Đánh giá tình hình mắc một số bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại chăn nuôi Bình Minh huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội.Đánh giá tình hình mắc một số bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại chăn nuôi Bình Minh huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội.Đánh giá tình hình mắc một số bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại chăn nuôi Bình Minh huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội.Đánh giá tình hình mắc một số bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại chăn nuôi Bình Minh huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội.Đánh giá tình hình mắc một số bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại chăn nuôi Bình Minh huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội.Đánh giá tình hình mắc một số bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại chăn nuôi Bình Minh huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội.Đánh giá tình hình mắc một số bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại chăn nuôi Bình Minh huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội.Đánh giá tình hình mắc một số bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại chăn nuôi Bình Minh huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội.
Trang 1HOÀNG THỊ TƯƠI
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH MẮC MỘT SỐ BỆNH Ở LỢN NÁI SINH SẢN
VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRẠI CHĂN NUÔI BÌNH MINH,
HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 – 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2HOÀNG THỊ TƯƠI
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH MẮC MỘT SỐ BỆNH Ở LỢN NÁI SINH SẢN
VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRẠI CHĂN NUÔI BÌNH MINH,
HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp: Thú y k45 N02 Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 – 2017 Giang viên hướng dẫn: TS Trần Văn Thăng
Thái Nguyên – năm 2017
Trang 3Để hoàn thành khóa luận này, em xin trân thành cảm ơn các thầy cô giáo
Khoa Chăn nuôi Thú y, Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
đã tận tình giảng dạy trong suốt quá trình học tập và rèn luyện trên lớp cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực hiện đề tài
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất về sự quan tâm, giúp đỡ tận tình và chu đáo của thầy giáo TS Trần Văn Thăng, người đã trực tiếp hướng dẫn
em thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Qua đây, em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Đảng ủy – Hội đồng nhân dân – Uỷ ban nhân dân xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội, và tập thể Ban lãnh đạo, công nhân viên Công ty cổ phần phát triển Bình Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để em hoàn thành tốt quá trình thực tập tốt nghiệp Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, song do bước đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận với thực tế sản xuất cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót mà bản thân chưa thấy được Em rất mong được sự góp
ý của quý Thầy, cô giáo và các bạn để khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng 12 năm 2017
Sinh viên
Hoàng Thị Tươi
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả sản xuất kinh doanh của trại trong 3 năm 2015-2017 6
Bảng 3.1 Lịch phun thuốc sát trùng của trại 36
Bảng 3.2 Lịch phòng vaccine của trại lợn nái 37
Bảng 4.1 Khẩu phần ăn cho đàn lợn tại trại 39
Bảng 4.2 Kết quả phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại 45
Bảng 4.3 Kết quả phòng bệnh bằng vaccine 47
Bảng 4.4 Tỷ lệ mắc các bệnh sinh sản của đàn lợn nái tại trại 48
Bảng 4.5 Tỷ lệ mắc bệnh của đàn lợn con tại trại 50
Bảng 4.6 Kết quả điều trị các bệnh sinh sản của lợn nái tại trại 52
Bảng 4.7 Kết quả điều trị các bệnh ở lợn con tại trại 53
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục đích của đề tài 2
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của cơ sở nơi thực tập 3
2.1.2 Quá trình thành lập và phát triển trại chăn nuôi Bình Minh 4
2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước 8
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 26
2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 27
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
3.1 Đối tượng thực hiện 34
3.2 Địa điểm và thời gian thực tập 34
3.3 Nội dung tiến hành 34
3.4 Các chỉ tiêu đánh giá và phương pháp thực hiện 34
3.4.1 Các chỉ tiêu đánh giá 34
3.4.2 Phương pháp thực hiện 35
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 38
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39
4.1 Công tác nuôi dưỡng chăm sóc 39
4.1.1 Đối với lợn nái chửa 39
4.3 Tình hình mắc bệnh của đàn lợn nái và lợn con tại trại 48
4.3.1 Tỷ lệ mắc các bệnh sinh sản của đàn lợn nái 48
Trang 74.4.1 Kết quả điều trị các bệnh sinh sản ở lợn nái 50
