Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh phân trắng lợn con tại trại của công ty Phát Đạt thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh phân trắng lợn con tại trại của công ty Phát Đạt thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh phân trắng lợn con tại trại của công ty Phát Đạt thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh phân trắng lợn con tại trại của công ty Phát Đạt thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh phân trắng lợn con tại trại của công ty Phát Đạt thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh phân trắng lợn con tại trại của công ty Phát Đạt thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh phân trắng lợn con tại trại của công ty Phát Đạt thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh phân trắng lợn con tại trại của công ty Phát Đạt thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh phân trắng lợn con tại trại của công ty Phát Đạt thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc.
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y
Khóa học : 2013 - 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2HOÀNG THỊ NGỌC HÂN
Tên chuyên đề:
ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH LỢN CON PHÂN TRẮNG TẠI TRẠI CHĂN NUÔI CỦA CÔNG TY PHÁT ĐẠT, THỊ XÃ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Thú y
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS.Nguyễn Quang Tính
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm
- Đại học Thái Nguyên, được sự dạy bảo tận tình của các thầy cô giáo, em đã nắm được những kiến thức cơ bản ngành học của mình Kết hợp với 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại trại lợn Nguyễn Văn Tuấn, đã giúp em ngày càng hiểu rõ kiến thức chuyên môn, cũng như đức tính cần có của cán bộ nông nghiệp Từ đó, đã giúp em có lòng tin vững bước trong cuộc sống cũng như trong công tác sau này Để có sự thành công này, em xin tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Ban Giám hiệu trường đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên Ban chủ nhiệm khoa và tập thể các thầy, cô giáo trong Bộ môn chăn nuôi thú y, những người đã tận tụy dạy dỗ và dìu dắt em trong suốt quá trình học tập, cũng như trong thời gian thực tập
Tập thể lớp Thú y K45 N01 Trường đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên đã luôn sát cánh bên em trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường
Các bác, các cô chú và các anh chị công nhân trong trại chăn nuôi lợn Nguyễn Văn Tuấn đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ trong thời gian thực tập để giúp em hoàn thành tốt khóa thực tập
Đặt biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự quan tâm, chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn PGS TS Nguyễn Quang Tính
Nhân dịp này, em cũng xin cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã tạo mọi điều kiện vật chất cũng như tinh thần, động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, ngày… tháng 12 năm 2017
Người viết Khóa luận
Hoàng Thị Ngọc Hân
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Lịch sát trùng tại trại 36
Bảng 3.2 Lịch phòng bệnh của trại 39
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại của công ty Phát Đạt, thị xã Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc qua 3 năm 2015 – 11/2017 46
Bảng 4.2 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 47
Bảng 4.3 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại trong thời gian thực tập 48
Bảng 4.4 Kết quả điều trị cho đàn lợn tại trại 49
Bảng 4.5 Kết quả thực hiện phẫu thuật trên đàn lợn 51
Bảng 4.6 Kết quả áp dụng chăm sóc, nuôi dƣỡng đàn lợn 52
Bảng 4.7 Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng qua các tháng theo dõi 53
Bảng 4.8 Triệu chứng lợn con mắc bệnh phân trắng 54
Bảng 4.9 Bệnh tích lợn con mắc bệnh phân trắng 55
Bảng 4.10 Kết quả điều trị bệnh phân trắng lợn con tại trại 56
Trang 5DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
Cs: Cộng sự ĐVT: Đơn vị tính LMLM: Lở mồm long móng n: Dung lƣợng mẫu Nxb: Nhà xuất bản SS: Sơ sinh TN: Thí nghiệm TT: Thể trọng
Trang 6MỤC LỤC
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở nơi thực tập 3
2.2 Đánh giá chung 7
2.2.1 Thuận lợi 7
2.2.2 Khó khăn 7
2.3 Cơ sở khoa học 7
2.3.1 Đặc điểm của lợn con bú sữa 7
2.3.2 Đặc điểm cơ năng điều tiết 12
2.3.3 Đặc điểm về khả năng miễn dịch 12
2.3.4 Một số hiểu biết về E coli 13
2.3.5 Bệnh phân trắng lợn con 16
2.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 26
2.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 26
2.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 27
2.5 Một số loại thuốc dùng trong điều trị bệnh phân trắng lợn con tại trang trại 29
2.5.1.Thuốc hamcoli-s 30
2.5.2.Thuốc sodibio 31
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 33
3.1 Đối tượng theo dõi 33
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 33
Trang 73.3 Nội dung tiến hành 33
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 33
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 33
3.4.2 Phương pháp thực hiện 33
3.4.3 Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh 41
Phần 4 KẾT QUẢ THEO DÕI VÀ THỰC HIỆN 46
4.1 Kết quả đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại 46
4.2 Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh tại trại 47
4.2.1 Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại 47
4.2.2 Kết quả phòng, trị bệnh cho đàn lợn tại trại bằng thuốc và vaccine 48
4.3 Kết quả thực hiện biện pháp phẫu thuật trên đàn lợn tại trại 50
4.4 Kết quả áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nuôi tại trại 51
4.5 Kết quả theo dõi tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con 52
4.5.1 Tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng theo các tháng trong năm 52
4.5.2 Kết quả triệu chứng và bệnh tích của lợn con mắc bệnh phân trắng lợn con 54
4.5.3 Kết quả điều trị bệnh phân trắng lợn con tại cơ sở thực tập 56
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57
5.1 Kết luận 57
5.2 Đề nghị 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 8Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Ngành chăn nuôi nước ta đã và đang chiếm một vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nói riêng và trong cơ cấu nền kinh tế nói chung Chăn nuôi, với nhiều phương thức phong phú và đa dạng đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho người dân, tạo
