1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện quy trình chăm sóc,nuôi dưỡng và phòng,trị một số bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trang trại Bùi Huy Hạnh huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương (Khóa luận tốt nghiệp)

67 337 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện quy trình chăm sóc,nuôi dưỡng và phòng,trị một số bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trang trại Bùi Huy Hạnh huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải DươngThực hiện quy trình chăm sóc,nuôi dưỡng và phòng,trị một số bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trang trại Bùi Huy Hạnh huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải DươngThực hiện quy trình chăm sóc,nuôi dưỡng và phòng,trị một số bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trang trại Bùi Huy Hạnh huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải DươngThực hiện quy trình chăm sóc,nuôi dưỡng và phòng,trị một số bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trang trại Bùi Huy Hạnh huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải DươngThực hiện quy trình chăm sóc,nuôi dưỡng và phòng,trị một số bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trang trại Bùi Huy Hạnh huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải DươngThực hiện quy trình chăm sóc,nuôi dưỡng và phòng,trị một số bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trang trại Bùi Huy Hạnh huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải DươngThực hiện quy trình chăm sóc,nuôi dưỡng và phòng,trị một số bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trang trại Bùi Huy Hạnh huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG THỊ HƯỜNG

Tên đề tài:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG, TRỊ MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở LỢN NÁI SINH SẢN

VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRANG TRẠI BÙI HUY HẠNH,

HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thu ́ y Khóa học: 2013 – 2017

Thái Nguyên, 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG THỊ HƯỜNG

Tên đề tài:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG, TRỊ MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở LỢN NÁI SINH SẢN

VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRANG TRẠI BÙI HUY HẠNH,

HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp: K45 - Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 – 2017 Giảng viên hướng dẫn: TS.Nguyễn Thu Quyên

Thái Nguyên, 2017

Trang 3

i

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập lý thuyết tại trường và thực tập tại cơ sở, nay em đã hoàn thành bản khoá luận tốt nghiệp Để hoàn thành được bản khoá luận này em sự chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ của Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Khoa Chăn nuôi - Thú y, và trang trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh, Tứ Kỳ, Hải Dương Em cũng nhận được sự cộng tác nhiệt tình của các bạn đồng nghiệp, sự giúp đỡ, cổ vũ động viên của người thân trong gia đình Để đáp lại tình cảm đó, qua đây em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc và kính trọng tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập

Trước tiên, em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi thú y cùng tập thể các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy dỗ và dìu dắt em trong suốt thời gian học tại trường cũng như thời gian thực tập tốt nghiệp

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, chỉ bảo và hướng dẫn

tận tình của cô giáo hướng dẫn TS.Nguyễn Thu Quyên đã trực tiếp hướng

dẫn em thực hiện thành công khóa luận này

Em cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ban Giám đốc công ty cùng toàn thể anh chị em công nhân trong trang trại về sự hợp tác giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập, hướng dẫn các công tác kỹ thuật, theo dõi các chỉ tiêu và thu thập số liệu làm cơ sở cho khóa luận này

Qua đây, em cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, người thân và bạn

bè đã giúp đỡ và động viên em trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường Cuối cùng, em xin trân trọng gửi tới các thầy giáo, cô giáo trong hội đồng đánh giá khóa luận lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 02 tháng 1 năm 2018

Sinh viên

Hoàng Thị Hường

Trang 4

ii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Hàm lượng axit amin thích hợp cho lợn nái chửa và nuôi con 9

Bảng 2.2 Lượng thức ăn cho lợn nái ngoại giai đoạn chửa 10

Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi của trại qua 3 năm (2015 - 2017) 30

Bảng 4.2 Khẩu phần ăn cho đàn lợn tại trại 32

Bảng 4.3 Số lượng lợn nái, lợn con trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập 33

Bảng 4.4 Kết quả thực hiện đỡ đẻ, phẫu thuật trên đàn lợn con 37

Bảng 4.5 Tình hình sinh sản của lợn nái trực tiếp theo dõi trong thời gian thực tập 40

Bảng 4.6 Một số chỉ tiêu về sinh sản của lợn nái 42

Bảng 4.7 Lịch sát trùng trại lợn nái 44

Bảng 4.8 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn con theo mẹ 45

Bảng 4.9 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại 48

Bảng 4.10 Kết quả điều trị bệnh trên đàn nái sinh sản tại trại 50

Trang 6

iv

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Vị trí địa lý 3

2.1.2 Điều kiện khí hậu 3

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại 4

2.1.4 Cơ sở vật chất của trại 4

2.1.5 Thuận lợi và khó khăn của trại 6

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến nội dung của chuyên đề 6

2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái chửa 6

2.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái 7

2.2.3 Quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản giai đoạn chửa, đẻ, nuôi con 8

2.2.4 Một số bệnh hay gặp ở lợn nái sinh sản 13

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 25

2.3.1 Tổng quan các nghiên cứu trong nước 25

2.3.2 Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài 27

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 28

3.1 Đối tượng và phạm vi theo dõi 28

Trang 7

v

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 28

3.3 Nội dung tiến hành 28

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 28

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 28

3.4.2 Phương pháp thực hiện 28

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 29

3.4.4 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 29

Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30

4.1 Kết quả đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại 30

4.2 Thực hiện biên pháp chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn 31

4.2.1 Thực hiện chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản 31

4.2.2 Thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con 35

4.3 Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại trong thời gian thực tập 39

4.4 Một số chỉ tiêu về sinh sản của lợn nái 42

4.5 Kết quả thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Bùi Huy Hạnh 43

4.5.1 Thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh 43

4.5.2 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con 45

4.6 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại 46

4.6.1 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản 46

4.6.2 Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại lợn trong thời gian thực tập 49

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53

5.1 Kết luận 53

5.2 Đề nghị 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 PHỤ LỤC

Trang 8

công nghiệp chế biến

Những năm gần đây, nghề chăn nuôi lợn ở nước ta đang trên đà phát triển mạnh mẽ Con lợn ngày càng chiếm ưu thế và có tầm quan trọng trong đời sống con người Chăn nuôi lợn đã đáp ứng 65 - 75% nhu cầu về thịt cho thị trường trong nước và cho xuất khẩu

