1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LATS Y HỌC -Kiến thức, thái độ, thực hành của bà mẹ về tiêm ngừa viêm gan siêu vi B và tỷ lệ trẻ có kháng thể sau tiêm ngừa (FULL TEXT)

192 173 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 192
Dung lượng 5,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm vi rút viêm gan siêu vi B (HBV) là một vấn đề sức khỏe trên toàn thế giới. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, có khoảng 2 tỷ người trên thế giới (khoảng 30% dân số) đã bị nhiễm HBV, với hơn 350 triệu người đang mang mầm bệnh mạn tính và hàng triệu người khác có nguy cơ lây nhiễm nhất là những người bị nhiễm HBV mà không biết tình trạng bệnh mạn tính của họ. Năm 2002 có khoảng 600 ngàn người tử vong, đến năm 2015 có 887.000 người tử vong do viêm gan mạn bao gồm xơ gan và ung thư gan có liên quan đến HBV [49], [141], [148]. Đối với trẻ em, khả năng nhiễm HBV trở thành mạn tính còn tùy thuộc vào tuổi bị nhiễm, nếu trẻ nhiễm lúc sinh khả năng tiến triển thành mạn tính là 90%, nhiễm từ 1 đến 5 tuổi khả năng là 30% và sau 5 tuổi chỉ còn 5 đến 10% [147]. Việt Nam được xếp vào vùng lưu hành cao của HBV với khoảng 8-20% dân số đang mang mầm bệnh. Số tử vong hàng năm do các biến chứng là 20 – 30 ngàn người và ước tính có tới 8,4 triệu người bị nhiễm viêm gan B mạn tính [106]. Vắc-xin phòng ngừa viêm gan siêu vi B (VGSVB) đã có từ năm 1982 với hiệu lực vắc-xin là 95% ngăn ngừa nhiễm trùng và ngăn ngừa phát triển mạn tính. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo tất cả các quốc gia cần thực hiện chương trình tiêm ngừa vắc-xin VGSVB để làm giảm tỷ lệ nhiễm HBV [49], [141]. Nhiều bằng chứng cho thấy tiêm ngừa vắc-xin VGSVB làm giảm tỷ suất mới nhiễm mạn tính ở trẻ dưới 5 tuổi ở những nước có thực hiện chương trình tiêm ngừa thường qui như Hoa Kỳ, Đài Loan, Indonesia, Samoa và một số quốc gia thuộc khu vực Thái Bình Dương. Điển hình tại Đài Loan tỷ lệ nhiễm HBV mạn tính ở trẻ em đã giảm hơn 90%, hiệu quả của chương trình TCMR đang làm cho tỷ lệ nhiễm HBV ở Đài Loan trở thành vùng lưu hành thấp, so sánh trên toàn cầu cho thấy tỷ suất hiện nhiễm HBV ở trẻ dưới 5 tuổi khu vực chủng ngừa là 1,3% so với 4,7% trước khi tiêm ngừa vắc-xin [55], [121], [141]. Tại Việt Nam, vắc-xin VGSVB được đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng (TCMR) từ năm 1997 dạng đơn liều, từ năm 2010, vắc- xin được sử dụng dạng phối hợp 5/1: DPT-VGSVB-Hib (Quinvaxem) và được triển khai trên toàn quốc với lịch tiêm 0, 2, 3 và 4 tháng. Trước khi thực hiện chương trình tiêm ngừa thường quy, tỷ lệ mang HBsAg ở trẻ em cao từ 9,3% – 14,1%, điều này cho thấy lây truyền chu sinh và giai đoạn sớm là phương thức lây truyền chính ở trẻ em Việt Nam [101], [107]. Nghiên cứu đánh giá hiệu quả chương trình tiêm chủng trong năm 2014, cho thấy tỷ lệ trẻ nhiễm HBV chỉ còn 2,7%; như vậy tiêm chủng đã làm giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm HBV ở trẻ em và tầm quan trọng của liều sơ sinh [106]. Tuy nhiên, nghiên cứu của Trần Ngọc Hữu (2011) tại Long An ở trẻ sử dụng Quinvaxem với kết quả tỷ lệ trẻ có đủ kháng thể lúc một năm sau mũi 3 thì thấp 76,7% [134]. Ngoài ra, vào thời điểm năm 2013 - 2014, một loạt sự cố ghi nhận trẻ sơ sinh tử vong sau tiêm vắc-xin VGSVB, mặc dù đã có kết luận của Hội đồng chuyên môn không có liên quan giữa vắc-xin và tử vong nhưng tỷ lệ tiêm vắc-xin VGSVB tại Việt Nam liên tục sụt giảm, chỉ có khoảng hơn 50% số trẻ sơ sinh được tiêm vắc-xin này. Đa số các bà mẹ đồng ý cho con tiêm là vì tin bác sĩ chứ chưa thực sự hiểu vì sao phải tiêm ngay cho trẻ trong 24 giờ đầu sau sinh. Như vậy nội dung giáo dục truyền thông cho bà mẹ và gia đình cần được nghiên cứu đánh giá theo lối tiếp cận mới, thay đổi theo kết hợp dựa trên chứng cứ và mô hình Niềm tin sức khoẻ để xác định và giải thích rõ hơn các thành tố tâm lý tiên đoán hành vi đưa con đi tiêm ngừa thay cho mô hình nhân quả trước đây, nhiều nghiên cứu theo mô hình nhân quả cho thấy có kiến thức đúng, thái độ đúng sẽ có hành vi đúng, trong thực tế dù có kiến thức và thái độ đúng về VGSVB nhưng tỷ lệ bao phủ vắc-xin VGSVB sơ sinh vẫn thấp sau các sự cố tiêm ngừa trên truyền thông. Các nghiên cứu dựa trên mô hình Niềm tin sức khoẻ đã chỉ ra rằng, nhận thức cao về rào cản, cảm nhận thấp về nguy cơ mắc bệnh sẽ làm chậm hay ngăn cản hành vi khám tầm soát ung thư hay hành vi đi tiêm ngừa, trong khi sự nhận thức cao về hiệu quả, lợi ích của hành động, nhận thức về mức độ nguy hiểm và tín hiệu hành động sẽ hỗ trợ hành vi đi tầm soát ung thư, tiêm ngừa phòng bệnh...Các thành tố này được mô hình hoá đầy đủ trong mô hình lý thuyết Niềm tin sức khoẻ trong tâm lý học, nó nhấn mạnh lên thái độ và niềm tin một cá nhân sẽ chịu trách nhiệm cho một hành vi sức khoẻ đặc biệt, ngoài ra nhận thức về lợi ích và rào cản đối với biện pháp can thiệp sức khoẻ có vai trò quan trọng trong việc thực hiện thành công biện pháp đó. Việc xác định đủ và đúng các thành tố tâm lý này trong kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) sẽ giúp giải thích đầy đủ cũng như cải thiện nội dung các chương trình can thiệp giúp hỗ trợ cho thay đổi hành vi mong muốn, trong đó có việc đưa con đi tiêm chủng trong điều kiện tài nguyên hạn chế như ở Việt nam. Trong tình hình hiện nay, có nhiều nghiên cứu KAP về VGSVB trên các đối tượng khác nhau như sinh viên, nhân viên y tế, nhưng hầu như chưa công bố nghiên cứu trên đối tượng bà mẹ đưa con đến chủng ngừa miễn phí tại các trạm y tế, đặc biệt là đánh giá KAP sau biến cố được ghi nhận sau chủng ngừa VGSVB cho trẻ tại TPHCM cũng như xây dựng lối tiếp cận mới cho nghiên cứu KAP dựa trên mô hình Niềm tin sức khoẻ với bộ công cụ sát hợp dân số nghiên cứu. Do đó, chúng tôi cần xác định tỷ lệ bà mẹ có kiến thức, thái độ, thực hành đúng về tiêm ngừa VGSVB và tỷ lệ trẻ có đủ kháng thể bảo vệ sau tiêm ngừa theo lối tiếp cận mới dựa trên mô hình Niềm tin sức khoẻ sát hợp với tâm lý và hành vi của cộng đồng bà mẹ có con chủng ngừa trong chương trình TCMR tại TP HCM. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Tỷ lệ bà mẹ có KAP đúng về tiêm ngừa viêm gan siêu vi B là bao nhiêu? Các yếu tố nào liên quan đến KAP đúng? Tỷ lệ trẻ có đủ kháng thể bảo vệ (anti-HBs ≥ 10mUI/ml) sau tiêm ngừa vắc- xin viêm gan siêu vi B là bao nhiêu? Các yếu tố nào liên quan đến đáp ứng miễn dịch của trẻ? MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Xây dựng và đánh giá bộ công cụ đo lường kiến thức, thái độ và thực hành về viêm gan siêu vi B của các bà mẹ có con 12 tháng đến 24 tháng tại các trạm y tế Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. 2. Xác định tỷ lệ bà mẹ có con 12 tháng đến 24 tháng tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh có kiến thức đúng, thái độ đúng và thực hành đúng về tiêm ngừa viêm gan siêu vi B.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

HUỲNH GIAO

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH CỦA BÀ MẸ

VỀ TIÊM NGỪA VIÊM GAN SIÊU VI B

VÀ TỶ LỆ TRẺ CÓ KHÁNG THỂ SAU TIÊM NGỪA

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2018

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiễm vi rút viêm gan siêu vi B (HBV) là một vấn đề sức khỏe trên toàn thếgiới Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, có khoảng 2 tỷ người trên thế giới(khoảng 30% dân số) đã bị nhiễm HBV, với hơn 350 triệu người đang mang mầmbệnh mạn tính và hàng triệu người khác có nguy cơ lây nhiễm nhất là những người

bị nhiễm HBV mà không biết tình trạng bệnh mạn tính của họ Năm 2002 cókhoảng 600 ngàn người tử vong, đến năm 2015 có 887.000 người tử vong do viêmgan mạn bao gồm xơ gan và ung thư gan có liên quan đến HBV [49], [141], [148].Đối với trẻ em, khả năng nhiễm HBV trở thành mạn tính còn tùy thuộc vào tuổi bịnhiễm, nếu trẻ nhiễm lúc sinh khả năng tiến triển thành mạn tính là 90%, nhiễm từ 1đến 5 tuổi khả năng là 30% và sau 5 tuổi chỉ còn 5 đến 10% [147] Việt Nam đượcxếp vào vùng lưu hành cao của HBV với khoảng 8-20% dân số đang mang mầmbệnh Số tử vong hàng năm do các biến chứng là 20 – 30 ngàn người và ước tính cótới 8,4 triệu người bị nhiễm viêm gan B mạn tính [106]

Vắc-xin phòng ngừa viêm gan siêu vi B (VGSVB) đã có từ năm 1982 với

hiệu lực vắc-xin là 95% ngăn ngừa nhiễm trùng và ngăn ngừa phát triển mạn tính.

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo tất cả các quốc gia cần thực hiện chương

trình tiêm ngừa vắc-xin VGSVB để làm giảm tỷ lệ nhiễm HBV [49], [141] Nhiều bằng chứng cho thấy tiêm ngừa vắc-xin VGSVB làm giảm tỷ suất mới nhiễm mạn

tính ở trẻ dưới 5 tuổi ở những nước có thực hiện chương trình tiêm ngừa thường quinhư Hoa Kỳ, Đài Loan, Indonesia, Samoa và một số quốc gia thuộc khu vực TháiBình Dương Điển hình tại Đài Loan tỷ lệ nhiễm HBV mạn tính ở trẻ em đã giảmhơn 90%, hiệu quả của chương trình TCMR đang làm cho tỷ lệ nhiễm HBV ở ĐàiLoan trở thành vùng lưu hành thấp, so sánh trên toàn cầu cho thấy tỷ suất hiệnnhiễm HBV ở trẻ dưới 5 tuổi khu vực chủng ngừa là 1,3% so với 4,7% trước khi

tiêm ngừa vắc-xin [55], [121], [141].