ra các nguồn thực phẩm cho người tiêu dùng
Trong giai đoạn hiện nay, khi nước ta đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO và các hiệp định tự do thương mại khác thì sản phẩm chăn nuôi thuộc ngành nông nghiệp Việt Nam nói chung và sản phẩm thịt lợn nói riêng, khi làm ra phải đảm bảo đạt tiêu chuẩn an toàn toàn vệ sinh, không ảnh hưởng tới sức khỏe con người mới xuất khẩu ra thị trường quốc tế và thu ngoại tệ về cho đất nước
Tuy nhiên, trong nhiều năm trở lại đây, khi ngành chăn nuôi phát triển mạnh trong đó có ngành chăn nuôi lợn, thì dịch bệnh cũng hoành hành nhiều, nhất là các bệnh truyền nhiễm như: bệnh lở mồm long móng, tai xanh, dịch tả…và những bệnh thông thường như bệnh phân trắng lợn con, hội chứng tiêu chảy của lợn… làm tỷ lệ nuôi sống lợn con giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi khá thấp Bệnh xảy ra khắp nơi trên thế giới, ở Việt Nam bệnh xảy ra quanh năm (đặt biệt khi thời tiết thay đổi: lạnh, ẩm, gió lùa…) Kết hợp với việc chăm sóc không hợp vệ sinh, lợn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố stress, lợn con sinh ra không được bú sữa kịp thời hoặc sữa đầu của mẹ thiếu không đảm bảo chất lượng dinh dưỡng Khi lợn con bị bệnh điều trị kém hiệu quả sẽ gây còi cọc chậm lớn ảnh hưởng đến giống cũng như khả năng tăng trọng của chúng, gây tổn thất lớn về kinh tế Do đó, phòng bệnh phân trắng cho lợn con góp phần làm tăng hiệu quả chăn nuôi lợn sinh sản, đảm bảo đủ con giống và chất
Trang 9lượng tốt Đã có nhiều công trình nghiên cứu trong nước về bệnh phân trắng ở lợn con và đưa ra các biện pháp phòng trị bệnh, góp phần không nhỏ trong việc hạn chế những thiệt hại do tiêu chảy gây ra ở lợn con theo mẹ Tuy nhiên, do sự phức tạp của cơ chế gây bệnh, những tác động phối hợp của các nguyên nhân, đặc điểm cơ thể gia súc non… đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu Vì thế các giải pháp đưa ra chưa thực
sự đem lại kết quả mong muốn Bệnh phân trắng ở lợn con theo mẹ vẫn là nguyên nhân gây thiệt hại lớn cho các cơ sở chăn nuôi lợn
Từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành thực hiện chuyên đề: “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh phân trắng lợn con tại trại của công ty Phát Đạt, Thị xã Phúc Yên, Tỉnh Vĩnh Phúc”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục tiêu
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại cơ sở
-Xác định được quy trình phòng, trị bệnh sản khoa trên đàn lợn nái tại trại
- Xác định được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái nuôi tại trại
1.2.2 Yêu cầu
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại cơ sở
- Nắm vững quy trình phòng, trị bệnh sản khoa trên đàn lợn con nuôi tại cơ sở
- Nắm vững quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc đàn lợn con tại cơ sở
- Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở
- Chăm chỉ, học hỏi để nâng cao kỹ thuật, tay nghề của cá nhân
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở nơi thực tập
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
-Vị trí địa lí
Thị xã Phúc Yên nằm ở phía Đông Nam tỉnh Vĩnh Phúc, phía Đông Bắc của Thủ đô Hà Nội, cách trung tâm thủ đô 30 km Thị xã Phúc Yên có chiều dài theo trục Bắc - Nam 24 km, từ phường Hùng Vương đến đèo Nhe,
xã Ngọc Thanh giáp với tỉnh Thái Nguyên
Địa giới hành chính thị xã Phúc Yên: phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên, phía Tây giáp huyện Bình Xuyên và phía Nam, Đông giáp với Thủ đô Hà Nội, Phúc Yên có hệ thống giao thông đa dạng: đường bộ có các tuyến Quốc
lộ 2, Quốc lộ 23, đường xuyên Á Hà Nội - Lào Cai đi qua, có đường sắt Hà Nội - Lào Cai, giáp cảng hàng không quốc tế Nội Bài, tạo điều kiện cho Phúc Yên tiềm lực, lợi thế để mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, giao lưu kinh tế, văn hoá.Thị xã Phúc Yên nằm ở phía Đông Nam tỉnh Vĩnh Phúc, phía Đông Bắc của Thủ đô Hà Nội, cách trung tâm thủ đô 30 km Thị xã Phúc Yên có chiều dài theo trục Bắc - Nam 24 km, từ phường Hùng Vương đến đèo Nhe,
xã Ngọc Thanh giáp với tỉnh Thái Nguyên
- Khí hậu
Thị xã Phúc Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ bình quân năm là 23°C, có nét đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều về mùa hè, hanh khô và lạnh kéo dài về mùa đông Khí hậu tương đối thuận lợi cho phát triển nông nghiệp đa dạng
Trang 11Nhiệt độ không khí có các đặc trưng sau: cực đại trung bình năm là 20,5°C, cực đại tuyệt đối 41,6 °C, cực tiểu tuyệt đối 3,1 °C Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm là 83%, độ ẩm cực tiểu tuyệt đối là 16% Hướng gió chủ đạo về mùa đông là Đông - Bắc, về mùa hè là Đông - Nam, vận tốc gió trung bình năm là 2,4 m/s Vận tốc gió cực đại có thể xảy ra theo chu kỳ thời gian 5 năm là 25 m/s; 10 năm là 32 m/s, 20 năm là 32 m/s
2.1.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại
- Trại lợn có khoảng 0,3 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà cho công nhân, bếp ăn các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động
khác của trại
- Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 600 nái bao gồm: 3 chuồng đẻ mỗi chuồng có 48 ô kích thước 2,4 m × 1,6 m/ô, 3 chuồng bầu mỗi chuồng có 150 ô kích thước 2,4 m × 0,65 m/ô, 1 chuồng cách ly, 1 chuồng đực giống, 3 chuồng thịt cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc…
Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối mỗi chuồng đẻ, chuồng bầu và chuồng thịt đều có 3 quạt thông gió và 2 quạt đối với chuồng cách ly, 2 quạt đối với chuồng đực Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,5 m², cách nền 1,2 m, mỗi cửa sổ cách nhau 40 cm Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh
Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: máy lọc nước, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác
Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng
Trang 12Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái đẻ 2 Nước tắm, nước xả gầm, nước phục vụ cho công tác khác được bố trí từ bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng
2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:
01 chủ trại
01 quản lý trại
01 quản lý kỹ thuật
10 công nhân và 9 sinh viên thực tập
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa, nhà bếp Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại
2.1.1.4 Tình hình sản xuất của trang trại
* Công tác chăn nuôi
Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống, cung cấp thực phẩm sạch sản xuất theo mô hình VietGAP và chuyển giao tiến bộ khoa học
kỹ thuật
Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 - 2,5 lứa/năm
Số con sơ sinh là 13,2 con/đàn, số con cai sữa: 11,23 con/đàn Trại hoạt động vào mức khá theo đánh giá của công ty thức ăn chăn nuôi Greenfeed
Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 28 ngày thì tiến hành cai sữa chuyển sang các chuồng nuôi thịt và xuất bán
Trong trại có 10 con lợn đực giống, các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Tinh lợn được khai thác chủ yếu là giống Duroc Lợn nái được phối
2 lần và được luân chuyển giống
Trang 13Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được công ty thức ăn chăn nuôi GreenFeed cấp cho từng đối tượng lợn của trại
* Công tác thú y:
Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn giống luôn thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên công ty thức ăn chăn nuôi Greenfeed
- Công tác vệ sinh: hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, thu gom cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn và rắc vôi theo quy định
Công nhân, kỹ sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động
- Công tác phòng bệnh: trong khu vực chăn nuôi, hạn chế đi lại giữ các chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào Với phương châm phòng bệnh là chính nên tất cả lợn ở đây đều được cho uống thuốc, tiêm phòng vắc xin đầy đủ
Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bênh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn
Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100%
- Công tác trị bệnh: cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được
kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách li, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnh
Trang 14nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 - 90% trong một thời gian ngắn Vì vậy, không
gây thiệt hại lớn về số lượng đàn lợn
2.2.2 Khó khăn
Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh lớn, làm ảnh hưởng đến giá thành và khả năng sinh sản của lợn
Trang thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi đã cũ, có phần bị hư hỏng
Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử lý nước thải của trại còn nhiều khó khăn
2.3 Cơ sở khoa học
2.3.1 Đặc điểm của lợn con bú sữa
2.3.1.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát dục của lợn con
Lợn con hay gia súc nói chung trong thời kỳ bào thai phát triển tốt sẽ ảnh hưởng tốt đến sự phát triển về sau Sau sơ sinh, lợn con tăng trọng nhanh,
sinh trưởng với tốc độ cao
Trang 15Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [17], so với khối lượng sơ sinh thì sau 10 ngày tuổi, khối lượng lợn con tăng gấp 2 lần, sau 20 ngày tuổi tăng gấp
4 - 5 lần, sau 30 ngày tuổi tăng gấp 6 lần, sau 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần
và sau 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần so với các gia súc khác, trong giai đoạn này tốc độ sinh trưởng của lợn con nhanh hơn (sau 60 ngày tuổi, khối lượng bê nghé chỉ tăng gấp 3 - 4 lần)
Do sinh trưởng và phát dục nhanh nên khả năng đồng hoá, trao đổi chất của lợn con rất nhanh Ví dụ, lợn con 20 ngày tuổi mỗi ngày tích luỹ 9 - 14g protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi lợn trưởng thành chỉ tích luỹ được 0,3 - 0,4g protein/1kg khối lượng cơ thể
Hơn nữa, để tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần ít năng lượng nghĩa là tiêu tốn thức ăn ít hơn lợn trưởng thành.Vì vậy, tăng chủ yếu của lợn con là nạc, mà để sản xuất ra 1kg nạc cần ít năng lượng hơn để tạo ra 1 kg
Ở lợn con, các cơ quan chưa thành thục về chức năng, đặc biệt là hệ thần kinh Do đó lợn con phản ứng chậm với các yếu tố tác động từ bên ngoài
Ở giai đoạn này, chức năng của cơ quan tiêu hóa cũng chưa ổn định nên rất dễ mắc bệnh về đường tiêu hóa
Dịch vị tiêu hóa ở lợn con cũng khác so với lợn trưởng thành Ở lợn trưởng thành, dịch vị tiết vào ban ngày tới 62%, còn ban đêm chỉ còn 38% trong khi đó ở lợn con tiết dịch vị ban ngày là 31%, ban đêm là 69% Lợn con
bú sữa mẹ nhiều vào ban đêm bởi sự yên tĩnh Vì vậy giữ yên tĩnh cho lợn con trong thời kì này là rất cần thiết
Lưu ý, lợn con ở thời điểm trước 20 ngày tuổi trong dịch vị dạ dày không có HCl tự do Do đó lợn con không có khả năng tiêu hóa protein thức
ăn ở giai đoạn này Giai đoạn này được coi như một tính trạng thích ứng tự nhiên giúp thẩm thấu các kháng thể trong sữa đầu và sữa thường Còn
Trang 16albumin và globulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu Việc tập
ăn cho lợn con sớm có tác dụng thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và hoàn thiệt hơn
Khi mới sinh vỏ não và các trung tâm điều tiết của lợn con chưa hoàn chỉnh Cho nên việc điều tiết thân nhiệt kém, năng lực phản xạ yếu dễ bị ảnh hưởng xấu từ sự thay đổi bất thường của thời tiết, khí hậu.Hơn nữa lớp mỡ dưới da lợn khi mới sinh rất mỏng, lượng mỡ và glycozen dự trữ trong cơ thể lợn còn thấp, trên thân lợn con lông còn thưa Khi nhiệt độ môi trường thay đổi làm lợn con mất cân bằng giữ hai quá trình sinh nhiệt và thải nhiệt Điều này cũng giải thích vì sao lợn phân trắng lợn con lại xảy ra hàng loạt khi khí hậu, thời tiết thay đổi thất thường
Các thành phần trong cơ thể lợn con có sự biến đổi theo lứa tuổi Trong
cơ thể hàm lượng nước giảm theo độ tuổi Đặc biệt lợn càng non, lượng nước giảm càng nhiều và nhanh Hàm lượng protein lại tăng theo độ tuổi với tỷ lệ nhất định và có vai trò quan trọng nó là nguyên liệu cấu thành chủ yếu của cơ thể Quá trình trao đổi chất diễn ra mạnh so với các lứa tuổi khác Lợn con cũng tiêu hóa lipit cao hơn lợn trưởng thành, lipit cung cấp cho lợn con chủ yếu ở dạng nhũ hóa sữa Ngoài ra, từ lúc sinh đến 20 ngày tuổi, hàm lượng khoáng giảm đáng kể, từ 21 đến 30 ngày tuổi trở đi giảm ít dần, do sự phát triển của bộ xương so với sự phát triển của tổ chức khác chậm hơn
2.3.1.2 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của lợn con
- Đặc điểm tiêu hóa ở dạ dày
Dung tích dạ dày lợn con lúc sơ sinh là 25-30cm3, ở lợn trưởng thành tăng khoảng 120-140 lần và đạt khoảng 3.500cm3
Ở lợn con dịch vị tiết ra sau khi ăn do đó cần cho lợn con tập ăn sớm, ăn các loại hạt rang nghiền nhỏ, thức ăn tinh sẽ giúp cho đường tiêu hóa của chúng phát triển nhanh hơn