Hiện nay, phát triển kinh tế trang trại nói chung và chăn nuôi trang trại

tư nhân nói riêng là sự đột phá tư duy, đột phá về phương thức sản xuất từ sản xuất nhỏ, phân tán, sang sản xuất tập trung, quy mô lớn, sản xuất hàng hoá lớn theo nhu cầu của thị trường Chăn nuôi trang trại đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, ổn định, sản xuất tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hoá lớn, đáp ứng nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng của thị trường

Tuy nhiên, dù chăn nuôi nhỏ lẻ hay chăn nuôi công nghiệp với quy mô lớn, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp cũng có thể gây nên thiệt hại đáng kể Trong số đó, các bệnh ở lợn nái và lợn con thường xuyên xảy ra ở các quy mô chăn nuôi và ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng đàn lợn Đặc biệt, hiện nay dịch bệnh PED ở lợn con đang xảy ra ở rất nhiều trang trại với khả năng lây lan nhanh và tỷ lệ chết cao nhưng chưa có biện pháp phòng chống chủ động, hiệu quả Chính vì vậy, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải có những nghiên cứu áp dụng các quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh hiệu quả

Trang 9

2

cho đàn lợn nái, lợn con ở các trang trại để giảm thiệt hại do dịch bệnh gây ra, nâng cao đàn lợn cả về lượng và chất

Xuất phát từ những đòi hỏi trên, được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi Thú

y, được sự phân công của thầy, cô giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của Trang trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, em đã tiến hành

đề tài: “Thực hiện quy trình chăm sóc,nuôi dưỡng và phòng,trị một số bệnh

thường gặp ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trang trại Bùi Huy Hạnh, huyện Tứ Kỳ,tỉnh Hải Dương”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

Trang 10

3

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Vị trí địa lý

Trang trại chăn nuôi của ông Bùi Huy Hạnh là một đơn vị chăn nuôi gia công của công ty cổ phần chăn nuôi CP (Charoen Pokphand Việt Nam) Trang trại được thành lập và đi vào sản xuất lợn giống theo hướng chăn nuôi công nghiệp từ năm 2007, địa điểm xây dựng trại tại xã Tái Sơn, huyện Tứ

Kỳ, Hải Dương

Tứ Kỳ là một huyện thuộc Tỉnh Hải Dương nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ Cũng giống như các huyện khác của tỉnh Hải Dương, Tứ Kỳ nằm hoàn toàn ở giữa vùng hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình, phía đông bắc giáp huyện Thanh Hà (ranh giới là sông Thái Bình); phía tây Bắc giáp thành phố Hải Dương; phía Tây giáp huyện Gia Lộc; phía Tây Nam giáp huyện Ninh Giang, đều thuộc tỉnh Hải Dương Phía Đông Nam giáp huyện Vĩnh Bảo (ranh giới là sông Luộc); phía Đông giáp huyện Tiên Lãng (ranh giới là một đoạn sông Thái Bình)

2.1.2 Điều kiện khí hậu

Về điều kiện tự nhiên và các yếu tố khí hậu của xã Tái Sơn có thể khái quát như sau:

- Lượng mưa hàng năm cao nhất là 2.157 mm, thấp nhất là 1.060 mm, trung bình là 1.567 mm, lượng mưa tập trung chủ yếu từ tháng 6 đến tháng 7 trong năm

- Khí hậu: Huyện Tứ Kỳ nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, lạnh về mùa đông, nóng ẩm về mùa hè Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 82 %, độ

ẩm cao nhất là 88 %, thấp nhất là 67 %

Trang 11

4

- Nhiệt độ trung bình trong năm là 21 C – 23 C, mùa nóng tập trung vào tháng 6 đến tháng 7 Do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam nên có sự chênh lệch về nhiệt độ trung bình giữa các mùa

- Về chế độ gió: Gió mùa đông nam thổi từ tháng 3 đến tháng 10, gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 12

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại

Trại gồm có 20 người trong đó có:

+ 1 chủ trại

+ 1 quản lý

+ 1 kỹ sư chính của công ty

+ 2 tổ trưởng (1chuồng lợn chửa, 1chuồng lợn đẻ)

+ 1 bảo vệ

+ 14 công nhân

2.1.4 Cơ sở vật chất của trại

Trang trại chăn nuôi lợn của ông Bùi Huy Hạnh được Công ty C.P chọn

là nơi để tập huấn cho tất cả các kỹ sư mới được tuyển dụng vào công ty Chính vì vậy, cơ sở vật chất của trang trại được đầu tư khá đầy đủ, theo đúng quy trình Trong đó, trang trại có riêng 2 dãy nhà làm nơi ở và phòng học tập cho các kỹ sư này Đây là một điều kiện rất thuận lợi cho các sinh viên đến trại thực tập

- Về cơ sở vật chất:

+ Trang trại có đầy đủ các thiết bị, máy móc để phục vụ cho công nhân và sinh viên sinh hoạt hàng ngày như: Máy giặt, tắm nóng lạnh, tivi, tủ lạnh, quạt, + Trại còn đầu tư mua bàn chơi bi a, cầu lông để công nhân giải trí sau giờ làm việc

+ Cơ sở vật chất trong chuồng trại chăn nuôi được trại chú trọng đầu tư theo đúng yêu cầu của công ty CP

Trang 12

5

-Trại lợn có khoảng 0,5 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà cho công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại

- Trong các chuồng đều có các cũi sắt (đối với chuồng lợn chửa) và giường nằm (đối với chuồng lợn đẻ) được lắp đặt theo dãy

- Có hệ thống quạt gió, dàn mát, điện sáng, núm uống nước cho lợn tự động

- Có hệ thống bóng điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông

- Ngoài ra trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện cho cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi những khi mất điện

- Về cơ sở hạ tầng:

+ Trại xây dựng gồm 2 khu tách biệt: Khu nhà ở và sinh hoạt của công nhân, sinh viên và khu chuồng nuôi

