Trong các báo cáo của Ủy ban trình Hội đồng và Nghị viện châu Âu, đáng chú ý có báo cáo phát hành tháng 3/2008 với chủ đề “The Treaty of Lisbon: An Impact of Assessment” Hiệp ước Lisbon
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NGOẠI GIAO
HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
-
MẠC NHƯ QUỲNH
MẠC NHƯ QUỲNH
HỘI NHẬP KHU VỰC Ở CHÂU ÂU:
TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH
ĐỐI NGOẠI VÀ AN NINH CHUNG CHÂU ÂU
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ
MÃ SỐ: 9 31 02 06
Hà Nội, năm 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NGOẠI GIAO
HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
-
MẠC NHƯ QUỲNH
ẠC NHƯ QUỲNH
HỘI NHẬP KHU VỰC Ở CHÂU ÂU:
TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH
ĐỐI NGOẠI VÀ AN NINH CHUNG CHÂU ÂU
Chuyên ngành: Quan h ệ Quốc tế
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu của tôi Các kết quả
và thông tin nêu trong luận án là trung thực Những kết quả nghiên cứu của luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận án
Mạc Như Quỳnh
Quỳnh
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến
PGS TS Tạ Minh Tuấn – Trợ lý Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và TS Đỗ Thị Thanh Bình – Trưởng phòng Đào tạo sau Đại
học, Học viện Ngoại giao Việt Nam Thầy cô là những người không chỉ tận
tình hướng dẫn, định hướng, gợi mở cho tôi nhiều hướng nghiên cứu mà còn cho tôi nguồn động viên kịp thời, giúp tôi thêm tự tin để hoàn thành công trình nghiên cứu
Tôi xin kính gửi lời cảm ơn đến GS.TS Nguyễn Thái Yên Hương, Nguyên Phó Giám đốc Học viện Ngoại giao Việt Nam, người luôn nhắc nhở, động viên tôi và đồng thời cũng tạo ra một “áp lực cần thiết” để tôi thêm quyết tâm hoàn thành luận án này Một lời cảm ơn nữa xin gửi tới các cán bộ Phòng Đào tạo sau Đại học, Học viện Ngoại giao đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu tại Học viện
Quá trình thực hiện luận án bị gián đoạn và gặp nhiều khó khăn, có những lúc tưởng không thể hoàn thành Không đổ lỗi cho hoàn cảnh, tôi nỗ lực thực hiện luận án này không chỉ để khẳng định bản thân mình mà còn với mong muốn sự cố gắng của tôi ngày hôm nay sẽ truyền cảm hứng cho các con tôi trên bước đường trưởng thành về sau Xin cảm ơn gia đình, người thân, đặc biệt là chồng và các con đã luôn bên tôi, cổ vũ, động viên, tiếp thêm động lực để tôi hoàn thiện nghiên cứu này
Hà Nội, tháng 08 năm 2018
Nghiên cứu sinh
Mạc Như Quỳnh
Trang 5M ỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN
L ỜI CẢM ƠN
DANH M ỤC TỪ VIẾT TẮT
M Ở ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỘI NHẬP KHU V ỰC TRONG LĨNH VỰC ĐỐI NGOẠI VÀ AN NINH Ở CHÂU ÂU 16
1.1 Cơ sở lý luận về hội nhập khu vực 16
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về hội nhập khu vực 16
1.1.1.1 Khái ni ệm “khu vực”, “khu vực hóa” 16
1.1.1.2 Định nghĩa “Chủ nghĩa khu vực” và “Hội nhập khu vực” 17
1.1.2 Tiếp cận hội nhập khu vực qua một số lý thuyết 25
1.1.2.1 Thuy ết chức năng 26
1.1.2.2 Thuy ết thể chế 30
1.1.2.3 Thuy ết kiến tạo 33
1.1.2.4 Thuy ết liên chính phủ 36
1.2 Cơ sở thực tiễn về hội nhập khu vực ở châu Âu 39
1.2.1 Lịch sử hội nhập khu vực ở châu Âu trước chiến tranh Lạnh 39
1.2.2 Bối cảnh thế giới và khu vực sau Chiến tranh Lạnh 52
1.2.3 Quan điểm của các thành viên chủ chốt về hội nhập trong lĩnh vực đối ngoại và an ninh 55
1.2.3.1 Quan điểm của Đức 55
1.2.3.2 Quan điểm của Pháp 57
1.2.3.3 Quan điểm của Ý 60
1.2.3.4 Quan điểm của Ba Lan 61
Ti ểu kết chương 1 62
Trang 6CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU HỘI NHẬP KHU VỰC QUA CHÍNH SÁCH
ĐỐI NGOẠI VÀ AN NINH CHUNG CHÂU ÂU 64
2.1 Chính sách Đối ngoại và An ninh chung châu Âu 64
2.1.1 Nội dung chính sách 64
2.1.1.1 M ục tiêu chính sách 64
2.1.1.2 Quy trình ho ạch định chính sách 66
2.1.1.3 Cơ chế hoạt động 70
2.1.2 Công cụ thực thi chính sách 75
2.1.2.1 Công c ụ thực thi Chính sách đối ngoại 75
2.1.2.2 Công c ụ thực thi Chính sách quốc phòng 78
2.2 Th ực tiễn triển khai Chính sách từ năm 1992 – 2018 80
2.2.1 Giai đoạn 1992 – 2009: 80
2.2.2 Giai đoạn 2009 – 6/2018: 89
2.3 Đánh giá tiến trình hội nhập khu vực qua thực tiễn triển khai Chính sách 99
2.3.1 Nhận xét chung 99
2.3.2 Nguyên nhân thành công và hạn chế 104
Ti ểu kết chương 2 122
CHƯƠNG 3: TRIỂN VỌNG HỘI NHẬP VỀ ĐỐI NGOẠI VÀ AN NINH C ỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU ĐẾN NĂM 2025 124
3.1 Xu th ế hội nhập khu vực đến năm 2025 124
3.1.1 Xu thế chung 124
3.1.2 Xu thế hội nhập ở châu Âu 127
3.2 Tri ển vọng thực thi Chính sách Đối ngoại và An ninh chung đến năm 2025 131
3.3 M ột số bài học kinh nghiệm từ quá trình hội nhập về đối ngoại và an ninh c ủa Liên minh châu Âu 142
Trang 7Ti ểu kết chương 3 145
K ẾT LUẬN 147
DANH M ỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 151
DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
Ph ụ lục 1: Bảng khảo sát về sự quan tâm và nhu cầu của người dân 171
Ph ụ lục 2: Định vị nền kinh tế EU trên thế giới 172
Ph ụ lục 3: Sự chồng chéo trong chi phí quốc phòng giữa các quốc gia thành viên EU (tính đến năm 2016-2017) 173
Ph ụ lục 4: Cấu trúc quyền lực của liên minh Châu Âu 174
Ph ụ lục 5: Niềm tin của người dân vào các thể chế EU (Giai đoạn 1997-2016) 175
Ph ụ lục 6: Báo cáo tóm tắt kết quả 1 năm thực hiện Chiến lược toàn cầu của EU (EUGS year 1) 176
Ph ụ lục 7: Sáng kiến “Hợp tác mang cấu trúc bền vững” 179
Ph ụ lục 8: Nghị quyết của nghị viện Châu Âu về Báo cáo thường niên kết quả th ực hiện Chính sách An ninh Quốc phòng chung năm 2017 182
Ph ụ lục 9: Kế hoạch Hành động quốc phòng châu Âu (European Defence Action plan) 193
Trang 8Cơ chế Phát triển năng lực
CDP Capability Development Plan Kế hoạch Phát triển năng lực
Cooperation in Europe
Uỷ ban An ninh và Hợp tác
châu Âu CSDP Common Security and Defence
Cộng đồng Than thép châu Âu
ECJ European Court of Justice Tòa án châu Âu
EDA European Defence Agency Cục Quốc phòng châu Âu
EDC European Defence Community Cộng đồng Phòng thủ châu Âu
EDF European Defence Fund Quỹ Quốc phòng châu Âu
EEAS European External Action
Service
Cục Hành động đối ngoại châu
Âu
EURATOM European Atomic Energy
Relations Council
Hội đồng các vấn đề chung và quan hệ đối ngoại
Trang 9Organization
Hiệp ước quân sự Bắc Đại Tây
Dương NRF NATO Response Force Lực lượng phản ứng của NATO
OSCE Organization for Security and
Powers Europe
Trụ sở Bộ Tư lệnh tối cao châu
Âu SACEUR Supreme Allied Commander
Europe
Tư lệnh tối cao liên quân châu
Âu SNG Commonwealth of Independent
States (Sodruzhestvo Nezavisimykh Gosudarstv in Russian)
WEU Western European Union Liên minh Tây Âu
WMD Weapon of Mass Destruction Vũ khí huỷ diệt hàng loạt
WUDO Western Union Defense
Organization
Tổ chức Liên minh quốc phòng phía Tây
Trang 10DANH M ỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Cấu trúc CFSP/CSDP sau Tuyên bố St Malo (1998) 71
Bảng 2: Cơ cấu tổ chức của EEAS trung ương (cập nhật đến tháng 3/2018) 74 Bảng 3: Tỷ lệ đóng góp của các nước tham gia chiến dịch OAF 87 Bảng 4: So sánh về phân bổ ngân sách hành chính cho Bộ Ngoại giao các quốc gia thành viên EU và EEAS (năm 2011-2012) 92
Bảng 5: Khảo sát ý kiến của người dân về sự ủng hộ đối với EUtừ năm 2004 đến năm 2016 111 Bảng 6: Thay đổi GDP bình quân đầu người của các nước thuộc EU từ năm
2004 đến 2014 116 Bảng 7: So sánh về chi tiêu quốc phòng của châu Âu với một số quốc gia khác 117 Bảng 8: Tương quan so sánh thành viên EU và NATO (tính đến năm 2017) 122 Bảng 9: Xu hướng gia tăng chi phí quốc phòng của một số cường quốc quân
sự đến năm 2045 125
Bảng 10: Khảo sát ý kiến người dân đánh giá về mức độ phát triển của quốc gia thành viên từ khi gia nhập EU ở khía cạnh kinh tế (giai đoạn 10/2004 – 05/2013) 128 Bảng 11: Tỷ lệ thất nghiệp EU28 từ năm 2004 – 2017 129 Bảng 12: Các yếu tố cấu thành liên minh an ninh quốc phòng châu Âu 140
Trang 11M Ở ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Trong lịch sử phát triển của nền chính trị thế giới đương đại, Liên minh châu Âu (EU) là một mô hình liên kết khu vực độc đáo Qua 60 năm tồn tại (1957-2017), EU đã đạt được nhiều thành tựu trong tiến trình hội nhập trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế, thương mại, tài chính, tiền tệ, tư pháp…
Với quá trình hội nhập sâu rộng như vậy, EU đã trở thành hình mẫu nghiên cứu về hội nhập khu vực Nhiều lý thuyết ra đời chủ yếu để giải thích tiến trình hội nhập của EU Tuy nhiên, trong lĩnh vực đối ngoại và an ninh, EU
gặp nhiều khó khăn khi vận động các quốc gia thành viên tham gia vào quá trình hợp tác và triển khai các hành động tập thể