Trang 17Ở thời điểm 2-3 tuần tuổi sau khi sinh, trong dịch vị dạ dày lợn con chưa có axit HCl tự do để hoạt hóa các men tiêu hóa trong dạ dày và để ngăn cản tác động của vi khuẩn gây hại trong đường ruột, nên lợn con dễ bị nhiễm bệnh do chưa có khả năng kháng khuẩn
Theo Từ Quang Hiển và cs (2001) [7], lợn con từ sơ sinh đến 30 ngày tuổi trong dịch vị không có axit HCl vì lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nó nhanh chóng liên kết với dịch nhầy trên bề mặt niêm mạc dạ dày.Hiện tượng này gọi là hypoclohydric, là một đặc điểm quan trọng trong tiêu hóa dạ dày ở lợn con Vì thiếu axit HCl tự do nên vi sinh vật có điều kiện phát triển gây bệnh về đường tiêu hóa ở lợn con
Cũng do thiếu HCl tự do trong giai đoạn này nên men pepsin không hoạt động được hoặc có hoạt động cũng rất kém Lúc này, tác dụng tiêu hóa thuộc về men lipaza và chymosin, 2 men này tăng dần từ lúc sơ sinh đến 5 tuần tuổi sau đó giảm dần và bù vào đó là men pepsin lúc này mới có khả năng hoạt động và được tiết ra tăng dần
- Cấu tạo và dung tích của đường tiêu hoá:
Khi nghiên cứu sự phát triển đường tiêu hoá của lợn con, nhiều tác giả đi đến kết luận: Cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển nhanh hơn các cơ quan khác Cơ quan tiêu hoá của lợn con khi còn trong bào thai đã hình thành đầy đủ nhưng dung tích còn nhỏ Lợn con 1 ngày tuổi, dạ dày nặng 4 - 5g, có thể chứa
25 - 40g sữa, ruột non nặng 40 - 50g, dài 3,5 - 4,0m, có thể chứa 100 - 110g sữa Lúc 10 ngày tuổi, dạ dày tăng gấp 3 lần (cả khối lượng và thể tích), 20 ngày tuổi nặng gấp 8 lần, dung tích ruột non tăng gấp bội, ruột già cũng tăng mạnh Ở 60 ngày tuổi, dạ dày và ruột non tăng gấp 60 lần lúc sơ sinh
- Đặc điểm tiêu hoá ở ruột:
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [17], cơ quan tiêu hóa của lợn con
đã hình thành đầy đủ trong quá trình bào thai và phát triển nhanh ở thời kì sau
Trang 18khi sinh ra, nhưng dịch vị dạ dày-ruột lại rất nhỏ So với lúc sơ sinh thì dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, sau 20 ngày tuổi gấp 8 lần, dung tích ruột non ở lợn con (lúc sơ sinh khoảng 1,11 lít) lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, lúc
20 ngày tuổi gấp 6 lần và dung tích ruột già lợn con (lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít) lúc 10 ngày tuổi gấp 1,5 lần sau 20 ngày tuổi gấp 2,5 lần và 60 ngày tuổi gấp 50 lần
Sự phân tiết các men tiêu hoá ở dạ dày và ruột non cũng rất kém, chỉ đủ tiêu hoá các loại thức ăn đơn giản như sữa, đậu nành Các men tiêu hóa chất đạm như pepsin, tripsin, chymotrypsin chỉ đủ để tiêu hóa protein của sữa hoặc protein đậu nành và không thể tiêu hoá được protein của gạo, bột cá, bắp…trong tuần lễ đầu sau khi sinh Men maltaza chỉ được phân tiết đầy đủ sau 4 tuần tuổi
Lợn con sơ sinh đến 20 ngày tuổi lượng dịch vị phân tiết trong 1 ngày
là rất ít, còn 21 - 30 ngày tuổi lượng dịch tụy phân tiết trong một ngày là 150 - 350ml Sự phân tiết dịch tụy tăng theo tuổi, ở 40 ngày tuổi là 460ml, 3 tháng tuổi là 3 - 5lít và 7 tháng tuổi là 10lít Trong thời gian thiếu HCl, hoạt tính của dịch tụy rất cao bù lại khả năng tiêu hoá kém của dạ dày Các tài liệu thu được cho thấy khả năng tiêu hóa của dịch vị lợn con rất cao đối với các chất lactoza, cafein, mỡ và sữa
Nhiều thực nghiệm cho thấy rằng, vi khuẩn đường ruột sinh ra các kháng sinh ức chế sự phát triển của vi trùng gây bệnh như: vi khuẩn
Salmonella, vi khuẩn thối rữa… ở lợn con mới sinh, hệ vi sinh vật đường ruột
chưa phát triển, chưa đủ các loại vi khuẩn có lợi, chưa đủ khả năng kháng bệnh nên rất dễ nhiễm bệnh, nhất là bệnh đường tiêu hóa
Tác dụng của dịch mật đối với lợn con rất quan trọng vì trong sữa của lợn mẹ có rất nhiều lipit Dịch mật xúc tiến tiêu hoá lipit trong sữa, tương đối thấp đối với saccaroza, mantoza và tăng cường nhu động ruột
Trang 192.3.2 Đặc điểm cơ năng điều tiết
Sự thích ứng của lợn con khi thay đổi môi trường sống là rất kém Đặc biệt ở giai đoạn lợn con chuyển từ môi trường sống trong bụng mẹ ra môi trường bên ngoài, từ nuôi dưỡng qua sữa mẹ đến chế độ tập ăn sớm Hơn nữa,
sự thành thục và thiếu hoàn chỉnh về chức năng của các cơ quan nội tạng, nhất là bộ máy tiêu hoá, liên quan mật thiết đến sự phát triển của hệ vi sinh vật có lợi hoặc có hại trong ruột và sức đề kháng của cơ thể chống lại bệnh Quá trình tuần hoàn chuyển từ tuần hoàn máu qua nhau thai sang tuần hoàn nhờ tim phổi, toàn bộ máu ở mạch máu rốn qua gan Sự cân bằng nhiệt của lợn con cũng phải tự thiết lập để thích ứng với môi trường bên ngoài, không thể nhờ vào cân bằng nhiệt lượng của cơ thể mẹ như trong giai đoạn bào thai Quá trình chuyển hoá, cân bằng năng lượng từ giai đoạn bào thai sang giai đoạn sau khi sinh rất chậm, chưa thích nghi ngay nên dễ bị tác động bởi môi trường Nhờ quá trình oxy hoá mô mỡ nên lợn con điều chỉnh được thân nhiệt Khả năng điều chỉnh thân nhiệt khác nhau ở lợn con là do mức độ phát triển khác nhau của mô mỡ ở từng cá thể, từng loại gia súc (Đào Trọng Đạt và
cs, 1986) [4]
2.3.3 Đặc điểm về khả năng miễn dịch
Khả năng miễn dịch của cơ thể là khả năng phản ứng của cơ thể đối với các chất lạ khi xâm nhập vào cơ thể Các chất lạ có thể là mầm bệnh, các mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể gia súc non tương đối dễ do các cơ quan bảo
vệ cơ thể phát triển chưa hoàn chỉnh Trong hệ thống tiêu hoá của lợn con lượng enzym tiêu hoá và lượng HCl tiết ra chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối loạn trao đổi chất, tiêu hoá và hấp thu dinh dưỡng kém Do
vậy, các mầm bệnh như E coli, Salmonella… dễ dàng xâm nhập vào cơ thể
qua đường tiêu hoá và gây bệnh Ở lợn con, các yếu tố miễn dịch như bổ thể, profecdin và lysozim được tổng hợp còn ít, khả năng thực bào kém Vì vậy,
Trang 20việc cho lợn con bú sữa đầu là rất cần thiết do trong sữa đầu có rất nhiều γ- globulin miễn dịch, bảo vệ cơ thể lợn con chống lại mầm bệnh Hai giờ sau khi đẻ, lợn con phải được bú sữa đầu để hấp thu được nhiều γ-globulin từ sữa đầu vào máu trong thời gian 24- 36 giờ, nhờ đó có đủ kháng thể trong 5 tuần đầu tiên (Trương Lăng 2007) [12] Tuy nhiên, còn một yếu tố quan trọng nữa
là sự phát triển của hệ vi sinh vật trong đường ruột gia súc non có những đặc thù riêng Việc cân bằng khu hệ vi sinh vật có lợi trong đường ruột nhằm khắc phục, hạn chế sự loạn khuẩn trong quá trình phát triển và trưởng thành của cơ thể lợn con là rất quan trọng Sử dụng chế phẩm sinh học để phòng và trị tiêu
chảy cho lợn con là rất cần thiết
2.3.4 Một số hiểu biết về E coli
Trong các vi khuẩn đường ruột, E coli là loại phổ biến nhất và thường