+ Khu nhà ở rộng rãi có đầy đủ nhà tắm, nhà vệ sinh tiện nghi

+ Khu nhà ăn cũng được tách biệt có nhà ăn ca (buổi trưa) và nhà ăn chung (buổi tối)

+ Khu nhà bếp rộng rãi và sạch sẽ

+ Trại có một nhà kho là nơi chứa thức ăn cho lợn và một kho thuốc là nơi cất giữ và bảo quản các loại thuốc, vắc xin, dụng cụ kỹ thuật để phục vụ công tác chăm sóc, điều trị cho đàn lợn của trại

- Hệ thống chuồng nuôi

Khu vực chuồng nuôi của trại được xây dựng trên một khu vực cao, dễ thoát nước và được bố trí tách biệt với khu sinh hoạt chung của công nhân, gồm: 6 chuồng lợn đẻ, 2 chuồng lợn chửa, chuồng lợn đực nằm trong chuồng lợn chửa 1 và 3 chuồng cách ly (một chuồng cách ly lợn con) Trong đó có 3 dãy chuồng lợn đẻ, mỗi dãy được tách ra làm 2 chuồng nhỏ với 56 ô chuồng sàn Chuồng lợn chửa gồm 2 chuồng với kiểu chuồng cũi sắt Các chuồng nuôi đều được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng và hệ thống vòi uống nước tự

Trang 13

+ Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân của trại có năng lực, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm trong công việc

+ Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,

do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay

2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái chửa

Theo Nguyễn Quang Linh (2005) [14]: Thời gian chửa của lợn trung bình là 114 ngày, dao động trong vòng từ 111 ngày đến 118 ngày chia làm hai giai đoạn:

+ Giai đoạn chửa kỳ I: Từ lúc phối giống có chửa đến ngày chửa thứ

84 Bào thai phát triển chậm, chỉ chiếm 1/4 khối lượng lợn con sơ sinh

Trang 14

7

+ Giai đoạn chửa kỳ II: Từ ngày 84 đến khi đẻ, bào thai lớn nhanh chiếm 3/4 trọng lượng sơ sinh

Mỗi giai đoạn này đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc là khác nhau Đặc biệt chú

ý trong 2 tuần cuối (100 - 114 ngày) dinh dưỡng và chăm sóc phải thật hợp lý Đây là thời kỳ lợn mẹ cần nhiều chất dinh dưỡng nhất cho sự phát triển của bào thai Tuy nhiên thể tích bào thai lớn làm giảm lượng thức ăn thu nhận, vì vậy cần phải cho nái ăn nhiều bữa và đảm bảo chất dinh dưỡng Trong thời kỳ mang thai tính thèm ăn của nái bị giảm xuống, để khắc phục điều này cần chế biến và bảo quản thức ăn thật tốt, kích thích tính ngon miệng cho nái thu nhận thức ăn cao Giai đoạn này lợn mẹ cần sự yên tĩnh, những tác động kích thích

từ bên ngoài dễ dẫn đến hiện tượng đẻ non hay xáo trộn sinh lý lợn mẹ, gây khó khăn khi đẻ

Khi thai đã thành thục sẽ được cơ thể mẹ đẩy ra ngoài (trong khoảng

113 - 116 ngày), lợn thường đẻ vào ban đêm, thời gian đẻ trung bình từ 2 - 6 giờ Nếu sức khoẻ của lợn mẹ và các thai bình thường thì không cần can thiệp nhiều trong khi lợn đẻ

2.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái

2.2.2.1 Số con sơ sinh còn sống đến 24h/ lứa đẻ

Lợn con mới sinh có thể chia thành 3 dạng dưới đây:

Loại thai non: Là loại thai phát triển không hoàn toàn, chết trong thời gian có chửa và trước khi sinh ra

Loại thai gỗ: Là loại thai chết trong tử cung lợn mẹ lúc 25 - 90 ngày tuổi Dịch thai và tất cả các dịch trong tế bào tổ chức bào thai được cơ thể mẹ hấp thụ qua niêm mạc tử cung, các tổ chức khác của thai rắn lại, thể tích co nhỏ thành cục màu nâu đen, cứng

Loại đẻ ra còn sống: Trong vòng 24 giờ sau khi sinh, những lợn con không đạt khối lượng sơ sinh trung bình của giống, không phát dục hoàn toàn,

Trang 15

2.2.2.2 Số con cai sữa/ nái/ năm

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [20] hiệu quả chăn nuôi lợn nái sinh sản được đánh giá bằng số lợn con cai sữa/ nái/ năm Các nhà nghiên cứu tập trung vào vấn đề lợn con chết từ sơ sinh đến cai sữa đã thống kê khoảng 3 - 5% số lợn con chết khi sơ sinh, bao gồm: Lợn chết do lợn mẹ đẻ khó và lợn con chết trong giai đoạn chửa kỳ cuối.Các nguyên nhân chủ yếu lợn con chết trong giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa là bị lợn mẹ đè và không bú được chiếm 50%, nhiễm khuẩn 11,1%, dinh dưỡng kém 8%, di truyền 4,5%, các nguyên nhân khác 26,4% Do đó, cùng với việc cải tạo điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, tích cực kiểm tra thành tích sinh sản của lợn nái thì khả năng truyền giống của lợn đực rất cần thiết, có ý nghĩa trong công tác giống và thực tiễn sản xuất

2.2.3 Quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản giai đoạn chửa, đẻ, nuôi con

2.2.3.1 Chế độ dinh dưỡng

Yếu tố quan trọng đối với lợn nái mang thai và nuôi con là phải cung cấp đầy đủ số lượng và chất lượng dinh dưỡng cần thiết để có hiệu quả sinh sản cao

* Nhu cầu năng lượng

Năng lượng không thể thiếu được cho cơ thể mẹ duy trì nuôi thai, tiết sữa, nuôi con Nhu cầu năng lượng khác nhau tùy thuộc tùng giai đoạn Cần phải đủ nhu cầu về năng lượng cho lợn nái, tránh cung cấp thừa gây lãng phí thức ăn, giảm giá thành sản phẩm Nếu thiếu sẽ ảnh hưởng đến sinh lý bình thường của con vật Năng lượng được cung cấp dưới hai dạng: gluxit chiếm

