắc bệnh đường tiêu hóa, hô hấp
2.2.3 Đặc điểm và khả năng miễn dịch
Lợn con mới đẻ sức đề kháng của cơ thể còn yếu Lượng kháng thể của lợn con được cung cấp từ lợn mẹ thông qua sữa đầu Trong sữa đầu lợn
mẹ có lượng γ globulin rất cao, chiếm 30-35% lượng protein Lợn con hấp thu γ globulin bằng con đường ẩm bào Khả năng hấp thu kháng thể của lợn con tốt nhất trong 24 giờ sau khi sinh( đạt đến 20.3 mg/ 100ml máu) Từ 20-
25 ngày tuổi lợn con mới tự tổng hợp được kháng thể Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì sức đề kháng rất yếu, dẫn đến tỉ lệ chết cao
2.2.4 Bệnh đường hô hấp ở lợn con
2.2.4.1 Bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn
Bệnh viêm phổi do Actinobacillus pleuropneumonniae (APP) gây ra
Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng thường nhiễm ở lợn từ 2- 6 tháng tuổi;
đôi khi gây xuất huyết trên lợn nái và hậu bị
- Phương thức truyền lây:
Đường truyền lây chủ yếu là qua tiếp xúc trực tiếp giữa lợn bệnh và lợn khỏe Ngoài ra bệnh có thể lây qua đường không khí, lây từ nái sang
Trang 20con Bệnh lây lan giữa các lợn thịt, thường xảy ra do tác động của các yếu tố stress như khi mật độ chuồng nuôi cao, môi trường không thông thoáng, thời tiết khí hậu thay đổi, vận chuyển hoặc xáo trộn đàn
Khi mắc bệnh ở thể cấp tính, tỷ lệ chết rất cao Tỷ lệ chết của bệnh phụ thuộc vào độc lực của mầm bệnh và yếu tố môi trường Tỷ lệ ốm và tỷ
lệ chết sẽ tăng cao nếu bệnh xảy ra đồng thời với một số bệnh như giả dại, PRRS
- Triệu chứng lâm sàng: Theo Bergeland M.E Taylor D.J(1992), vi khuẩn gây bệnh ở lợn với 3 thể chủ yếu: Thể quá cấp, thể cấp tính và thể mãn tính
+ Thể quá cấp: Lợn mệt mỏi, ủ rũ, bỏ ăn, tách riêng khỏi đàn, sốt cao (41,5ºC), tần số hô hấp tăng, thở khó, thở bằng mồm, tư thế ngồi để thở, mạch đập tăng và trụy tim mạch Da ở vùng mũi, tai, chân và sau đó toàn cơ thể có màu tím xanh
Bệnh tiến triển rất nhanh, lợn bệnh chết sau 24 giờ sau khi có dấu hiệu bệnh Trước khi chết, lợn chảy nhiều nước dãi, nước mũi nhiều bọt, có thể lẫn máu Một số trường hợp lợn có thể chết mà không có dấu hiệu triệu chứng lâm sàng Bằng thực nghiệm, người ta thấy lợn có thể chết sau 3 giờ gây bệnh Lợn sơ sinh nếu bị bệnh sẽ bị bại huyết và thường chết ngay sau khi sinh
+ Thể cấp tính: Triệu chứng tương tự như thể quá cấp tính nhưng tiến triển chậm hơn Lợn sốt cao trên 410C, da có nốt đỏ, lợn bỏ ăn, lười vận động, lười uống nước Lợn có triệu chứng hô hấp như ho, khó thở, thở thể bụng, bụng hóp lại, lợn ỉa chảy, nôn mửa, mắt có dử đôi khi nhầm với dịch
tả Thể cấp tính đa số lợn chết, lợn chết trong vòng 1-4 ngày Lợn sống sót
có thể phục hồi hoàn toàn hoặc có thể phát triển thành thể mãn tính
+ Thể mãn tính: Thể này xuất hiện sau khi dấu hiệu cấp tính mất đi Lợn sốt nhẹ( 40, 5- 41ºC), hay nằm, lúc ăn lúc bỏ ăn, ho kéo dài, thở thể
Trang 21bụng, da nhợt nhạt, lông xù, gầy còm, tăng trọng kém, mắt có dử, dịch mũi đặc và đục