Chính sách Đối ngoại và An ninh chung (CFSP) là một trong ba trụ cột chính được hình thành từ Hiệp ước Maastricht (1992) Chính sách an ninh quốc phòng chung (CSDP) được đưa vào nội hàm CFSP từ năm 1999 nhằm thúc đẩy tiến trình hội nhập về đối ngoại, an ninh nói chung, tăng cường hợp tác an ninh quốc phòng, hướng tới nền quốc phòng chung Tuy nhiên, sau hơn
25 năm triển khai, CFSP chưa đạt được kỳ vọng của các nhà lập pháp châu
Âu Mặc dù đạt được một số thành tựu nhất định nhưng mức độ hội nhập trong lĩnh vực đối ngoại, an ninh còn hạn chế so với các lĩnh vực khác Tình hình triển khai CFSP gặp nhiều khó khăn hơn trong bối cảnh chủ nghĩa dân tuý cực đoan và làn sóng bài EU lan rộng khắp châu Âu Sự kiện nước Anh buộc phải rời khỏi Liên minh sau thất bại của cuộc trưng cầu dân ý (6/2016) đặt ra nhiều vấn đề mới về triển vọng hội nhập trong lĩnh vực đối ngoại và an ninh của EU cũng như định hướng phát triển của Liên minh trong tương lai CFSP/CSDP có thất bại? Các quốc gia thành viên hành động đơn phương trong các vấn đề đối ngoại, an ninh hay CFSP/CSDP sẽ đạt được nhiều bước tiến hơn trong các hành động tập thể, đưa sức mạnh tổng thể của EU lên một
Trang 12tầm mức mới? Tương lai của CFSP cùng những bước đi khó đoán định của
Mỹ, Nga, Trung ở khu vực sẽ có tác động lớn đến cấu trúc an ninh khu vực châu Âu Việc dự báo triển vọng thực thi CFSP và xu hướng hội nhập trong lĩnh vực đối ngoại và an ninh ở khu vực có ý nghĩa thời sự, là cơ sở đánh giá
xu hướng vận động của nền an ninh khu vực và hướng phát triển tương lai của
EU, một trong những chủ thể quan trọng của nền chính trị toàn cầu
EU là một trong ba nền kinh tế lớn nhất thế giới (bên cạnh Mỹ và Trung Quốc), là một chủ thể ngày càng có ảnh hưởng trong quan hệ quốc tế Với Việt Nam, EU là đối tác quan trọng trên bình diện song phương và đa phương Về phương diện song phương, Việt Nam có năm đối tác chiến lược ở châu Âu, gồm: Anh, Tây Ban Nha, Pháp, Ý, Đức Về phương diện đa phương,
EU và Việt Nam đã ký Hiệp định Đối tác hợp tác (PCA) năm 2012 Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) đã kết thúc đàm phán và dự kiến được ký kết vào năm 2018 Cùng với Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), EVFTA là hai hiệp định thương mại tự do
có phạm vi cam kết rộng và mức độ cam kết cao nhất của Việt Nam từ trước đến nay Vì vậy, nghiên cứu chủ thể EU có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, mang tính tham khảo cho Việt Nam, một thành viên tích cực của Hiệp hội các
quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) trong việc góp phần xây dựng và phát triển quan hệ đối tác của tổ chức này với các chủ thể quan hệ quốc tế khác, trong
đó có EU
Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu về chủ thể EU trong và ngoài nước tuy phong phú và đa dạng nhưng các nghiên cứu về hội nhập khu vực trong lĩnh vực đối ngoại và an ninh còn khá mới mẻ với các nhà nghiên cứu
Việt Nam Mặt khác, đây là lĩnh vực mang tính động thái cao, do vậy, nghiên cứu hội nhập khu vực về đối ngoại và an ninh ở châu Âu là một đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong nghiên cứu quan hệ quốc tế ở Việt Nam
Trang 13Trên cơ sở đó, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài luận án là: “Hội nhập khu v ực ở châu Âu: Trường hợp nghiên cứu Chính sách Đối ngoại và An ninh chung châu Âu”
2 L ịch sử nghiên cứu đề tài
2.1 Tình hình nghiên c ứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài :
* V ề lý thuyết hội nhập khu vực và hội nhập khu vực ở châu Âu:
T ại Việt Nam, chưa có nhiều công trình nghiên cứu lớn về lý thuyết hội
nhập khu vực nói chung và hội nhập khu vực ở châu Âu nói riêng Một số
công trình đáng chú ý là tác phẩm “Những vấn đề xung quanh việc hợp nhất
châu Âu” của tác giả Nguyễn Văn Dân (chủ biên) và Lê Ngọc Hiền (1997), NXB Viện Thông tin khoa học xã hội, tổng hợp các bài viết liên quan đến xu hướng hội nhập khu vực và quá trình hình thành Liên minh châu Âu Do là tập hợp các bài viết của nhiều tác giả nên các đánh giá rời rạc, mang tính thông sử bởi thời gian ra đời quyển sách gần với thời điểm EU thành lập (Hiệp ước Maastricht 1992) cho đến nay tính thời sự không còn Một tác
phẩm mang tính tham khảo khác của tác giả Đinh Công Tuấn chủ biên
(2011), “Liên minh châu Âu hai th ập niên đầu thế kỷ XXI”, NXB Khoa học xã
hội Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này không đề cập đến các lý thuyết hội
nhập khu vực mà chỉ mô tả quá trình hình thành, phát triển của EU và một số
xu hướng phát triển của tổ chức trong tương lai
Một số bài viết có giá trị tham khảo đề cập đến các lý thuyết hội nhập
như: bài viết của tác giả Phạm Quốc Trụ (2011), “Hội nhập quốc tế: một số vấn
đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 85 năm 2011; Nguyễn
Quang Thuấn (2014), “Liên kết ở Liên minh châu Âu: từ lý thuyết đến thực
ti ễn”, Tạp chí Nghiên cứu châu Âu số 2 (161) năm 2014 Hai bài viết có đề cập
đến khái niệm hội nhập quốc tế và một số lý thuyết về hội nhập khu vực Tuy nhiên, do không phải là công trình nghiên cứu lớn nên bài viết chỉ giới hạn ở
việc giới thiệu khái quát cách tiếp cận của một số thuyết về hội nhập, đưa ra một
Trang 14số nhận định về thành công và hạn chế của quá trình liên kết trong EU
Một số bài viết đề cập đến mô hình phát triểu của EU và ASEAN, so sánh, nhận định về triển vọng của từng mô hình: Đề tài nghiên cứu cấp Viện
“Nghiên c ứu so sánh các mô hình liên kết khu vực – Kinh nghiệm cho ASEAN” của Viện nghiên cứu châu Âu thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam
thực hiện tháng 7/2011; các bài báo “Chủ nghĩa khu vực và liên khu vực:
nh ững triển vọng giữa châu Âu và châu Á”, Tạp chí nghiên cứu châu Âu số 6
(66) năm 2004 và “Mô hình hội nhập của EU – ASEAN: So sánh những tương
đồng, khác biệt và bài học kinh nghiệm cho ASEAN”, Tạp chí nghiên cứu
châu Âu số 6 (141) năm 2012 của tác giả Đinh Công Tuấn
Ở nước ngoài, các công trình nghiên cứu của các học giả phương Tây
sử dụng nhiều lý thuyết khác nhau để giải thích cho hiện tượng hội nhập khu
vực tại châu Âu
Tác phẩm “The Uniting of Europe” (Sự hợp nhất của châu Âu) xuất
bản lần đầu năm 1958 và “Beyond the Nation-State” (Vượt ra khỏi ranh giới
quốc gia - dân tộc) xuất bản năm 1964 của học giả Ernest B Hass đưa ra khái
niệm “spill-over” (hiệu ứng lan tỏa) để mô tả cơ chế phát triển của tiến trình hội nhập khu vực Thuyết lan tỏa của Haas được học giả Lindberg sử dụng và phát triển trong công trình nghiên cứu “The Political Dynamics of European
Economic Integration” (Động lực chính trị trong hội nhập kinh tế châu Âu) xuất bản năm 1963, “Regional Integration: Theory and Research” (Hội nhập khu vực: Lý thuyết và nghiên cứu) viết cùng Stuart A Scheingold năm 1971 Các tác phẩm này chủ yếu lấy tiến trình hội nhập trong lĩnh vực kinh tế làm trường hợp nghiên cứu cụ thể cho các thuyết
Tác phẩm “The Choice for Europe” (Sự lựa chọn của châu Âu) của Andrew Moravcsik tiếp cận quá trình hội nhập khu vực ở châu Âu một cách toàn diện hơn Andrew kết hợp các luận điểm của chủ nghĩa tự do và thuyết liên chính phủ để giải thích quá trình hình thành các thứ tự ưu tiên của các
Trang 15quốc gia thành viên và lý giải con đường thương lượng ở cấp độ liên chính
phủ để đi đến đồng thuận cuối cùng
Ngoài ra, thuyết thể chế và thuyết liên chính phủ cũng được nhiều học
giả như Peter Hall, Rosemary Taylor (1994), Koelble (1995), Kato (1996), Mark Pollack (2003), Derek (2005)… sử dụng để nghiên cứu quá trình hội
nhập khu vực ở châu Âu
* V ề cấu trúc bộ máy EU và những tác động của nó đến quá trình hội
nh ập châu Âu, đặc biệt từ sau Hiệp ước Lisbon:
T ại Việt Nam, các nghiên cứu liên quan đến vấn đề này chưa có nhiều
công trình lớn, chủ yếu là các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành, còn tản
mạn, thiếu tính hệ thống Một số bài viết trên Tạp chí nghiên cứu châu Âu của tác giả Đặng Minh Đức như “Hệ thống chính trị của Liên minh châu Âu
(2002), “B ản chất và cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị Liên minh Châu Âu” (2003), “Những vấn đề cơ bản của Hiến pháp châu Âu” (2005),
“Nh ững nhân tố tác động đến quá trình cải cách hệ thống thể chế chính trị ở Liên minh Châu Âu” (2005), “Hiệp ước Hiến pháp và hiệp ước Lisbon - thực
ch ất và triển vọng” của Phan Đức Thọ (2009); “Vai trò của Liên minh Châu
Âu và Hiệp ước Lisbon” (2010), “Một số vấn đề chính trị nổi bật của Liên minh Châu Âu (EU) giai đoạn 2000-2010” (2011) của tác giả Đinh Công
Tuấn Các bài viết này tiếp cận khá trực tiếp và cụ thể tới một số thể chế chính trị cơ bản của Liên minh, chỉ ra được một số vấn đề đang tồn tại cũng như bước đầu đặt ra vấn đề phải nhìn nhận các thể chế của Liên minh châu
Âu theo tiêu chí nào: quốc gia, liên bang hay tổ chức quốc tế?