70 - 80 %, lipit 10 - 13% tổng số năng lượng cung cấp

Trang 16

9

* Ảnh hưởng của khoáng chất

Trong cơ thể lợn khoáng chất chứa 3% trong đó có tới 75% là canxi và photpho, xấp xỉ 25% là natri và kali, cũng có một lượng nhỏ magie, sắt, kẽm, đồng, các nguyên tố khác ở dạng dấu vết Ví dụ canxi làm ngăn trở việc hấp thu kẽm gây hiện tượng rối loạn ở da, gây sừng hóa

* Nhu cầu về protein

Protein là thành phần quan trọng trong khẩu phần thức ăn cung cấp cho lợn, là thành phần không thể thay thế được cần thiết trước tiên cho mọi hoạt động trao đổi chất trong cơ thể và tham gia cấu tạo nên các mô trong cơ thể

Do protein tham gia vào cấu tạo hoạt động trao đổi chất nên hàng ngày luôn

có một lượng nhất định protein mất đi Do đó protein được cung cấp để bù đắp lại phần mất đi và một phần khác xây dựng lên các tế bào mới, tạo sản phẩm chăn nuôi Tuy nhiên việc cung cấp protein phải đảm bảo đủ về số lượng và cân đối về các thành phần axit amin không thay thế: lyzine, methionine, histidin, cystein, tryptophan hay chính sác hơn nhu cầu về protein của lợn chính là nhu cầu về axit amin Ngoài ra thức ăn phải có giá trị sinh học cao, dễ tiêu hóa, hấp thu Để đáp ứng tốt các nhu cầu trên cần cho lợn ăn bằng nhiều loại thức ăn

Bảng 2.1 Hàm lƣợng axit amin thích hợp cho lợn nái chửa và nuôi con

Trang 17

10

* Ảnh hưởng của vitamin

Vitamin cần cho sự chuyển hóa bình thường của mô bào, cho sức khỏe, sinh trưởng và duy trì Một số vitamin lợn có thể tự tổng hợp để đáp ứng nhu cầu như vitamin B12 Một số vitamin lợn hay thiếu cần phải bổ sung (A, D, E) Nếu bổ sung không đúng, thừa hoặc thiếu đều không tốt

- Thiếu vitamin A: Lợn con chậm lớn, da khô, mắt kém, lợn nái mang thai dễ xảy thai, đẻ non

- Thiếu vitamin D: Thai kém phát triển, dễ bị liệt chân trước và sau khi đẻ

- Thiếu vitamin E: Lợn có hiện tượng chết phôi, chết thai, lợn không động dục hoặc chậm động dục

2.2.3.2 Chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái chửa

* Dinh dưỡng lợn nái có chửa

Theo Trần Thanh Vân và cs (2017) [28]: Cần cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho lợn nái có chửa để đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển của bào thai, nhu cầu duy trì của bản thân lợn mẹ và tích lũy một phần cho sự tiết sữa nuôi con sau này Riêng đối với lợn nái tơ còn cần thêm dinh dưỡng cho bản thân

để tiếp tục lớn thêm nữa Mức ăn cụ thể cho lợn nái ngoại như bảng sau:

Bảng 2.2 Lượng thức ăn cho lợn nái ngoại giai đoạn chửa

(kg thức ăn/ nái/ ngày)

Giai đoạn

Thể trạng lợn nái Nái gầy Nái bình thường Nái béo

Từ phối giống đến 21 ngày 2,5 2,0 1,5+ Rau xanh

Từ 22 – 84 ngày sau phối giống 2,5 2,0 1,5+ Rau xanh

Từ 84 - 110 ngày sau phối giống 3,0 2,5 2,5

Từ 111 – 112 ngày sau phối giống 2,0 2,0 2,0

Trang 18

- Không được cho lợn nái chửa ăn thức ăn ẩm mốc, khô dầu bông, lá đu

đủ do dễ gây sảy thai

- Trước khi đẻ 1 tuần cần giảm lượng thức ăn để phòng thức ăn chèn ép thai, bệnh sưng vú do căng sữa sau khi đẻ

* Chăm sóc lợn nái chửa

Theo Trần Thanh Vân và cs (2017) [28], kỹ thuật chăm sóc, quản lý lợn nái có chửa nhằm phòng sảy thai, làm tốt công tác bảo vệ thai, làm cho thai sinh trưởng phát dục bình thường

+ Vận động: Thời gian vận động hợp lý là 1 – 2 lần/ngày với 60 – 90 phút/lần Lợn nái chửa kỳ II thì hạn chế vận động, trước khi đẻ 1 tuần chỉ cho

đi lại trong sân chơi Khi thời tiết xấu và những nơi có địa hình không bằng phẳng thì không cho lợn vận động

+ Tắm chải: Có tác dụng làm sạch da, thông lỗ chân lông để tăng cường trao đổi chất, gây cảm giác dễ chịu, lợn thoải mái giúp kích thích tính thèm ăn

và phòng chống bệnh ký sinh trùng ngoài da Tắm chải cần tiến hành hàng ngày, đặc biết trong mùa hè, những ngày thời tiết nóng bức

+ Chuồng trại: Phải đảm bảo vệ sinh thú y, khô ráo, thoáng mát về mùa

hè, ấm áp về mùa đông Chửa kỳ I mỗi lô 3 – 5 con, chửa kỳ II mỗi con 1 lô

2.2.3.3 Chăm sóc lợn nái đẻ

+ Quy trình dinh dưỡng

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [20]: Thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn

Trang 19

12

nái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức

ăn, đẻ trước 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh (0,5kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ

có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái

1 tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm

hộ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp

Trang 20

13

xúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái, chúng ta chuyển nhẹ nhàng từ chuồng chửa sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới

Theo Hoàng Thị Phi Phượng và cs (2013) [21]: Lợn con sau khi đẻ nên

sử dụng bột mistral để làm khô cơ thể giúp lợn con không bị lạnh, làm sạch và nhanh khô cuống rốn đề phòng nhiễm trùng rốn Lợn con nhanh cứng cáp sau khi sinh, dễ dàng tiếp xúc với vú mẹ và sớm được bú sữa đầu Đó chính là nguồn năng lượng cũng như tăng khả năng miễn dịch từ mẹ truyền cho con Sử dụng bột mistral ngăn chặn vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể ngay từ khi mới sinh

ra, giảm tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy và viêm da, tỷ lệ hao hụt của lợn con thấp