xuất hiện sớm ở đường ruột người và động vật sơ sinh (sau khi đẻ 2 giờ)
Bình thường E coli cư trú ở phần sau của ruột, ít khi có mặt ở dạ dày và phía trước của ruột non Chỉ khi nào cơ thể của vật chủ yếu đi, E coli phát triển
mạnh về số lượng và tăng cường độc lực, gây bệnh cho vật chủ
2.3.4.1 Đặc điểm hình thái
E coli là loại trực khuẩn hình gậy ngắn, hai đầu tròn, có lông, di động,
không hình thành nha bào, bắt màu Gram (-) thường thẫm ở hai đầu, ở giữa nhạt Trong cơ thể, vi khuẩn có hình cầu trực khuẩn, đứng riêng rẽ, đôi khi
xếp thành chuỗi ngắn E coli là trực khuẩn hiếu khí hay yếm khí tuỳ tiện, dễ
dàng nuôi cấy ở môi trường thông thường, nhiệt độ thích hợp là 370C, pH thích hợp 7,2-7,4 và có thể phát triển được từ pH 5,5-8
2.3.4.2 Đặc điểm nuôi cấy
Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [18], trực khuẩn E coli hiếu khí
và yếm khi tuỳ tiện có sinh trưởng ở nhiệt độ 150C, nhiệt độ thích hợp 370C
và pH 7,4 Trong nước thịt phát triển tốt, môi trường rất đục, có cặn lắng xuống đáy màu tro nhạt, đôi khi hình thành màu sám nhạt Canh trùng mùi
Trang 21hôi thối Trên mặt thạch ở 370C trong 24 giờ hình thành những khuẩn lạc hình tròn ướt, không trong suốt, màu tro trắng nhạt, hơi lồi đường kính 2-3mm
- Trên môi trường galactin: vi khuẩn mọc tròn vết cấy mặt ống tạo thành một lớp bụi xám
- Trên môi trường E.M.B.E chúng hình thành những khuẩn lạc mầu tím đen
- Trên môi trường Endo: E coli hình thành khuẩn lạc màu đỏ
- Môi trường Wilson Blair: E coli hình thành khuẩn lạc màu vàng
- Môi trường Istrati: E coli hình thành khuẩn lạc màu vàng
- Môi trường nước thịt: E coli phát triển tốt, môi trường rất đục có cặn
lắng xuống đáy, đôi khi có màu xám nhạt trên mặt môi trường, môi trường có màu phân thối
- Môi trường thạch thường: nuôi cấy ở nhiệt độ 370C trong 24 giờ hình thành những khuẩn lạc tròn, ướt, không trong suốt, màu tro trắng nhạt, hơi lồi, đường kính 2 - 3mm Nuôi lâu khuẩn lạc trở thành gần như màu nâu nhạt và mọc rộng ra
- Môi trường MacConkey: E coli hình thành những khuẩn lạc dạng S,
đường lactose Các phản ứng sinh hoá: Indol (+), MR (+), VP (), H2S (-)
Khử nitrat thành nitrit, vi khuẩn E coli có những yếu tố kháng nguyên rất
phức tạp, bao gồm kháng nguyên thân O, kháng nguyên lông H, kháng nguyên K và kháng nguyên bám dính F Kháng nguyên F (fimbriae hay pilus) Chức năng của kháng nguyên này giúp vi khuẩn bám giữ vào giá thể
Trang 22(màng nhầy của đường tiêu hoá) hay gọi là bám dính Vi khuẩn E coli gây
bệnh bởi nhiều yếu tố, có yếu tố là độc tố có yếu tố không phải là độc tố
2.3.4.3 Khả năng bám dính
Đây là yếu tố gây bệnh đặc biệt quan trọng, giúp vi khuẩn thực hiện
bước đầu tiên của quá trình gây bệnh E coli gây bệnh, bám dính lên niêm
mạc ruột non nhờ một hay nhiều yếu tố bám dính Có 4 loại yếu tố bám dính đặc biệt quan trọng là: F4 (K88), F5 (K99), F6 (K987p), F41
2.3.4.4 Khả năng tạo colicin V
Colicin V là một chất kháng khuẩn có khả năng ức chế hoặc tiêu diệt
các loại vi khuẩn khác E coli sản sinh Colicin V thông qua plasmid col Hầu hết các chủng E coli gây bệnh đều có một loại plasmid có chứa gen sản xuất colicin V Khả năng sản sinh độc tố, E coli có 2 loại độc là ngoại độc tố và
nội độc tố Cũng giống như khả năng bám dính, khả năng sinh sản độc tố là
một yếu tố gây bệnh của vi khuẩn E coli
2.3.4.5 Cấu trúc kháng nguyên
E.coli có cấu trúc kháng nguyên khá phức tạp, cấu trúc kháng nguyên
của E.coli bao gồm kháng nguyên O (somatic antigen), K (capsulas hay
microcapsular), H (flagellar), F (fimbriae hay pilus) Hiện nay người ta tìm thấy ít nhất 170 kháng nguyên O, 70 kháng nguyên K, 56 kháng nguyên H và một số lượng kháng nguyên F đang được phát hiện nhanh chóng
2.3.4.6 Độc tố
Vi khuẩn E.coli tạo ra 2 loại độc tố là nội độc tố và ngoại độc tố
Ngoại độc tố: là chất không chịu được nhiệt, dễ bị phá hủy ở 560C trong vòng 10 - 30 phút Dưới tác động của formol và nhiệt, ngoại độc tố trở thành giải độc tố Ngoại độc tố có tính hướng thần kinh và gây ra hoại tử
Nội độc tố: là yếu tố gây bệnh chủ yếu của trực trùng đường ruột, chúng có trong tế bào vi khuẩn và gắn vào trong tế bào vi khuẩn rất chặn chẽ
Trang 23Nội độc tố có thể chiết xuất bằng nhiều phương pháp: phá vỡ vỏ tế bào bằng
cơ học, chiết xuất bằng axit trichoxetic, phenol dưới tác dụng của enzym
Về cấu trúc nội độc tố là phức chất polysaccharide - protein - lipit vì vậy nó thuộc kháng nguyên hoàn toàn và có tính đặc hiệu cao đối với các chủng của serotype
Độc tố chịu nhiệt (ST = heat - stable - toxin): chịu được nhiệt độ 1000
C trong vòng 15 phút Độc tố chịu nhiệt kém (LT = heat - lability - toxin): Vô hoạt ở 600C trong vòng 15 phút
Độc tố ST chia thành 2 nhóm là STa và STb: dựa trên đặc tính hòa tan trong methanol và hoạt tính sinh học
Độc tố LT có trọng lượng phân tử cao, nó gồm 5 nhóm B có khả năng bám dính trên bề mặt biểu bì của bề mặt ruột và 1 nhóm A có hoạt tính sinh học cao Ngoài ra còn có veryocytotoxin (VT) cũng tham gia vào quá trình
sinh bệnh của E.coli
2.3.4.7 Sức đề kháng của mầm bệnh
E coli bị chết ở nhiệt độ từ 600C trở lên, bị tiêu diệt bởi các thuốc sát trùng như 1% formol, 2 - 2,5% kresil, nước vôi 10 - 20%, 1/40 paccoma, 1/200 dinalon, 2% vinadin và 10% B.K.Vet Chúng cực kì nhạy cảm và dễ bị tiêu diệt dưới tác động của nhiều loại kháng sinh khác nhau Song nếu chúng ta sử dụng
bừa bãi hoặc không đúng liệu trình thì E coli cũng dễ thích nghi với điều kiện mới dẫn đến nhờn thuốc, giảm hiệu quả phòng trị bệnh do E coli
Trang 24trò quan trọng là Proteus, Streptococcus Bệnh xuất hiện vào những ngày đầu sau khi sinh (do E coli) và trong suốt thời kỳ bú mẹ
- Bệnh có quanh năm, nhiều nhất cuối đông sang xuân, cuối xuân sang
hè điều kiện mắc bệnh thường thấy
- Thời gian nào độ ẩm cao, bệnh phát triển nhiều
- Chuồng nái ẩm ướt tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển
- Tỷ lệ mắc bệnh các cơ sở chăn nuôi miền trung du, miền núi ít hơn, thời gian mắc bệnh ngắn hơn so với đồng bằng
2.3.5.2 Đường nhiễm bệnh
Nhiễm bệnh qua lợn con bú sữa mẹ Thức ăn, nước uống, điều kiện vệ sinh
Nguyên nhân có thể làm cho lợn con tăng mức độ nhiễm E coli là:
Lượng sữa mẹ ít, lợn con đói phải gặm mút lung tung, trong đó có
nước, rơm, chất độn chuồng, chất thải bị nhiễm E coli
Chuồng bẩn, lợn con luôn bú lợn mẹ có bầu vú bị nhiễm E coli
Lợn mẹ bị viêm vú, đặc biệt là do E coli gây ra Khi bú sữa của lợn mẹ
bị viêm vú, lợn con sẽ bị tiêu chảy ngay sau đó