Ở nước ngoài, cấu trúc bộ máy EU được nghiên cứu bài bản, công phu
và có nhiều công trình lớn Đặc biệt, với những cải cách lớn về thể chế từ Hiệp ước Lisbon (2009), nhiều học giả đã tập trung nghiên cứu tác động của những thay đổi này đến quá trình vận hành và phát triển của EU Một số tác phẩm tiêu biểu như:
Trang 16Simon Hix (2005), The Political system of the European Union (Hệ
thống chính trị của Liên minh châu Âu), NXB Palgrave Macmillan Đây là
một trong những tác phẩm có giá trị tham khảo cao Cuốn sách mô tả các thể
chế của Liên minh kết hợp với những lý luận về hệ thống chính trị của Bertrand Badie và Pierre Binrbaum Hix khẳng định EU đã có một hệ thống chính trị thực sự Ông cũng phản bác quan điểm hệ thống chính trị chỉ tồn tại trong khuôn khổ quốc gia Theo ông, một hệ thống chính trị có thể tồn tại mà không cần gắn liền với một quốc gia nào như đối với trường hợp EU
Jens Peter Bonde (2008), From EU Constitution to Lisbon Treaty (Từ Hiến pháp châu Âu đến Hiệp ước Lisbon), NXB Forlaget Notat Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã rà soát, chỉ ra những sửa đổi, bổ sung về mặt nội dung của các điều khoản trong Hiệp ước, từ đó phân tích tác động của
những thay đổi này đối với người dân và các quốc gia thành viên Bonde cũng đưa ra một số dự báo về xu thế phát triển của các thể chế trong tương lai Tuy nhiên, tính cập nhật của nghiên cứu còn nhiều hạn chế do xuất bản trước khi Cục Hành động đối ngoại châu Âu (EEAS) đi vào hoạt động nên chưa thể đánh giá hiệu quả triển khai chính sách…
Ngoài ra, các báo cáo nội bộ của Liên minh cũng là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng Trong các báo cáo của Ủy ban trình Hội đồng và Nghị viện
châu Âu, đáng chú ý có báo cáo phát hành tháng 3/2008 với chủ đề “The
Treaty of Lisbon: An Impact of Assessment” (Hiệp ước Lisbon: đánh giá tác động) đánh giá tác động của Hiệp ước đến bộ máy thể chế của Liên minh, các quyền cơ bản của quốc gia thành viên, tác động trong lĩnh vực tự do, an ninh,
tư pháp, các vấn đề xã hội, tài chính và thị trường nội địa… Chương 7 của bản báo cáo đề cập đến chính sách đối ngoại, quốc phòng của châu Âu và hướng phát triển của chính sách Theo đánh giá của Ủy ban, theo Hiệp ước Lisbon, CFSP vẫn không thay đổi phạm vi hoạt động Các điều khoản trong
Trang 17Hiệp ước mới có thể giúp vai trò của EU trở nên năng động hơn trong lĩnh
vực đối ngoại, an ninh nhưng vẫn trên nguyên tắc đồng thuận, không xâm phạm đến sự độc lập về chính sách của các quốc gia thành viên trong lĩnh vực này Báo cáo này đánh giá EU có thể trở nên năng động hơn nhưng chưa đánh giá được thực tiễn triển khai CFSP có thực sự giúp EU trở nên năng động hơn hay không
* V ề Chính sách Đối ngoại và An ninh chung châu Âu:
T ại Việt Nam, không có nhiều công trình nghiên cứu về chính sách đối
ngoại, an ninh, quốc phòng của EU nói chung, cụ thể về Chính sách Đối ngoại
và An ninh chung châu Âu (CFSP) Một số nghiên cứu liên quan như: Bùi
Hồng Hạnh (2005), Đề tài cấp trường “Quá trình hình thành chính sách đối
ngoại chung của Liên minh châu Âu”; Vũ Bình Minh (2006), Đề tài cấp Viện
của Viện Nghiên cứu châu Âu “Chính sách đối ngoại của Liên minh châu Âu
hi ện nay: Cơ chế phối hợp giữa các nước thành viên và cấp độ liên minh”; Bùi
Hồng Hạnh (2010), “Chính sách đối ngoại và an ninh của Liên minh châu Âu:
M ột số vấn đề và khả năng thực thi” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu châu Âu số
01 năm 2010; Nguyễn Hải Lưu (2016), “Một số nội hàm mới trong Chiến lược
toàn c ầu của EU về chính sách Đối ngoại và An ninh chung”, Tạp chí Nghiên
cứu châu Âu số 05 năm 2016…
Ở nước ngoài, các công trình nghiên cứu về Chính sách Đối ngoại và
An ninh chung châu Âu tương đối phong phú về quy mô và nội dung Một số tác phẩm và bài viết đáng chú ý như: Ramses A.Wessel (1999), The European
Union’s Foreign and Security Policy – A Legal Institutional Perspective
(Chính sách Đối ngoại và An ninh Liên minh châu Âu – Triển vọng thể chế hóa luật pháp), NXB Routledge, London; Martin A Smith và Grahan Timmins (2000) chủ biên, Uncertain European: Building a New European
Security Order (Một châu Âu không ổn định: Xây dựng một trật tự an ninh
Trang 18châu Âu mới), NXB Routledge, London Hai tác phẩm đề cập đến các khái
niệm về trật tự, an ninh và bản sắc, các thể chế an ninh khu vực gồm OSCE, NATO, EU và WEU, triển vọng an ninh quốc gia và khu vực và nhận định về
sự bất ổn định ở châu Âu Theo các tác giả, không phải bất kỳ quốc gia nào cũng mong muốn trở thành thành viên của EU và NATO Vì vậy, các thành viên của hai tổ chức này cần giải quyết các vấn đề mà các quốc gia ngoài khối quan tâm hoặc đặt kỳ vọng Hơn nữa, quá trình mở rộng đã làm thay đổi thứ
tự ưu tiên các mối quan tâm hay lợi ích chung của các thành viên đặt trong tổng thể chiến lược phát triển của tổ chức khiến các thành viên phải đối mặt
với nhiều thách thức mới Thông qua việc phân tích vai trò của từng thể chế
an ninh khu vực cùng với việc quan sát các mục tiêu, kỳ vọng của một số nhân tố quan trọng đối với nền an ninh khu vực như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nga…, các tác giả xác định những nguy cơ gây bất ổn ở châu Âu và vai trò của các thể chế an ninh trên con đường duy trì nền hòa bình trong khu vực
Brian White (2001), Understanding European Foreign Policy (Tìm
hiểu về Chính sách đối ngoại châu Âu); Svein S Andersen và Kjell A
Eliassen (2001), Making Policy in Europe (Hoạch định chính sách ở châu Âu); Cristina Churruca (2003), The European Union’s Common Foreign
Policy: Strength, Weakness and Prospects (Chính sách đối ngoại và an ninh chung châu Âu: Ưu điểm, Hạn chế và Triển vọng); nhóm tác giả Dieter
Mahncke, Alicia Ambos, Christopher Reynolds (2004),“European Foreign
Policy – From Rhetoric to Reality?” (Chính sách đối ngoại châu Âu – Từ Khẩu hiệu đến Thực tế) Các nghiên cứu này cung cấp bức tranh tổng thể về chính sách đối ngoại và cách thức EU thực hiện đường lối đối ngoại Cristina đặt vấn đề rằng khi xem EU là một chủ thể hoàn chỉnh của quan hệ quốc tế thì bản thân EU có chính sách đối ngoại (EFP) Các nghiên cứu về EU thường tiếp cận theo hướng coi CFSP chính là chính sách đối ngoại của tổ chức này
Trang 19Tuy nhiên, đứng trên quan điểm xem EU như chủ thể quốc gia, không nên đồng nhất CFSP với EFP CFSP cần được phân biệt với các chính sách đối ngoại của EU trên các lĩnh vực khác như chính sách về thương mại hay các chính sách phát triển Dựa trên hướng tiếp cận này, bài viết đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của EU trong các hoạt động đối ngoạivà nêu ra một số câu
hỏi gợi ý nghiên cứu như “mục tiêu của EFP nên là gì? Những lợi ích chung
của các quốc gia thành viên thường được đặt ở đâu? Vai trò của EU trong các vấn đề quốc tế? Nguồn lực nào nên dành cho EFP?