Theo Nguyễn Văn Trí (2008) [25] nếu lợn nái đẻ bọc thì phải xé bọc ngay, lấy nhanh hết dịch ở miệng và mũi, dùng vải mềm lau sạch mũi miệng cho lợn con Nếu lợn con đẻ ra mà bị ngạt thì hà hơi vào mồm lợn con, nâng 2 chân trước lên xuống trong 5 phút lợn con sẽ sống và khỏe dần

2.2.4 Một số bệnh hay gặp ở lợn nái sinh sản

2.2.4.1 Bệnh sót nhau

Trong quá trình sinh đẻ bình thường của lợn mẹ, sau khi sổ thai 10- 60 phút thì nhau thai sẽ ra ngoài Nếu quá thời gian trung bình kể trên mà nhau

thai không được đẩy ra ngoài thì được gọi là sót nhau

* Nguyên nhân: Theo Văn Lệ Hằng và cs (2009) [8] bệnh sát nhau có thể do nhiều nguyên nhân

+ Giai đoạn chửa nhất là thời gian cuối lợn không được vận động thích hợp, dẫn đến cơ tử cung bị liệt, khi đẻ tử cung co bóp yếu, không đẩy được nhau và thai ra

+ Lợn nái bị viêm niêm mạc tử cung nên sau đẻ nhau không ra hết + Can thiệp vội vàng, thô bạo, không đúng kỹ thuật nên nhau thai bị đứt và sót lại Tử cung co bóp kém không đẩy được nhau thai ra được

Trang 21

+ Nhau mẹ và nhau con dính lại với nhau do con vật mắc các bệnh

truyền nhiễm đặc biệt bệnh Brucellosis (sẩy thai truyền nhiễm), hoặc do cấu

tạo của nhau làm cho nhau mẹ và nhau con liên kết chặt chẽ

* Triệu chứng: Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2014) [13] căn cứ vào mức

độ sát nhau người ta chia ra làm 3 loại:

+ Sát nhau hoàn toàn: Toàn bộ nhau thai còn dính trên niêm mạc tử cung của con mẹ

+ Sát nhau không hoàn toàn: Phía sừng tử cung không chứa nhau thai ở gia súc đơn thai, chứa ít thai ở gia súc đa thai thì nhau thai đã tách ra khỏi niêm mạc tử cung của con mẹ Phía còn lại nhau thai còn dính chặt trong tử cung

+ Sát nhau từng phần: Phần lớn màng nhau đã tách khỏi niêm mạc tử cung, chỉ một phần màng nhung hoặc núm nhau con còn dính với niêm mạc

tử cung của con mẹ

Biểu hiện triệu chứng khi lợn nái bị sót nhau: Con vật đứng nằm không yên, nhiệt độ hơi tăng, thích uống nước, sản dịch chảy ra màu nâu Để dễ phát hiện có sót nhau hay không khi đỡ đẻ cho lợn người ta thường gom toàn bộ nhau lại cho đến khi lợn đẻ xong, đếm số nhau ra và số lợn con sẽ phát hiện lợn có sót nhau hay không

* Điều trị: Theo Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh (2010) [23] can thiệp kịp thời ngay khi nái có biểu hiện bệnh, không để quá muộn sẽ gây

ra viêm tử cung, can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnh tay, tránh những tổn thương Tiêm oxytoxin dưới da để kích thích co bóp tử cung cho nhau còn sót lại đẩy ra ngoài hết Sau khi nhau thai ra dùng nước muối sinh lý 0,9% để rửa tử cung trong ba ngày liên tục

Trang 22

- Tiêm oxytoxin dưới da để kích thích co bóp cơ trơn tử cung đẩy nhau

ra hết

- Sau khi nhau ra, dùng thuốc tím nồng độ 0,1% hoặc nước muối 0,9%

để rửa tử cung trong ba ngày liên tục

2.2.4.2 Hội chứng viêm vú, viêm tử cung, mất sữa (MMA)

Theo trung tâm Chẩn đoán và cố vấn thú y (2010) [27] hội chứng viêm

tử cung - viêm vú - mất sữa (MMA - Mastitis - Metritis - Agalactia) là một hội chứng phức hợp các căn nguyên bệnh trên lợn nái, bệnh thường xảy ra trong giai đoạn lợn nái trước và sau khi đẻ Hội chứng này nằm trong nhóm bệnh do quản lý, bởi vậy, ta hoàn toàn có thể khống chế được

Theo Nguyễn Thị Hồng Minh và cs (2013) [17], triệu chứng lâm sàng

và điển hình của lợn nái mắc hội chứng MMA là: sốt, kém ăn, mệt mỏi, dịch viêm tử cung, không cho con bú, viêm sưng vú Số lượng hồng cầu, thể tích hồng cầu, nồng độ huyết sắc tố và huyết sắc tố trong 1 hồng cầu của lợn mắc hội chứng MMA đều cao hơn các chỉ tiêu ở lợn bình thường

Bệnh viêm vú trên lợn nái

* Nguyên nhân:

Lợn nái bị nhiễm khuẩn: Trường hợp này, lợn nái có thể bị một số vi

khuẩn xâm nhập trong núm vú gây viêm vú: E coli, Staphylococcus, Streptococcus, Pseunomonas,

Lợn nái thiếu dinh dưỡng: Trường hợp này hay gặp vào mùa nóng, lợn nái kém ăn trong khi nhu cầu dinh dưỡng trong lúc này đang cần rất cao để sản sinh ra sữa nuôi con Điều này dẫn đến lợn nái kém sữa, mất sữa