Lợn con không được bú sữa đầu, trong khi đó khả năng miễn dịch của lợn con phụ thuộc chủ yếu vào lượng kháng thể hấp thụ được từ sữa của lợn
mẹ Do đó, sức đề kháng của cơ thể lợn con yếu, dễ mắc bệnh
Chăm sóc nuôi dưỡng cho lợn nái chửa không đảm bảo kỹ thuật, thức
ăn của lợn mẹ không đảm bảo vệ sinh, thành phần dinh dưỡng trong khẩu phần ăn không cung cấp đủ nhu cầu của lợn nái chửa Do đó, lợn con sinh ra
đã bị nhiễm E coli từ lợn mẹ hoặc sinh ra còi cọc, sức sống yếu, khả năng
chống đỡ các yếu tố bất lợi của môi trường bị giảm nên lợn dễ bị mắc bệnh
Do trữ lượng sắt của lợn con từ bào thai chưa đủ, khi sinh ra không được sữa mẹ cung cấp đủ nhu cầu, thiếu cả coban, B12, nên dẫn đến sinh bần
Trang 25huyết, cơ thể suy yếu không hấp thụ được đầy đủ các chất dinh dưỡng sinh ra không tiêu, ỉa chảy
Thời tiết lạnh, mưa phùn, ẩm độ cao, gió mùa đông bắc, chuồng nuôi
ẩm thấp làm cho lợn con dễ mắc bệnh phân trắng
Lợn con từ sơ sinh đến 20 ngày tuổi, pH dịch vị trung tính, không có axit HCl tự do nên dạ dày không có khả năng sát trùng và tiêu hoá protit Nhược điểm này cũng là nguyên nhân phát sinh bệnh phân trắng lợn con Lợn con 1 tháng tuổi trở lên hàm lượng HCl và men pepsin dịch vị tăng, nên tỷ lệ cảm nhiễm bệnh giảm rõ rệt
2.3.5.3 Quá trình sinh bệnh
Vi khuẩn xâm nhập bằng cách trực tiếp hay gián tiếp vào đường ruột của lợn Trong ruột, khi đủ các điều kiện thuận lợi vi khuẩn nhân lên với số lượng lớn, sản sinh ra các yếu tố kháng khuẩn Yếu tố này tiêu diệt hoặc hạn chế sự phát triển của các vi khuẩn đường ruột khác, đặc biệt là các vi khuẩn
có lợi (bacillus suptylis, các vi khuẩn lactic) Khi đó, vi khuẩn E coli trở
thành vi khuẩn có số lượng lớn trong đường ruột Khi có số lượng lớn chiếm
ưu thế vi khuẩn tràn lên ruột non
Ở ruột non, nhờ kháng nguyên bán dính vào lớp tế bào biểu mô nhung mao ruột, nhờ yếu tố xâm nhập vi khuẩn xâm nhập vào trong lớp tế bào biểu
mô Từ đó vi khuẩn phát triển và nhân lên làm phá huỷ lớp tế bào gây ra viêm ruột Độc tố đường ruột tác động vào quá trình trao đổi muối - nước làm cho nước và chất điện giải không hấp thu được từ ruột vào cơ thể Nước được tập trung nhiều ở ruột cùng với khí do vi khuẩn trong ruột lên men làm cho ruột căng ra Sức căng của ruột và quá trình viêm ruột kích thích vào hệ thần kinh thực vật ở ruột tạo lên những cơn nhu động ruột đẩy phân ra ngoài, gây nên tiêu chảy
Trang 262.3.5.4 Nguyên nhân
Trong lịch sử nghiên cứu về bệnh phân trắng lợn con, nhiều tác giả đã dày công nghiên cứu, tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con kết quả cho thấy nguyên nhân gây bệnh rất phức tạp Tuy nhiên, bệnh phân trắng lợn con chỉ là một hiện tượng bệnh lý ở đường tiêu hoá, có liên quan đến rất nhiều yếu tố, có yếu tố là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là nguyên nhân thứ phát Cho dù bất cứ nguyên nhân nào dẫn đến tiêu chảy thì hậu quả của nó cũng gây ra viêm nhiễm, tổn thương thực thể đường tiêu hoá và cuối cùng là nhiễm trùng Qua nhiều nghiên cứu cho thấy bệnh lợn con phân trắng do các nguyên nhân sau: vi khuẩn, virus và nấm
Khi nghiên cứu về nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con nhiều tác giả đã kết luận rằng trong bất cứ trường hợp nào của bệnh cũng có vai trò tác động của vi khuẩn
Trong đường ruột của gia súc nói chung và lợn nói riêng, có rất nhiều loại vi sinh vật sinh sống Vi sinh vật tồn tại dưới một hệ sinh thái Hệ sinh thái vi sinh vật đường ruột ở trạng thái cân bằng động theo hướng có lợi cho
cơ thể vật chủ Hoạt động sinh lý của gia súc diễn ra bình thường khi hệ sinh thái đường ruột ở trạng thái cân bằng Sự cân bằng này là do sự ổn định giữa môi trường đường tiêu hoá và các nhóm vi sinh vật có mặt trong đường tiêu hoá của
cơ thể vật nuôi Dưới tác động của các yếu tố gây bệnh, trạng thái cân bằng này
bị phá vỡ dẫn đến hiện tượng loạn khuẩn và hậu quả là lợn bị tiêu chảy
Nhiều tác giả nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy đã chứng minh rằng khi gặp điều kiện thuận lợi, nhiều vi khuẩn ở đường tiêu hoá sẽ tăng độc tính
phát triển với số lượng lớn trở thành có hại và gây bệnh Thực tế vi khuẩn E
coli cư trú ở ruột già và phần cuối ruột non, khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ
nhân lên với số lượng lớn ở lớp sâu tế bào thành ruột, đi máu và đến nội tạng Trong máu nhờ cấu trúc kháng nguyên O và khả năng dung huyết vi khuẩn
Trang 27chống lại các yếu tố phòng vệ không đặc hiệu Tại các cơ quan nội tạng vi khuẩn này tiếp tục phát triển và sự cư trú của chúng làm cho con vật rơi vào trạng thái bệnh lý
Khi lợn bị tiêu chảy, số loại vi khuẩn và tổng số vi khuẩn hiếu khí trong
1 gram phân tăng lên rất nhiều so với lợn ở trạng thái bình thường Hai trong
số những vi khuẩn đóng vai trò quan trọng trong hội chứng tiêu chảy là: E
coli và Salmonella
+ Do virus: đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu kết luận một số virus
như: Rotavirus, Enterovirus, Parvovirus… có vai trò nhất định gây hội chứng
tiêu chảy ở lợn Sự xuất hiện của virus đã làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hoá, suy giảm sức đề kháng của cơ thể và gây ỉa chảy thể cấp tính
+ Do ký sinh trùng: ký sinh trùng trong đường tiêu hoá là một trong những nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy Khi ký sinh trùng trong đường tiêu hoá ngoài việc chúng cướp đoạt chất dinh dưỡng của vật chủ, tiết độc tố đầu độc cơ thể vật chủ, chúng còn gây tác động cơ giới làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hoá và là cơ hội khởi đầu cho quả trình nhiễm trùng Có rất nhiều loại ký sinh trùng đường ruột tác động gây ra hội chứng tiêu chảy như sán lá ruột lợn, giun đũa lợn
- Do kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng
Vấn đề chăm sóc nuôi dưỡng có vai trò hết sức quan trọng Việc thực hiện đúng quy trình kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng sẽ đem lại sức khoẻ và
Trang 28tăng trọng cho lợn Khi thức ăn chăn nuôi không đảm bảo, chuồng trại không hợp lý, kỹ thuật không phù hợp là nguyên nhân làm cho sức đề kháng của lợn giảm, tăng nguy cơ mắc bệnh
- Do stress
Khi lợn bị bệnh phân trắng lợn con có liên quan đến stress như: thời tiết lạnh ẩm hoặc nóng ẩm đột ngột, thức ăn cho lợn mẹ thay đổi bất thường về lượng đạm và chất béo, chất khoáng và vitamin