Nicole Alecu de Flers (2008), The Provisions on CFSP and CSDP in the
Lisbon Reform Treaty: Stumbling Blocks or Milestones? (Những nội dung về CFSP và CSDP trong Hiệp ước Lisbon sửa đổi: rào cản hay bước ngoặt?), Viện nghiên cứu nhất thể hóa châu Âu, Viện khoa học Áo; Sven Biscop (2009),
Permanent Structured Cooperation and the Future of ESDP: Transformation and Integration (Hợp tác có cấu trúc bền vững và tương lai của ESDP), Học
viện Hoàng gia về quan hệ quốc tế Egmont, Bỉ Hai tác phẩm đề cập đến những thay đổi về mặt chính sách có tác động đến khả năng thực thi CFSP/ESDP, phân tích, đánh giá cơ chế hợp tác về an ninh quốc phòng “có cấu trúc bền vững”, cơ chế được đánh giá là một giải pháp cho tương lai của ESDP Một khi các thành viên EU nhất trí tham gia vào cơ chế hợp tác này, hiệu quả triển khai chính sách an ninh phòng thủ chung sẽ được nâng lên đáng kể, giúp hạn chế sự chồng chéo về chính sách, tập trung nguồn lực, nâng cao khả năng triển khai thực địa của lực lượng liên quân
Federiga M Bind (2010), The Foreign policy of the European Union:
Assessing Europe’s role in the World (Chính sách đối ngoại của Liên minh châu Âu: Đánh giá vai trò của châu Âu trên thế giới), NXB Brookings Institution Với đối tượng nghiên cứu chính là Chính sách đối ngoại của EU, cuốn sách đề cập đến các đặc điểm của chính sách và phân tích chính sách
Trang 20đối ngoại của EU với các đối tác ở một số khu vực trọng yếu như châu Phi, châu Á, Trung Đông…
Alyson JK Bailes và Graham Messervy Whiting (2011), Death of an
Institution, the End for Western European Union, a Future for European defence? (Sự kết thúc của một thể chế, Liên minh Tây Âu dừng hoạt động, tương lai cho nền quốc phòng châu Âu?), Học viện Hoàng gia Egmont về quan hệ quốc tế Tác phẩm đề cập đến mối liên quan của Liên minh Tây Âu (WEU) và NATO trong việc bảo vệ an ninh khu vực và phân tích, đánh giá về thực trạng nền an ninh quốc phòng châu Âu
Jan Wouters, Stephanie Bijlmakers và Katrien Meuwissen (2012), The
EU as a Multilateral Security Actor after Lisbon: Constitutional and Institutional Aspects, (EU – Chủ thể an ninh đa phương hậu Lisbon: Phương
diện lập pháp và thể chế), NXB Routledge, London; Caroline Bouchard, John
Petterson và Natalie Tocci (2013), Multilateralism in 21st Century: Europe’s
Quest for Effectiveness (Chủ nghĩa đa phương trong thế kỷ 21: Tìm kiếm tính
hiệu quả của châu Âu), NXB Routledge, London; Federico Santopinto &
Megan Price (2013), National Visions of EU Defence Policy – Common
Denominators and Misunderstandings (Tầm nhìn quốc gia về chính sách quốc phòng EU: Mẫu số chung và một số nhận thức sai lầm); Sven Biscop (2016),
All or Nothing? The EU Global Strategy and Defence Policy after the Brexit
(Tất cả hay không là gì? Chiến lược toàn cầu của EU và chính sách quốc phòng sau sự kiện Brexit), Tạp chí Contemporary Security Policy Journal Các bài viết đưa ra một số vấn đề phát sinh trong quá trình EU triển khai chính sách đối ngoại và an ninh chung, tập trung vào giai đoạn sau khi thực thi Hiệp ước Lisbon Các nghiên cứu chủ yếu mô tả cách thức vận hành bộ máy trong lĩnh vực đối ngoại, an ninh và định hướng chính sách của một số quốc gia thành viên khi tham gia vào các hành động tập thể liên quan đến an ninh quốc phòng
Trang 212.2 M ột số vấn đề gợi mở nghiên cứu
Qua nghiên cứu, rà soát các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, một số nhận xét về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài như sau:
(i) Các công trình nghiên cứu trong nước về lý thuyết hội nhập khu vực không nhiều, chủ yếu được lồng ghép vào các nghiên cứu về chủ nghĩa khu
vực ở một số khu vực cụ thể, tập trung nhiều vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Đông Á, Đông Nam Á… Các công trình nghiên cứu về lý thuyết hội
nhập khu vực nói chung và lý thuyết hội nhập khu vực châu Âu nói riêng chủ yếu mô tả tiến trình hội nhập ở khu vực châu Âu thông qua sự hình thành và phát triển của Liên minh châu Âu Các nghiên cứu còn khá sơ khai, chủ yếu là các bài viết ngắn, chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu và có hệ thống
(ii) Nhiều lý thuyết quan hệ quốc tế khác nhau được các học giả phương Tây sử dụng để giải thích cho hiện tượng hội nhập khu vực tại châu
Âu, cụ thể là Liên minh châu Âu Một số lý thuyết được hình thành dựa trên quá trình liên kết khu vực ở châu lục này, nổi bật có: thuyết chức năng, thuyết
thể chế, thuyết kiến tạo và thuyết liên chính phủ
(iii) Hệ thống lý thuyết quan hệ quốc tế về hội nhập khu vực chủ yếu được dùng để lý giải các hiện tượng đã diễn ra đối với tiến trình hình thành và phát triển của EU Chưa có công trình nghiên cứu nào dùng công cụ lý thuyết làm cơ sở để dự báo chính sách và đánh giá, phân tích khả năng thực thi chính sách, đặc biệt trong lĩnh vực đối ngoại, an ninh, quốc phòng của EU
(iv) Chính sách Đối ngoại và An ninh chung châu Âu là đối tượng nghiên cứu của một số công trình nghiên cứu khoa học ở nước ngoài nhưng chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu liên quan đến đề tài này ở Việt Nam Quá trình hội nhập khu vực châu Âu, chủ thể EU được nhiều học giả trong nước nghiên cứu chuyên sâu chủ yếu về lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực EU đạt được nhiều thành tựu nổi bật nhất Lĩnh vực đối ngoại, an ninh (bao hàm cả các vấn đề an ninh quốc phòng) của EU chưa được các học giả trong nước chú trọng nghiên cứu
Trang 22(v) Từ năm 2009 đến nay, EU trải qua nhiều sự kiện quan trọng liên quan đến cải tổ bộ máy và các vấn đề nội bộ Sự kiện Anh tuyên bố rời EU (Brexit) là sự kiện chưa có tiền lệ và không được dự báo trong các công trình nghiên cứu được rà soát Những chuyển biến trong nội bộ EU và tương lai EU
hậu Brexit trở thành chủ đề nóng Định hướng chính sách về đối ngoại, an ninh, quốc phòng và khả năng thực thi chính sách này trong không gian EU hậu Brexit là vấn đề mới, chưa được nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập
Tóm lại, qua quá trình rà soát các công trình nghiên cứu liên quan đến
đề tài, những vấn đề nêu trên gợi mở hướng nghiên cứu mới cho luận án Nội dung luận án định hướng tập trung giải quyết một số vấn đề: (i) Hệ thống hoá
cơ sở lý thuyết và thực tiễn liên quan đến hội nhập khu vực châu Âu làm nền tảng cho công tác dự báo chính sách; (ii) Cập nhật, phân tích, đánh giá tình hình thực thi Chính sách Đối ngoại và An ninh chung châu Âu, bao gồm cả Chính sách An ninh Quốc phòng chung trong bối cảnh hậu Lisbon và hậu Brexit; (iii) Dự báo tiến trình hội nhập khu vực ở châu Âu trong ba thập niên đầu thế kỷ XXI dưới tác động của Brexit và tình hình biến động ở khu vực, sử dụng công cụ lý thuyết làm cơ sở dự báo hướng triển khai và khả năng thực thi Chính sách Đối ngoại và An ninh chung châu Âu tầm nhìn đến năm 2025; (iv) Liên hệ thực tiễn đến ASEAN và Việt Nam trong tiến trình hội nhập khu
vực ở Đông Nam Á
3 M ục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá thực trạng triển khai Chính sách Đối ngoại và An ninh chung châu Âu, luận án phân tích quá trình hội nhập khu vực về đối ngoại
và an ninh, xác định mức độ hội nhập, dự báo xu hướng hội nhập khu vực và triển vọng thực thi Chính sách Đối ngoại và An ninh chung châu Âu đến năm
2025, liên hệ thực tiễn với ASEAN và Việt Nam
Trang 233.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình hội nhập khu vực nói chung và hội nhập về đối ngoại và an ninh của EU nói riêng;
- Đánh giá thực tiễn triển khai Chính sách Đối ngoại và An ninh chung châu Âu, trong đó có Chính sách An ninh Quốc phòng chung; tập trung phân tích các nhân tố tác động đến quá trình triển khai chính sách;
- Dự báo xu hướng hội nhập khu vực và triển vọng thực thi Chính sách Đối ngoại và An ninh chung châu Âu đến năm 2025
- Rút ra một số bài học kinh nghiệm đối với ASEAN trong tiến trình
hội nhập khu vực
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình hội nhập khu vực ở châu
Âu Chính sách Đối ngoại và An ninh chung (trong đó bao hàm Chính sách
An ninh Quốc phòng chung) được chọn là trường hợp nghiên cứu điển hình
Phạm vi nghiên cứu được chia thành hai giai đoạn chính: từ 1992 –