Tại Việt Nam, vắc-xin VGSVB được đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng (TCMR) từ năm 1997 dạng đơn liều, từ năm 2010, vắc- xin được sử dụng dạng phối hợp

5/1: DPT-VGSVB-Hib (Quinvaxem) và được triển khai trên toàn quốc với lịch

2

Trang 3

tiêm 0, 2, 3 và 4 tháng Trước khi thực hiện chương trình tiêm ngừa thường quy, tỷ

lệ mang HBsAg ở trẻ em cao từ 9,3% – 14,1%, điều này cho thấy lây truyền chusinh và giai đoạn sớm là phương thức lây truyền chính ở trẻ em Việt Nam [101],[107] Nghiên cứu đánh giá hiệu quả chương trình tiêm chủng trong năm 2014, chothấy tỷ lệ trẻ nhiễm HBV chỉ còn 2,7%; như vậy tiêm chủng đã làm giảm đáng kể

tỷ lệ nhiễm HBV ở trẻ em và tầm quan trọng của liều sơ sinh [106] Tuy nhiên,nghiên cứu của Trần Ngọc Hữu (2011) tại Long An ở trẻ sử dụng Quinvaxem vớikết quả tỷ lệ trẻ có đủ kháng thể lúc một năm sau mũi 3 thì thấp 76,7% [134] Ngoài

ra, vào thời điểm năm 2013 - 2014, một loạt sự cố ghi nhận trẻ sơ sinh tử vong sau

tiêm vắc-xin VGSVB, mặc dù đã có kết luận của Hội đồng chuyên môn không có liên quan giữa vắc-xin và tử vong nhưng tỷ lệ tiêm vắc-xin VGSVB tại Việt Nam liên tục sụt giảm, chỉ có khoảng hơn 50% số trẻ sơ sinh được tiêm vắc-xin này Đa

số các bà mẹ đồng ý cho con tiêm là vì tin bác sĩ chứ chưa thực sự hiểu vì sao phảitiêm ngay cho trẻ trong 24 giờ đầu sau sinh Như vậy nội dung giáo dục truyềnthông cho bà mẹ và gia đình cần được nghiên cứu đánh giá theo lối tiếp cận mới,thay đổi theo kết hợp dựa trên chứng cứ và mô hình Niềm tin sức khoẻ để xác định

và giải thích rõ hơn các thành tố tâm lý tiên đoán hành vi đưa con đi tiêm ngừa thaycho mô hình nhân quả trước đây, nhiều nghiên cứu theo mô hình nhân quả cho thấy

có kiến thức đúng, thái độ đúng sẽ có hành vi đúng, trong thực tế dù có kiến thức và

thái độ đúng về VGSVB nhưng tỷ lệ bao phủ vắc-xin VGSVB sơ sinh vẫn thấp sau

các sự cố tiêm ngừa trên truyền thông Các nghiên cứu dựa trên mô hình Niềm tinsức khoẻ đã chỉ ra rằng, nhận thức cao về rào cản, cảm nhận thấp về nguy cơ mắcbệnh sẽ làm chậm hay ngăn cản hành vi khám tầm soát ung thư hay hành vi đi tiêmngừa, trong khi sự nhận thức cao về hiệu quả, lợi ích của hành động, nhận thức vềmức độ nguy hiểm và tín hiệu hành động sẽ hỗ trợ hành vi đi tầm soát ung thư, tiêmngừa phòng bệnh Các thành tố này được mô hình hoá đầy đủ trong mô hình lýthuyết Niềm tin sức khoẻ trong tâm lý học, nó nhấn mạnh lên thái độ và niềm tinmột cá nhân sẽ chịu trách nhiệm cho một hành vi sức khoẻ đặc biệt, ngoài ra nhậnthức về lợi ích và rào cản đối với biện pháp can thiệp sức khoẻ có vai trò quan trọng

Trang 4

trong việc thực hiện thành công biện pháp đó Việc xác định đủ và đúng các thành

tố tâm lý này trong kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) sẽ giúp giải thích đầy đủcũng như cải thiện nội dung các chương trình can thiệp giúp hỗ trợ cho thay đổihành vi mong muốn, trong đó có việc đưa con đi tiêm chủng trong điều kiện tàinguyên hạn chế như ở Việt nam Trong tình hình hiện nay, có nhiều nghiên cứuKAP về VGSVB trên các đối tượng khác nhau như sinh viên, nhân viên y tế, nhưnghầu như chưa công bố nghiên cứu trên đối tượng bà mẹ đưa con đến chủng ngừamiễn phí tại các trạm y tế, đặc biệt là đánh giá KAP sau biến cố được ghi nhận sauchủng ngừa VGSVB cho trẻ tại TPHCM cũng như xây dựng lối tiếp cận mới chonghiên cứu KAP dựa trên mô hình Niềm tin sức khoẻ với bộ công cụ sát hợp dân sốnghiên cứu

Do đó, chúng tôi cần xác định tỷ lệ bà mẹ có kiến thức, thái độ, thực hành đúng về tiêm ngừa VGSVB và tỷ lệ trẻ có đủ kháng thể bảo vệ sau tiêm ngừa theo lối tiếp cận mới dựa trên mô hình Niềm tin sức khoẻ sát hợp với tâm lý và hành vi của cộng đồng bà mẹ có con chủng ngừa trong chương trình TCMR tại TP HCM

CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Tỷ lệ bà mẹ có KAP đúng về tiêm ngừa viêm gan siêu vi B là bao nhiêu? Cácyếu tố nào liên quan đến KAP đúng?

Tỷ lệ trẻ có đủ kháng thể bảo vệ (anti-HBs ≥ 10mUI/ml) sau tiêm ngừa

vắc-xin viêm gan siêu vi B là bao nhiêu? Các yếu tố nào liên quan đến đáp ứng miễn

dịch của trẻ?

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Xây dựng và đánh giá bộ công cụ đo lường kiến thức, thái độ và thực hành

về viêm gan siêu vi B của các bà mẹ có con 12 tháng đến 24 tháng tại cáctrạm y tế Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh

2 Xác định tỷ lệ bà mẹ có con 12 tháng đến 24 tháng tuổi tại Thành phố Hồ ChíMinh có kiến thức đúng, thái độ đúng và thực hành đúng về tiêm ngừa viêmgan siêu vi B

Trang 5

3 Xác định mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành về tiêm ngừaviêm gan siêu vi B và với các đặc điểm dân số của bà mẹ.

4 Xác định tỷ lệ trẻ 12 tháng 24 tháng có đủ kháng thể bảo vệ sau tiêm ngừa

vắc- xin viêm gan siêu vi B và mối liên quan giữa đáp ứng miễn dịch với đặc

điểm dân số của trẻ

Trang 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Các khái niệm chung về VGSVB

1.1.1 Định nghĩa

Vi rút viêm gan siêu vi B, viết tắt là HBV (hepatitis B vi rút) thuộc họHepadnaviridae được phát hiện vào năm 1883, là một vi rút có DNA sợi kép Người

ta tìm thấy có 3 loại kháng nguyên khác nhau: HBsAg (hepatitis B surface antigen)

là kháng nguyên bề mặt HBcAg (core) là kháng nguyên lõi của virút, chỉ tồn tạitrong tế bào gan, không phát hiện được trong huyết thanh người nhiễm HBV.HBeAg có thể hòa tan trong huyết thanh bệnh nhân, phát hiện được trong máu vàhuyết tương Ba kháng nguyên của HBV tạo ra ba kháng thể tương ứng trong cơ thểngười nhiễm HBV là: anti-HBs, anti-HBc và anti-HBe (HBsAb, HBcAb vàHBeAb) [9], [24], [30]

1.1.2 Sự nguy hiểm của bệnh VGSVB

Khả năng nhiễm HBV trở thành mạn tính phụ thuộc vào độ tuổi Trẻ em dưới 6tuổi bị nhiễm HBV đa số tiến triển thành mạn tính

- Khoảng 80-90% trẻ sơ sinh bị nhiễm trong năm đầu tiên của cuộc sống sẽ tiếntriển mạn tính; Khoảng 30-50% trẻ em bị nhiễm trước 6 tuổi sẽ tiến triển thànhviêm gan mạn tính

- Dưới 5% người lớn khỏe mạnh bị nhiễm HBV sẽ tiến triển thành mạn tính.Khoảng 15-25% người lớn bị nhiễm HBV mạn tính trong thời thơ ấu tử vong vì ungthư gan hoặc xơ gan có liên quan đến VGSVB

Các yếu tố nguy cơ chính liên quan đến nhiễm HBV mạn tính là bệnh nhiễm lúcsinh hoặc trong thời thơ ấu mà giai đoạn đầu thường không có triệu chứng Do đó,chiến lược tiêm chủng cho trẻ sơ sinh sẽ có ít tác động đến tỷ lệ mắc bệnh xơ ganhoặc ung thư gan trong 20 -30 năm sau [49],[141],[148]

1.1.3 Các biện pháp phòng ngừa bệnh viêm gan siêu vi B

Thuốc chủng ngừa VGSVB giữ vai trò chính trong công tác phòng bệnh.WHO khuyến cáo tất cả trẻ chủng ngừa VGSVB càng sớm càng tốt sau sinh, tốt

Trang 7

nhất là trong vòng 24 giờ Chủng ngừa đầy đủ có thể bảo vệ hơn 95% trẻ sơ sinh,trẻ em và thanh thiếu niên khỏi bị VGSVB và làm giảm tỷ lệ nhiễm HBV mạn tính.

1.1.4 Biện pháp chung

Các biện pháp vệ sinh môi trường có thể giới hạn nguy cơ nhiễm cho nhânviên y tế và những người xung quanh Máu, chất dịch có máu và các vật dụng bịnhiễm phải được xử lý như bị nhiễm HIV, HBV, HCV và các tác nhân gây bệnhkhác có trong máu Chỉ dùng loại kim và ống tiêm dùng 1 lần, tất cả các dụng cụtiêm chích, dụng cụ y tế sử dụng trong ngành ngoại khoa đều phải đảm bảo tiệttrùng đầy đủ (HBV chịu nhiệt, chỉ bị tiêu diệt hoàn toàn ở 1000C sau 30 phút)

Tạo miễn dịch thụ động (HBIg)

Là khi kháng thể được chủ động đưa vào cơ thể mà không phải do cơ thể tựsản xuất được [1] Trong thời kỳ chu sinh, HBIg cho thấy có hiệu quả khoảng 75%phòng ngừa HBV có triệu chứng hoặc nhiễm mạn tính ở những trẻ sơ sinh từ mẹ có

HBV dương tính Khi kết hợp HBIg và vắc- xin sẽ tăng hiệu quả bảo vệ lên 85-95%

[85], [146]

HBIg có vai trò bảo vệ cơ thể chống HBV nếu được dùng sớm sau khi tiếp xúc

với mầm bệnh (trong vòng 3 ngày đầu) HBIg thường được kết hợp với vắc-xin

VGSVB để phòng ngừa trong những trường hợp sau:

- Trẻ sinh ra từ bà mẹ có HBsAg (+), đặc biệt có HBeAg (+) (tiếp xúc chu sinh)

- Tiếp xúc với máu có HBsAg (+) qua đường niêm mạc hoặc xuyên da

- Quan hệ tình dục với người có HBsAg (+)

- Ngoài ra còn dùng để bảo vệ bệnh nhân khỏi nhiễm HBV tái diễn sau ghép gan.HBIg tạo sự bảo vệ ngay lập tức nhờ kháng thể nhận được thụ động, sau đó là

miễn dịch chủ động do vắc-xin tạo ra Tuy nhiên, không nên dùng HBIg để phòng ngừa trước khi tiếp xúc vì đã có vắc-xin HBV hiệu quả.

Những trẻ sinh ra từ mẹ có HBsAg (+) nhưng có HBeAg (-), việc phòng ngừa

nhiễm HBV chu sinh chủ yếu là tiêm vắc-xin VGSVB trong 24 giờ sau sinh [146].

Tạo miễn dịch chủ động

Trang 8

Bằng cách thực hiện tiêm ngừa vắc-xin VGSVB Tiêm chủng thường quy cho

trẻ có thể phòng ngừa lên đến 75% tử vong trên toàn cầu từ những nguyên nhân cóliên quan đến HBV, thêm 1 liều sơ sinh để phòng ngừa lây truyền chu sinh có thểlàm tăng tỷ lệ này lên đến 84% [85], [148]

1.2 Vắc-xin VGSVB

1.2.1 Các thế hệ vắc - xin

Vắc-xin VGSVB thế hệ 1 (tinh chế từ huyết tương)

Năm 1981, Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã phê

chuẩn vắc- xin VGSVB sử dụng cho người có nguồn gốc huyết tương từ việc thu thập máu ở những người bệnh nhiễm HBV (HBsAg dương tính) Nhưng vắc- xin này đã bị

rút khỏi thị trường năm 1986 vì lo sợ lây truyền các bệnh từ máu (thí dụ: HIV )

Vắc-xin VGSVB thế hệ 2 (tái tổ hợp)

Năm 1986, vắc- xin VGSVB tái tổ hợp đã được sử dụng và thay thế vắc- xin

có nguồn gốc huyết tương, còn gọi là thuốc chủng ngừa thế hệ hai, vắc-xin chứa thành phần S của HBsAg Đây là vắc- xin đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới

và trong nước

Vắc-xin VGSVB thế hệ ba

Vắc- xin kết hợp protein preS1, preS2 và S của HBV giống với kháng nguyên

bề mặt vi rút nên gây đáp ứng miễn dịch tốt hơn các vắc- xin tái tổ hợp khác, ngoài kháng nguyên S như vắc- xin thế hệ 2 còn có thêm kháng nguyên preS2 hoặc preS1

và preS2, có khả năng chống lại các dòng HBV hoang dại, đột biến gen S và suygiảm miễn dịch [94], [122], [148]

Vắc-xin Quinvaxem:

Vắc- xin VGSVB dạng phối hợp Quinvaxem còn gọi là vắc-xin “5 trong 1”

chứa 5 thành phần bao gồm giải độc tố vi khuẩn bạch hầu, uốn ván, vi khuẩn ho gàbất hoạt, kháng nguyên HBV (tái tổ hợp) và kháng nguyên vi khuẩn Haemophilusinfluenzae type b (Hib) Phòng được các bệnh: bạch hầu, uốn ván, ho gà, VGSVB

và viêm phổi, viêm màng não do vi khuẩn Hib Thành phần vắc- xin Quinvaxem

mỗi 1ml có chứa kháng nguyên bề mặt HBV 20µg/ml

Trang 9

Vắc- xin Quinvaxem do công ty Crucell, Hàn Quốc sản xuất, đạt tiêu chuẩn

của WHO và được khuyến cáo sử dụng từ năm 2006 Tính tới nay, hơn 400 triệuliều Quinvaxem đã được sử dụng ở 94 quốc gia và được đưa vào chương trình