4.4.2 Kết quả điều trị các bệnh ở lợn con theo mẹ 52
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Đề nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 8MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong chiến lược phát triển chăn nuôi, nước ta sẽ hướng tới sự tập trung công nghiệp, sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn đã được Chính phủ giao cho xây dựng chiến lược phát triển ngành chăn nuôi đến năm 2020 nhằm các mục tiêu: Các sản phẩm của ngành chăn nuôi phải đáp ứng được nhu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng và đảm bảo vệ sinh môi trường Như vậy, việc giám sát quy trình sản xuất từ đầu vào của chăn nuôi tới thành phẩm cho người tiêu dùng đòi hỏi phải chặt chẽ theo chuỗi sản xuất giá trị hang hóa và tuân thủ nghiêm ngặt mọi quy định và vệ sinh an toàn thực phẩm
Trong chăn nuôi, lợn là đối tượng vật nuôi chiếm số lượng và tỷ trọng cao nhất, các sản phẩm từ thịt lợn cũng là mặt hàng chính trên thị trường buôn bán do nhu cầu tiêu thụ của người dân cao Do đó, bất cứ yếu tố nào nguy hiểm có hại như dịch bệnh đều ảnh hưởng xấu đến giá trị sản phẩm, giá cả thị trường, làm giảm hiệu quả kinh tế của ngành chăn nuôi nói chung
Hiện nay, ngành chăn nuôi lợn theo quy mô trang trại ở nước ta ngày càng phổ biến và đạt hiệu quả kinh tế cao, đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển nền kinh tế nông nghiệp Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế, khó khăn gặp phải trong chăn nuôi chính là vấn đề dịch bệnh Nó đã, đang và sẽ gây thiệt hại lớn về kinh tế cho ngành chăn nuôi Một số bệnh thường gặp như: Bệnh viêm
tử cung, đẻ khó, sót nhau, tiêu chảy, phân trắng lợn con Trong chăn nuôi lợn tập trung, bệnh lây lan mạnh, lại thường xuyên gặp, gây ảnh hưởng lớn đến hiệu quả chăn nuôi, tỷ lệ chết cao, giảm khả năng tăng trọng của đàn lợn Nếu không điều trị kịp thời thì lợn nái có thể kế phát viêm vú, mất sữa và lợn con bị gầy yếu, có thể chết
Trang 9Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn sản xuất em tiến hành nội dung đề tài:
“Đánh giá tình hình mắc một số bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại chăn nuôi Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội”
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tế chăn nuôi lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ
- Học tập và tích lũy những kiến thức mới từ thục tiễn chăn nuôi lợn nái sinh sản
và lợn con theo mẹ tại trại chăn nuôi
- Từ kết quả đánh giá tình hình mắc bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ, đề xuất các biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại các trại chăn nuôi lợn tại địa phương
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của cơ sở nơi thực tập
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Phù Lưu Tế là một xã nằm trên địa bàn huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội, cách thị trấn Vân Đình 12 km về phía Nam Xã Phù Lưu Tế có địa giới hành chính như sau:
- Phía Tây giáp xã Xuy Xá
- Phía Nam giáp thị trấn Đại Nghĩa
- Phía Bắc giáp xã Hòa Xá của huyện Ứng Hòa
- Phía Đông giáp xã Phùng Xá
2.1.1.2 Điều kiện khí hậu, thủy văn
- Khí hậu: Xã Phù Lưu Tế nằm trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ nên khí hậu mang tính chất chung của khí hậu miền Bắc Việt Nam, khí hậu nhiệt đới gió mùa
- Lượng mưa hàng năm cao nhất là 2.157 mm, thấp nhất là 1.060 mm, trung bình là 1.567 mm, lượng mưa tập trung chủ yếu từ tháng 6 đến tháng 7 trong năm
- Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 82%, độ ẩm cao nhất là 88%, thấp nhất là 67%
- Nhiệt độ trung bình trong năm là 210C đến 230C, mùa nóng tập trung vào tháng 6 đến tháng 7 Do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam nên có sự chênh lệch về nhiệt độ trung bình giữa các mùa trong năm
- Về chế độ gió: Gió mùa Đông Nam thổi từ tháng 3 đến tháng 10, gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau
2.1.1.3 Điều kiện địa hình đất đai
- Là vùng huyện bán sơn địa, nằm ở phía nam của đồng bằng Bắc Bộ phía nam là vùng núi đá vôi hang động Karst, có khu thắng cảnh chùa Hương Huyện
Trang 11còn có hồ nước lớn là hồ Quan Sơn, nằm trên địa phận xã Hợp Tiến Ở rìa phía đông có sông Đáy chảy theo hướng từ Bắc xuống Nam sang tỉnh Hà Nam
- Diện tích tự nhiên của huyện Mỹ Đức là 226,913 km² (sau khi điều chỉnh diện tích với tỉnh Hòa Bình)
2.1.1.4 Điều kiện giao thông
- Về đường bộ: Có quốc lộ 21B chạy từ Hà Đông qua thị trấn Đại Nghĩa (Tế Tiêu cũ) sang tỉnh Hà Nam
- Về đường sông: Có sông Đáy (sông Thanh Hà)
2.1.2 Quá trình thành lập và phát triển trại chăn nuôi Bình Minh
2.1.2.1 Quá trình thành lập