Trang 23

16

Lợn nái bị phù tuyến vú: Nguyên nhân là do lợn nái ăn nhiều trước khi

đẻ, lợn nái uống ít nước dẫn đến bị táo bón, hay cũng có thể do lợn nái bị stress Lợn nái bị dịch phù tích lại trong mô bào tuyến vú, dẫn đến các bầu vú cứng, lợn nái cảm thấy khó chịu (nhưng không cảm thấy đau) do sức ép của dịch phù Lợn nái có tuyến vú kém phát triển: Nguyên nhân có thể do di truyền, do hormone, do thiếu dinh dưỡng, độc tố nấm mốc, có thể dẫn đến tuyến vú của lợn nái kém phát triển, gây thiếu sữa, mất sữa

* Triệu chứng

Lê Hồng Mận (2002) [16] cho biết, bình thường bệnh viêm vú xảy ra ngay sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 5 - 7 ngày có khi đến một tháng Viêm vú thường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú

có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứng đau Lợn nái giảm ăn, trường hợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42ºC kéo dài trong suốt thời gian viêm, sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú Lợn con thiếu sữa kêu la chạy vòng quanh lợn mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy tọp, tỷ lệ chết cao 30 - 100% Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có những cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện những mảnh cazein màu vàng, xanh lợn cợn, đôi khi có máu

* Hậu quả của bệnh viêm vú

Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa, từ đó ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ

- Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [15] bệnh viêm tử cung và viêm vú là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm, mất sữa ở lợn nái nuôi con

- Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [2] mất sữa sau khi đẻ là do kế phát

từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm cơ thể thường sốt cao liên tục 2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu

Trang 24

17

hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồi chức năng tiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo

Bệnh viêm tử cung ở lợn nái

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6] viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các

tế bào, tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí mất khả năng sinh sản của gia súc cái

* Nguyên nhân bệnh viêm tử cung

Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [2], Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [12]

bê ̣nh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm

- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ

- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát

- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để dẫn đến viêm

- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao… gây viêm

- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau

đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm

Nguyễn Hoài Nam và Nguyễn Văn Thanh (2016) [18] cho biết, hầu hết lợn nái can thiệp bằng tay sau khi đẻ đều mắc bệnh viêm tử cung (96,47%), trong khi đó lợn không có sự can thiệp bằng tay khi đẻ có tỷ lệ viêm tử cung

là 69,06%

Trang 25

18

Đoàn Kim Dung và Lê Thị Tài (2002) [5] cho biết, nguyên nhân gây viêm

tử cung là do vi khuẩn tu ̣ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E coli…

* Triệu chứng:

Theo Phạm Ngọc Thạch và cs (2013) [22] bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:

+ Thể cấp tính: con vật sốt 41 - 42ºC trong vài ngày đầu âm môn sưng tấy

đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra màu trắng đục đôi khi có máu lờ lờ

+ Thể mãn tính: không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch nhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không liên tục mà chỉ chảy

ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần Lợn nái thường thụ tinh không có kết quả hoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo

tử cung lan sang thai làm chết thai

* Hậu quả của bê ̣nh viêm tử cung

Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6], Trần Thị Dân (2004) [3] cho biết: Khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:

- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai

- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai phát triển kém hoặc thai chết lưu

- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy

- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính không có khả năng động dục lại

- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng

Trang 26

19

Để phát hiện là lợn nái có bị viêm hay không, ta có thể quan sát qua dịch tiết từ tử cung từ đó phát hiện bệnh viêm tử cung ở lợn nái

* Điều trị:

Theo Trần Thị Thuận (2005) [24], thụt rửa tử cung, âm đạo bằng một

số các dung dịch sau: nước muối NaCl 1 – 2%, thuốc tím KMnO4 0,1%, lugol 0,5 – 1%, rivanol 1 – 2%, thụt rửa 2 – 3 lần trong ngày đầy tiên, những ngày sau mỗi ngày một lần Nếu con vật sốt, mệt mỏi tiêm thuốc toàn thân: kháng sinh penicillin + streptomycin hoặc ampicillin và thuốc trợ sức B – complex, cafein natribenzoat

Theo Phùng Quang Trường và cs (2016) [26]: lợn viêm tử cung tiêm dưới da 1 mũi 2 ml lutalyse, thụt rửa tử cung 100 ml dung dịch lugol 0,1% và sau đó là 100 ml dung dịch neomycin (5mg/kg)

2.2.4.3 Bệnh bại liệt sau sinh

* Nguyên nhân gây bệnh

- Do thai quá to, tư thế và chiều hướng của thai không bình thường

- Quá trình thủ thuật kéo thai quá mạnh hay không đúng thao tác…

Từ đó gây tổn thương thần kinh tọa hoặc ảnh hưởng đến đám rối hông khum → lợn mẹ bại liệt

Trang 27

20

* Biện pháp khắc phục

- Thao tác can thiệp kịp thời, đúng kỹ thuật

- Hằng ngày trở mình cho lợn mẹ để tránh bầm huyết, hoại tử da và kế phát với chướng bụng, đầy hơi

- Tăng cường thức ăn có bổ sung nguyên tố vi lượng nhất là canxi và phốt pho

- Tiêm mg - calcium cho lợn Đồng thời kết hợp với châm cứu

2.2.4.4 Hiện tượng chậm động dục trở lại của lợn nái

- Do chuồng trại chật hẹp, lợn mẹ không thường xuyên được đi lại vận động nên sinh ra béo mập và làm cho cơ quan sinh dục không phát triển Chuồng nuôi quá nhiều lợn gặp thời tiết nắng nóng kéo dài cũng có thể làm rối loạn sinh sản

- Do lai tạo đồng huyết, cận huyết làm giống lợn bị thoái hóa, chậm sinh, vô sinh Lợn nái có chửa sẽ khó đẻ, thai yếu và dễ sinh ra quái thai

- Do nội tiết bên trong cơ thể lợn: Nhiều trường hợp trên buồng trứng

có u nang và u nang này dẫn đến việc khả năng lợn không sinh sản là 4%

- Do nhiều nguyên nhân khác dẫn đến rối loạn hormon sinh sản làm thể vàng không tiêu biến đi như bình thường dẫn đến nồng độ hoocmon

Trang 28

và giá trị dinh dưỡng như: chất bột, đường, đạm, khoáng cho hợp lý

- Cần bổ sung thức ăn giàu dinh dưỡng cho lợn, nhất là đạm, khoáng, vitamin Các chất này có nhiều trong thịt, cá, trứng, tôm, cua, khô dầu đậu,