2009 và 2009 – 6/2018, tầm nhìn đến năm 2025 Không gian nghiên cứu được xác định là Liên minh châu Âu Thuật ngữ “châu Âu” sử dụng trong
luận án được hiểu là “Liên minh châu Âu”
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích văn bản, phân tích chính sách, nghiên cứu trường hợp điển hình Ngoài ra, các phương pháp phân tích tác động, phân tích lợi ích, phân tích xung đột và hợp tác quốc tế, phương pháp quan sát, hệ thống, phân tích và tổng hợp, phương pháp dự báo và so sánh được sử dụng để bổ trợ cho ba phương pháp nghiên cứu trên
6 Ngu ồn tài liệu
- Các văn kiện chính thức của Liên minh châu Âu như các Hiệp ước, Chiến lược an ninh, Sách trắng và các phát ngôn chính thức của các lãnh đạo Liên minh châu Âu được công bố tại trang web chính thức của Liên minh;
Trang 24- Các báo cáo hoạt động chuyên biệt của các cơ quan Ủy ban châu Âu,
Hội đồng châu Âu, Ủy ban các vấn đề đối ngoại châu Âu (FAC), Cục Hành động đối ngoại châu Âu (EEAS);
- Các báo cáo, nghiên cứu chuyên đề của Viện châu Âu học (IES), Viện nghiên cứu An ninh Liên minh châu Âu (EUISS), Viện nghiên cứu châu Âu
của Mỹ, Nhật, Singapore;
- Các tài liệu, công trình nghiên cứu, chuyên khảo đã được công bố trong và ngoài nước về quá trình hội nhập khu vực châu Âu, hội nhập về đối ngoại và an ninh của EU;
- Các công trình nghiên cứu đã công bố của các học giả trong và ngoài nước về quan hệ EU với các đối tác;
- Các tài liệu, công trình nghiên cứu đã được công bố trong và ngoài nước về mô hình liên kết khu vực và ASEAN
xu hướng hội nhập trong lĩnh vực đối ngoại và an ninh ở châu Âu;
- Luận án dự báo xu hướng hội nhập khu vực và triển vọng thực thi Chính sách Đối ngoại và An ninh chung trong tương lai, liên hệ thực tiễn với ASEAN;
- Luận án là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu và giảng dạy về Liên minh châu Âu và lý luận quan hệ quốc tế về hội nhập
8 B ố cục của luận án
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần nội dung của Luận án gồm 3 chương:
Trang 25Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hội nhập khu vực trong
lĩnh vực đối ngoại và an ninh ở châu Âu Chương 1 đề cập đến các khái
niệm, lý thuyết cơ bản liên quan đến hội nhập khu vực, trình bày cơ sở thực
tiễn quá trình hội nhập về đối ngoại và an ninh ở châu Âu nhằm tạo cơ sở
phân tích, đánh giá trường hợp nghiên cứu điển hình là “Chính sách Đối ngoại
và An ninh chung châu Âu” ở chương 2
Chương 2: Nghiên cứu hội nhập khu vực qua Chính sách Đối ngoại
và An ninh chung châu Âu Chương 2 tập trung đánh giá quá trình thực thi
chính sách, phân tích các nhân tố tác động đến quá trình triển khai chính sách,
là cơ sở để dự báo triển vọng chính sách ở chương 3
Chương 3: Triển vọng hội nhập về đối ngoại và an ninh của Liên
minh châu Âu đến năm 2025 Trên cơ sở lý luận, thực tiễn và thực trạng triển
khai chính sách ở chương 1 và 2, chương 3 đưa ra một số dự báo về xu hướng
hội nhập khu vực nói chung và triển vọng hợp tác giữa các quốc gia thành viên
EU về đối ngoại và an ninh, đặc biệt trong lĩnh vực an ninh quốc phòng
Trang 26CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỘI NHẬP KHU VỰC
1.1 Cơ sở lý luận về hội nhập khu vực
1.1.1 M ột số khái niệm cơ bản về hội nhập khu vực
Hội nhập khu vực là một quá trình được hình thành từ sự hợp tác giữa nhiều chủ thể quốc gia nhằm xây dựng một khu vực hòa bình, ổn định và cùng nhau phát triển Quá trình này được thúc đẩy bởi xu thế “khu vực hóa”
Xu thế này cũng tạo nền tảng để “chủ nghĩa khu vực” hình thành, phát triển
và thúc đẩy quá trình thành lập các tổ chức liên kết khu vực như EU hay ASEAN Nắm rõ các khái niệm cơ bản liên quan đến quá trình hội nhập khu vực giúp cho việc tiếp cận về mặt lý thuyết được chính xác hơn
1.1.1.1 Khái ni ệm “khu vực”, “khu vực hóa”
“Khu vực”, theo từ điển tiếng Việt phổ thông, là “vùng, lĩnh vực có giới hạn, phạm vi rõ ràng dựa trên những tính chất, đặc điểm chung nào đó” [11, tr.456] The New Encyclopedia Britannica định nghĩa “khu vực” là nơi
“có sự đồng nhất trong tiêu chí xác định được lựa chọn và có sự phân biệt khác với những vùng hoặc khu vực kề cận theo những tiêu chí này” [169, tr.304] Trong khoa học địa lý, khái niệm “khu vực” bao hàm các yếu tố tự nhiên như địa hình, sông ngòi, khí hậu, động thực vật Khái niệm “khu vực” trong khoa học xã hội được bổ sung thêm các yếu tố xã hội – nhân văn Vì vậy, khu vực cần được hiểu một cách toàn diện là một không gian địa lý – lịch
sử – xã hội xác định
Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa, các quốc gia, lãnh thổ ở các khu vực địa lý khác nhau ngày càng gia tăng hợp tác toàn diện thì định nghĩa truyền thống về “khu vực” không còn phù hợp “Khu vực” trong
Trang 27nghiên cứu chính trị quốc tế cần được xem là một thực thể địa lý – kinh tế – chính trị – xã hội Theo Fawcett, “khu vực” trong quan hệ quốc tế cần được xác định dựa trên yếu tố tương đồng và sự tác động qua lại Theo đó, “khu
vực” bao gồm các nhóm, quốc gia hay vùng lãnh thổ có các đặc điểm nhận
diện chung Đồng thời, “khu vực” được xem là một đơn vị nhỏ hơn hệ thống
quốc tế nhưng lại lớn hơn bất kỳ một quốc gia hay vùng lãnh thổ riêng lẻ, có
thể được thể chế hoá hoặc không [89, tr.21-37] Vì vậy, “khu vực” là môi trường trực tiếp chứa đựng nhiều lợi ích quốc gia, là nơi diễn ra nhiều hiện tượng quan trọng trong quan hệ quốc tế hiện nay như khu vực hoá, hội nhập khu vực…
“Khu v ực hoá” là quá trình các quốc gia cùng theo đuổi và chia sẻ các
giá trị chung, mục tiêu chung trong một khu vực địa lý cụ thể Với khái niệm
“khu vực” như trên, “khu vực hóa” là một khái niệm mở, cần được xem xét ở cấp độ toàn cầu và cấp độ quốc gia để phân tích, đánh giá các vấn đề ở cấp độ khu vực Nói cách khác, môi trường toàn cầu và bối cảnh quốc gia là hai yếu
tố quan trọng cần được xem xét khi nghiên cứu quá trình khu vực hóa Ngoài
ra, quá trình khu vực hóa còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác như quyết sách của các tổ chức xuyên quốc gia, tác động của các chủ thể phi nhà nước liên quan đến tài chính, thương mại… Thậm chí các vấn đề liên quan đến môi trường, biến đổi khí hậu cũng có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình khu vực hóa
1.1.1.2 Định nghĩa “Chủ nghĩa khu vực” và “Hội nhập khu vực”
“Chủ nghĩa khu vực” và “hội nhập khu vực” là hai thuật ngữ được sử dụng khi đề cập đến quá trình hợp tác giữa các chủ thể nhà nước/phi nhà nước trong một không gian có nhiều đặc tính chung, cùng hướng tới những mục tiêu chung nhằm đạt được hay củng cố cho lợi ích, mục tiêu riêng của từng chủ thể Tùy theo từng trường phái lý thuyết, hai thuật ngữ này có cách hiểu
và giải thích khác nhau, nhưng nhìn chung trong quan hệ quốc tế, đây đều là
Trang 28những quá trình diễn ra trong một khu vực xác định và được hình thành từ sự tương tác giữa các chủ thể nhà nước/phi nhà nước
* Ch ủ nghĩa khu vực:
Dựa trên cách xác định “khu vực” trong quan hệ quốc tế là một đơn vị
lớn hơn bất kỳ quốc gia, vùng lãnh thổ riêng lẻ nào, là tập hợp nhóm các chủ
thể nhà nước/phi nhà nước có quan hệ hợp tác với nhau để đạt được các mục tiêu chung, “chủ nghĩa khu vực” được định nghĩa là tập hợp chính sách của các thành viên trong khu vực, bao gồm cả chủ thể nhà nước và phi nhà nước, cùng hành động theo những chiến lược mang tính hợp tác và điều phối chung
Vì thế, chủ nghĩa khu vực theo đuổi và khuyến khích sự phát triển của những
mục tiêu chung ở một hay nhiều khu vực [89, tr.23] Do “khu vực” mang tính
mở, luôn thay đổi và phát triển, “chủ nghĩa khu vực” theo đó được coi là một quá trình hợp nhất trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và không chỉ dừng lại ở mức độ tạo ra các hiệp định thương mại tự do và các thể
chế an ninh Khi nghiên cứu chủ nghĩa khu vực cần tính đến cả chủ thể nhà nước và phi nhà nước, các tổ chức và nhóm xã hội [88, tr.8]
Trong quan hệ quốc tế hiện đại, yếu tố địa lý khi xác định khu vực ít được chú trọng “Khu vực” có thể được xác định dựa trên mục đích hình thành Khu vực được hình thành theo “chức năng” và “cấu trúc” “Chức năng” và “cấu trúc” có thể tạo ra những liên kết về mặt văn hóa, xã hội thông qua thời kỳ hợp tác về kinh tế [153, tr.7] Chủ nghĩa khu vực đồng thời được xem xét trên hai phương diện: mối quan hệ trong nội bộ khu vực giữa các nước thành viên và quan hệ giữa khu vực với phần còn lại của thế giới (khu vực đặt trong hệ thống toàn cầu) [136, tr.30]