Trang trại chăn nuôi lợn Bình Minh nằm trên địa phận xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội Trại được thành lập năm 2008, là trại lợn gia công của Công ty chăn nuôi CP Việt Nam (Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam) Hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đưa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật Hiện nay, trang trại do ông Nguyễn Sỹ Bình làm chủ trại, cán bộ kỹ thuật của công ty chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trại
2.1.2.2 Cơ sở vật chất của trại
Trại lợn có khoảng 0,5 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà cho công nhân, bếp ăn các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng như sau
- Hệ thống chuồng trại cho 5400 lợn thịt bao gồm: 9 chuồng, mỗi chuồng có
9 ô, 8 ô kích thước 7 m × 7 m/ô và 1 ô khích thứơc 3 m × 7 m/ô
- Hệ thống chuồng trại cho 1200 nái bao gồm: 6 chuồng đẻ mỗi chuồng có
56 ô kích thước 2,4 m × 1,6 m/ô, 2 chuồng bầu mỗi chuồng có 560 ô kích thước 2,4 m × 0,65 m/ô, 3 chuồng cách ly, 1 chuồng đực giống
Trang 12- Cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc…
- Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 6 quạt thông gió Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,5 m², cách nền 1,2 m, mỗi cửa sổ cách nhau 40
2.1.2.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại
Trang 13Bảng 2.1 Kết quả sản xuất kinh doanh của trại trong 3 năm 2015-2017
TT Loại lợn Đơn vị Năm 2015 Năm 2016 6 tháng đầu
- Công tác vệ sinh: Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về mùa
Hè, ấm áp về mùa Đông Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn và rắc vôi theo quy định Công nhân, kỹ sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động
- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi, hạn chế đi lại giữa các chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào Với phương châm phòng bệnh là chính nên tất cả lợn ở đây đều được cho uống thuốc,
Trang 14tiêm phòng vắc xin đầy đủ Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bênh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100%
- Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách li, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnh nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 - 90% trong một thời gian ngắn Vì vậy, không gây thiệt hại lớn về
- Cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững vàng, công nhân nhiệt tình
và có tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất
- Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trại
Trang 152.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Những bệnh thường gặp ở lợn nái
2.2.1.1 Bệnh viêm tử cung
Bệnh viêm tử cung xảy ra trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau Lợn nái
đẻ ít lứa, nhiều lứa hay đang nuôi con đều có thể mắc bệnh song tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào yếu tố vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng, các khu thực vật ở mỗi vùng
là khác nhau Khi gia súc sinh đẻ nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây xát, bị tổn thương, vi khuẩn xâm nhập và phát triển gây viêm Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao… thường gây viêm tử cung
Nguyên nhân
Bệnh viêm t ử cung Trần Tiến Dũng và cs (2002) [8] cho rằng viêm tử cung
là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái
Theo nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Xuân Bình (2000) [1], bệnh viêm
tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:
- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm sây sát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm
- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ
- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát
- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung
Trang 16- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm, Phó thương hàn, bệnh Lao… gây viêm
- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm
Đoàn Kim Dung và Lê Thi ̣ Tài (2002) [7] cho biết, nguyên nhân gây viêm
tử cung là do vi khuẩn tu ̣ cầu vàng (Staphylococcus aureus), Liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E coli…
Lê Văn Năm và cs (1999) [16] cho rằng, có rất nhiều nguyên nhân từ ngoại cảnh gây bệnh như: Do thức ăn nghèo dinh dư ỡng, do can thiê ̣p đỡ đẻ bằng du ̣ng
cụ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuâ ̣t dẫn đến Muxin của chất nhày các cơ quan si nh dục bị phá hủy hoặc kết tủa, kết hợp với việc chăm sóc nuôi dư ỡng bất hợp lý và thiếu vâ ̣n đô ̣ng đã làm châ ̣m quá trình thu teo sinh lý của d ạ con (trong điều kiê ̣n cai sữa bình thường da ̣ con trở về khối lượng kích thư ớc ban đ ầu khoảng 3 tuần sau đẻ ) Đây là điều kiê ̣n tốt để vi khuẩn xâm nhập vào t ử cung gây bênh Biến chứng nhiễm trù ng do vi khuẩn xâm nhâ ̣p vào dạ con gây lên trong thời gian đô ̣ng đực (vì lúc đó tử cung mở) và do thụ tinh nhân ta ̣o sai kỹ thuâ ̣t
Bệnh còn xả y ra do thiếu sót về dinh dư ỡng và quản lý : Khẩu phần thiế u hay thừa protein trước, trong thờ i kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm t ử cung Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bô ̣t gây đẻ khó, viêm tử cung do xây xát Khoáng chất, vitamin cũng ảnh hưởng đến viêm tử cung