- Phòng bệnh: Giảm bớt số lượng vi khuẩn có hại bằng cách tẩy uế chuồng trại trước khi chuyển đàn mới vào mỗi ô chuồng, định kỳ phun sát trùng các dãy chuồng 1 tuần/lần, chuồng khô, sạch, không ứ đọng phân nước tiểu, nước rửa chuồng Tăng cường sức đề kháng cho lợn bằng việc nuôi dưỡng, chăm sóc tốt Trộn thuốc phòng bệnh đường hô hấp vào thức ăn như Pacifenicol 1 kg/200 kg thức ăn, dùng liên tục trong 7 ngày
Hiện nay, có hai loại vắc xin chính được sản xuất với mục đích phòng bệnh là vắc xin vô hoạt và vắc xin tinh chế chứa một số thành phần cấu tạo của vi khuẩn như độc tố hay protein màng ngoài của vi khuẩn
Actinobacillus pleuropneumoniae Loại vắc xin tinh chế thường có hiệu quả
phòng bệnh cho nhiều chủng vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae
gây ra
Ngoài ra, còn phải chú ý hạn chế stress như: đảm bảo mật độ chuồng nuôi hợp lý, giữ tiểu khí hậu chuồng nuôi ấm áp về mùa đông, thoáng mát vào mùa hè
+ Điều trị bệnh: Biện pháp điều trị chủ yếu là dùng kháng sinh Khi dùng kháng sinh, để đạt hiệu quả cao, an toàn, chữa khỏi bệnh, ít tốn kém, không ảnh hưởng tới sức khoẻ, năng suất, chất lượng vật nuôi, đồng thời tránh và hạn chế quá trình tạo sự nhờn thuốc của vi khuẩn bắt buộc phải tuân thủ các nguyên tắc điều trị
Trang 22Các kháng sinh thường được sử dụng điều trị bệnh viêm phổi - màng phổi như: Rifapicin, Ceftazidine, Ciprofloxacin, Neomycin, Amikacin… Tuy nhiên để nâng cao hiệu quả điều trị cần phải làm kháng sinh đồ để xác định mức độ mẫn cảm
Dùng kháng sinh điều trị có thể kết hợp với:
Bromhexin có tác dụng long đờm, giãn phế quản, cắt cơn ho
Diclofenac 2,5% có tác dụng kháng viêm, giảm đau, hạ sốt
Bcomplex, Vitamin C để tăng cường đề kháng
Ngoài ra, điều trị kết hợp công tác hộ lý và chăm sóc nuôi dưỡng tốt, tăng cường các biện pháp vệ sinh và hạn chế các tác nhân stress
2.2.4.2 Bệnh viêm phổi lợn do Streptococcus suis gây ra
Bệnh do liên cầu khuẩn ở lợn là một trong những bệnh làm tổn thất
lớn về kinh tế Vi khuẩn Streptococcus spp thường gây bệnh thể bại huyết,
bệnh đường tiêu hóa và nhiễm trùng tại chỗ như viêm màng não, viêm khớp, viêm nội tâm mạc ở lợn, đặc biệt với lợn con 7 – 10 ngày tuổi
Bệnh viêm màng não do Streptococcus ở lợn cai sữa và lợn vỗ béo
thường xảy ra sau khi chúng được nhốt, nuôi chung với nhau Bệnh gây chết
lợn đột ngột Thường gây bệnh là Streptococcus suis typ 1 và Streptococcus
suis typ 2
Lịch sử và địa dư bệnh: Bệnh do S suis ở lợn được ghi nhận ở nhiều
nước trên thế giới, xảy ra ở đàn lợn nuôi theo phương thức truyền thống hoặc công nghiệp Từ năm 1983 đến năm 1995 đã có 32 trong số 35 serotyp
Streptococcus được phân lập (Perch và cs, 1983; Gottschalk và cs, 1991;
Higgns và cs, 1995) Hầu hết các chủng phân lập được từ lợn bệnh chỉ thuộc một số serotyp nhất định, từ 1 – 8 Mặc dù serotyp 2 phân lập được ở hầu hết các nước nhưng tỷ lệ có sự sai khác giữa các vùng địa lý Ví dụ, ở