Nhìn chung, một “khu vực” được nhắc đến trên nhiều lĩnh vực, từ kinh
tế, văn hóa đến chính trị, xã hội mà không cần dựa trên yếu tố về địa lý Các
quốc gia tập hợp trong một khu vực để dàn xếp các mối quan hệ, giảm bớt xung đột, điều hòa những khác biệt, chung sống hòa bình, theo đuổi các lợi
Trang 29ích chung và cùng chống lại những kè thù chung Vì vậy, chủ nghĩa khu vực
tồn tại cảm giác về một khu vực hoặc là một tập hợp các chính sách được sử
dụng để tạo ra và đẩy mạnh cảm giác đó Các chính sách này được điều chỉnh
nhằm giảm thiểu sự khác biệt và tăng cường những điểm chung giữa các thành viên trong khu vực Chủ nghĩa khu vực cần được nghiên cứu như một
chỉnh thể các ý tưởng, bản sắc và ý thức hệ nằm trong tổng thể một cấu trúc khu vực [153, tr.7] Học giả Bruce M Russett từng đưa ra 5 đặc điểm của chủ nghĩa khu vực gồm: (i) sự gần gũi về địa lý, (ii) đồng nhất về xã hội và văn hoá, (iii) chia sẻ các giá trị, chuẩn mực chung về chính trị, (iv) có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau về mặt chính trị và (v) phụ thuộc về kinh tế [149] Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, các đặc điểm này đã không còn phù hợp Theo những đặc điểm trên thì Đông Á, Đông Nam Á hay châu Á – Thái Bình Dương khó có
thể xem là một khu vực, đồng nghĩa với đó chủ nghĩa khu vực không tồn tại ở những nơi này Một số học giả chỉ công nhận đặc điểm sự gần gũi về mặt địa lý khi định nghĩa khu vực Dựa trên luận điểm này, chủ nghĩa khu vực được xem xét trên khía cạnh tăng cường hợp tác kinh tế, chính trị, quân sự giữa các quốc gia gần gũi với nhau về mặt địa lý [126, tr.3-4] Các quốc gia ở gần nhau có xu hướng sẵn sàng cùng nhau tạo dựng mối quan hệ hợp tác ở cấp độ khu vực Làm như vậy, mối quan hệ giữa các nước sẽ được tăng cường và vị thế được nâng lên so với quan hệ của từng nước riêng lẻ với các nước bên ngoài khu vực Cần khẳng định rằng sự gần gũi về mặt địa lý là một đặc điểm quan trọng,
có tính thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển chủ nghĩa khu vực nhưng không phải là đặc điểm cơ bản duy nhất của khu vực và chủ nghĩa khu vực
Khu vực là một nhóm các quốc gia cùng chia sẻ những đặc tính chung Những đặc tính chung này là điều kiện tiên quyết để định hình khu vực thay
vì dựa trên yếu tố địa lý [126] Theo hướng tiếp cận này, các yếu tố tạo thành chủ nghĩa khu vực là: (i) quá trình khu vực hoá, (ii) các đặc điểm nhận diện khu vực, (iii) hợp tác trong nội bộ khu vực, (iv) các quốc gia thành viên thúc
Trang 30đẩy quá trình hợp nhất và (v) sự gắn kết nội khối [112, tr 39-45] Các yếu tố này cho thấy quá trình khu vực hoá trước hết được xây dựng dựa trên đặc tính chung của khu vực Đặc tính này sẽ thúc đẩy sự thống nhất trong nội khối
nhằm tăng cường tính đoàn kết giữa các quốc gia trong khu vực Sự gắn kết trong nội bộ khu vực sẽ tác động đến quan hệ giữa khu vực này với khu vực khác hay các quốc gia bên ngoài, đồng thời cũng ảnh hưởng đến khả năng xây
dựng thể chế hay các chính sách chung cho khu vực [112]
Theo các đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa khu vực như nêu trên, có thể
thấy rõ châu Âu là một khu vực hội tụ đủ các yếu tố lý tưởng để chủ nghĩa khu vực phát triển Gần gũi về địa lý, cùng chia sẻ những giá trị chung về xã hội, văn hóa, chính trị, ràng buộc chặt chẽ về kinh tế là đòn bẩy để chủ nghĩa khu vực ở châu Âu phát triển với sự ra đời và lớn mạnh của Liên minh châu
Âu (EU) Sự đồng nhất về xã hội, văn hóa, cùng trải qua những tổn thất trong nội chiến, kiệt quệ về kinh tế khiến các nước trong khu vực dễ dàng đồng thuận khi thực hiện các chính sách chung về kinh tế, tiền tệ, đặc biệt là các chính sách an ninh, quốc phòng, lĩnh vực rất khó đạt được sự thống nhất giữa các thành viên ở các khu vực khác
Ngoài ra, một số yếu tố khác như năng lực quốc gia, vấn đề chủ quyền
và khả năng nắm quyền lãnh đạo của một quốc gia cũng cần được xem xét khi phân tích chủ nghĩa khu vực Lịch sử đã chứng minh năng lực của quốc gia thành viên sẽ góp phần vào khả năng hình thành khu vực Năng lực của các
quốc gia thành viên được coi là khả năng, nguồn lực, là yếu tố cốt lõi quyết định sự sẵn sàng tham gia đóng góp, hợp tác trong nhóm/khu vực Nếu một quốc gia có đủ khả năng và sẵn sàng hợp tác, điều này cũng làm tăng cường
khả năng của cả nhóm/khu vực Tuy nhiên, trong một khu vực, không thể tránh khỏi có những thành viên không có hoặc không đủ năng lực và tự nguyện hợp tác “Năng lực” trở thành yếu tố cản trở quá trình hợp tác giữa
Trang 31các quốc gia Vấn đề này có thể thấy ở hầu hết các tổ chức khu vực hiện nay
Lấy EU làm ví dụ, Cộng đồng than thép châu Âu (ECSC), nền móng đầu tiên của EU ra đời với sáu quốc gia thành viên có năng lực quốc gia khá tương đồng là Pháp, Tây Đức, Ý, Bỉ, Hà Lan và Luxembourg Thành công của ECSC thúc đẩy việc hình thành Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) và cuối cùng được hợp nhất thành Cộng đồng châu Âu (EC) EC trải qua nhiều lần
mở rộng, đáng chú ý là trường hợp gia nhập của Hy Lạp Ngay từ khi thành lập, EEC đã rất chú trọng đến việc đánh giá năng lực kinh tế của các nước khi xin gia nhập tổ chức Hy Lạp mong muốn gia nhập EEC từ những năm 1950 nhưng do nền kinh tế còn kém phát triển so với các nước Tây Âu cùng với các
bất ổn chính trị (đảo chính quân sự năm 1967) nên quá trình đàm phán gia nhập tổ chức của nước này kéo dài đến tận năm 1981, Hy Lạp trở thành thành viên thứ 10 của EEC Xét cho đến thời điểm hiện tại, cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu năm 2008 có xuất phát điểm từ Hy Lạp rồi lan đến Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha…, đều là những nước gặp phải nhiều khó khăn trong quá trình gia nhập tổ chức khu vực do năng lực quốc gia liên quan đến điều hành kinh tế, giải quyết các vấn đề chính trị - xã hội có nhiều điểm hạn chế Ngoài những khủng hoảng xuất phát từ trụ cột kinh tế, việc mở rộng EU đến 28 thành viên (năm 2013) cũng khiến EU phải đối mặt với nhiều vấn đề trong
việc triển khai các chính sách chung về đối ngoại, an ninh, quốc phòng
Ngoài năng lực quốc gia, vấn đề chủ quyền cũng có tác động tương tự Chủ quyền quốc gia thường có ảnh hưởng kiềm chế với chủ nghĩa khu vực, nhất là đối với các quốc gia nhạy cảm với vấn đề chủ quyền Các nước lớn thường muốn lợi dụng vấn đề này khi một nhóm ở cấp độ khu vực được thiết
lập nhằm phục vụ cho lợi ích các nước lớn, hướng tới mục tiêu nắm quyền lãnh đạo ở khu vực Kịch bản này xảy ra khi các cường quốc đóng vai trò chính trong việc thiết lập các thể chế khu vực và đưa ra chương trình nghị sự,
Trang 32các mục tiêu chung của khu vực thông qua các thể chế này [89, tr.34] Tuy nhiên, chủ nghĩa khu vực cũng có tác động tích cực, thúc đẩy quá trình hợp tác giữa các quốc gia về kinh tế, an ninh, chính trị Hơn thế nữa, hợp tác khu vực cũng tăng cường công cuộc kiến thiết quốc gia và quá trình dân chủ hoá Thông qua việc xây dựng các chuẩn mực và giá trị chung, chủ nghĩa khu vực
có thể giúp kiềm chế và hợp thức hoá cách hành xử của các nước lớn và các
thể chế toàn cầu [89, tr.21]
* H ội nhập khu vực:
Theo các hướng tiếp cận trên, “chủ nghĩa khu vực” được sử dụng để nói đến các hình thức, lĩnh vực hợp tác trong khu vực nói chung Một khi chủ nghĩa khu vực phát triển, nó sẽ thúc đẩy quá trình hội nhập khu vực diễn ra
“Hội nhập khu vực” thường bắt đầu từ hợp tác trong lĩnh vực kinh tế Hợp tác trên các lĩnh vực khác diễn ra một cách tự nhiên trong sự vận động của quá trình hội nhập khu vực Các lý thuyết về hội nhập khu vực ra đời chủ yếu xuất phát từ nhu cầu giải thích hiện tượng nhất thể hóa ở châu Âu Vì vậy, khi xem xét, phân tích, đánh giá hay đưa ra các dự báo về quá trình hội nhập châu Âu,
sử dụng các lý thuyết về hội nhập khu vực là thích hợp và có độ chính xác cao
Hội nhập khu vực có đối tượng nghiên cứu là các tổ chức, thể chế chính