TCMR cho trẻ dưới 1 tuổi ở Việt Nam từ tháng 6/2010 Ưu điểm của vắc-xin

VGSVB dạng phối hợp 5/1 (Quinvaxem) là kết hợp phòng được 5 loại bệnh trongmột mũi tiêm (bạch hầu – uốn ván – ho gà – VGSVB – Hib), giúp giảm số mũi tiêmcho trẻ Tuy nhiên, khi có biến cố sau tiêm chủng thì khó xác định kháng nguyênnào là tác nhân gây phản ứng [143], [151]

Hình 1 1 Vắc- xin viêm gan B dạng phối hợp Quinvaxem

“Nguồn: World Health Organization, 2013” [151]

1.2.2 Liều vắc- xin viêm gan siêu vi B và đường dùng

Khuyến cáo liều dùng khác nhau bởi các nhà sản xuất và tuổi của người đượctiêm Nói chung, liều cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ (<15 tuổi) bằng ½ liều khuyến cáo

cho người lớn Liều vắc-xin cho trẻ nhỏ là 0,5ml với mỗi liều chứa từ 3-10µg

HBsAg tùy theo nhà sản xuất [148], [141]

Vắc- xin VGSVB được cấp phép hiện nay được dùng đường tiêm bắp, đối với

trẻ sơ sinh và trẻ em < 2 tuổi tiêm ở mặt trước bên của đùi, trẻ lớn và người lớn tiêm

ở cơ delta [57], [63], [141], [148]

1.2.3 Lịch tiêm vắc-xin viêm gan siêu vi B

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)

Vì sự lây truyền chu sinh hoặc sau sinh là nguyên nhân nhiễm HBV mạn tính

quan trọng trên toàn cầu, nên liều đầu tiên vắc- xin VGSVB được cho càng sớm

càng tốt (<24 giờ) sau sinh ngay cả những nước ở vùng dịch tễ thấp, sau liều sơ sinh

Trang 10

nên cho thêm 2 hoặc 3 liều với khoảng cách thời gian giữa các liều ít nhất 4 tuần.Tuy nhiên, lịch 4 liều cũng có thể cho dựa vào lịch tiêm của chương trình TCMR(một liều đơn sơ sinh và tiếp theo 3 liều đơn hoặc phối hợp) Các lịch khác baogồm: lúc sinh, 1 tháng và 6 tháng; 2, 4, và 6 tháng; 6, 10 và 14 tuần tuổi [38], [146,148], [69], [159] Ở bất kỳ nhóm tuổi nào, nếu lịch tiêm ngừa HBV bị gián đoạn thìnên tiếp tục tiêm ngừa tiếp theo càng sớm càng tốt, trong khi vẫn tôn trọng khoảngcách giữa các liều mà không cần phải tiêm lại từ đầu [81], [96], [62], [70], [78],[99] Nếu lịch cơ bản bị gián đoạn sau liều thứ nhất, liều thứ hai được cho càng sớmcàng tốt và liều thứ hai và liều thứ ba được cho với khoảng cách thời gian ít nhất là

4 tuần Nếu liều thứ ba bị trễ thì vẫn tiếp tục cho càng sớm càng tốt Tuy nhiên, có 1

số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ không đáp ứng với vắc- xin cao hơn ở những người trì

hoãn liều thứ hai trong lịch tiêm chủng [119], [133]

Những trẻ sinh non cũng nên cho liều sơ sinh Tuy nhiên, nếu cân nặng lúcsinh <2000gam thì liều sơ sinh không được tính vào lịch tiêm chủng lần đầu và 3liều bổ sung nên cho cùng với lịch của chương trình tiêm chủng quốc gia [148]

Theo Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Hoa kỳ (CDC)

Lịch tiêm cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ dựa vào tình trạng mang HBsAg của mẹ

Bảng 1 1 Lịch tiêm VGSVB cho trẻ mới sinh theo tình trạng mang HBsAg của mẹ

HBsAg mẹ Vắc- xin đơn kháng nguyên Vắc- xin đơn + vắc- xin phối hợp

Dương tính 1+ Lúc sinh (<12 giờ ) 1+ Lúc sinh (<12 giờ)

HBIg§ Lúc sinh (<12 giờ ) HBIg Lúc sinh (<12 giờ)

4¶ 6 tháng (Pediarix hoặc 12

-15 tháng Comvax)Không biết 1+ Lúc sinh (<12 giờ ) 1+ Lúc sinh (<12 giờ )

Trang 11

Pediarix (vắc-xin phối hợp) không được sử dụng lúc sinh hoặc < 6 tuần tuổi.

§: globulin miễn dịch VGSVB được chích trong cơ khác vị trí với vắc- xin

¶: liều cuối vắc- xin không được trước 24 tuần tuổi

++: liều đầu vắc- xin có thể trì hoãn sau khi xuất viện đối với trẻ cân nặng >2.000g

và mẹ có HBsAg âm tính

“Nguồn: Centers for Disease Control and Prevention, 2015” [52].

Bảng 1 2 Lịch tiêm VGSVB cho trẻ cân nặng < 2000g với tình trạng HBsAg mẹ

Dương tính - HBIg* + vắc- xin VGSVB (trong 12 giờ sau sinh)

- Tiếp tục tiêm ngừa lúc 1-2 tháng tuổi dựa vào lịch tiêm

cho trẻ có mẹ HBsAg dương tính (Bảng 1.1).

- Không tính liều sơ sinh vào lịch tiêm chủng

- Kiểm tra HBsAg và anti – HBs sau khi hoàn thành tiêmchủng lúc 9-18 tháng

Không biết - HBIg + vắc- xin VGSVB (trong 12 giờ sau sinh).

- Kiểm tra HBsAg của mẹ

- Tiếp tục tiêm ngừa lúc 1-2 tháng tuổi dựa vào lịch tiêm

phụ thuộc kết quả HBsAg mẹ (Bảng 1.1)

- Không tính liều sơ sinh như 1 phần của lịch tiêm chủng

Trang 12

Âm tính - Trì hoãn liều sơ sinh đến 1 tháng hoặc sau xuất viện.

- Hoàn thành lịch tiêm chủng (Bảng 1.1).

*: Globulin miễn dịch VGSVB.

“Nguồn: Centers for Disease Control and Prevention, 2015” [52].

Lịch tiêm chủng VGSVB trong TCMR tại Việt Nam

Lịch tiêm VGSVB trong TCMR 4 liều với 1 liều sơ sinh (trong 24 giờ sau

sinh) và 3 liều vắc-xin phối hợp 5/1 (Quinvaxem).

Bảng 1 3 Lịch tiêm chủng tại Việt Nam

BCG

DTPw-VGSVB-Hib 1

VGSVB-Hib 2

VGSVB-Hib 3

DTPw-DTPw 4

“Nguồn: Bộ Y tế, 2010” [2]

1.2.4 Khuyến cáo tiêm nhắc lại vắc- xin

Theo WHO, khuyến cáo không tiêm nhắc lại ở những người có miễn dịch bìnhthường và có đáp ứng miễn dịch ở lịch tiêm cơ bản Tuy nhiên, có vài báo cáo tậptrung vào hiệu quả bảo vệ lâu dài ở trẻ sinh non, bao gồm theo dõi lâu dài bệnhVGSVB và các bệnh khác Đặc biệt, những trẻ chỉ được tiêm ngừa 3 mũi VGSVBtrong năm đầu, có thể cần tiêm liều nhắc lại VGSVB

Trẻ sau khi đã hoàn thành lịch tiêm ngừa 3 mũi vắc-xin VGSVB, nhưng xét

nghiệm anti-HBs âm tính lúc 1-3 tháng sau liều cuối, sẽ được khuyến cáo tiêm thêm

các liều vắc-xin tăng cường theo 2 cách:

- Tiêm tăng cường 3 liều vắc-xin theo lịch thông thường, xét nghiệm anti-HBs 1

tháng sau liều cuối

- Chỉ tiêm 1 liều vắc-xin tăng cường và xét nghiệm anti-HBs sau 1 tháng Nếu anti-

HBs (-), tiếp tục tiêm 2 liều tăng cường theo lịch thông thường [148], [148]

Vắc-xin VGSVB đã được sử dụng cách đây hơn 3 thập niên, đến nay vẫn chưa

có thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên nào đủ điều kiện để ủng hộ hoặc bác bỏ sự cần

Trang 13

thiết phải sử dụng liều tăng cường vắc-xin VGSVB ở những người khỏe mạnh, có

miễn dịch bình thường và đã có đáp ứng miễn dịch sau khi hoàn thành lịch tiêm cơbản Trong thời gian chờ câu trả lời từ các nghiên cứu tiếp theo, nên xem xét liềutăng cường ở trẻ lớn, thanh thiếu niên và những người có nguy cơ cao lây truyềnngang HBV[83], [84]

1.2.5 Đáp ứng miễn dịch sau tiêm ngừa

Chỉ điểm về miễn dịch là kháng thể anti-HBs Nghiên cứu hiệu quả của

vắc-xin đã cho thấy có thể bảo vệ hoàn toàn chống lại VGSVB cấp và mạn tính ở những

người có miễn dịch bình thường với mức anti HBs ≥10 mIU/mL sau tiêm chủng Vìvậy, huyết thanh bảo vệ chống lại nhiễm HBV được định nghĩa là có mức kháng thểanti HBs ≥ 10mIU/mL, được đo lường 1-3 tháng sau khi hoàn thành lịch tiêm chủng.Nồng độ kháng thể đạt cao nhất sau khi kết thúc lịch tiêm chủng Kháng thểIgM xuất hiện sau 2 mũi tiêm đầu (75-80%), sau đó IgG xuất hiện nhưng nồng độkháng thể có chiều hướng giảm sau vài tháng Nếu tiêm nhắc lại mũi thứ 3, nồng độIgG tiếp tục tăng và tồn tại kéo dài hơn Hai năm sau, nếu không tái chủng hoặckhông tiếp xúc với HBV, nồng độ anti-HBs sẽ giảm còn 1/3 so với nồng độ sau khihoàn tất lịch tiêm chủng, nhưng sau đó giảm chậm lại [77], [125], [126]

Kháng nguyên protein trong vắc-xin VGSVB gây ra cả đáp ứng miễn dịch

dịch thể và miễn dịch tế bào và còn gây miễn dịch nhớ kéo dài Sau khi đưa khángnguyên vào cơ thể, cơ thể sẽ đáp ứng bằng 2 cách:

- Lympho bào B nhận biết trực tiếp các protein nằm trên bề mặt siêu vi bằng cácthụ thể liên kết với các globulin miễn dịch (B-cell epitopes)

- Lympho T nhận biết các thành phần của siêu vi do các tế bào của ký chủ tiết ratrong lúc bị nhiễm trùng (T-cell epitopes)

Các lympho bào B sau khi biệt hóa thành tương bào sẽ sản xuất ra IgM-anti HBstồn tại tối đa 12 tháng Trong thời gian này, một nhóm tế bào B khác cùng sự hỗ trợcủa lympho T sẽ trở thành tế bào có trí nhớ miễn dịch gọi là tế bào nhớ Cáclympho nhớ này nếu tiếp tục hoặc tái tiếp xúc kháng nguyên sẽ sinh ra IgG có thờigian bảo vệ lâu hơn [4], [51], [56], [77]

Trang 14

Biểu đồ 1 1 Liên quan hiệu giá kháng thể với các giai đoạn đáp ứng vắc-xin

“Nguồn: Claire-Anne, 2008” [56]

Tiếp xúc với kháng nguyên ban đầu tạo ra đáp ứng ngoài nang (1) điều này đưa đến sự xuất hiện nhanh hiệu giá kháng thể IgG thấp Khi tế bào B tăng lên trong các trung tâm mầm và biệt hóa thành tương bào, nồng độ kháng thể IgG đạt giá trị đỉnh(2) thường đạt nồng độ đỉnh 4 tuần sau tiêm chủng Thời gian sống của tương bào ngắn đã gây ra sự giảm nhanh nồng độ kháng thể (3), cuối cùng trở lại mức ban đầu(4) Trong miễn dịch thứ phát, tiếp xúc lại với kháng nguyên gây kích hoạt lại trí nhớ miễn dịch làm tăng nhanh (<7 ngày) nồng độ kháng thể IgG(5) tương bào có đời sống ngắn duy trì nồng độ đỉnh của kháng thể (6) trong vài tuần sau đó nồng độ kháng thể giảm nhanh giống như đáp ứng miễn dịch tiên phát, các tương bào có đời sống dài vẫn còn tồn tại trong tủy xương và tiếp tục sản xuất kháng thể đặc hiệu, điều này làm cho kháng thể giảm chậm hơn [56].