đỗ, dầu cá, bí đỏ, giá đỗ nảy mầm, rau xanh non ngon

- Bổ sung vào cám cho lợn ăn hàng ngày các loại thuốc bổ trợ như vitamin A, D, E, C, B complex…

- Tiêm thuốc kích dục tố PGF2α cho lợn nái

- Nếu lần 1 không đậu thì tiếp tục cho phối lần 2, nếu đã qua 2 lần phối giống mà vẫn không đậu thì nên loại thải

2.2.4.5 Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS)

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [9] nguyên nhân gây hội chứng rối

loạn hô hấp và sinh sản ở lợn là 1 vi rút thuộc họ Arterviridae gây nên Vi rút

PRRS chỉ gây bệnh cho lợn, lợn ở tất cả các lứa tuổi đều mẫn cảm, nhưng lợn con và lợn nái mang thai thường mẫn cảm hơn cả Loài lợn rừng cũng mắc bệnh, đây có thể coi là nguồn dịch thiên nhiên

Trang 29

22

Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2013) [10] cho biết: Triệu chứng bệnh thể hiện khác nhau tùy thuộc độc lực chủng vi rút, sức đề kháng của cơ thể, tính mẫn cảm của vật chủ, sự nhiễm trùng kế phát và các yếu tố quản lý đàn Ở lợn nái trong tháng đầu tiên khi bị nhiễm vi rút, lợn biếng ăn

từ 7 - 14 ngày (10 - 15% đàn) Sốt 39ºC - 40ºC Sảy thai vào giai đoạn cuối (1

- 6%), đây là dấu hiệu đầu tiên nhận biết bệnh Tai chuyển màu xanh trong khoảng thời gian ngắn (2%) nên được gọi là “bệnh tai xanh” Lợn bị đẻ non (10 - 15%), động dục giả (3 - 5 tuần sau khi thụ tinh), đình dục hoặc chậm động dục lại sau khi đẻ Lợn ho và có dấu hiệu của viêm phổi

Theo Williamso (2012) [29] bệnh có triệu chứng sinh sản là: Bệnh gây

ra xảy thai muộn, chết sơ sinh, sơ sinh yếu, lợn con tầm vóc thay đổi trong cùng lứa và giữa các lứa, tăng tỷ lệ chết trước cai sữa và thường trở đi trở lại Các lứa đẻ có thể thấy thai bị chết ở các giai đoạn với các thai khô, đẻ ra chết ngay, sơ sinh bị yếu cùng với những lợn con còn sống của cùng một mẹ Lợn nái và các lợn đẻ lứa đầu có thể ít có triệu chứng hoặc không thèm ăn thoáng qua, thể trạng chung xấu, có khi có sốt và đôi khi bị chết Có thể thấy ho ở những lợn non hơn như lợn đẻ lứa đầu Khi sinh ra lợn con khả năng sống kém và lợn mẹ bị ảnh hưởng tiết sữa, tăng tỷ lệ chết trước cai sữa vì những nguyên nhân khác nhau và bất thường Tính trầm trọng của bệnh rất thay đổi theo các nguyên

Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2013) [10], bệnh tích thường gặp: não sung huyết, phổi viêm tụ huyết hoặc xuất huyết, hạch amidan sưng, sung huyết, gan sưng, tụ huyết, lách sưng, nhồi huyết, thận xuất huyết đinh ghim, hạch màng treo ruột xuất huyết, loát van hồi manh tràng Lợn con sảy thai thường nhỏ, gầy còm

Theo Tiêu Quang An, Nguyễn Hữu Nam (2011) [1], bệnh tích đại thể biểu hiện rõ ở các nội tạng như phổi, tim, lách, ruột, hạch ruột Đặc biệt bệnh

Trang 30

23

tích ở phổi, phổi bẹp áp sát vào khung sườn, rìa phổi có dịch nhầy đặc giống như đờm, mặt cắt phổi có mủ, nhiều lợn bệnh có bệnh tích viêm phổi dính sườn Bệnh tích vi thể ở phổi, hạch phổi, hạch amidan, hạch ruột, sự tăng sinh

và thoái hoá tế bào Bệnh tích vi thể đặc trưng khi lợn mắc PRRS ở phổi, hạch phổi và hạch amidan rất rõ ràng 100% các tiêu bản thấy sung huyết và xuất huyết Các phế nang chứa đầy dịch rỉ viêm Sự thâm nhiễm tế bào và tăng sinh các nang lympho

Phòng bệnh: Thực hiện các biện pháp chăn nuôi “cùng vào, cùng ra”;

vệ sinh, sát trùng thường xuyên; tránh nhập lợn vào trại trong lúc dịch đang

đe dọa; loại thải những lợn còi cọc bệnh nặng; kiểm soát nguồn tinh tốt; tiêm đây đủ vắc xin phòng bệnh

Điều trị: Loại bỏ những conn bệnh quá nặng, tách những con bỏ ăn ra chuồng riêng, tuyệt đối không nhập lợn khỏe, lợn vừa cai sữa vào khu vực lợn bệnh Không tắm lợn đang có dấu hiệu bệnh mà chỉ rửa chuồng, vệ sinh Sát trùng chuồng trại ngày 1 - 2 lần Sử dụng cám có thuốc kháng sinh cho đến khi hết bệnh Dùng kháng sinh phổ rộng như: amoxilin la, oxytetracyline la, tiamutilin… Dùng thuốc hạ sốt, giảm đau, kháng viêm nếu đàn có dấu hiệu sốt cao

2.2.5 Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn con theo mẹ tại trại

Tiêu chảy

Phạm Ngọc Thạch (1996) [22] cho biết tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý ở đường tiêu hóa, là hiện tượng con vật đi ỉa nhanh, nhiều lần trong ngày, phân có nhiều nước do rối loạn chức năng tiêu hóa, ruột tăng cường co bóp và tiết dịch hoặc chỉ phản ánh đơn thuần sự thay đổi tạm thời của phân gia súc đang thích ứng với những thay đổi trong khẩu phần ăn Nguyễn Chí Dũng (2013) [5] kết luận: Tháng có nhiệt độ thấp và ẩm độ cao (12,1,2 %) tỷ lệ mắc tiêu chảy cao (26,98 – 38,18 %)