Các thể viêm tử cung
Nghiên cứu của Đặng Đình Tín (1986) [23], Trần Tiến Dũng và cs (2002) cho biết bệnh viêm t ử cung được chia làm 3 thể: Viêm nô ̣i ma ̣c t ử cung, viêm cơ
tử cung và viêm tương ma ̣c tử cung
- Viêm nội mạc tử cung: Khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong những trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây xát,
Trang 17tổn thương, vi khuẩn xâm nhập và phát triển gây viêm nội mạc tử cung Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm, Phó thương hàn, bệnh Lao,… thường gây ra viêm nội mạc tử cung Căn cứ vào tính chất, trạng thái của quá trình bệnh lý, viêm nội mạc tử cung có thể chia ra làm hai loại: viêm nội mạc tử cung thể cata cấp có mủ và viêm nội mạc tử cung có màng giả
+ Viêm nội mạc tử cung cata cấp tính có mủ : Bệnh này xuất hiện trên tất cả các loài gia súc, gặp nhiều ở trâu, bò, lợn Sau khi sinh đẻ, niêm mạc cổ tử cung
và âm đạo bị tổn thương, xây xát, nhiễm khuẩn, nhất là khi gia súc bị sát nhau, đẻ khó phải can thiệp
Khi bị bệnh, gia súc có biểu hiện một số triệu chứng chủ yếu: Thân nhiệt hơi cao, ăn uống giảm, lượng sữa giảm Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, đôi khi cong lưng rặn tỏ vẻ không yên tĩnh Từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, những mảnh tổ chức chết,…
Khi con vật nằm, dịch viêm thải ra ngoài càng nhiều hơn Xung quanh
âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm, có khi nó khô lại hình thành từng đám vẩy, màu trắng xám Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch viêm thải ra nhiều Cổ tử cung hơi mở và có mủ chảy qua cổ tử cung
+ Viêm nội mạc tử cung màng giả: Thể viêm này, niêm mạc tử cung thường
bị hoại tử Những vết thương đã ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử
Trường hợp này, con vật xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ: Thân nhiệt lên cao, ăn uống và lượng sữa giảm, có khi hoàn toàn mất sữa Con vật biểu hiện trạng thái đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên Từ cơ quan sinh dục luôn thải
ra ngoài hỗn dịch; dịch viêm, máu, mủ, những mảnh tổ chức hoại tử và niêm dịch…
- Viêm cơ tử cung
Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2002) [17] cho rằng viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả Niêm mạc tử cung bị
Trang 18thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử Nếu bệnh nặng, can thiệp chậm có thể dẫn tới nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ Có khi do lớp cơ và lớp tương mạc của tử cung bị phân giải mà tử cung bị thủng hoặc tử cung bị hoại tử từng đám to
Lợn nái bị bệnh này thường biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: Thân nhiệt tăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm hoặc mất hẳn Mép âm đạo tím thẫm, niêm mạc âm đạo khô, nóng màu đỏ thẫm Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu, mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh, thối Con vật thường
kế phát viêm vú, có khi viêm phúc mạc
Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lần sau
Có trường hợp điều trị khỏi nhưng gia súc vô sinh
- Viêm tương mạc tử cung
Viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ thể viêm cơ tử cung Bệnh này thường ở thể cấp tính, cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng Lúc đầu, lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển màu đỏ sẫm, mất tính trơn bóng Sau đó, các tế bào bị phân hủy và bong ra, dịch thẩm xuất rỉ ra làm cho lớp tương mạc bị xù xì Trường hợp viêm nặng, nhất là thể viêm có mủ, lớp tương mạc ở một số vùng có thể dính với các tổ chức xung quanh, gây nên tình trạng viêm thể Parametritis và dẫn đến viêm phúc mạc, thân nhiệt tăng cao, mạch nhanh Con vật ủ rũ, uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ
ăn Con vật luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có mùi thối khắm Kiểm tra qua trực tràng thấy thành tử cung dày, cứng, hai sừng tử cung mất cân đối, kích thích con vật biểu hiện trạng thái đau đớn càng rõ và càng
Trang 19rặn mạnh hơn Thể viêm này thường dẫn đến kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ
Triệu chứng
Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4-5 ngày cá biệt tới 6-7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sang vàng hay trắng và trong Trong trường hợp viêm thì sản dịch có thể có màu đen hôi thối, mùi tanh rất khó chịu Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể: + Thể cấp tính: Con vật sốt 41 – 420C trong vài ngày đầu âm môn sưng tấy
đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra trắng đục đôi khi có máu lờ lờ
+ Thể mãn tính: Không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch nhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không liên tục mà chỉ chảy ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần Lợn nái thường thụ tinh không có kết quả hoặc khi đã