Trang 15

Bảng 1 4 Yếu tố quyết định đáp ứng kháng nguyên kháng thể ở người khỏe mạnh

- Liều Ag càng cao sẽ làm tăng tính sẳn có của Agđối với sự liên kết và hoạt hóa tế bào B và T, cũngnhư sự tạo mối liên kết với các FDC

Trang 16

Histocompatibility Complex) làm tăng khả năng đápứng trong dân số Sự giới hạn của MHC có thể hạn chế sự nhận diện Ag của tế bào T Sự đa dạng của gen đặc trưng cho sự hoạt động/ biệt hóa tế bào B/T cũng có thể ảnh hưởng đến đáp ứng tạo kháng thể.Yếu tố môi trường

Tuổi tiêm ngừa

- Phần lớn chưa xác định được

- Miễn dịch chưa trưởng thành ở trẻ sinh non hoặc

sự lão hóa miễn dịch do tuổi

“Nguồn: Claire-Anne, 2008” [56]

Tuổi trước sinh (tuổi thai) và tuổi sau sinh ở thời điểm tiêm ngừa quyết định đáp

ứng kháng thể ở trẻ sinh non Lịch tiêm 3 liều vắc-xin cho trẻ với khoảng cách thời

gian giữa các liều là một tháng (thí dụ: 2,3,4 tháng hoặc 3,4,5 tháng) sẽ cho kết quảđáp ứng miễn dịch thấp hơn so với lịch tiêm mà khoảng cách thời gian giữa các liềuhoặc liều đầu và liều tăng cường dài hơn (thí dụ 2,4,6 tháng) hoặc (3,5,12 tháng).Mức độ đáp ứng kháng thể ở trẻ sơ sinh đối với lịch tiêm nhiều liều phụ thuộc vàokhoảng cách thời gian giữa các liều (khoảng thời gian giữa các liều dài hơn sẽ chođáp ứng mạnh hơn) và tuổi lúc tiêm liều cuối Như vậy, để tạo đáp ứng miễn dịch

mạnh đối với một liều vắc-xin được cho sớm sau sinh thì khó đạt được mục tiêu, và

đáp ứng mạnh như người lớn chỉ có thể thấy ở những trẻ lớn hơn Đáp ứng khángthể giảm nhanh trước 12 tháng tuổi và hiệu giá kháng thể nhanh chóng giảm trở vềmức ban đầu, điều này có thể liên quan đến sự bùng phát dịch bệnh [56]

Bảng 1 5 Yếu tố quyết định đáp ứng tạo kháng thể của vắc-xin ở người khỏe

mạnh

Loại vắc-xin

Lịch tiêm

Khoảng cách liều - Khoảng cách thời gian tối thiểu 3 tuần cho phép tạo

đáp ứng miễn dịch tiên phát với Ag đặc hiệu mà không bịbất kỳ cản trở nào

Trang 17

Các yếu tố quyết định Cơ chế (giả định)

Tuổi tiêm ngừa - Miễn dịch chưa trưởng thành ở trẻ sinh non và sự lão

hóa hệ miễn dịch do tuổi làm giảm khả năng cảm ứng/bền vững của các tế bào plasma có đời sống dài

Yếu tố môi trường - Phần lớn chưa xác định được

“Nguồn: Claire-Anne, 2008”

[56]

1.2.6 Hiệu quả của vắc- xin

Hiệu quả bảo vệ của vắc- xin VGSVB liên quan với sự tạo ra kháng thể

anti-HBs và tế bào T nhớ Nồng độ kháng thể 10mIU/mL được đo lường 1-3 tháng saumũi cuối trong lịch tiêm chủng là chỉ điểm huyết thanh chống lại nhiễm HBV Lịchtiêm 3 liều cơ bản tạo được kháng thể bảo vệ trên 95% ở trẻ sơ sinh khỏe mạnh, trẻ

em và người trẻ Sau 40 tuổi, tỷ lệ đáp ứng miễn dịch giảm dần Một số ngườikhông có kháng thể sau tiêm ngừa 3 liều cơ bản nhưng gần như tất cả họ (44 –100%) đều có đáp ứng với 3 liều tái chủng ngừa Trì hoãn liều sơ sinh cho trẻ sẽlàm tăng nguy cơ nhiễm HBV Một nghiên cứu đã cho thấy rằng, nguy cơ nhiễm

HBV ở trẻ sinh ra từ mẹ HBsAg dương tính tăng đáng kể khi cho liều đầu vắc- xin

VGSVB sau 7 ngày so với những trẻ được tiêm liều đầu vào ngày 1-3 sau sinh[144], [148] Sự bền vững của trí nhớ miễn dịch không đủ để bảo vệ chống lạiVGSVB cấp tính sau khi kháng thể do tiêm ngừa giảm Khi anti-HBs giảm <10IU/L, viêm gan cấp tính có thể xảy ra với sự xuất hiện của anti-HBc Tuy nhiên,chưa ghi nhận VGSVB mạn tính ở những người đã tiêm ngừa đầy đủ [56]

1.2.7 Xét nghiệm trước và sau khi tiêm chủng

Không khuyến cáo làm thường qui xét nghiệm trước khi tiêm chủng ở trẻ nhỏ.Trẻ lớn và người lớn xét nghiệm trước khi tiêm có thể cần làm chỉ với anti- HBchoặc cùng với xét nghiệm HBsAg và anti-HBs Nếu chỉ là 1 xét nghiệm thì sự lựa

Trang 18

chọn là anti-HBc vì sẽ xác định được tất cả những người nhiễm HBV trước đây baogồm cả những người nhiễm mạn tính Xét nghiệm anti-HBs để xác định miễn dịch

có thể có sau khi bị nhiễm HBV và sau đó xét nghiệm HBsAg để phát hiện người bịnhiễm mạn tính [148]

Bảng 1 6 Kết quả xét nghiệm huyết thanh viêm gan siêu vi

B

HBsAg/ Anti-HBc/ Anti-HBs (-)/(-)/(-) Chưa tiếp xúc

HBsAg/ Anti-HBc/ Anti-HBs (-)/(+)/(+) Bị nhiễm HBV và đã có miễn dịchHBsAg/ Anti-HBc/ Anti-HBs (-)/(-)/(+) Có miễn dịch do tiêm chủng

HBsAg/ Anti-HBc/ Anti-HBs

IgM anti-HBc

(+)/(+)/(-)(+)

Nhiễm HBV cấp tính

HBsAg/ Anti-HBc/ Anti-HBs

IgM anti-HBc

(+)/(+)/(-)(-)

Nhiễm HBV mạn tính

HBsAg/ Anti-HBc/ Anti-HBs (-)/(+)/(-) 1 Viêm cấp đã/đang hồi phục

2 Anti-HBc dương tính giả

3 Nhiễm HBV lâu, không còn kháng thể

“Nguồn: World Health Organization, 2012” [148]

Theo Tổ chức Y tế thế giới(WHO), xét nghiệm sau tiêm ngừa thường qui thìkhông cần thiết nhưng được khuyến cáo thực hiện ở những người có nguy cơ cao.Tuy nhiên, nếu không xét nghiệm huyết thanh sẽ không biết được tỷ lệ chính xácnhững người đã được tiêm ngừa đầy đủ được bảo vệ như thế nào Sau tiêm ngừa,hiệu giá kháng thể giảm theo thời gian, nghiên cứu 640 trẻ đã tiêm ngừa VGSVBđầy đủ cho thấy tỷ lệ có kháng thể ban đầu là 93% đã giảm đến 70%, 40% và cuốicùng là 25% lúc 5, 10 và 15 tuổi [118] Xét nghiệm kiểm tra nên thực hiện 1-2tháng sau liều cuối của lịch tiêm chủng bằng cách xác định nồng độ kháng thể anti-HBs ≥10 mIU/ml Nếu phát hiện anti-HBs <10mIU/mL sau khi đã tiêm chủng lịchcăn bản thì nên chủng ngừa lại Sử dụng tiếp 3 liều sau đó kiểm tra anti-HBs cách 1-

2 tháng

Trang 19

sau liều ba Nếu vẫn không có đáp ứng miễn dịch khi tiêm nhắc lại thì nên kiểmtra

HBsAg [148]

1.2.8 Tác dụng phụ của vắc-xin viêm gan siêu vi B

Trong các nghiên cứu về vắc-xin VGSVB có nhóm chứng cho thấy ngoại trừ đau tại

chổ tiêm, những biến cố đã được báo cáo như đau cơ và sốt nhẹ thì xảy ra ít hơn ởnhóm chứng Nghiên cứu cho thấy tác dụng phụ sau tiêm như: đau cơ và sốt nhẹthoáng qua ít khi xảy ra (dưới 10% ở trẻ em và 30% ở người lớn).Không phát hiện

tác dụng phụ nghiêm trọng có liên quan đến vắc-xin VGSVB, phản ứng phản vệ rất hiếm, nguy cơ 1,1 trường hợp/1 triệu liều vắc-xin , không có bằng chứng cho thấy

có mối liên quan giữa vắc- xin VGSVB với hội chứng Guillain–Barré, bệnh hủy

myelin bao gồm xơ hóa rải rác, hội chứng mệt mỏi mãn tính, viêm khớp, suyễn, hội

chứng đột tử ở trẻ sơ sinh hoặc đái tháo đường type 1 Ủy ban an toàn vắc- xin (GACVS) khẳng định về tính an toàn của vắc- xin VGSVB [37], [42].

1.3 Tình hình tiêm chủng VGSVB và thành quả trong chương trình TCMR 1.3.1 Tỷ lệ tiêm chủng và thành quả chương trình tiêm chủng VGSVB trên

thế giới

Theo WHO, tiêm chủng là một trong những can thiệp y tế hiệu quả và thànhcông nhất giúp phòng ngừa dịch bệnh và bảo vệ sức khỏe trẻ em, nhất là trẻ dưới 5tuổi Để loại bỏ lây truyền HBV ở giai đoạn chu sinh, thời thơ ấu, cũng như thanhthiếu niên và người lớn, việc chủng ngừa bắt đầu lúc sinh và chiến lược tiêm chủngHBV đã làm giảm đáng kể lây truyền HBV trong nhiều quốc gia có lưu hành bệnhcao, dần dần sẽ giảm VGSVB mạn tính, xơ gan và ung thư gan [121], [148], [149]

Năm 2014, vắc-xin VGSVB đã được đưa vào lịch tiêm chủng thường qui trong

184 nước (95%), trong đó có 96 (49%) nước đã thực hiện liều tiêm trong vòng 24 giờsau sinh để phòng ngừa VGSVB lây truyền chu sinh Trên toàn thế giới (bao gồm cả

các nước chưa có vắc-xin VGSVB trong chương trình tiêm chủng thường qui), tỷ lệ trẻ tiêm đầy đủ 3 liều vắc-xin VGSVB là 82% và vắc-xin VGSVB liều sơ sinh là

38% [152]

Trang 20

Bảng 1 7 Tỷ lệ tiêm VGSVB mũi sơ sinh và mũi 3 ở Châu Á từ 2011-2014

“Nguồn: World Health Organization, 2015” [152]

Tại Hoa kỳ, từ năm 1990-2004, tỷ lệ mắc bệnh VGSVB cấp tính đã giảm từ8,5 xuống còn 2,1/100.000 dân Tỷ lệ giảm lớn nhất (94%) xảy ra ở trẻ em và thanhthiếu niên, điều này trùng hợp với sự gia tăng tỷ lệ tiêm chủng VGSVB [50]

Trung Quốc là quốc gia ở châu Á có tỷ lệ lưu hành bệnh cao, với tỷ lệ 7 ± 20%người mang HBsAg [128] Tỷ lệ trẻ dưới 10 tuổi mang HBV mạn tính trước khi

tiêm ngừa thường qui vắc-xin VGSVB là 10% đã giảm xuống còn 1,0% -2,0% trong

năm 2006 và trong dân số nói chung đã giảm từ 10,0% xuống còn 7,2%, chươngtrình tiêm chủng quốc gia đã làm giảm hơn 30 triệu trường hợp nhiễm HBV mạntính và biến chứng có liên quan VGSVB [160]

Đài Loan trước đây được xếp vào vùng có tỷ lệ lưu hành VGSVB cao với tỷ lệ

15 – 20% người mang HBsAg trong dân số, lây truyền dọc là nguyên nhân chínhgây ra nhiễm HBV mạn tính Bắt đầu chương trình tiêm ngừa VGSVB năm 1984cho trẻ sơ sinh của các bà mẹ nguy cơ cao và năm 1986 mở rộng cho tất cả trẻ sơsinh, làm cho tỷ lệ nhiễm HBV mạn tính ở trẻ em đã giảm hơn 90% [95], [155].Hiệu quả của chương trình TCMR đang ngày càng làm cho tỷ lệ nhiễm HBV ở ĐàiLoan dần trở thành vùng lưu hành thấp [72]

Trang 21

Bảng 1 8 So sánh tỷ lệ nhiễm HBV mạn tính ở trẻ em sinh trước và sau khi đưa vắc-xin VGSVB vào chương trình tiêm chủng

em 18,4%, thanh thiếu niên 20,5%, đã cho thấy HBV không chỉ lây truyền dọc màlây truyền ngang cũng giữ vai trò quan trọng [71]