Canada tỷ lệ phân lập được S suis serotyp 2 tương đối thấp (dưới 25%) (Higgins và Gottschalk, 2001); ở Nhật tỷ lệ phân lập S suis serotyp 2 cao
Trang 23nhất (28%) (Kataoka và cộng sự, 1993); ở Châu Âu thì tỷ lệ này cao nhất tại các nước Pháp, Ý và Tây Ban Nha
Ở Việt Nam, Nguyễn Ngọc Nhiên (1996) đã điều tra hệ vi khuẩn đường hô hấp của lợn bị bệnh ho thở truyền nhiễm thấy rằng tỷ lệ nhiễm
Streptococcus là 74% Từ năm 2007 khi dịch PRRS xảy ra, đã có nhiều
nghiên cứu về vi khuẩn S suis gây bệnh ở lợn và sự lây lan bệnh liên cầu từ
lợn sang người
- Căn bệnh:
+ Hình thái, cấu trúc: Streptococcus spp có hình cầu, hình trứng,
đường kính có khi đến 1 µm, chúng được xếp thành chuỗi như chuỗi hạt, có
độ dài ngắn khác nhau, từ 2 cầu khuẩn cho đến chuỗi có 6 - 10 cầu khuẩn và dài hơn tạo thành liên cầu khuẩn Trong canh trùng non, vi khuẩn bắt màu Gram (+) Trong dịch viêm và canh trùng nuôi cấy (> 18 giờ) vi khuẩn thường bắt màu Gram (-)
Nhiều loài Streptococcus có giáp mô (bản chất là polysaccharide)
(cap-sular polysaccharide – CPS) được coi là một yếu tố độc lực quan trọng của vi
khuẩn Streptococcus sinh ra 2 loại men streptokinaza và streptodornaza (diệt bạch cầu), hyalunoridaza phân hủy acid hyaluronic gây nhão mô Streptococ-
cus được chia thành các nhóm huyết thanh (gọi là nhóm Lancefield) dựa vào
cấu trúc hợp chất C (C-substance) là polysaccharide thành tế bào
+ Tính chất nuôi cấy:
Vi khuẩn tương đối khó nuôi cấy, yêu cầu môi trường bổ sung máu hoặc huyết thanh để phát triển Điều kiện nuôi cấy yếm khí tùy tiện Sau khi nuôi cấy 24 giờ ở 37oC, vi khuẩn phát triển hình thành khuẩn lạc dạng S, trong, đường kính khuẩn lạc nhỏ hơn 1 mm Vi khuẩn không di động Đa số
Streptococcus gây bệnh cho lợn đều có khả năng dung huyết dạng α và β,
gây thiếu máu cho lợn bị bệnh
+ Đặc tính sinh hóa: phản ứng catalase âm tính, oxidase âm tính
Trang 24+ Sức đề kháng : Streptococcus dễ bị diệt bởi nhiều chất sát trùng
như phenol, iod, hypochlorid, axit phenic 3 – 5% diệt vi khuẩn trong vòng 3 – 15 phút, formol 1% diệt vi khuẩn trong vòng 60 phút, cồn nguyên chất không có tác dụng với vi khuẩn, vi khuẩn bị diệt bởi cồn 700 trong vòng 30 phút, tím gentian 1/300.000 cũng có tác dụng diệt vi khuẩn
Streptococcus tồn tại lâu trong đờm, chất bài xuất có protein Theo
Tal-kington (1981) vi khuẩn có sức đề kháng tốt trong môi trường axit nên vẫn phát triển bình thường ở pH = 4 Vì vậy, trong đồ ăn phế thải của người để làm thức ăn cho gia súc, số lượng vi khuẩn đều tăng trong quá trình lên men
- Dịch tễ học:
+ Loài vật mắc bệnh:
Vi khuẩn S suis thường ký sinh ở niêm mạc đường hô hấp trên, đặc
biệt là hạch amidan và xoang mũi, đường tiêu hóa và dường sinh dục của lợn khỏe Tỷ lệ nhiễm có những đàn là 100%, tỷ lệ chết có thể lên đến 20% (Cloutier và cs, 2003)