có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo tử cung lan sang thai làm chết thai
Hâ ̣u quả của bê ̣nh viêm tử cung
- Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con
Nghiên cứu của Trần Tiến Dũng và cs (2002) [8], Trần Thị Dân (2004) [5] cho biết khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:
- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có thể bám chặt vào tử cung Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiều Prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở
Trang 20thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết progesterone nữa, do đó hàm lượng Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai
- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng Progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu
- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy
Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có mặt của vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết kích thích tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc
- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại.Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone
Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được và không thải trứng được
- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ
Chẩn đoán lâm sàng bê ̣nh viêm tử cung
Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động đực, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định, từ vài ml cho tới 200 ml
Trang 21hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu máu cá Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính, viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kì cho sữa Hiện tượng chảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung
Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có những mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợn nái còn có thể
là do viêm bàng quang có mủ gây ra
Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ chảy ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đực thì có thể bị nhầm lẫn
Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủnên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặt khác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho chính xác Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu hậu quả
do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viên từ đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất
Để chẩn đoán người ta dựa vào những triệu chứng điển hình ở cục bộ cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân
-Viêm nội mạc tử cung: Sốt nhẹ, dịch viêm màu trắng hoặc trắng xám,mùi tanh,bỏ ăn một phận hoặc bỏ ăn hoàn toàn
-Viêm cơ tử cung: Sốt nhẹ, dịch viêm màu hồng hay nâu đỏ, mùi tanh thối,
bỏ ăn hoàn toàn
Trang 22-Viêm tương mạc tử cung: Sốt cao, dịch viêm màu nâu rỉ sắt, múi thối khắm, đau đớn, bỏ ăn hoàn toàn
- Oxytoxin: 4 ml/con/ngày, tiêm 2 ngày liên tục
- Analgin: 1 ml/ 20 kg TT/ ngày Tiêm bắp liên tục trong 3 ngày
- Tiêm thuốc trợ sức, trợ lực: Bcomplex, tiêm bắp 5-10 ml/con/ngày, tiêm 3-5 ngày liên tục
2.2.1.2 Bệnh viêm vú
Nguyên nhân
Trần Minh Châu (1996) [3] cho rằng, khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng
cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường
ruột xâm nhập gây viêm vú Một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần thức ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho
vi khuẩn xâm nhập và gây viêm
- Vi khuẩn gây viêm vú ở lợn nái sinh sản gồm: E.coli chiếm 18,2%,
Staphylococcus chiếm 19%, Streptococcus chiếm 27,18%, Klebsiella chiếm 14,7%
+ Do kế phát từ một số bệnh: Sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau đẻ, viêm bàng quang… khi lợn nái bị những bệnh này vi khuẩn theo máu về tuyến vú cư trú tại đây và gây bệnh
+ Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết hoặc lợn nái cho con bú một hàng
vú, hàng vú còn lại căng sữa Lợn con bú làm sây sát bầu vú hoặc lợn con bị bệnh không bú, sữa xuống nhiều bầu vú căng dễ dẫn đến viêm
Trang 23+ Do quá trình chăm sóc nuôi dưỡng kém, chất độn chuồng và ổ đẻ bẩn, sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu vú, thời tiết quá ẩm kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn đến viêm
vú xuống sàn, ít cho con bú Lợn con thiếu sữa kêu la chạy vòng quanh lợn mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy tọp, tỷ lệ chết cao 30 - 100% Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có những cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện những mảnh cazein màu vàng, xanh lợn cợn, đôi khi có máu
Hậu quả của bệnh viêm vú
Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa, từ đó sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ
- Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [15] cho rằng, bệnh viêm tử cung và viêm vú là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợn nái nuôi con