Vắc-xin VGSVB được triển khai trong TCMR từ năm 1997 tại Hà Nội và

Thành phố Hồ Chí Minh Đến năm 2003, được sự hỗ trợ của Liên minh toàn cầu về

vắc- xin và tiêm chủng (GAVI), vắc- xin VGSVB được triển khai trên toàn quốc

cho trẻ dưới 1 tuổi và đã thực hiện tiêm vắc- xin VGSVB liều sơ sinh trong 24 giờ đầu sau sinh để phòng lây truyền mẹ con Từ năm 2006 đến nay, tỷ lệ tiêm vắc-xin

VGSVB đủ 3 mũi ở trẻ dưới 1 tuổi luôn đạt trên 90%, ngoại trừ năm 2007 và năm

Trang 22

2013 đạt thấp do tình trạng thiếu vắc-xin và sự cố sau tiêm chủng [3], [152] Hạn chế lớn nhất hiện nay là tỷ lệ tiêm vắc-xin VGSVB trong 24 giờ sau sinh vẫn đạt

thấp, đặc biệt các năm 2007, 2008 và 2010 đạt dưới 30% Đến năm 2014, tỷ lệ baophủ mũi sơ sinh cũng chỉ đạt 43% [152]

Nghiên cứu năm 2014 đánh giá hiệu quả chương trình tiêm chủng VGSVBcho thấy tỷ lệ trẻ mang HBsAg là 2,7% Trong đó trẻ sinh năm 2000 – 2003 (trướckhi có tiêm chủng thường qui) có tỷ lệ HBsAg 3,64% cao hơn nhóm trẻ sinh năm

2007 – 2008 (1,64%) Những trẻ tiêm đủ liều (≥ 3 liều bao gồm liều sơ sinh trong

24 giờ) có tỷ lệ mang HBsAg 1,75%, thấp hơn trẻ tiêm đủ ≥ 3 liều nhưng thiếu liều

sơ sinh 2,98% và thấp hơn đáng kể so với trẻ chưa được tiêm chủng (3,47%) Điềunày cho thấy tiêm chủng đã làm giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm HBV ở trẻ em và tầmquan trọng của liều sơ sinh [106] Hiện nay, tỷ lệ mang HBsAg ở Việt Nam vẫn caotrong dân số, có thể do chương trình chủng ngừa VGSVB chưa được thực hiện ở trẻlớn và người lớn và vẫn còn tồn tại kiến thức sai lầm về tiêm ngừa VGSVB (biểu đồ1.2)

Biểu đồ 1 2 Tỷ lệ mang HBsAg trong dân số chung

“Nguồn: Nguyen, 2012” [105]

Trang 23

Ghi nhận các biến cố sau tiêm vắc-xin Quinvaxem tại Việt Nam

Vắc-xin VGSVB dạng phối hợp 5/1 được sử dụng trong chương trình TCMR

từ tháng 6/2010 Từ tháng 6/2010 đến 5/2013 có 43 trường hợp tác dụng có hạinghiêm trọng trong đó 27 trường hợp tử vong sau dùng Quinvaxem Theo WHO,các phản ứng này bao gồm: dị ứng, co giật, giảm trương lực cơ, các trường hợp tácdụng có hại nghiêm trọng khác bao gồm cả tử vong, được báo cáo ở Việt Nam là

hoặc trùng hợp với các vấn đề sức khỏe ngẫu nhiên nhưng không liên quan đến

vắc-xin hoặc các trường hợp thông tin thu được không cho phép đưa ra quyết định

khẳng định Tuy nhiên, những trường hợp tử vong này không có các yếu tố có thể

liên quan đến vắc-xin [150] Trong năm 2015, ghi nhận có: 05 trường hợp tử vong sau tiêm vắc- xin VGSVB và 02 trường hợp tử vong sau tiêm vắc- xin VGSVB và BCG trên tổng số khoảng 1,3 triệu liều vắc-xin VGSVB, có 29 trường hợp tai biến nặng sau tiêm vắc- xin Quinvaxem và uống vắc- xin OPV (17 trường hợp hồi phục,

12 trường hợp tử vong), bốn trường hợp hồi phục sau tiêm vắc-xin Quinvaxem, uống vắc-xin OPV và Rota và 01 trường hợp hồi phục sau tiêm vắc-xin Quinvaxem

và uống vắc-xin Rota trên tổng số khoảng 5,1 triệu liều vắc-xin Quinvaxem và OPV mỗi loại đã sử dụng [5] Vì sự lo lắng liên quan đến an toàn vắc- xin, xu hướng hiện

nay phụ huynh cho trẻ tiêm dịch vụ hoặc trì hoãn và từ chối tiêm ngừa, nên tỷ lệtiêm mũi VGSVB sơ sinh thấp dưới 50% qua các năm và tỷ lệ tiêm đầy đủ và đúnglịch 4 mũi VGSVB cũng giảm

1.4 Công cụ đo lường kiến thức, thái độ, thực hành về tiêm ngừa VGSVB 1.4.1 Đặc trưng của công cụ đo lường

Bộ công cụ đo lường là một trong những yếu tố quyết định tính giá trị củanghiên cứu Vì vậy, bộ công cụ tốt rất cần thiết để bắt đầu tiến hành một nghiêncứu Bộ công cụ đo lường kiến thức, thái độ, thực hành để phỏng vấn phải có giá trịnội dung và độ tin cậy chấp nhận được để kết quả thu được sẽ chính xác

Độ tin cậy bộ câu hỏi phỏng vấn kiến thức, thái độ, thực hành

Độ tin cậy được định nghĩa như độ mạnh của mối liên quan giữa điểm số trảlời được khảo sát với điểm số thật sự Dùng để chỉ tính nhất quán nội bộ (hay khả

Trang 24

năng lặp lại của các kết quả) của bộ câu hỏi khảo sát kiến thức, thái độ, kiến thứcthực hành được đánh giá qua việc xác định hệ số Cronbach‟s alpha Đây là thước đotính nhất quán nội bộ cho phép đánh giá mức độ tin cậy của việc thiết lập một “biếntổng hợp” trên cơ sở nhiều “biến đơn”, dựa trên tương quan trung bình giữa cácbiến trong bộ câu hỏi khảo sát [32], [112], [142] Tiêu chuẩn chọn thang đo khi có

độ tin cậy Alpha lớn hơn 0,6 (Alpha càng lớn thì độ tin cậy nhất quán nội tại càngcao, alpha quá cao có thể do có vài câu hỏi dư thừa như câu hỏi giống nhau nhưng ởdạng khác nhau) Các mức giá trị của Alpha: tối đa là 1,000; Lớn hơn 0,8 là thang

đo lường tốt; Từ 0,7 đến 0,8 là sử dụng được; Từ 0,6 trở lên là có thể sử dụng trongtrường hợp khái niệm nghiên cứu là mới hoặc là mới trong bối cảnh nghiên cứu[32], [108], [117], [123], [129]

Giá trị nội dung của bộ câu hỏi kiến thức, thái độ và thực hành để phỏng

vấn

Bộ câu hỏi khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành để phỏng vấn có giá trị nộidung khi đo lường đúng kiến thức, thái độ, kiến thức thực hành của người đượcphỏng vấn Do đó, trong nghiên cứu chúng tôi cần xây dựng các câu hỏi dựa trênnhững từ khóa và đề mục về bệnh viêm gan siêu vi B mà sử dụng ngôn ngữ hàngngày của đối tượng được phỏng vấn, để họ trả lời chính xác Các từ khóa và đề mụcnày được thu thập từ nghiên cứu định tính trên nhóm đối tượng cần khảo sát [116].Bên cạnh đó, để đảm bảo nội dung đầy đủ, bộ câu hỏi khảo sát cần xây dựng dựatrên khung lý thuyết Có nhiều mô hình hành vi sức khỏe: mô hình Các giai đoạnthay đổi (Stages of change model), mô hình Quá trình chấp nhận dự phòng(Precaution adoption process model), mô hình Lý thuyết hành động hợp lý (TPB =Theory of planned behavior) và mô hình Niềm tin sức khỏe (Health Belief Model).Những học thuyết này cũng được sử dụng để can thiệp nhiều hành vi sức khỏe baogồm chụp nhũ ảnh, thuốc lá, giảm cân, kế hoạch hóa gia đình và sử dụng bao cao su

để phòng HIV [68] Ở đây, chúng tôi chọn mô hình Niềm tin sức khỏe để làmkhung xây dựng bộ câu hỏi Mô hình này chú trọng đến các quá trình nhận thức củacon người trong việc lý giải hành vi/ thực hành, nhằm giải thích vì sao khi không cótriệu chứng rõ ràng của bệnh mà người ta lại tự nguyện thực hiện các hành vi dự

Trang 25

phòng như đi khám bệnh, tiêm ngừa Giá trị nội dung của bộ câu hỏi được xác địnhdựa vào: sự rõ ràng, phù hợp, đơn giản và tính nhất quán của từng câu hỏi [66],[123] Trong bộ câu hỏi nghiên cứu, để giảm các sai lệch do sợ ảnh hưởng uy tín(prestige bias), các biến số dịch tễ sẽ được đặt ở cuối bộ câu hỏi [66], [123].

1.4.2 Mô hình niềm tin sức khỏe (HBM)

Là mô hình nhận thức xã hội được phát triển bởi Rosenstock, Hochbaum và

cộng sự trong những năm 1950 HBM là một trong những mô hình được phát triển

sớm nhất để giải thích hành vi liên quan đến chương trình phòng chống bệnh lao

Mô hình có 5 yếu tố cơ bản bao gồm: nhận thức sự nhạy cảm, nhận thức sự nghiêmtrọng, nhận thức rào cản và lợi ích, tín hiệu hành động hành động và sự tự chủ (Biểu

đồ 1.3) HBM được sử dụng để hiểu tại sao người ta chấp nhận các dịch vụ sứckhỏe dự phòng và tại sao họ tham gia hoặc không tham gia các dịch vụ chăm sócsức sức khỏe khác HBM đã giúp tạo ra hàng nghìn nghiên cứu về hành vi sức khỏe

và giáo dục sức khỏe và đã cung cấp nhiều khái niệm cơ bản cho sự can thiệp trongnhiều năm từ khi nó được hình thành Mô hình được sử dụng trong nhiều lĩnh vựcsức khỏe như: phòng ngừa bệnh, phát hiện bệnh sớm và hành vi bệnh tật và ốm đau(Illness and Sick – role behavior) [68], [120] Mô hình dựa vào sự hiểu biết rằng cánhân sẽ thực hiện hành động liên quan đến sức khỏe nếu: (1) Họ tin rằng bản thân

có thể tránh được vấn đề không tốt cho sức khỏe (thí dụ: tiếp xúc với các bệnh lâyqua đường máu như VGSVB, C, HIV); (2) Họ có mong đợi rằng bản thân có thểtránh được vấn đề không tốt cho sức khỏe bằng các hành động được khuyến cáo (thí

dụ sử dụng các dụng cụ bảo vệ cá nhân để tránh tiếp xúc mầm bệnh, tiêm chủng đểphòng được bệnh) (3) Họ tin rằng bản thân có thể thực hiện thành công hành độngđược khuyến cáo [80], [109]

Trang 26

Biểu đồ 1 3 Mô hình niềm tin sức khỏe

“Nguồn: Nutbeam, 2004” [109]

Các khái niệm trong mô hình HBM

- Nhận thức về sự nhạy cảm đối với bệnh: nói đến niềm tin về khả năng mắcbệnh Thí dụ: một người phụ nữ tin rằng họ có thể mắc bệnh ung thư vú trước khiquan tâm đến chụp nhũ ảnh

- Nhận thức về sự nghiêm trọng đối với bệnh: cảm nhận về sự nghiêm trọngkhi mắc bệnh hoặc khi không điều trị bệnh Sự kết hợp giữa tính nhạy cảm và tínhnghiêm trọng được cho là nhận thức về mối đe dọa

- Nhận thức về rào cản hành động: những trở ngại thực hiện hành vi được đề

nghị “Nó có thể có ích nhưng có thể đắt tiền, có những tác dụng phụ, không thoải

mái, không thuận tiện hoặc mất thời gian” Như vậy, sự kết hợp tính nhạy cảm và

nghiêm trọng của bệnh sẽ tạo động lực hành động và nhận thức lợi ích (không córào cản) tạo hành động ưu tiên (Rosenstock, 1974)

- Nhận thức lợi ích hành động: một người có nhận thức về sự nhạy cảm đốivới tình trạng sức khỏe nghiêm trọng (nhận thức mối đe dọa), dù nhận thức này có

Trang 27

dẫn đến thay đổi hành vi hay không cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi niềm tin về lợi íchhành động để giảm mối đe dọa bệnh tật Như vậy, sẽ không có niềm tin tối ưu về sựnhạy cảm và sự trầm trọng để chấp nhận bất kỳ lời khuyên hành động nào nếu như

họ không nhận thức được hành động đó làm giảm mối đe dọa là có lợi ích

- Tín hiệu hành động: Kế hoạch sẵn sàng hành động Khái niệm tín hiệu như

cơ chế khởi đầu sự lôi cuốn thực hiện, tín hiệu hành động khó giải thích trongnghiên cứu, một tín hiệu có thể thoáng qua như một cái hắt hơi hoặc sự nhận thức