Hệ thống dạ dày - ruột đặc biệt mẫn cảm với stress Ngay cả ở giai đoạn báo động của quá trình stress, nhu động ruột tăng, thậm chí gây ỉa chảy cấp tính Nếu tác nhân stress tác động với cường độ mạnh, kéo dài thì chắc chắn xảy ra viêm dạ dày- ruột Tiếp theo quá trình của viêm dạ dày - ruột bởi stress các vi khuẩn có trong đường tiêu hoá sẽ làm bệnh trầm trọng hơn, tổn thương nặng hơn Các tác nhân stress sẽ tạo điều kiện “mở đường” cho vi
khuẩn phát triển nhất là E coli
có mùi chua, bệnh kéo dài 2 - 4 ngày, lợn suy nhược nhanh chóng co giật run rẩy rồi chết
Nhiều con có dử ở mắt kèm theo có vùng thâm quầng, lợn suy dinh dưỡng nằm dài, khó đứng dậy, nếu không chữa kịp thời lợn bị bệnh kéo dài dẫn đến chết Nói chung lợn con mắc bệnh thường không sốt, phân lỏng, màu trắng như vôi, lầy nhầy, tanh khắm, có khi lẫn máu, lợn bị bệnh hay nôn và
Trang 29luôn ở trạng thái khát nước bệnh có thể diễn ra theo hai thể: thể gây chết nhanh và thể kéo dài
- Thể gây chết nhanh: những lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi thường mắc thể này Sau 1 - 2 ngày đi ra phân trắng, lợn gầy sút nhanh, lợn
bú kém, rồi bỏ bú hẳn, ủ rũ, đi đứng siêu vẹo
Niêm mạc nhợt nhạt, bốn chân lạnh, có con hay đứng riêng một chỗ và thở nhanh.Trạng thái phân từ ỉa nát rồi đến loãng Số lần đi ỉa tăng từ 1 - 2 lần trên ngày lên tới 4 -6 lần Màu phân từ xanh đen biến thành màu xám rồi trắng đục, trắng hơi vàng Mùi tanh khắm, phân dính bết vào đuôi và kheo chân sau Bệnh kéo dài 2 - 4 ngày.Trước lúc chết có hiện tượng suy nhược, co giật hoặc run run Tỷ lệ chết có thể đến 50% - 80% số con ốm
- Thể kéo dài
Thường xảy ra ở lợn từ 20 ngày tuổi trở lên Bệnh có thể kéo dài 7 - 10 ngày Lợn vẫn bú, bú kém dần, phân trắng đục rồi chuyển sang trắng hơi vàng Mắt có dử, niêm mạc nhợt nhạt Nếu không khỏi thì lợn bị suy nhược rồi chết sau hàng tuần bị bệnh
2.3.5.6 Bệnh tích
Theo tổng kết của một số tác giả: lợn chết do mất nước nghiêm trọng nên khi quan sát xác con vật gầy còm, da khô, lông bẩn, da lông xám không bóng như con vật khỏe mạnh Niêm mạc nhợt nhạt, máu loãng hơi đen Dạ dày giãn rộng, các bờ ở đường cong lớn bị nhồi máu, chứa sữa đông vón, màu trắng hoặc màu xám trắng Hạch lâm ba chuyển từ màu hồng thành màu đỏ thẫm Gan nhão,
dễ vỡ, đôi khi có xuất huyết, đôi khi có hiện tượng viêm phổi nhẹ
- Thể cấp tính: gây chết nhanh, những lợn 4 - 15 ngày tuổi thường hay mắc thể này Sau 1 - 2 ngày đi ỉa lợn con gầy sút nhanh, lợn bỏ bú, ủ rũ, đi đứng siêu vẹo, niêm mạc mắt nhợt nhạt, bốn chân lạnh Phân lúc đầu nát, sau loãng, tiếp đó lợn rặn khó khăn như đi kiết, số lần đi ỉa tăng từ 1 - 2 lần lên 4 -
Trang 306 lần/ngày Màu phân từ xanh đen biến thành đen rồi trắng đục, mùi tanh khắm, phân dính bết vào hậu môn, bệnh kéo dài 2 - 4 ngày, tỷ lệ chết cao 50%
- 80% số con/ đàn
- Thể mãn tính: lợn lớn hơn 20 ngày tuổi hay mắc ở thể này Lợn bú kém kéo dài 7 - 10 ngày Phân màu trắng đục hoặc trắng hơi vàng Có con mắt có dử, niêm mạc nhợt nhạt, có thể chết rải rác sau vài tuần mắc bệnh, tỷ
lệ chết thấp, 10 - 30% số con trong đàn Niêm mạc ruột bị tổn thương, có vết loét Phổi viêm đôi khi có mủ Tim sưng hơi nhão, xoang bao tim chứa đầy nhớt vàng, cơ tim xuất huyết Khi lợn chết, xác gầy, phần thân sau bê bết phân Mổ khám bệnh tích thấy dạ dày giãn rộng, ở đường cong lớn các bờ bị nhồi máu, dạ dày chứa đầy sữa đông vón, không tiêu, màu trắng hoặc màu xám trắng Ruột non căng phồng chứa đầy hơi với những đám xuất huyết ở thành ruột Nhìn từ ngoài vào thấy niêm mạc ruột bị bong chóc làm cho thành ruột mỏng ra Hệ thống lâm ba ruột tụ huyết Các cơ quan nội tạng khác như: tim, gan, thận, phổi ít biến đổi
2.3.5.7 Phòng bệnh
Ngay từ những ổ bệnh đầu tiên phát sinh trong các cơ sở chăn nuôi tập trung, người ta nghĩ đến những phương pháp phòng bệnh (vệ sinh chuồng trại, chống lạnh, ẩm, nuôi dưỡng tốt mẹ và con, bổ sung các thành phần dinh dưỡng con thiếu vào khẩu phần) Sử dụng nhiều loại thuốc kháng sinh, thảo mộc để phòng bệnh
- Dùng chế phẩm sinh học
Đó là dùng các vi khuẩn có lợi để phòng trị bệnh Các nhóm vi khuẩn
thường dùng là Bacillus suptilis, Colibacterium, Lactobacillus… các vi khuẩn này
khi đưa vào đường tiêu hoá của lợn sẽ có vai trò cải thiện tiêu hoá thức ăn lập lại cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột, ức chế và khống chế vi sinh vật có hại
- Phòng bệnh bằng nguyên tố vi lượng
Trang 31Lợn con bú sữa mẹ thường thiếu sắt vì sữa mẹ không cung cấp đủ cho lợn con Do đó lợn con thường rối loạn tiêu hoá và dẫn đến ỉa phân trắng
Vì vậy, lợn con cần được tiêm bổ sung dextran Fe để phòng bệnh thiếu máu
và nâng cao sức đề kháng cho lợn con
- Cải thiện các điều kiện nuôi dưỡng lợn nái và lợn con
Nuôi dưỡng lợn nái đúng khẩu phần quy định bao gồm đủ lượng đạm, vitamin, khoáng đa lượng và vi lượng… sẽ đảm bảo cho thai phát triển tốt và lợn con sau khi sinh có sức đề kháng với bệnh Dùng đèn hồng ngoại để sưởi
ấm cho lợn con vào mùa đông có thể giảm thiểu được bệnh
- Vệ sinh chuồng trại, máng ăn, uống, dụng cụ chăn nuôi
Là một khâu hết sức quan trọng để phòng bệnh phân trắng lợn con, hạn chế mầm bệnh trong môi trường, giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh Việc vệ sinh được tiến hành hằng ngày đảm bảo chuồng trại luôn sạch sẽ, chuồng nuôi được thiết kế sao cho luôn thoáng mát về mùa hè và ấm áp về mùa đông Đồng thời tuân thủ nghiêm ngặt lịch khử trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi theo định kì xử lý phân, rác thải, xác chết… đúng quy định
+ Phòng bệnh bằng vắc xin
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về vắc xin để phòng bệnh phân trắng lợn con do vi khuẩn gây ra, do đó các nghiên cứu tập trung
chế tạo vắc xin từ vi khuẩn E.coli và Salmonella
Sử dụng vắc xin cho lợn nái mang thai bằng cách tiêm hoặc cho uống trước khi đẻ 4 - 6 tuần để kích thích lợn mẹ đáp ứng miễn dịch, sản sinh kháng thể đặc hiệu trong máu, truyền qua sữa đầu, cung cấp cho lợn con sau khi bú sữa
(Nguyễn Thị Nội và cs (1998) [14] và (Lê Văn Tạo và cs 1993) [20])
Gần đây một số nhà nghiên cứu còn dùng hỗn hợp vi khuẩn đường ruột,
E coli và Salmonella phân lập được từ cơ sở chăn nuôi để chế tạo vắc xin với
mục đích ngăn cản sự xâm hại của 2 loại vi khuẩn này Kết quả cho thấy vắc
Trang 32xin chế tạo được có khả năng cản trở sự bám dính và xâm nhập của E coli và
Salmonella vào các tế bào biểu mô ruột
Hiệu lực miễn dịch của kháng sinh này tương đương với hiệu lực của kháng sinh sống, cao hơn vắc xin chết hoặc vắc xin lipopolisaccharid chiết xuất
Theo Nguyễn Thị Nội và cs (1998) [14], đã tiến hành nghiên cứu vắc