- Nguyễn Xuân Bình (2000) [1] cũng khẳng định: Mất sữa sau khi đẻ là do
kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm cơ thể thường sốt cao liên tục 2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa
bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồi chức năng tiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo
Trang 24Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa có nhiều chất độc, sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con bú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh và trọng lượng cai sữa thấp
Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khó chữa, lợn nái có thể chết
Viêm vú kéo dài dẫn đến teo đầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa đẻ sau
Điều trị
- Hitamox LA: 1 ml/ 10 kg TT Tiêm bắp, thời gian tác dụng của thuốc là 24-72 giờ nên cách ngày ta tiêm 1 lần, tiêm trong vòng 3-5 ngày
- Analgin: 1 ml/ 20 kg TT/ ngày Tiêm bắp liên tục trong 3 ngày
- Tiêm thuốc trợ sức, trợ lực: B.complex tiêm bắp 5-10 ml/con/ngày, tiêm liên tục 3-5 ngày
- Dùng khăn sạch nhúgn nước ấm xoa bầu vú ngày 2 lần
- Vắt bỏ bớt sữa trong bầu vú 2-3 lần/ngày
2.2.1.3 Bệnh sót, sát nhau
Là bệnh xảy ra sau khi đẻ, khi con đã ra hết 4 – 5h mà nhau không ra hoặc ra không hết
- Căn cứ vào mức độ của bệnh mà có thể chia ra như sau:
+ Thể sót nhau hoàn toàn: Toàn bộ hệ thống nhau thai còn dính với niêm mạc tử cung ở cả 2 sừng tử cung
+ Thể sót nhau không hoàn toàn: phía sừng tử cung không chứa thai thì nhau thai con đã tách khỏi niêm mạc tử cung Sừng tử cung bên có thai thì nhau thai còn dính chặt với niêm mạc tử cung mẹ
+ Thể sót nhau từng phần: một phần của màng nhung hay 1 ít núm nhau con còn dính với niêm mạc tử cung, còn đa phần màng thai đã tách khỏi niêm mạc tử cung
Trang 25- Tử cung co bóp kém không đẩy được nhau thai ra ngoài
Nguyên nhân làm cho tử cung co bóp kém có thể là
+ Lợn nái quá già, đẻ nhiều lứa nên đuối sức
+ Trong thời gian có thai lợn nái ít vận động, nhất là giai đoạn cuối thai kỳ + Khẩu phần ăn thiếu khoáng, nhất là Canxi
+ Lợn nái quá gầy hoặc quá béo, quá nhiều bào thai hoặc bào thai quá to, dịch thai nhiều dẫn đến cổ tử cung mở quá độ làm giảm đàn tính và sự co bóp
Triệu chứng
Lợn bị sót nhau thường biểu hiện triệu chứng không rõ ràng:
- Lợn mẹ không yên tĩnh, hơi đau đớn, thỉnh thoảng rặn, thân nhiệt hơi tăng, lợn thích uống nước (nhờ vào kinh nghiệm chăm sóc cũng như theo dõi trong quá trình chăm sóc thực tế mà ta biết được lượng nước lợn uống có nhiều hơn bình thường hay không)
- Từ cơ quan sinh dục của lợn mẹ luôn thải ra dịch màu nâu
Trang 26- Sót nhau từng phần: Trải toàn bộ phần nhau thai đã ra ngoài trên nền chuồng sạch kiểm tra cuống rốn mỗi lợn con tương ứng với 1 cuống rốn và 1 lá nhau, nếu thiếu là bị sót Có trường hợp còn sót một ít những mẫu nhỏ thì sau khi
đẻ 1 ngày kiểm tra dịch viêm tử cung chảy ra màu đen và những mảnh nhau thối
2.2.1.4 Hiện tượng đẻ khó
Lợn đẻ mà thời gian sổ thai kéo dài nhưng thai vẫn không được đẩy ra ngoài Bệnh biểu hiện dưới nhiều hình thức, diễn biến khác nhau Nó không những gây tổn thương cho cơ quan sinh dục mà còn dẫn đến hiện tượng vô sinh, thậm chí cả lợn mẹ và lợn con có thể chết
Nguyên nhân
- Đẻ khó do nguyên nhân cơ thể mẹ:
Khi chăm sóc, nuôi dưỡng không tốt, thức ăn không đầy đủ, chất dinh dưỡng thiếu so với nhu cầu của lợn mang thai dẫn đến cơ thể mẹ suy nhược, sức khỏe kém
Trong quá trình đẻ, sức rặn đẻ của lợn yếu, thậm trí không rặn đẻ, cổ tử cung
co bóp yếu nên không đẩy thai ra ngoài
Lợn ăn quá nhiều tinh bột, protein dẫn đến béo cũng gây ra đẻ khó Lợn quá gầy cũng dẫn đến đẻ khó
Trang 27Do cấu tạo tổ chức các phần mềm như: Cổ tử cung, âm đạo giãn nở không bình thường có chỗ giãn quá mạnh, chỗ lại không giãn nên việc đẩy con ra ngoài gặp khó khăn
Khung xoang chậu bị biến dạng, khớp bán động háng phát triển không bình thường, vôi hóa cột sống hay xoang chậu hẹp
Trong quá trình đẻ độ giãn nở kém, thai bị mắc trước cửa xoang chậu không
ra đươc
Khi quá trình rặn đẻ kéo dài, sức co bóp lớn ép lợn con bị chết Ở thời gian
có thai kỳ cuối, thai quá to, lợn nái vận động mạnh, chèn ép tử cung làm tử cung
bị xoắn vặn lại, tư thế tử cung thay đổi, đường sinh dục trở nên không bình thường cũng gây đẻ khó
- Đẻ khó do nguyên nhân bào thai
Chiều hướng, tư thế của thai lúc đẻ không bình thường Các trường hợp lợn con nằm không đúng tư thế: Bốn chân lợn con hướng về xương sống lợn mẹ, lợn con nằm đưa vai ra trước, lợn con đầu ngước ra sau lưng, lợn con đầu quẹo sang một bên, lợn con đưa đầu và bốn chân ra một lượt, lợn con mõm ra trước, hai chân trước co xuống bụng, lợn con đầu cúp xuống ngực
Chế độ dinh dưỡng không phù hợp hoặc do quá ít thai, làm thai quá to không phù hợp với kích thước của xương chậu và đường sinh dục của lợn mẹ Thai bị dị hình hay quái thai