thức trong quan hệ quốc tế Các chủ thể này hoạt động theo các nguyên tắc, quy định cụ thể, dựa trên một quy trình hoạch định chính sách xác định, hướng tới nhiều mục tiêu khác nhau, không chỉ dừng lại ở phát triển kinh tế (như Cộng đồng Than thép châu Âu (ECSC), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)…) mà còn nhằm đảm bảo an ninh, chính trị trong khu vực (ví dụ như Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE), Liên minh Tây Âu (WEU), …) Các thể chế chính thức này được hình thành dựa trên cơ sở hợp tác cùng có lợi nhưng yêu cầu đảm bảo toàn vẹn chủ quyền quốc gia Cho đến thời điểm hiện nay, Liên minh châu Âu là tổ chức khu vực duy nhất có các thể
Trang 33chế siêu nhà nước được các quốc gia thành viên ủy quyền một phần chủ quyền quốc gia để hoạt động vì các mục tiêu chung trong một số lĩnh vực nhất định Chính sách đối ngoại và an ninh chung (CFSP), Chính sách An ninh Quốc phòng chung (CSDP) là những sản phẩm của quá trình hội nhập khu vực ở châu Âu được hình thành nhằm đảm bảo nền an ninh chung của các
quốc gia thành viên
Các quốc gia có chủ quyền trong nỗ lực hội nhập khu vực thường phải
cố gắng vượt qua hai vấn đề cơ bản nảy sinh giữa các quốc gia cùng tham gia vào quá trình này, đó là sự phân chia lợi ích không đồng đều và tính cam kết thiếu bền vững Theo hệ thống pháp luật quốc tế truyền thống, các quốc gia đều có chủ quyền và không nhất thiết phải công nhận các thể chế siêu nhà nước Trong một hệ thống thế giới vô chính phủ, các quốc gia có thể hợp tác với nhau thông qua các hiệp định song phương hay đa phương nhưng một khi bối cảnh thay đổi, các điều kiện khách quan, chủ quan thay đổi, nếu nhận thấy không còn phù hợp, ảnh hưởng đến chủ quyền, lợi ích dân tộc thì các quốc gia hoàn toàn có thể từ bỏ các cam kết hợp tác này Chính vì thế, các cam kết hợp tác giữa các chủ thể nhà nước thường không ổn định nếu dựa trên nhận thức truyền thống về chủ quyền quốc gia Vấn đề còn nảy sinh trong quá trình thực thi các cam kết Việc đạt được các thỏa thuận hợp tác thường gặp khó khăn do
lợi ích giữa các quốc gia là khác nhau, sự phân chia lợi ích trong quá trình triển khai các cam kết cũng không thể công bằng
Để giải quyết tình trạng này, sự ra đời các thể chế thuộc Cộng đồng châu Âu (EC), tiếp đó là Liên minh châu Âu (EU) được coi là một giải pháp
Ủy ban châu Âu, Hội đồng châu Âu và Tòa án châu Âu (ECJ) thành lập là
những thể chế siêu nhà nước đầu tiên ở châu Âu Hoạt động thông qua hình thức bỏ phiếu đa số là một dạng thực thi một phần chủ quyền của các nước thành viên Nói cách khác, các quốc gia thành viên chấp nhận hy sinh một
Trang 34phần chủ quyền của mình, ủy quyền cho các thể chế siêu nhà nước được thành lập để triển khai các hoạt động chung mang tầm khu vực nhằm đạt được các lợi ích chung đề ra trong quá trình hội nhập Ủy ban châu Âu là một thể chế độc lập, đại diện cho quyền lợi chung của Liên minh Các lợi ích quốc gia được thể hiện, cân nhắc trong Hội đồng Tuy nhiên, với nguyên tắc bỏ phiếu
đa số quá bán1 của Hội đồng, không một quốc gia thành viên nào có thể
chống lại quyết định của Hội đồng Dù vậy, để đảm bảo tính liên kết bền vững trong nội bộ, các quyết sách luôn dựa trên mẫu số chung thấp nhất giữa các quốc gia thành viên Ngược lại, vai trò của Ủy ban châu Âu là làm thế nào để nâng cao lợi ích chung giữa các bên Điều này có ý nghĩa quan trọng, mang tính thúc đẩy quá trình hội nhập trong nội khối Liên minh Sự ra đời của các thể chế khu vực như vậy đã khiến EU trở thành một sản phẩm của quá trình hội nhập khu vực khác biệt so với các tổ chức khu vực tương tự Chưa có một thể chế độc lập nào đại diện cho lợi ích chung của tổ chức như Ủy ban châu Âu, đồng nghĩa với
việc chưa có tổ chức khu vực nào mà các quốc gia thành viên chấp nhận tuân thủ các quyết định theo đa số như ở Liên minh châu Âu Nói cách khác, EU đã thiết lập được một nền quản trị siêu nhà nước [97]
Chủ quyền quốc gia không phải là vấn đề duy nhất nảy sinh khi thực
hiện các hành động tập thể trong quá trình hội nhập khu vực Tương tự như cách tiếp cận của chủ nghĩa khu vực, năng lực quốc gia và khả năng lãnh đạo của một số quốc gia cũng là yếu tố tạo thuận lợi hoặc gây cản trở cho tiến trình hội nhập Trong trường hợp EU là một số quốc gia thành viên đóng vai trò đầu tàu như Pháp, Đức, Anh, Ý Đóng góp của các nước này về nguồn lực tài chính, con người cũng như tính tiên phong trong việc giải quyết các vấn đề đối nội, đối ngoại của Liên minh là một động lực không nhỏ trên con đường phát triển của tổ chức này Tuy nhiên, việc sử dụng sự nổi trội về sức mạnh
1 Tiếng Anh: qualified majority voting (QMV)
Trang 35kinh tế, chính trị của mình để tác động đến quá trình triển khai các hành động chung đương nhiên sẽ tạo nên thế bất bình đẳng giữa các quốc gia thành viên Tuy nhiên, khi tham gia vào quá trình hội nhập, các quốc gia đánh giá tính hiệu quả của việc tham gia vào quá trình hội nhập có đạt được tính toán lợi ích của mình hay không chứ không phải dựa trên sự “bình đẳng” giữa các nước thành viên trong một tổ chức khu vực
Dựa trên hướng tiếp cận về hội nhập khu vực như trên, có thể khái quát một số yếu tố cơ bản hình thành và thúc đẩy quá trình hội nhập khu vực như sau: (i) chủ nghĩa khu vực phát triển; (ii) có các thể chế khu vực chính thức; (iii) tính cam kết của các quốc gia thành viên; (iv) nhận thức của các nước về
hiệu quả của quá trình hội nhập với tính toán lợi ích quốc gia
Nhìn chung, khi nghiên cứu quá trình hội nhập của một thể chế khu vực đặc biệt như Liên minh châu Âu, tổ chức đã đạt đến cấp độ hội nhập sâu thì quá trình hội nhập này được coi là tiến trình nhất thể hóa ở châu Âu Từ một đồng tiền chung, thị trường chung, một không gian tự do đi lại cho công dân các quốc gia thành viên đến một chính sách đối ngoại, an ninh chung, EU đang từng bước nỗ lực để trở thành một chủ thể hoàn chỉnh trong quan hệ quốc tế, là một tổ chức siêu quốc gia đầu tiên có các công cụ thể chế đủ mạnh
để điều tiết các quan hệ nội khối và khẳng định vai trò trong nền chính trị quốc tế hiện đại Kết hợp các cách tiếp cận của chủ nghĩa khu vực và lý thuyết về hội nhập khu vực sẽ giúp giải thích một cách thấu đáo quá trình phát triển của tổ chức, đánh giá tính khả thi của các hành động chung và vai trò, triển vọng của tổ chức đặt trong tổng thể sự phát triển của toàn khu vực
1.1.2 Ti ếp cận hội nhập khu vực qua một số lý thuyết
Quá trình hội nhập khu vực ở châu Âu là một hiện tượng độc đáo trong quan hệ quốc tế Cùng với xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa, quá trình hội
nhập diễn ra sôi động khắp các châu lục, nhiều sản phẩm của quá trình này đã
ra đời, góp phần thúc đẩy sự phát triển của khu vực như Hiệp hội các quốc gia
Trang 36Đông Nam Á (ASEAN), Liên minh châu Phi, Tổ chức hợp tác Vùng Vịnh… Liên minh châu Âu là một trong số đó Quá trình hội nhập ở các khu vực khác thường diễn ra theo lối truyền thống, tức là hợp tác ở cấp độ khu vực giữa các
quốc gia có chủ quyền Ở châu Âu, Liên minh châu Âu đã vượt lên trên cấp độ
hợp tác này, tạo ra những thể chế liên chính phủ đủ mạnh để điều tiết các hoạt động của một tổ chức 28 nước thành viên với gần 512 triệu dân (tính đến năm 2017) [87] Các quốc gia thành viên đã trao một phần chủ quyền cho các thể
chế chung, xây dựng EU trở thành một hệ thống chính trị có quyền đưa ra các quyết định thay mặt cho toàn bộ các nước thành viên Liên minh châu Âu trở thành một trong những mô hình tiêu biểu của chủ nghĩa khu vực và quá trình
hội nhập khu vực Các lý thuyết hội nhập hầu hết được phát triển để giải thích đặc biệt cho trường hợp EU Một số lý thuyết phổ biến được sử dụng trong quá trình nghiên cứu sự vận động và phát triển của Liên minh nói riêng và khu vực châu Âu nói chung là thuyết chức năng, thuyết thể chế, thuyết kiến tạo và thuyết liên chính phủ
1.1.2.1 Thuyết chức năng
Trong quan hệ quốc tế, thuyết chức năng tiên phong trong việc đưa ra các lý thuyết về toàn cầu hóa, khu vực hóa Không xem lợi ích tự thân của các quốc gia là động lực phát triển như chủ nghĩa hiện thực, các nhà theo thuyết chức năng tập trung vào các lợi ích chung mà các quốc gia cùng chia sẻ trong tiến trình hội nhập toàn cầu Thuyết chức năng xác định các mối quan hệ xã hội có chức năng: (i) điều chỉnh các hành vi quan hệ của các thành viên trong