Bệnh có khả năng lây sang người (do serotyp 2 gây ra) Những người có nguy cơ dễ nhiễm bệnh từ lợn gồm: người làm việc ở trại chăn nuôi lợn, giết
mổ gia súc, cán bộ thú y, người ăn tiết canh lợn hoặc ăn thịt lợn ốm chết
+ Lứa tuổi mắc bệnh: Mọi lứa tuổi có thể mắc bệnh, trong hầu hết các trường hợp, lợn từ 5 – 10 tuần tuổi thường hay mắc bệnh, tuy nhiên cũng có thông báo cho thấy lợn 32 tuần tuổi hoặc lợn mới sinh ra được một vài giờ
bị mắc bệnh (Nielsen và cs, 1975; Reams và cs, 1996; MacInnes và srosiers, 1999; Lapointe và cs, 2002; Cloutier và cs, 2003) Bệnh viêm màng
De-não do S suis serotyp 2 thường xảy ra ở lợn cai sữa và lợn vỗ béo (cai sữa –
6 tháng) và S suis serotyp 1 gây viêm màng não, viêm khớp, viêm phổi, bại
huyết ở lợn 2 – 4 tuần tuổi
+ Phương thức truyền lây:
Bệnh lây lan trong đàn do sự tiếp xúc giữa lợn khỏe và lợn bệnh Lợn
mẹ bị bệnh truyền sang con Bệnh còn có thể lây qua đường hô hấp, đây là
Trang 25đường truyền lây có ý nghĩa quan trọng do số lượng vi khuẩn trong môi trường rất lớn Ngoài ra, bệnh có thể truyền lây qua dụng cụ chăn nuôi và một số nhân tố trung gian như ruồi, một số loài chim và vật mang khác
- Triệu chứng:
Triệu chứng đầu tiên có thể quan sát thấy là lợn sốt cao (42,5oC), bỏ ăn,
ủ rũ, mệt mỏi, què Trong thể quá cấp tính, lợn thường chết nhanh mà không
có triệu chứng của bệnh
Giai đoạn đầu của bệnh, lợn có triệu chứng thần kinh, đi lại loạng choạng hoặc có tư thế đứng không bình thường, nhanh chóng chuyển thành trạng thái không đứng được, tư thế opisthotonus, co giật, có chứng giật cầu mắt Mắt thường nhìn chòng chọc, niêm mạc mắt nhày có màu đỏ Tại Bắc Mỹ,
lợn bị nhiễm S suis thường có biểu hiện khó thở, chứng tím xanh, suy kiệt ở
các mức độ khác nhau
Lợn từ 1 – 3 tuần tuổi thường mắc bệnh thể viêm não và màng não, thể hiện các triệu chứng như: lợn đang bú có triệu chứng ủ rũ, biếng ăn, sưng hầu, khó nuốt, đi lại khó khăn, lông dựng đứng, da mẩn đỏ và sốt Lợn hoạt động khó khăn, đi lại loạng choạng, khi nằm biểu hiện tư thế bơi chèo, tê liệt Triệu chứng viêm não ở lợn trưởng thành rất ít biểu hiện
- Bệnh tích:
Lợn bị bại huyết, viêm khớp, viêm phổi, viêm màng não; ngoài ra còn viêm nội tâm mạc, viêm âm đạo, sảy thai Thể viêm khớp thường xảy ra ở lợn đang bú và lợn trưởng thành Ở lợn trưởng thành có hiện hượng viêm một khớp, khớp viêm thường là khớp bẹn, khớp gối hoặc khớp bàn chân Tổn thương đầu tiên bao gồm thủy thũng, sưng khớp và màng khớp xung huyết, dịch khớp đục Bệnh có thể tiến triển nặng hơn với hiện tượng viêm
tơ huyết và apxe các tổ chức trong khớp, khớp bị thoái hóa, viêm khớp có
mủ ở lợn con Bệnh xảy ra đối với hệ thống xương thường là thoái hóa ở các đốt sụn Sau 15-30 ngày mắc bệnh có thể thấy các đốt sụn bị hoại tử Não bị viêm, xung huyết, phù thũng
Trang 26S suis gây viêm màng não ở lợn (Reams và cs, 1996) Kết quả này cũng
giúp cho việc lựa chọn vắc xin thích hợp để phòng bệnh Tuy nhiên, cần lưu