Đẻ khó do nguyên nhân bào thai thường chiếm 3/4, những nguyên nhân và loại hình đẻ khó có thể xảy ra đơn độc hoặc kết hợp lại với nhau như bào thai quá
to mà xương chậu lại quá nhỏ, thai to cộng với tư thế thai không bình thường… khi rặn đẻ thai bị kẹt không ra được
Triệu chứng
Lợn nái đến ngày đẻ, nước ối vỡ ra, trong nước ối có lẫn phân su nhưng không thấy thai ra Lợn nái có biểu hiện rặn nhiều lần, rặn mạnh, thậm chí lợn nái
Trang 28còn rặn căng bụng, cong lưng, chân đạp vào thành chuồng để rặn nhưng thai vẫn không ra Do thời gian rặn đẻ mạnh và kéo dài mà thai vẫn không ra làm cho lợn nái mệt mỏi Nếu để lâu có thể dẫn đến hiện tượng thai bị ngạt mà chết Khi đưa tay vào đường sinh dục thấy khung xoang chậu hẹp, thai to hoặc ở tư thế không bình thường nằm kẹt ở trước cửa xoang chậu
Hậu quả
Tử cung co bóp mạnh mà thai không ra, thai bị chèn ép, bị ngạt thở dẫn đến lợn con bị chết Nếu mổ để lấy thai ra ngoài thì lợn mẹ hay bị chết hoặc không thể dùng sinh sản lứa sau
Do lợn nái rặn đẻ mạnh và kéo dài làm lợn nái mệt mỏi, kéo dài thời gian
đẻ, sức co bóp của tử cung giảm, gây ra hiện tượng sót nhau, sót con dẫn đến viêm đường sinh dục
Khi dùng biện pháp can thiệp không đúng cách, gây xây xát niêm mạc tử cung, hoặc dụng cụ thủ thuật không đảm bảo vệ sinh làm lợn bị nhiễm một số bệnh: viêm tử cung, viêm vú, sảy thai truyền nhiễm… khi đó, niêm mạc sẽ có những vết sẹo gây cản trở cho quá trình thụ thai, thai làm tổ… dẫn đến xảy thai, tiêu thai, đẻ non ở những lần sinh sản tiếp theo, thậm trí là vô sinh
2.2.2 Những bệnh thường gặp ở lợn con theo mẹ
Trang 29Theo Trần Đức Hạnh (2013) [11]: lợn con ở 1 số tỉnh phía bắc mắc tiêu chảy
và chết với tỷ lệ trung bình là 31,84% và 5,37%, tỷ lệ mắc tiêu chảy và chết giảm dần theo lứa tuổi, cao nhất ở lợn con giai đoạn từ 21 – 40 ngày ( 30,97 và 4,93%) và giảm ở giai đoạn 41 - 46 ngày
Theo Nguyễn Chí Dũng (2013) [9] kết luận: Tháng có nhiệt độ thấp và ẩm
độ cao (12,12%) tỷ lệ mắc tiêu chảy cao (26,98 – 38,18%)
Nguyên nhân:
- Do thời tiết khí hậu: các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởngtrực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thể
- Lợn con bị nhiễm khuẩn: Bệnh tiêu chảy ở lợn có nguyên nhân do vi
khuẩn E.coli, Salmonella, trong đó: Salmonella là vi khuẩn có vai trò quan trọng
trong quá trình gây ra hội chứng tiêu chảy
- Do vệ sinh chuồng trại kém, thức ăn thiếu dinh dưỡng, chăm sóc quản lý không tốt
- Lợn mẹ bị viêm vú, viêm tử cung
- Lợn mẹ ăn không đúng khẩuphần
Triệu chứng
- Khi nhiễm bệnh, lợn con kém bú, dáng ủ rũ, đi đứng xiêu vẹo Lợn con tiêu chảy, da nhăn nheo, gầy nhanh, hậu môn thường dính bết phân màu trắng (lúc đầu phân màu xanh đen, sau chuyển sang màu xám rồi cuối cùng là màu trắng Lợn hay khát nước, đôi khi nôn ra sữa chưa được tiêu hóa
- Bệnh kéo dài khoảng 2 - 7 ngày làm lợn con suy kiệt nhanh, co giật, run rẩy và chết Tỷ lệ chết từ 50 - 80%
- Sàn chuồng có phân lợn lỏng, màu vàng hoặc màu trắng,
- Trong chuồng có hiện tượng lợn nôn ra sữa,
- Người lợn con bị bẩn do dính phân,
Trang 30- Vú lợn mẹ dính phân lợn con
Bệnh tích
- Dạ dày giãn rộng, đường bề cong lớn bị chảy máu (xuất huyết)
- Dạ dày chứa đầy sữa đông vón không tiêu
-Ruột non chứa đầy hơi, xuất huyết từng đoạn
Chẩn đoán
- Chẩn đoán bệnh thông qua triệu chứng, bệnh tích
+ Quan sát biểu hiện bên ngoài: Phân nhớt vàng, lông xù…
+ Những biến đổi trong cơ thể: Bệnh ở gan, tim, phổi hay thận…
+ Tính chất của những thay đổi đó: Viêm, áp xe, phù hay hoại tử, xung huyết, xuất huyết, bệnh kế phát, bội nhiễm hay tái phát
- Chẩn đoán theo nguyên nhân gây bệnh: Vi khuẩn, vi rút, nấm, ký sinh trùng, độc chất, chấn thương, môi trường
- Phòng bệnh bằng vệ sinh dinh dưỡng: chăm sóc, nuôi dưỡng lợn mẹ, lợn con tốt Cần chú ý khâu thức ăn cho mẹ phải tốt cả về số lượng và chất lượng, không nên thay đổi thức ăn của lợn mẹ trong quá trình đang cho lợn con bú sữa Thực hiện tốt 3 khâu: chống lạnh, chống ẩm và chống bẩn; chuồng trại thoáng mát mùa hè, ấm mùa đông …
- Tập cho lợn con ăn sớm với thức ăn có chất lượng cao, tiêm sắt cho lợn con
- Phòng bằng vắc xin cho cả lợn mẹ và con: Tiêm cho lợn mẹ 1 -2 tuần trước khi đẻ Tiêm cho lợn con vào ngày tuổi thứ 14
Trang 31 Điều trị
- Dùng Nor 100 tiêm bắp, với liều 1,5 ml/con/ngày
- Trộn Amoxicol vào thức ăn cho lợn con
- Hòa điện giải Oresol cho lợn con uống
- Kết hợp tiêm B.comlex 1 lần/ngày
- Điều trị liên tục 3 – 5 ngày Kết hợp vệ sinh sát trùng chuồng trại sạch sẽ; dội nền chuồng bằng sút, rắc vôi bột
2.2.2.2 Bệnh viêm phổi
Bệnh viêm phổi hay còn gọi là (bệnh suyễn lợn) có biểu hiện là: Khó thở, thở bụng, nhịp thở nhanh, ho khan nhất là vào buổi sáng, triệu chứng trên trầm trọng và rõ ràng hơn khi lợn vận động nhiều, thậm chí có thể chết Bệnh tích của hội chứng ho thở truyền nhiễm nhiều khi không biểu hiện ra ngoài, lúc này tăng trọng kém và tiêu tốn thức ăn cao là biểu hiện duy nhất của trạng thái nhiễm