hệ thống; (ii) thu hút các nguồn lực bên trong hoặc bên ngoài; (iii) phân phối nguồn lực cho các thành viên trong hệ thống; (iv) đáp ứng nhu cầu của các thành viên trong hệ thống Thuyết chức năng chủ trương các nước khi tham gia vào hệ thống cần tuân thủ các quy tắc chung nhằm hạn chế xung đột
Thuyết chức năng mới được các học giả Mỹ phát triển từ giữa những năm 1950 nhằm lý giải cho các hình thức hợp tác mới trong khu vực xuất hiện
Trang 37từ sau Thế chiến thứ hai Với mục tiêu giải thích các quá trình hội nhập khu
vực trong quan hệ quốc tế nói chung nhưng thuyết chức năng mới lại có hướng tiếp cận và phát triển trên nền tảng quan sát quá trình hội nhập kinh tế
và chính trị ở châu Âu, do vậy thuyết này phù hợp nhất để nghiên cứu các vấn
đề hội nhập của châu Âu hơn là các khu vực khác trên thế giới
Thuyết chức năng mới chú trọng đến tiến trình hơn là kết quả của hiện tượng hội nhập, tập trung nghiên cứu tác động của quá trình hợp tác và hội nhập đến các vấn đề khác Theo thuyết này, các hoạt động hội nhập kinh tế dẫn đến nhu cầu thành lập một cơ chế/tổ chức để kiểm soát, thúc đẩy và xúc
tiến các hoạt động hợp tác Thông thường, các cơ chế được thiết lập thường
hợp tác chặt chẽ hơn ở cấp độ chính trị Từ đây, chủ nghĩa khu vực được hình thành, tiến trình hội nhập bắt đầu từ những lĩnh vực đơn giản, dễ hợp tác và các bên có lợi ích chung lớn nhất Thành quả đạt được từ những hợp tác sơ khai ban đầu là tiền đề để các bên tham gia quá trình hội nhập tiến tới hợp tác trong các lĩnh vực khác (có tính chất phức tạp hơn) Hiện tượng hợp tác từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác được các học giả theo trường phái chức năng gọi là hiện tượng “lan tỏa”2 Hiện tượng này được dùng để mô tả cơ chế phát triển của tiến trình hội nhập khu vực [145, tr.59] “Sự lan tỏa” chính là hiệu ứng domino của quá trình hội nhập [44, tr.81] Đây cũng là một trong những
luận điểm cơ bản và quan trọng nhất của thuyết chức năng mới
Học giả Ernst B.Haas đưa ra khái niệm “lan tỏa chức năng”3 Theo Haas, sự hợp tác có hiệu quả trong một lĩnh vực sẽ tạo áp lực để các nước tham gia quá trình hội nhập tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực liên quan khác Ví dụ điển hình cho hiện tượng này là lịch sử phát triển của EU Liên minh bắt đầu hình thành với khởi nguồn là Cộng đồng Than thép châu Âu (ECSC) ra đời xuất phát từ nhu cầu hồi phục kinh tế của các nước châu Âu
2 Tiếng Anh: spill-over
3 Tiếng Anh: functional spill-over
Trang 38sau Thế chiến thứ hai Dựa trên thành công trong hội nhập kinh tế, một loạt các sản phẩm của tiến trình hội nhập về kinh tế, xã hội được thiết lập như sự
ra đời của Cộng đồng Năng lượng nguyên tử (Euratom) năm 1957, thiết lập Thị trường chung4 (1993), khu vực tự do đi lại Schengen (1995), khu vực đồng tiền chung Eurozone (1999)… Dưới góc độ của thuyết chức năng, ý tưởng xây dựng thể chế/bộ máy hợp tác ở cấp độ khu vực hay quốc tế đều
nhằm đáp ứng nhu cầu về chức năng (quản lý) [126, tr.6]
Bên cạnh sự lan tỏa về chức năng còn có sự “lan tỏa về chính trị”5 Sự lan tỏa trong chính trị diễn ra khi tầng lớp lãnh đạo các quốc gia hướng tới
việc dùng sức mạnh của các thể chế siêu nhà nước để giải quyết các vấn đề phát triển ở trong nước Từ đó, chính sách của các nước được xây dựng, điều chỉnh theo hướng liên kết chặt chẽ với nhau Các quốc gia thương lượng với nhau, nhất trí các điều khoản và cách thức hợp tác, hỗ trợ nhau phát triển, đôi bên cùng có lợi Việc khai sinh một lá cờ chung, một đồng tiền chung mang tính biểu tượng, thể hiện ý chí chính trị sâu sắc của các nhà lãnh đạo Liên minh trong việc thúc đẩy quá trình hội nhập ở khu vực
Theo thuyết chức năng, quá trình lan tỏa chính trị diễn ra tự nhiên, là hệ quả từ việc các quốc gia trao quyền cho các thể chế siêu nhà nước với mục tiêu chung là xây dựng một nền kinh tế vững mạnh, đạt được nhiều thành quả trong phát triển xã hội, nâng cao đời sống cho người dân Hội nhập là công cụ
để thực hiện các mục tiêu này [123, tr.117] Theo chủ nghĩa chức năng mới,
sự hội nhập, liên kết trong từng lĩnh vực sẽ tự thân vận động dẫn tới sự hình thành một thực thể chính trị mới, trong trường hợp của EU là các thể chế đặt
tại đầu não của Liên minh tại Brussels
Trang 39Lan tỏa về mặt chính trị có thể diễn ra từ cấp độ cao như các chủ thể siêu nhà nước (ví dụ: Ủy ban châu Âu, Hội đồng châu Âu…) cho đến cấp độ thấp hơn như các nhóm lợi ích của các quốc gia thành viên Hiệu ứng này tạo
ra những áp lực nhất định cho quá trình hội nhập Các nhóm lợi ích có thể tạo
ra sự hợp tác giữa các nhóm cùng chung mục tiêu của các quốc gia thành viên khác và với các tổ chức quốc tế hoạt động trong cùng lĩnh vực Sự hợp tác
hiệu quả giữa các chủ thể sẽ tạo động lực để giới tinh hoa của nhóm này thấy
sự cần thiết phải thúc đẩy, tăng cường quá trình hợp tác thông qua việc vận động chính sách đối với giới hoạch định chính sách Các học giả theo thuyết
chức năng mới cho rằng sự hình thành ngày càng nhiều các nhóm lợi ích xuyên quốc gia là hệ quả tất yếu khi các thể chế siêu nhà nước ra đời
Thuyết chức năng mới đã giải thích một cách thuyết phục quá trình phát triển của Cộng đồng Than thép châu Âu và Cộng đồng châu Âu đến những năm 1960, nhưng các lập luận của thuyết này không giải thích được
hiện tượng bất hợp tác giữa một số nước, gián đoạn quá trình hội nhập ở châu
Âu trong khoảng thời gian nửa sau thập niên 1960 Sự kiện “khủng hoảng chiếc ghế trống”6 năm 1965 khiến dự báo của các học giả theo thuyết chức năng về sự tăng cường mạnh mẽ trong hội nhập chính trị ở khu vực không còn chính xác Chủ nghĩa chức năng dường như không dự đoán được hướng phát triển và cuộc cách mạng trong điều chỉnh bộ máy và cách thức hoạt động của Cộng đồng châu Âu [130, tr.476] Lindberg là một trong những học giả đầu tiên tuyên bố rằng quá trình hội nhập có thể là “nguyên nhân gây ra căng thẳng giữa các quốc gia” [145, tr.64] do đã xâm phạm đến quyền hạn của chính phủ các nước Thuyết chức năng mới đã đánh giá thấp tầm quan trọng của chủ nghĩa dân tộc khi các nước tham gia vào quá trình hội nhập khu vực
6 “Khủng hoảng chiếc ghế trống” năm 1965 khi Pháp phản đối phương pháp bỏ phiếu đa số của Hội đồng châu Âu, đề nghị quyền phủ quyết (veto) phải được duy trì trong EC, nếu không Pháp sẽ rút khỏi Hội đồng Tình trạng này được giải quyết khi các nước ký kết hiệp ước Luxembourg (Luxembourg Compromise) vào tháng 1/1966.
Trang 40Thực tế tình trạng châu Âu những năm cuối thập niên 1960 đã chứng minh sự
thắng thế của chủ nghĩa quốc gia dân tộc, kìm hãm tốc độ phát triển của chủ nghĩa khu vực và quá trình hội nhập ở châu lục này Cố gắng giải thích cho giai đoạn trì trệ ở châu Âu, các học giả theo trường phái chức năng mới đưa ra khái niệm “lan tỏa ngược”7, nhằm chỉ hiện tượng các nước điều chỉnh lại cấp
độ và phạm vi trao quyền cho các thể chế khu vực, có thể quay trở lại tình
trạng khởi điểm của quá trình hội nhập [145, tr.65] Quá trình hội nhập trong lĩnh vực sản xuất than ở châu Âu là một ví dụ Sau năm 1958, ngành sản xuất than tạo ra lượng lớn giá trị thặng dư và bắt đầu xâm phạm một số nguyên tắc
đã được các nước thống nhất từ trước, ECSC dần ít quan tâm hơn đến lợi ích
của các quốc gia thành viên trong ngành công nghiệp than Khi các nguyên tắc chung không còn được tuân thủ thì các nước có xu hướng giải quyết các vấn đề phát sinh một cách đơn phương
Vì vậy, khi sử dụng thuyết chức năng để nghiên cứu quá trình hội nhập khu vực cần lưu ý: (i) vai trò định hướng của giới lãnh đạo không mang tính quyết định trong quá trình hội nhập mà chỉ có ảnh hưởng thúc đẩy hoặc kiềm chế quá trình này; (ii) tiến trình hội nhập ở châu Âu cần được đặt trong tổng thể sự vận động của thế giới chứ không chỉ giới hạn trong khu vực châu Âu; (iii) yếu tố “nhà nước” và “sự hợp tác ở cấp độ khu vực” cần được nghiên
cứu, phân tích như những thể chế liên chính phủ
1.1.2.2 Thuyết thể chế
Theo quan điểm của các học giả theo thuyết thể chế, lợi ích và quyền lực quốc gia có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Các thể chế ra đời nhằm điều hoà quyền lực và dung hòa lợi ích của các chủ thể Vì vậy, các thể chế còn có
chức năng giải quyết tranh chấp giữa các thành viên Tuy nhiên, một khu vực không nhất thiết phải có các thể chế như vậy trước khi nó đạt đến trình độ hội
7 Tiếng Anh: spill-back