ý vì S suis cũng có thể phân lập từ phổi của lợn khỏe mạnh (Mwaniki và cs,
1994) nên bệnh phẩm để chẩn đoán lợn bệnh ngoài phổi phải lấy một số cơ quan khác Ngoài ra, có thể sử dụng kỹ thuật hóa mô miễn dịch và PCR để
chẩn đoán cũng như để xác định serotyp của S suis (Wisselink và cs, 2002)
- Phòng bệnh:
Để phòng bệnh cần áp dụng các biện pháp sau đây: Phòng bệnh bằng
vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý
+ Chia đàn, phân ô chuồng của một trang trại cho từng loại lợn là rất cần thiết Cần chia lợn cai sữa thành các lô nhỏ để đạt được độ tăng trưởng tối đa của chúng, tránh mật độ cao dễ truyền bệnh
+ Thường xuyên phun thuốc diệt ruồi, muỗi để ngăn chặn nguồn mang vi khuẩn truyền bệnh vào trại
+ Coi trọng việc phòng bệnh bằng vệ sinh chuồng trại như quét dọn rác, phân, chất độn chuồng, nước thải, phải thường xuyên tiêu độc, tẩy uế chuồng trại bằng các loại sát trùng (crezil, dung dịch xút…)
+ Chú ý công tác chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý đàn
+ Xác định và loại thải những lợn nái mang mầm bệnh hoặc tách riêng để điều trị rồi nuôi thành lợn thịt Bổ sung kháng sinh vào thức ăn để giảm tỷ lệ lợn khỏe mang trùng
Trang 27+ Lợn con cần được bú đầy đủ sữa đầu để có đủ kháng thể bảo vệ chúng trong giai đoạn dễ cảm nhiễm nhất
+ Nên hạn chế những tổn thương do chấn thương gây ra ở chân và bàn chân trong quá trình sinh sản, bằng cách tạo nên chuồng thuận tiện và thích hợp Kiểm tra các khớp xương của lợn thường xuyên, tránh các yếu tố bất lợi cho lợn con
Khi có dịch xảy ra phải cách ly và phân chia riêng biệt thành khu vực lợn khỏe và lợn ốm để tránh lây lan Trong quá trình cách ly theo dõi, những lợn yếu, không có hy vọng chữa khỏi thì phải loại sớm để tạo điều kiện thu hẹp và thanh toán sớm được đàn lợn bị bệnh Trong quá trình theo dõi, cách
ly tuyệt đối không được nhập lợn mới vào
Phòng bệnh bằng vắc xin: Nhiều nước trên thế giới đã và đang dùng vắc xin tụ liên cầu để phòng bệnh do nhóm cầu khuẩn gây ra ở lợn, bò, cừu
và ngựa, đã đạt được những kết quả nhất định Hầu hết các loại vắc xin vô hoạt được sản xuất trên thế giới là vắc xin chuồng, tuy nhiên hiệu quả thường không ổn định
Phòng bệnh bằng kháng sinh:
Có thể bổ sung kháng sinh bằng cách cho vào thức ăn hoặc nước uống McKellar và cộng sự, (1987) cho biết có thể sử dụng Procain penicillin trộn
vào thực ăn có thể giảm đáng kể tỷ lệ lợn bị viêm màng não do
Streptococ-cus Ngoài ra có thể sử dụng Amoxicillin, Ceftiofur
Điều trị: Việc lựa chọn loại kháng sinh thích hợp để điều trị bệnh do
Streptococcus gây ra phải dựa trên một số tiêu chí như khả năng mẫn cảm
với kháng sinh của các chủng S suis phân lập được, dạng nhiễm trùng, serotyp của vi khuẩn, đường đưa thuốc Điều trị lợn viêm màng não do S
suis serotyp 2 có thể dùng với Trimethoprim-sulfadiazin hoặc Penicillin làm
giảm tỷ lệ chết từ 55% xuống 21%
2.2.4.3 Bệnh tụ huyết trùng lợn (Pneumonic Pasteurellosis)