Mô hình Niềm tin sức khỏe nêu bật tầm quan trọng của nhận thức chủ quancủa cá nhân Để hành vi thay đổi thành công, người ta phải cảm thấy bị đe dọa bởihành vi hiện tại (nhận thức sự nhạy cảm và nghiêm trọng của bệnh) và tin rằng sựthay đổi sẽ dẫn đến kết quả tốt với chi phí có thể chấp nhận được (nhận thức lợiích) Bản thân họ cũng phải nhận thấy có khả năng (sự tự chủ) vượt qua nhận thứcrào cản [109] Mô hình đã được chấp nhận rộng rãi như một công cụ lập kế hoạchcác chương trình giáo dục sức khỏe nhằm đẩy mạnh việc tuân thủ những hành viphòng bệnh và những lời khuyên cho việc chăm sóc sức khỏe Mô hình Niềm tinsức khỏe cung cấp sự tham khảo, gợi ý cần thiết để phát triển các thông điệp nhằmnâng cao kiến thức và thay đổi niềm tin, đặc biệt là thiết kế thông điệp để sử dụngtrong các phương tiện truyền thông [68], [109]

1.5 Các nghiên cứu khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành về HBV

Trên thế giới và Việt Nam có rất nhiều nghiên cứu tìm hiểu kiến thức, thái độ

và thực hành về phòng ngừa viêm gan siêu vi B Nghiên cứu thực hiện ở nhiều quốc

Trang 28

gia và khu vực khác nhau với đối tượng nghiên cứu rất đa dạng bao gồm người dân,bệnh nhân, học sinh sinh viên, nhân viên y tế, các dân tộc, bệnh nhân, người đồnggiới Các nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về tiêm ngừa VGSVB cho con ởcác bà mẹ rất hạn chế Trong khi đó, các kết quả cho thấy rất nhiều sự khác biệt vềkiến thức, thái độ, thực hành giữa các đối tượng khác nhau và khác nhau trên cảnhững đối tượng có đặc điểm tương đồng Đáng chú ý hơn, nhiều nghiên cứu trênđối tượng có chuyên môn về y khoa như nhân viên y tế, sinh viên y khoa cũng chothấy sự thiếu hụt về kiến thức, thái độ chưa phù hợp và hạn chế về thực hành [36],[67],[75], [33], [27].

Những nghiên cứu trước đây trên thế giới và Việt Nam cho thấy sự khôngtương đồng về kiến thức thái độ thực hành giữa nhiều nhóm đối tượng và cả nhữngnhóm đối tượng có những đặc điểm gần nhau Sự chênh lệch này có thể do khôngthống nhất về phương pháp và công cụ đánh giá Phần lớn các nghiên cứu đánh giákhông dựa trên một mô hình cụ thể dẫn đến nhiều khó khăn trong giải thích, so sánh

và ứng dụng các kết quả Trong khi đó, nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra sựphù hợp của mô hình HBM trên nhiều đối tượng khác nhau Nghiên cứu định tínhcủa Maxwell đã chỉ ra khung lý thuyết hành vi sức khỏe phù hợp trên 4 nhóm ngườikhác nhau [98] Nhiều nghiên cứu định lượng dựa vào mô hình HBM cho thấyngoài mối liên quan nhân quả giữa kiến thức, thái độ, thực hành, thì yếu tố thựchành còn liên quan đến các yếu tố khác như rào cản, tín hiệu hành động [41], [91],[115], [124], [90], [157], [158] Những kết quả này càng góp phần thể hiện sự phùhợp của mô hình HBM trong thực tế Nổi bật là nghiên cứu của Rhode trên đốitượng đồng tính nam ở Mỹ đã cho thấy khả năng giải thích 78% hành vi tiêm ngừacủa đối tượng từ 2 yếu tố của mô hình là “nhận thức rào cản” và “nhận thức sự nguyhiểm bệnh” [115] Như vậy nhiều nghiên cứu dựa vào HBM đã xác định vai trò củacác biến số tâm lý trong tiên đoán hành vi xét nghiệm, tiêm ngừa trong các dân sốnghiên cứu khác nhau, các nghiên cứu đã chứng minh rằng nhận thức rào cản cao vànhận thức khả năng mắc bệnh thấp sẽ trì hoãn hành vi xét nghiệm, tiêm ngừa

Trang 29

Nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành tiêm ngừa VGSVB theo mô hình Niềm tin sức khỏe trên Thế giới:

Nghiên cứu định tính: Nghiên cứu của Maxwell A về can thiệp phù hợp

văn hóa để nâng cao sức khỏe về xét nghiệm VGSVB ở người Mỹ gốc châu Á:nhận thấy truyền thông đại chúng phù hợp với cộng đồng người Việt, thảo luậnnhóm nhỏ phù hợp với cộng đồng người Hàn Quốc và nhân viên y tế đến thăm hộgia đình phù hợp với người Campuchia và Hmong Khung lý thuyết hành vi sứckhỏe phù hợp sử dụng ở 4 nhóm người Niềm tin sức khỏe như nhận thức khả năngmắc bệnh, nhận thức sự nghiêm trọng của bệnh VGSVB thì giống nhau ở 4 nhóm.Tuy nhiên rào cản thì khác nhau Người Việt và Hàn Quốc cho rằng thiếu bảo hiểm,người Hàn Quốc và Campuchia cho rằng không có thời gian và người Hmong thì córào cản ngôn ngữ và sợ kết quả xét nghiệm dương tính [98]

Nghiên cứu định lượng: có 7 nghiên cứu đánh giá KAP dựa vào các đề mục

trong mô hình HBM trên nhiều đối tượng khác nhau như bà mẹ, nhân viên y tế,người dân Trong đó, chỉ có 2 nghiên cứu khảo sát trên đối tượng bà mẹ củaBigham với 5 đề mục trong mô hình HBM và Smith chỉ xét 2 đề mục trong mô hình

là khả năng mắc bệnh và rào cản tiêm ngừa Như vậy, đa số các nghiên cứu chưađánh giá đầy đủ 5 đề mục như trong mô hình HBM

Bigham (2006) đã sử dụng nghiên cứu cắt ngang để nghiên cứu hành vi tiêm

ngừa HBV cho trẻ dưới 6 tháng ở Canada dựa vào HBM, khảo sát qua điện thoại

487 cha mẹ hoặc người giám hộ trẻ được chia thành 2 nhóm đã tiêm ngừa và chưatiêm ngừa VGSVB Cha mẹ của những trẻ đã được tiêm ngừa có nhận thức về sựlây nhiễm HBV, nhận thức lợi ích và tín hiệu hành động cao hơn, nhận thức rào cảnthấp hơn những trẻ chưa tiêm ngừa.Yếu tố liên quan tiêm ngừa VGSVB cho trẻ là

“tín hiệu hành động” Bộ câu hỏi đánh giá thái độ đối với VGSVB dựa vào mô hìnhNiềm tin sức khỏe ở 2 nhóm có tiêm ngừa và không tiêm ngừa và thêm phần tiếpxúc trước đây và kiến thức [41]

Ma (2007) đã giải thích nhận thức nguy cơ và các rào cản xét nghiệm và tiêm

ngừa HBV ở người Mỹ gốc Việt dựa vào mô hình Niềm tin sức khỏe Nghiên cứu

Trang 30

359 người trưởng thành chia 2 nhóm có xét nghiệm (8,8%), không xét nghiệm và cótiêm ngừa (7,3%), không tiêm ngừa Kết quả cho thấy, những người đã xét nghiệmthì có nhận thức khả năng mắc bệnh, về sự trầm trọng của bệnh cao hơn và có nhậnthức rào cản thấp hơn nhóm chưa xét nghiệm Người có tiêm ngừa có rào cản thấphơn so với nhóm chưa tiêm Tín hiệu hành động (những người có người thân tronggia đình bị HBV hoặc được bác sĩ khuyên hoặc có tham gia hội thảo viêm gan) cóảnh hưởng tích cực đến hành vi xét nghiệm và tiêm ngừa, nhận thức rào cản cótương quan nghịch đến hành vi xét nghiệm và tiêm ngừa HBV, nghiên cứu chưađánh giá sự tự chủ [91].

Rhode (2008): Lý giải thái độ và niềm tin về tiêm ngừa vắc-xin VGSVB ở

358 người đồng tính nam ở Mỹ sử dụng thang đo Likert 5 mức độ Yếu tố của môhình Niềm tin sức khỏe là “nhận thức rào cản” và “nhận thức nhạy cảm” phù hợpvới mô hình Sự tự chủ không phù hợp trong giải thích hành vi tiêm ngừa, “nhậnthức rào cản” và „nhận thức sự nghiêm trọng” có giá trị tiên đoán hành vi tiêmngừa, giá trị tiên đoán của mô hình đã giải thích 78,4% hành vi tiêm ngừa trên thực

tế Không có sự khác biệt giữa yếu tố xã hội như tuổi, thu nhập, chủng tộc và trình

độ học vấn, nghiên cứu chưa đánh giá tín hiệu hành động [115]

Smith (2011): Nghiên cứu 11.206 cha mẹ trẻ 24 – 35 tháng ở Mỹ về sự trì

hoãn và từ chối tiêm ngừa cho trẻ 24 tháng đối với 10 loại vắc-xin trong chương

trình tiêm chủng Quốc gia: các bà mẹ được chia làm 4 nhóm: chấp nhận tiêm ngừa,trì hoãn tiêm ngừa, từ chối tiêm ngừa và nhóm vừa trì hoãn và từ chối tiêm Bà mẹ

từ chối vắc-xin thì tin rằng: vắc-xin không cần thiết, con họ có ít có khả năng mắc bệnh, vắc-xin không an toàn và con của những bà mẹ này có tỷ lệ tiêm ngừa thấp.

“Nhận thức nguy cơ mắc bệnh”, “Nhận thức về mối đe dọa”, “Nhận thức rào cản”liên quan đến hành vi tiêm ngừa Nghiên cứu chưa đánh giá tín hiệu hành động và

sự tự chủ trong mô hình Niềm tin sức khỏe [124]

Ma GX (2006): Nghiên cứu 429 người Mỹ gốc Trung Quốc về nhận thức

nguy cơ, rào cản và sự tự chủ về xét nghiệm và tiêm ngừa VGSVB Kết quả chothấy nhiều khả năng đồng ý xét nghiệm nếu: bác sĩ đề nghị, cho rằng HBV là bệnh

Trang 31

nghiêm trọng, HBV nguy hiểm và có thảo luận vấn đề HBV trong gia đình Rào cảnxét nghiệm là sợ kết quả bị nhiễm HBV, không biết nơi xét nghiệm và không đượcbác sĩ yêu cầu Rào cản tiêm ngừa là không có thời gian, không biết nơi và ngônngữ Nghiên cứu đánh giá tốt tất cả các yếu tố trong mô hình HBM, mối liên quantừng yếu tố với hành vi xét nghiệm và tiêm ngừa Giá trị tiên đoán của mô hình đãgiải thích 17% hành vi tiêm ngừa và 39% hành vi xét nghiệm [90].

Yousafzai (2014): Nghiên cứu các yếu tố liên quan hành vi tiêm ngừa

VGSVB ở 485 NVCSSKBĐ ở Pakistan, Bộ câu hỏi đánh giá dựa vào mô hìnhNiềm tin sức khỏe có độ tin cậy 0,75 và sử dụng thang đo Likert 5 điểm Kết quảđánh giá các yếu tố trong HBM bằng trị số trung bình và độ lệch chuẩn Nhữngngười đã tiêm ngừa có “nhận thức mối đe dọa” và “lợi ích” tiêm ngừa cao, nhậnthức rào cản thấp “Nhận thức về mối đe dọa”, “nhận thức lợi”, “nhận thức rào cản”

có liên quan hành vi tiêm chủng Nghiên cứu chưa đánh giá tín hiệu hành động và

sự tự chủ [157]

Yu (2016): Nghiên cứu 3050 người trưởng thành ở nông thôn Trung Quốc

chưa tiêm ngừa được chia thành 2 nhóm là có nhu cầu và không có nhu cầu tiêmngừa VGSVB trong thời gian tới để đánh giá kiến thức lây truyền, nhận thức khảnăng mắc bệnh và sự nguy hiểm của bệnh Kết quả cho thấy tuổi, nhận thức khảnăng mắc bệnh, nhận thức sự nghiêm trọng của bệnh khác nhau ở 2 nhóm có nhucầu và không có nhu cầu tiêm ngừa [158]