Trang 31

- Lợn con bị nhiễm khuẩn: Theo Phạm Sỹ Lăng (2002) [12], bệnh tiêu

chảy ở lợn có nguyên nhân do vi khuẩn E coli, Salmonella Lợn mẹ bị viêm

vú, viêm tử cung

- Lợn mẹ ăn không đúng khẩu phần

- Bệnh tiêu chảy trên heo con do E coli có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi theo mẹ nào nhưng thường có hai thời kỳ cao điểm là 0-5 ngày tuổi và 7-14 ngày tuổi

-Triệu chứng:

Sàn chuồng có phân lợn lỏng, màu vàng hoặc màu trắng

Trong chuồng có hiện tượng lợn nôn ra sữa

Người lợn con bị bẩn do dính phân

Vú lợn mẹ dính phân lợn con

Viêm phổi

Tìm hiểu nguyên nhân lợn triệu chứng và kinh nghiệm chăm sóc ta phân lập viêm phổi của lợn do đâu và nguyên nhân gì , kiểm tra lại hệ thống thức

ăn, cách vận hành: Quạt, giàn mát, nhiệt độ, vệ sinh, độ đồng đều nhằm đưa

ra biện pháp điều trị đúng bệnh, đúng thuốc, khắc phục kịp thời, tránh tình trạng bệnh của lợn kéo dài làm nặng thêm đi đến nhờn thuốc khó điều trị Khống chế, cách ly khoanh vùng từ công nhân giữa các chuồng, dụng cụ chăm sóc giữa các chuồng tránh lây lan bệnh trong trại và giữa các trại Tìm mọi biện pháp nâng cao sức đề kháng của lợn kích ăn cho lợn

Trang 32

25

Nguyên nhân là do Mycoplasma hyopneumoniae gây ra, bệnh xảy ra

trên lợn con ngay từ khi mới sinh ra, bệnh xâm nhập chủ yếu qua đường hô hấp Bệnh cũng có thể do điều kiện chăn nuôi vệ sinh chuồng trại kém, thời tiết thay đổi…, do sức đề kháng của lợn giảm Bệnh thường lây lan do nhốt chung với con nhiễm bệnh

chà sát trên nền chuồng, qua vết thiến (Nagy B và cs., 1994) [32]

Triệu chứng: Lợn con đi khập khiễng từ 3 - 4 ngày tuổi, khớp chân sưng lên vào ngày 7 - 15 sau khi sinh nhưng tử vong thường xảy ra lúc 2 - 5 tuần tuổi Thường thấy viêm khớp cổ chân, khớp háng và khớp bàn chân Lợn ăn ít, hơi sốt, chân lợn có hiện tượng què, đi đứng khó khăn, chỗ khớp viêm tấy đỏ,

sưng, sờ nắn vào có phản xạ đau

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước

2.3.1 Tổng quan các nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam một số nhà khoa học thú y đã có những nghiên cứu tổng kết về bệnh sinh sản trên đàn lợn nái Bệnh sinh sản có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái, nó không chỉ làm giảm sức sinh sản của lợn nái mà còn có thể làm cho nái mất khả năng sinh sản, chậm sinh hay làm giảm khả năng sống sót của lợn con

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [12], bệnh viêm tử cung do vi khuẩn

Streptococcus và Colibacilus nhiễm qua cuống rốn của lợn con sang lợn mẹ

do đẻ khó, sát nhau, sảy thai hay qua dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây xát tạo các ổ viêm nhiễm trong tử cung, âm đạo

Trang 33

26

Nguyễn Xuân Bình (2005) [2] cho biết: những nái bị viêm tử cung thường sốt theo quy luật sáng chiều (sáng sốt nhẹ, chiều sốt nặng)

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6] khi gia súc bị bệnh viêm tử cung

ở thể viêm cơ, viêm tương mạc thì không nên tiến hành thụt rửa bằng các chất sát trùng với thể tích lớn Vì khi bị tổn thương nặng, cơ tử cung co bóp yếu, các chất bẩn không được đẩy ra ngoài, lưu trong đó làm cho bệnh nặng thêm Các tác giả đề nghị nên dùng oxytoxin kết hợp PGF2α hoặc kết hợp với kháng sinh điều trị toàn thân và cục bộ

Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [4] cho biết: trước khi đẻ lau, xoa

vú và tắm cho nái Cho con đẻ đầu tiên bú ngay sau 1 giờ đẻ, cắt răng nanh lợn con Chườm nước đá vào bầu vú để giảm sưng, giảm sốt Tiêm kháng sinh penicillin 1,5 - 2 triệu đơn vị với 10ml nước cất tiêm quanh vú Nếu nhiều vú

bị viêm thì pha loãng liều thuốc trên với 20 ml nước cất, tiêm xung quanh các

vú viêm Tiêm trong 3 ngày liên tục

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6], bệnh viêm đường sinh dục ở lợn chiếm tỷ lệ cao từ 30 - 50%, trong đó viêm cơ quan bên ngoài ít, chiếm tỷ

lệ 20%, còn lại 80% là viêm tử cung Viêm tử cung là một quá bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm hủy các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái

Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [15] trong quá trình mang thai lợn ăn khẩu phần nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc bị nhiễm

một số bệnh truyền nhiễm như: bệnh xoắn khuẩn (Leptospirosis), bệnh sảy thai truyền nhiễm (Brucellosis) và một số bệnh truyền nhiễm khác làm cơ thể lợn

nái yếu dần dẫn đến lợn sảy thai, đẻ non, thai chết lưu dẫn đến viêm tử cung Nguyên nhân chính dẫn đến bệnh viêm tử cung của nái là do: thiếu về dinh dưỡng, chăm sóc, quản lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi, tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe, kích dục tố, nhiễm trùng sau khi sinh Từ những yếu tố đó ta có thể đề ra phương pháp phòng bệnh viêm tử cung Do nhiễm vi khuẩn

Ngày đăng: 13/09/2018, 23:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w