M.hyopneumoniae
Nguyên nhân
- Bệnh viêm phổi Mycoplasma (còn gọi là bệnh suyễn) là bệnh hô hấp mãn
tính ở lợn, ít khi gây chết, nhưng thiệt hại kinh tế rất lớn trong chăn nuôi
- Đường lây: Bệnh có thể lây truyền từ lợn nái mang virus bệnh sang lợn con nhưng truyền lây chủ yếu là giữa các con trong cùng đàn Phương thức lây truyền chủ yếu là qua tiếp xúc Cũng có thể truyền lây qua không khí, sự truyền lây thường thấy là tiếp xúc trực tiếp khi lợn con ngửi nhau
Bệnh tích
Trang 32- Các bệnh tích thường thấy: Viêm phổi và màng phổi hóa sợi, dính sườn;
viêm phổi do Mycoplasma gây ra
- Những kháng sinh có hiệu lực điều trị với Mycoplasma là Tetracycline,
Tylosin và Tiamulin Gần đây các chế phẩm của nhóm Quynolone như Norfloxaxin, Daofloxaxin và enrofloxaxin cũng cho hiệu quả điều trị tốt Nên
phối hợp các loại kháng sinh trên điều trị bệnh viêm phổi do Mycoplasma Nếu
điều trị sớm thì hiệu quả chữa bệnh cao
- Hiệu quả của các biện pháp phòng bệnh viêm phổi do Mycoplasma phụ
thuộc rất nhiều vào các biện pháp quản lý đàn lợn, như: môi trường sạch sẽ, thông gió thường xuyên, nhiệt độ ấm, mật độ lợn trong chuồng vừa phải Trong dãy chuồng không nên nuôi lẫn lộn các đàn lợn có lứa tuổi cách nhau quá 3 tuần
Trang 33- Lincojec: 1,5 ml/con, tiêm bắp ngày/lần
- Nếu lợn có hiện tượng ho nhiều, thở gấp thì tiêm Bromhexine (HCl): 2 ml/con Điều trị trong 5 - 6 ngày
- Dùng điện giải Gluco k – c, B.comlex hòa tan…hòa nước uống 6 – 10 ngày liên tục
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Theo Bilken (1994) [2], viêm tử cung thường xảy ra trong lúc sinh do nhiễm
vi khuẩn E coli gây dung huyết và các vi khuẩn gram dương
Theo Urban (1983) [30], Bilken (1994) [2], các vi khuẩn gây nhiễm trùng tử cung có nguồn gốc từ nước tiểu, các tác giả đã phân lập vi khuẩn từ mẫu nước tiểu lợn nái sắp sinh thường có chứa các vi khuẩn E coli, Staphylococcus aureus, Streptococcus spp Tuy nhiên, các nghiên cứu của các tác giả khác lại ghi nhận các vi khuẩn gây nhiễm trùng tử cung là các vi khuẩn cơ hội thuộc nhóm vi sinh vật hiếu khí có mặt ở nền chuồng, lúc lợn nái sinh cổ tử cung mở, vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh
Theo Smith (1995) [28], Taylor (1995) [29], tăng cường vệ sinh chuồng trại,
vệ sinh thân thể lợn nái là yếu tố quan trọng trong việc phòng ngừa nhiễm trùng sau khi sinh Khi mổ khám những lợn vô sinh, các tác giả đã xác định được nguyên nhân do cơ quan sinh sản là 52,5%, lợn nái đẻ lứa đầu là 32,1%, lợn nái
cơ bản có những biến đổi bệnh lý: viêm vòi tử cung có mủ
Ở Pháp, các tác giả Pierre Brouillt và Bernarrd Faroult (2003) [18] đã nghiên cứu và kết luận: Điều trị bệnh viêm vú trong thời kỳ cho sữa là một yếu tố cơ bản trong khống chế bệnh viêm vú Nó phải được tiến hành sớm và đạt kết quả, xác định nguyên nhân không chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng mà phải tính đến các chỉ tiêu chăn nuôi và có thể dựa vào các kết quả của 30 phòng thí nghiệm Sự
Trang 34hiểu biết đầy đủ các phương pháp điều trị, nhất là về dược lực học và dược động học cho phép đáp ứng tốt hơn cách điều trị
Các nghiên cứu của Trekaxova A V (1983) [27], về chữa bệnh viêm vú cho lợn nái hướng vào việc đưa ra các phương pháp chữa kết hợp Dùng Novocain phong bế phối hợp với điều trị bằng kháng sinh cho kết quả tốt Để phong bế thần kinh tuyến sữa, tác giả đã dùng dung dịch Novocain 0,5% liều từ 30 - 40 ml cho mỗi túi vú Thuốc tiêm vào mỗi thuỳ vú bệnh, sâu 88 – 10 cm Dung dịch Novocain còn được bổ sung 100 - 200 ngàn đơn vị Penicillin hay kháng sinh khác Đồng thời, lợn nái còn được tiêm bắp cùng một loại kháng sinh trong Novocain này, từ 400 - 600 đơn vị, mỗi ngày 2 - 3 lần
2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Để nâng cao năng suất và chất lượng lợn nái giai đoạn sinh sản thì ta cần phải thực hiện tốt quy trình cai sữa sớm cho lợn con Muốn cai sữa sớm cho lợn con đạt được những kết quả tốt nhất thì ta phải thực hiện quy trình tập ăn sớm cho lợn con Vấn đề này đang được nhiều tác giả nghiên cứu:
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [20] cho rằng: khi lợn con đã lớn hơn, nó trở thành dẻo dai và có khả năng đương đầu tốt hơn với môi trường ngoại cảnh của nó Vào thời gian này, phần lớn lợn con đã được 3- 4 tuần tuổi, chúng bắt đầu
ăn thức ăn và lớn nhanh, sự tăng khối lượng sớm này là tăng có hiệu quả, do đó người chăn nuôi nên cố gắng giảm bớt stress cho lợn con
Một cách để đạt được khối lượng tối đa là cho lợn con bắt đầu ăn những thức ăn càng sớm càng tốt Nói chung, sự tiết sữa của lợn mẹ đạt đến đỉnh cao 3-
4 tuần tuổi và bắt đầu giảm Lợn con bắt đầu sinh trưởng nhanh và cần thức ăn bổ sung nếu nó sinh trưởng với tiềm năng di truyền của nó Lợn con cần được tập ăn
từ 1- 2 tuần tuổi
Theo Lê Xuân Cương (1986) [3] lợn nái chậm sinh sản do nhiều nguyên nhân trong do tổn thương bệnh lý sinh dục chiếm tỷ lệ đáng kể Đặc biệt, các lợn