Bảng 1 9 Các khía cạnh khác nhau giữa các nghiên cứu theo

Trang 32

Tổng 6 6 5 6 3 2

1.5.1 Thái độ đối với tiêm ngừa viêm gan siêu vi B theo mô hình Niềm tin sức khỏe trên Thế giới:

- Thái độ về khả năng mắc bệnh: Chúng tôi nhận thấy chỉ có 5% bà mẹ

Canada nghĩ rằng con họ có nguy cơ mắc bệnh [41], có 8,39% ở người Trung Quốc[158] nhưng 38% ở người Trung Quốc di cư [73], người Mỹ gốc Trung Quốc với32,8% [90], tỷ lệ này cao hơn nhiều ở người Mỹ, có đến 70% ở những bà mẹ trìhoãn hay từ chối tiêm và 90% ở bà mẹ chấp nhận tiêm ngừa nghĩ rằng con họ cókhả năng mắc bệnh [124], có 90% bà mẹ chấp nhận tiêm ngừa cho rằng nếu khôngtiêm ngừa sẽ có khả năng mắc bệnh [124] Đa số người Mỹ gốc Việt không nghĩ họ

có khả năng mắc bệnh với điểm trung bình M = 2,55 [91] và cũng tương tự trên đốitượng đồng tính ở Mỹ nghĩ rằng bản thân ít có nguy cơ mắc bệnh với điểm trungbình M =2,85 [115]

- Thái độ đối với sự nghiêm trọng của bệnh: Trên 95% bà mẹ Canada cho

rằng HBV là bệnh nguy hiểm [41], người Mỹ gốc Trung 89,3% [90], 53,4% ởngười Trung Quốc trưởng thành [158] Tỷ lệ 80% người Trung Quốc di cư cho rằngHBV có thể gây xơ gan, ung thư gan, đa số đối tượng đồng tính ở Mỹ nghĩ rằngnguy hiểm do không có thuốc điều trị với điểm trung bình M = 6,4, có thể gây xơgan điểm trung bình M =7,77, ung thư gan M = 6,76 [115] và cũng tương tự đối vớinghiên cứu NVCSSKBĐ Pakistan nhận thức mối đe dọa về bệnh với điểm trungbình M =15,1 [157] Tuy nhiên, đa số người Mỹ gốc Việt không nghĩ nhiễm HBV

sẽ làm thay đổi cuộc sống của họ với điểm trung bình M = 4,1, nhưng nghĩ HBVgây ung thư gan và tử vong M = 3,64 [91]

- Thái độ đối với lợi ích tiêm chủng: Có 82% bà mẹ Canada nghĩ rằng “tiêm

ngừa sẽ phòng được bệnh”, 68% cho rằng sau tiêm ngừa, không lây bệnh cho ngườikhác [41], có 70,1% nhóm bà mẹ người Mỹ trì hoãn hoặc từ chối tiêm ngừa và96,2% nhóm chấp nhận tiêm ngừa cho rằng tiêm ngừa phòng được bệnh và con họ

có khả năng mắc bệnh nếu không tiêm ngừa (71% và 90%), vắc–xin an toàn (50,4%

Trang 33

và 84,9) [124] Nhóm đồng tính cho rằng tiêm ngừa sẽ phòng được bệnh M =3,63[115] Nhóm đã tiêm ngừa Mỹ gốc Việt nghĩ rằng xét nghiệm máu để phát hiệnbệnh sớm với điểm trung bình M = 3,89, tiêm ngừa để phòng lây bệnh cho ngườikhác M =3,56, phòng ung thư gan M = 4,11 [91] Đa số NVYT Pakistan biết lợi íchtiêm ngừa M =12,3 [157].

- Thái độ đối với các rào cản tiêm ngừa: Nhóm bà mẹ Canada có trẻ đã tiêm

và chưa tiêm ngừa VGSVB, các rào cản đối với họ: gây đau (49% và 38%), sợ kim

tiêm (22% và 24%), không thuận lợi cho trẻ đi tiêm (94 % và 80%), vắc-xin không

an toàn (1% và 12%) [41] Đối với nhóm bà mẹ người Mỹ chấp nhận và trì hoãntiêm ngừa: tỷ lệ các rào cản lần lượt là: “không biết nơi xét nghiệm” 15,1% và21,6%, “nếu tiêm ngừa con họ có thể có tác dụng phụ nghiêm trọng” 30,9% và47,4% [124] Các bà mẹ Mỹ gốc Trung các rào cản thường gặp là: 51,6% nghĩ rằngthiếu kiến thức VGSVB, cảm thấy không có vấn đề sức khỏe 34,6%, không có thờigian 10,8%, không biết nơi xét nghiệm 12,5%, bác sĩ không tư vấn 17,7% và chi phíxét nghiệm cao 4,9% [90] Bà mẹ Mỹ gốc Việt cho rằng: thiếu kiến thức với điểmtrung bình M=2,54, không cần thiết xét nghiệm nếu cảm thấy khỏe mạnh M=2,24,

sợ kết quả dương tính M=1,38 và không biết nơi xét nghiệm M=2,05 [91] Trên

người đồng tính: số ít trường hợp chưa bao giờ nghĩ đến tiêm ngừa VGSVBM=2,87 và không có thời gian tiêm ngừa M=2,3 [115] Nhận thức rào cản ở NVYT

ở dưới mức trung bình M=14,8 [157]

- Tín hiệu hành động: Tín hiệu hành động ở 2 nhóm có tiêm ngừa và không

tiêm ngừa, khảo sát ở Mỹ với các tỷ lệ lần lượt: ba/mẹ mong muốn bé được tiêmngừa (54% và 6%), người thân trong gia đình muốn bé được tiêm ngừa (31% và2%), điều dưỡng khuyên tiêm ngừa (51% và 18%), con của bạn bè/hàng xóm đềutiêm ngừa (58% và 10%) [41] Nhóm có tiêm ngừa và chưa tiêm ngừa Mỹ gốc Việt:Gia đình có người mang HBV (19% và 81%), bác sĩ khuyên xét nghiệm (22,2% và77,8%), không tham gia hội thảo về HBV (4,7% và 95,3%) [91] Người Mỹ gốcTrung Quốc: 11,8% gia đình có người mang HBV, 10,8% có tham gia hội thảoHBV, BS khuyên xét nghiệm 49,7%, thảo luận với gia đình, bạn bè 62,8% [90]

Trang 34

- Sự tự chủ: Chỉ có 2 nghiên cứu đánh giá sự tự chủ, có 51,6% bà mẹ Mỹ gốc

Trung chắc chắn tiêm ngừa đủ 3 mũi VGSVB [90] và đa số ở người đồng tính vớiđiểm trung bình M=3,65 [115]

Tóm lại: 5 yếu tố trong mô hình HBM đã giải thích được hành vi quyết định tiêmngừa, trong đó thái độ đối với lợi ích tiêm ngừa, với khả năng mắc bệnh, sự nguyhiểm của bệnh VGSVB, tín hiệu hành động làm tăng khả năng quyết định tiêmngừa, rào cản sẽ làm giảm tính tự chủ Các nghiên cứu đánh giá liên quan nhân quảKAP với bộ câu hỏi tự thiết kế và không dựa theo HBM có thể bỏ sót các yếu tố này

1.5.2 Các nghiên cứu về KAP liên quan đến HBV không dựa vào HBM nước ngoài Các nghiên cứu định tính: các nghiên cứu định tính chúng tôi tìm thấy bao

gồm phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung trên các đối tượng người Mỹ gốcViệt, Campuchia, Hmong, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và Úc và kết quảnhận thấy còn tồn tại nhiều kiến thức không đúng về khái niệm bệnh VGSVB,

đường lây truyền bệnh và nhận thức về vắc-xin.

- Khái niệm về VGSVB: Trong mô tả về nhiễm HBV, người Đông Nam Á

(Việt Nam, Campuchia, Hàn Quốc và Trung Quốc) đã mô tả thuật ngữ như là:

“bệnh gan”, “yếu gan) và “ung thư gan” [44], [111], [140] Người Camphuchia gọi

là “bệnh vàng da”, “bệnh máu xấu” [44], người Việt Nam gọi là bệnh VGSVB [43],người Hmong gọi là “ bệnh máu vàng” [82]

Như vậy, kết quả các nghiên cứu định tính cho thấy đa số người Đông Nam Á hiểusai về khái niệm VGSVB, đặc biệt người Campuchia hiểu sai về các loại viêm gantrong đó viêm gan A là giai đoạn đầu của bệnh, dẫn đến VGSVB và nặng nhất làviêm gan C [44]

- Nguyên nhân gây bệnh VGSVB: Nghiên cứu ở người Trung Quốc, Hàn

Quốc và Việt Nam tin rằng “yếu gan” gây ra HBV hơn là ngược lại Các yếu tốkhác như: thực phẩm có hại [43], [54], cuộc sống bị căng thẳng [111], do hormone[43], dinh dưỡng kém [76], ô nhiễm môi trường [43], hút thuốc, uống rượu [54]được coi như nguyên nhân gây yếu gan và do đó gây HBV Nghiên cứu người ViệtNam cho rằng nguyên nhân yếu gan là do lao động nặng, thiếu ăn và nghèo đói

Trang 35

[43] Có nhiều lý giải về nguyên nhân gây HBV khác nhau ở các nước Đông Nam

Á bao gồm: vệ sinh kém [44], [111], [140], các yếu tố sinh học như: gen vàhormone [44], [86], [111], do căng thẳng [43], [86], [111], do nghiệp hay số phận[44], [43], [74], [111] (người Việt ở Úc “tôi nghĩ bệnh do số phận, có vay có trả”),mất cân bằng trong cơ thể [44], [43], [54], [111] và các yếu tố về lối sống như mệt[54], [76], Đa số người Campuchia cho rằng do thực phẩm nóng như thịt, dầu, thức

ăn chiên [44] Trong khi, người Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt Nam thì đề cậpnhiều đến hút thuốc và rượu [76], [111] Nguyên nhân do vi trùng chỉ thấy ở ngườiCampuchia [44] Nguyên nhân do vi rút chỉ thấy ở người Trung Quốc [111]

Tóm lại, nguyên nhân VGSVB thường được người dân hiểu nhầm với các nguyênnhân không lây

- Đường lây truyền VGSVB: Người Mỹ gốc Việt, Trung Quốc và người

bệnh VGSVB ở Úc cho rằng HBV dễ dàng lây truyền qua các hoạt động hàng ngàynhư hôn, ăn uống chung hoặc tiếp xúc với người bị bệnh [54], [111], [140] Cùngthảo luận trong nhóm người Việt và Hàn Quốc nhưng người Trung Quốc thì chorằng đường lây truyền là đường máu và tình dục [111] Người Campuchia thì cho là

do không rửa tay sạch sẽ lây truyền viêm gan A, sau đó sẽ chuyển sang VGSVB và

C [44] Đa số họ không nhận thức được bản thân có nguy cơ cao mắc bệnh [111].Tóm lại, đường lây truyền cũng được nhiều người dân hiểu nhầm lây qua đườngtiêu hóa và nhận thức bản thân không có nguy cơ mắc bệnh

- Triệu chứng và điều trị: Người Trung Quốc, Campuchia và Việt Nam cho

rằng các triệu chứng như: vàng da, vàng mắt, máu màu vàng và cảm thấy mệt, gancứng, bụng to và rối loạn chức năng gan [44], [140] Người Việt ở Úc nghiện matúy không biết có thuốc điều trị bệnh và họ nghĩ rằng phát hiện mắc bệnh như HIV

họ sẽ tự tử [74] Nhầm lẫn khái niệm yếu gan trong đông y, nên chấp nhận dùngthuốc mát gan…Người Đông Nam Á (Campuchia, Việt Nam, Trung Quốc và HànQuốc) ở Mỹ cho rằng điều trị HBV chủ yếu là thay đổi lối sống, chế độ ăn, phục hồi

sự cân bằng bên trong và bên ngoài cơ thể [44], [76], [111] Ngay cả khi điều trị

Trang 36

thuốc ở bệnh viện, họ vẫn sử dụng thuốc y học cổ truyền vì chi phí hợp lý [76] hoặcnhư là phương thức cuối cùng khi các điều trị trước không hiệu quả [44], [76].

Tóm lại, điều trị VGSVB phụ thuộc vào y học cổ truyền do kinh tế cũng như tronggiai đoạn có biến chứng

Các nghiên cứu tìm thấy kinh nghiệm về vắc-xin khác nhau giữa các chủng tộc,

trong khi người Trung Quốc [53], [136], Hàn Quốc [53], [136] và Hà Lan gốc ThổNhĩ Kỳ [53], [136] có thái độ tích cực đối với tiêm ngừa và chấp nhận tiêm ngừa,những người khác (ở các nước Đông Nam Á) đã từ chối và chưa hiểu rõ mục đíchtiêm ngừa, chi phí, hiệu quả và lợi ích (bao gồm cả tác dụng phụ), số mũi và số lần

tiêm [44], [53], [54], [76], [140] Thiếu cung cấp thông tin về vắc-xin VGSVB từ

các chuyên gia y tế đã làm cho người Trung Quốc từ chối tiêm ngừa [54]

Như vậy, việc chấp nhận tiêm chủng ở người dân vẫn còn thấp do nhiều yếu tố tácđộng Về xét nghiệm, người Campuchia, Trung Quốc và Việt Nam cho rằng xétnghiệm có thể gây sốc và lo âu do thiếu thông tin trước và sau xét nghiệm từ bác sĩ[140] Điều đó tạo ra sự nhầm lẫn và lo sợ nên cũng có thể ảnh hưởng đến hành vitìm kiếm sức khỏe trong tương lai

Các nghiên cứu định lượng: chúng tôi nhận thấy đa số các nghiên cứu định

lượng KAP về VGSVB sử dụng bộ câu hỏi khảo sát không dựa vào mô hình lýthuyết rõ ràng trên nhiều đối tượng khác nhau, và hầu hết các nghiên cứu sử dụngcách chọn mẫu thuận tiện (thí dụ: đến khám bệnh hoặc tham gia các sự kiện cộngđồng) Tổng hợp các dữ liệu từ các nghiên cứu được trình bày theo các mục: kháiniệm về HBV, triệu chứng, nguyên nhân, đường lây, cách phòng ngừa, hậu quả vàđiều trị

- Kiến thức về viêm gan siêu vi B

Kiến thức về triệu chứng bệnh: Có 18-80% cho rằng nhiễm HBV có thể không có

triệu chứng và như vậy bệnh có thể lây truyền từ người trông có vẻ khỏe mạnh [48],[58], [59], [64], [73], [75], [82], [89], [102], [104], [131], [137], [138], [139], [154],chiếm tỷ lệ cao nhất ở người Trung Quốc 80% [73] và chỉ có 18,6% người Pakistan[135] và 23% ở người Campuchia [48] Tìm thấy sự khác nhau về kiến thức nàytrong cùng dân tộc, ở các nghiên cứu khác nhau cho thấy kiến thức cao và thấp khác

Trang 37

nhau như: 50% và 80% ở người Trung Quốc [59], [73] Tóm lại, kiến thức về triệuchứng bệnh dao động và khác nhau trên các đối tượng khác nhau.