xin hỗn hợp saclsco, được chế tạo từ các chủng E coli, Salmonella,
Streptococcus để phòng bệnh phân trắng lợn con
Theo Lê Văn Tạo và cs (1993) [20], đã chọn các chủng vi khuẩn kết hợp ít nhất 2 yếu tố gây bệnh khác nhau là ENT và HLY sản xuất vắc xin cho uống và tiêm phòng bệnh phân trắng lợn con
2.3.5.8 Điều trị bệnh
Khi bệnh phát ra ở đàn lợn thì phải khẩn trương điều trị với biện pháp thích hợp và chăm sóc chu đáo đàn lợn Một số kháng sinh sau đây thường được sử dụng riêng rẽ hoặc phối hợp điều trị như: biomycin, gentamicin, nor-100…Dùng một số kháng sinh có nguồn gốc thảo mộc cũng điều trị rất tốt PTLC Viên tô mộc dùng theo công thức sau: tô mộc 500g và Ngũ bội tử
300g, hai thứ sắc đặc trộn lẫn vào thức ăn cho 100 lợn con ăn
- Palmatin: chiết xuất từ cây Hoàng đằng, dùng dạng viên với liều50mg/ 1lợn con
- Có thể dùng các loại thuốc như: becberin hay dùng các loại cây có hợp chất tanin cao như: búp sim, búp ổi, quả hồng xiêm xanh…
Thực tế cho thấy việc điều trị bằng kháng sinh có hiệu quả ngày càng giảm do sự kháng thuốc nhờn thuốc nên việc dùng kháng sinh thảo mộc là một lựa chọn đúng đắn bởi: kháng sinh thảo mộc dễ kiếm, dễ bào chế và sử dụng, giá thành lại rẻ tạo ra được các sản phẩm thịt an toàn cho người sử dụng (Nguyễn Hùng Nguyệt 2008) [16]
Trang 332.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Bệnh phân trắng lợn con là bệnh phổ biến ở lợn con theo mẹ, nó gây ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng đàn lợn và gây thiệt hại không nhỏ
về kinh tế Bệnh có mặt ở mọi nơi trên thế giới, từ chăn nuôi hộ gia đình đến chăn nuôi trang trại lớn Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu nước ngoài về bệnh phân trắng lợn con
Theo Purvis G.M và cs (1985) [27], cho rằng: phương thức cho ăn không phù hợp là nguyên nhân quan trọng gây tiêu chảy ở lợn
Theo Pensaert M.B de Bouck P.A (1978) [26], nguyên nhân chủ yếu
là do stress lạnh ẩm Khi các tác nhân stress tác động vào cơ thể dễ gây ra cơ chế bệnh lý làm mất thăng bằng, giảm khả năng thích nghi của cơ thể với điều kiện ngoại cảnh, tạo điều kiện phát sinh bệnh
Niconxki V.V (1971) [25], đã nhấn mạnh “Khi cơ thể gia súc non bị lạnh kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm số lượng bạch cầu và tác dụng thực bào, giảm khả năng diệt trùng của máu do đó gia súc dễ bị vi khuẩn tấn công”
Theo Jones (1976) [24], khả năng bám dính của vi khuẩn là yếu tố vô cùng quan trọng để thực hiện bước đầu của quá trình gây bệnh Trong quá trình liên kết đòi hỏi vi khuẩn phải có khả năng di động
Fairbrother J.M và cs (1992) [23], cho biết độc tố Enterotoxin do E coli sinh ra Enterotoxinogenic Escherichia coli (ETEC) gây ỉa chảy trầm trọng cho
lợn con sơ sinh từ 1 - 4 ngày tuổi
Nghiên cứu của Smith.R.A và cs (1996) [28], cho thấy: sản xuất vắc xin E coli phòng bệnh phân trắng cho lợn tốt nhất được phân lập từ bệnh phẩm của lợn bệnh ở tuổi dưới 14 ngày
Trang 34Akita E M và cs (1993) [22], đã nghiên cứu sản xuất kháng thể đặc hiệu qua lòng đỏ trứng gà dùng trong phòng và chữa bệnh tiêu chảy ở lợn con
2.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Bệnh phân trắng lợn con ở nước ta đã được nghiên cứu từ năm 1959 tại các cơ sở chăn nuôi tập trung (trại chăn nuôi và các nông trường quốc doanh) Trong những năm qua đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước quan tâm đến bệnh phân trắng lợn con
Lê Văn Tạo và Cs (1993) [20], đã nghiên cứu các yếu tố gây bệnh của
các chủng E coli gây bệnh, chọn chủng E coli để chế tạo vắc xin chết dưới
dạng cho uống Vắc xin dùng cho lợn con sau đẻ 2 giờ, uống với liều 1ml/con, liên tục trong 3- 5 ngày Kết quả làm giảm tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con từ 30- 35% so với đối chứng
Lý Thị Liên Khai (2001) [9], đã phân lập và xác định độc tố ruột của
các chủng E coli gây bệnh tiêu chảy cho lợn con Tác giả cho rằng các chủng
K88 sinh độc tố ruột LT và ST, K99 và 987P sinh độc tố ruột ST, độc tố ruột
ST trở nên rất độc khi sức đề kháng của vật chủ giảm, gây tiêu chảy cho lợn con đang bú mẹ, phổ biến ở 1 đến 2 tuần tuổi
Theo Trương Lăng (2000) [11], cho biết bệnh ỉa phân trắng lợn con là hội chứng lâm sàng phức tạp, đặc điểm là viêm dạ dày ruột, ỉa phân trắng và gầy sút nhanh Ở nước ta lợn mắc bệnh phân trắng lợn con là phổ biến, trong các cơ sở chăn nuôi tỷ lệ mắc bệnh từ 25% - 100%
Nguyễn Văn Vượng (1963) [21], đã dùng các nguyên tố vi lượng như sunfat sắt hoặc phối hợp sunfat sắt và sunfat đồng có tác dụng chữa bệnh và tăng trọng cho đàn lợn con
Lê Văn Năm và cs (1996) [13], cho rằng bệnh ỉa phân trắng lợn con
chủ yếu là do vi khuẩn E.coli gây ra Ngoài ra còn có một số nguyên nhân
Trang 35khác như chuồng trại bẩn, ít sữa đầu, chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái chửa không đúng kĩ thuật
Đặng Xuân Bình và Trần Thị Hạnh (2001) [2], công bố lợn con theo mẹ
đều phân lập được E coli và Cl.perfigens ở hầu hết các cơ quan phủ tạng, trong đó sự có mặt của E coli luôn chiếm một tỷ lệ cao và rất phổ biến, vi khuẩn yếm khí Cl.perfingens chỉ được phát hiện ở gan, và ruột non với một tỷ
lệ khá cao Khi sử dụng các sinh phẩm E coli-sữa, Cl.perfrigfens-toxoit trong
quy trình phòng bệnh tiêu chảy cho lợn con, kết quả thu được bước đầu cho thấy tác dụng và hiệu quả khá rõ rệt: đã giảm được số lợn con bị mắc bệnh (28,12% so với 55,5%), số ngày điều trị cho mỗi lợn bệnh cũng rút ngắn từ 3 ngày xuống còn 1,8 ngày và khống chế được tỷ lệ lợn con chết do bị tiêu chảy (7,4% so với đối chứng) Ngoài ra, các sinh phẩm còn cho thấy hiệu quả kinh
tế khi khối lượng bình quân lúc cai sữa của lợn con được nâng lên 0,46 kg/con và 1,37 kg/con so với đối chứng
Phạm Khắc Hiếu và cs (1996) [8], đã nghiên cứu tình hình kháng thuốc
của vi khuẩn E.coli phân lập từ lợn con ỉa phân trắng và kiểm tra một số yếu
tố ảnh hưởng đến tính mẫn cảm, kháng thuốc của E.coli phân lập từ lợn con ỉa
phân trắng
Theo tác giả Đặng Xuân Bình (2001) [1], đã xác định vai trò của vi
khuẩn E.coli và Clostridium perfingens đối với bệnh ỉa phân trắng của lợn con
trong giai đoạn 1 - 35 ngày tuổi và bước đầu nghiên cứu, chế tạo một số sinh phẩm phòng bệnh
Theo Phạm Sĩ Lăng và cs (1997) [10], bệnh ỉa phân trắng lợn con
(Colibacillosis) là một hội chứng hoặc một trạng thái lâm sàng đa dạng, đặc
điểm là viêm dạ dày - ruột, ỉa phân trắng và gầy sút nhanh Tác nhân chủ yếu
ở lợn con là E.coli và Salmonella (Sal.cholerasuis) và đóng vai trò phụ là