Kiến thức về tác nhân gây bệnh và đường lây truyền: có 62,3% người Malaysia

và 95,2% người Iran cho rằng VGSVB do vi rút [97], [100], có đến 45% cho rằng

do vi trùng [100] và tỷ lệ cao 73% người Hà Lan gốc Thổ Nhĩ Kỳ không bao giờnghĩ bản thân mắc bệnh [137] Nghiên cứu trên người châu Á cho thấy 10 - 80%biết HBV lây qua đường tình dục [45], [48], [58], [59], [64], [73], [75], [82], [86],[92], [93], [97], [100], [102], [104], [110], [127], [130], [131], [132], [135], [138],[139], [140], [153], [154], [156] người Pakistan có kiến thức thấp nhất (10,1%)[135], cao nhất ở người Malaysia (79,3%) [100] Chúng tôi cũng nhận thấy có sựkhác nhau trong cùng chủng tộc về nhận thức nguy cơ lây truyền qua đường tìnhdục, với 23% người Việt ở Philadenphia nhưng 71% người Việt ở Seattle [75], [92],[139] Kiến thức đúng về nguy cơ lây truyền ngang như: tiếp xúc máu, dịch tiếtngười bị nhiễm cho thấy có 61-90% [48], [59], [75], [87], [97], [100], [127], [153],chiếm tỷ lệ cao nhất ở người Mỹ gốc Việt 90% [59] và thấp nhất 63,3% ở người Mỹgốc châu Á nói chung [153] Kiến thức đúng về đường lây do sử dụng bơm kimtiêm chung chỉ chiếm 52% đến 69% [48], [75], [93], [153], tỷ lệ này cao nhất ởngười Mỹ gốc Việt 69,1% [48], thấp nhất 52,1% ở người Trung Quốc [93] Tương

tự, có 33% đến 85% người dân có kiến thức đúng về đường lây truyền do sử dụngchung bàn chải, dao cạo râu [45], [48], [73], [75], [92], [93], [100], [102], [104],[131], [132], [139], [153], kiến thức lây truyền do dùng chung bàn chải ở ngườiHmong là thấp nhất chiếm tỷ lệ 33% [45] và cao nhất ở người Campuchia 85%[132], kết quả cho thấy có sự khác nhau trong nhóm người Việt Nam trong cácnghiên cứu khác nhau, tỷ lệ này từ 45 đến 77% [75], [92], [102] có thể do cỡ mẩukhác nhau

Bên cạnh đó, chúng tôi nhận thấy còn tồn tại nhiều kiến thức sai lầm về đường lâytruyền, với tỷ lệ 22,6%-60% người Đông Nam Á thường cho rằng lây truyền HBV

là do nước ô nhiễm, thức ăn sống hoặc chưa nấu chín, thức ăn bị nhiễm [48], [59],[82], [87], [127], [153], thấp nhất trên đối tượng người Hồng Kông 22,6% [87] và

Trang 38

cao nhất là 60% ở người Lào [48], cùng 53% ở người Trung Quốc và người Mỹ gốcchâu Á [59], [153] Tỷ lệ 39,8% - 79% cho rằng lây truyền do ăn uống chung [44],[54], [64], [75], [92], [93], [97], [100], [111], [132], [135], [140] cho thấy kiến thứcsai lầm này thấp nhất ở người Việt 39,8% [75] và cao nhất ở người Lào 79% [132].Cũng trên cùng đối tượng người Mỹ gốc Việt nhưng cho thấy tỷ lệ có kiến thứckhông đúng về đường lây truyền cao thấp khác nhau trên 2 nhóm đối tượng ngườidân và sinh viên 39,8% và 59,9% dù ở cùng thời điểm nghiên cứu [75], [92] Cácnghiên cứu cho thấy rằng 28% - 72% người châu Á tin rằng HBV được lây truyền

do thức ăn của người bị nhiễm HBV chế biến [48], [92], [93], [131], [132], [130]kiến thức sai lầm này thấp nhất là 28,5% ở người Việt [92] và cao nhất 72,1% ởngười Lào [48] Có 22% - 93% người châu Á hiểu sai rằng nhiễm HBV do ăn uốngchung, trong đó người Trung Quốc và Việt Nam chiếm tỷ lệ trung bình 60% - 67%[93], [104], [154], cao nhất 93,2% người Hà Lan gốc Thổ Nhĩ Kỳ [137] vàMalaysia [100], thấp nhất ở sinh viên Iran 22,6% [97] Người châu Mỹ cho thấy cókiến thức đúng đường lây truyền cao hơn ở người châu Á, cụ thể chỉ có 28,5% kiếnthức sai lầm về lây truyền qua tiêu hóa ở người Canada [89] và 26% ở người Mỹ[127] Có 37% - 71% cho rằng lây truyền do ho, sổ mũi [100], [104], [132], nhậnthấy kiến thức sai lầm này cao nhất ở người Lào 71% [132], thấp nhất ở ngườiMalaysia 37,3% [100], do tiếp xúc hàng ngày 12,2% [100], do di truyền chiếm 30%người Mỹ [127] Kiến thức lây truyền dọc lúc sinh chiếm tỷ lệ 24% - 91% [45],[58], [59], [64], [73], [75], [82], [86], [87], [89], [90], [93], [97], [100], [102], [104],[127], [131], [132], [135], [137], [139], [153], [154], kiến thức này thấp chiếm 34%trong nghiên cứu ở người Hàn Quốc [86], 38% người Samoa và Chamorro ở Mỹ[127], thấp nhất 24% ở người Pakistan nhưng có xu hướng cao ở người TrungQuốc(76-91%) [58], [59], [89], [130], [139] và 83,9% ở người Malaysia [100] Tuynhiên, kết quả từ các nghiên cứu khác nhau cho thấy có sự khác nhau trong cùngdân tộc, như kiến thức về yếu tố nguy cơ này thì thấp ở người Hàn Quốc ở Rocky[86], nhưng lại cao ở người Hàn Quốc ở Los Angeles [40], người Mỹ gốc Việt (59-85%) [75], [92] và người Úc gốc Việt (67%) [139] Ngược lại, nghiên cứu người Úc

Trang 39

gốc Trung Quốc và Việt Nam cho thấy không có sự khác nhau về dân tộc trong kiếnthức về cách lây truyền này [139].

Kiến thức về phòng ngừa bệnh: Những người di cư đã giải thích nhiều cách

phòng ngừa khác nhau, tỷ lệ cao 60% - 96% có kiến thức đúng về cách phòng ngừabệnh, cho rằng phòng ngừa bằng cách tiêm ngừa [45], [48], [58], [59], [75], [92],[91], [93], [100], [137], [153], [154], [156], chiếm tỷ lệ cao nhất 95% ở người Mỹgốc Trung Quốc [59] và 95,9% ở người Trung Quốc gốc Canada [89] nhưng lạithấp nhất 62,2% ở người Trung Quốc [93], người Mỹ gốc Việt chiếm tỷ lệ trungbình 70 – 80% [75], [92], [153] Bên cạnh đó, chúng tôi còn nhận thấy những kiếnthức không đúng về phòng ngừa VGSVB như rửa tay trước ăn và tập thể dục với tỷ

lệ lần lượt là 58,1% và 28,1% ở người Mỹ gốc Việt [92], 48,2% và 42,7% ngườiTrung Quốc [93] Thức ăn nấu chín (46,7%) và 48,2% tránh nguồn nước ô nhiễm[153]

Kiến thức về sự nguy hiểm của VGSVB: Kiến thức về hậu quả VGSVB bao gồm

xơ gan chiếm tỷ lệ khá cao 40-98% [59], [64], [73], [87], [89], [97], [130], [153],[154], có 25% - 92% cho rằng VGSVB gây ung thư gan [48], [58], [59], [64], [73],[75], [82], [88], [97], [98], [100], [104], [102], [130], [131], [135], [137], [139],[153], [154], [156], kiến thức này thấp nhất ở người Thổ Nhĩ Kỳ 25% [137] và caonhất ở người Việt 98% [59], tỷ lệ có kiến thức đúng về hậu quả nhiễm HBV mạntính ở người châu Á chiếm tỷ lệ 24-75% [40], [48], [58], [59], [64], [82], [89], [98],[100], [102], [131], [137], [138], [139], [156], cho thấy người Mỹ gốc Việt được cókiến thức đúng cao nhất 75% [59] Hậu quả gây tử vong (36-70%) [40], [48], [73],[75], [82], [102], [137], [138], [153], [156], trong đó người Hà Lan gốc Thổ Nhĩ Kỳ

có kiến thức về nhiễm HBV có khả năng gây tử vong thấp nhất 36% [137] tiếp theo

là người Trung Quốc ở Hà Lan 47,3% [138], cao nhất ở người Canada gốc TrungQuốc 70% [73], người Mỹ gốc Việt chiếm tỷ lệ trung bình 49% [75] Như vậy, kiếnthức về hậu quả của bệnh VGSVB không đồng đều trên các nhóm đối tượng nghiêncứu và đa số đạt mức độ trung bình

Kiến thức về điều trị VGSVB: Các nghiên cứu cho thấy 34% - 84% người dân

biết có thuốc điều trị HBV [48], [59], [64], [75], [89], [97], [131], [135], [139],

Trang 40

[154], [156], trong đó người Mỹ gốc Việt chiếm tỷ lệ cao 84% [59], nhưng trên sinhviên Mỹ gốc Việt lại cho thấy có kiến thức này thấp nhất 33,9% [75], có đến 61%người Mỹ gốc châu Á không biết rằng bệnh VGSVB không thể điều trị khỏi [153]điều này cho thấy còn tỷ lệ khá cao người dân chưa có kiến đúng về sự nguy hiểmcủa bệnh VGSVB.

Tóm lại, qua các nghiên cứu trong 10 năm, mặc dù có nhiều tiến bộ trong điều trị và

dự phòng VGSVB nhưng trên thực tế KAP của người dân ở các nơi nghiên cứu vẫncòn thấp và dao động không đồng nhất, vẫn còn hiểu nhầm về nguyên nhân, đườnglây, khả năng mắc bệnh và điều trị trong cả nghiên cứu định tính và định lượng

- Thái độ đối với HBV và tiêm ngừa VGSVB:

Thái độ đối với nguy cơ mắc bệnh: Đa số 73,2% người Lào nghĩ rằng tất cả mọi

người đều có nguy cơ nhiễm HBV [156], người Hmong 67,5% [82], cũng là ngườichâu Á nhưng có đến 79,7% người Pakistan lại nghĩ bản thân không bao giờ bị bệnhVGSVB [135], người Lào cho rằng người không có triệu chứng có thể lây truyềnHBV 53.9% [156]

Thái độ đối với đường lây: Thái độ không đúng về đường lây cho thấy người

Trung Quốc và Mỹ gốc Việt cho rằng nên tránh tiếp xúc người khác như: ôm, hôn62% [59] và 38,7% [104], người Iran nghĩ rằng không ở cùng với người bệnh 17,5%[97], có đến 68,7% người Malaysia sợ lây truyền cho người trong gia đình và bạn bè

do tiếp xúc hàng ngày [100]

Thái độ đối với hậu quả bệnh VGSVB: Đa số người Mỹ gốc Việt 64,7% [92], Mỹ

gốc Trung 72,1% [93] và 80,6% người Lào [156] nghĩ rằng HBV gây ung gan,người Hmong nghĩ HBV gây ung thư gan 67,5% và 83,1% nghĩ rằng bệnh gây tửvong [82], cũng tương tự 77,7% ở người Lào nghĩ rằng HBV có thể gây tử vong[156] Như vậy, đa số người dân có thái độ đúng về sụ nguy hiểm của bệnhVGSVB

Thái độ đối với điều trị và phòng ngừa: Có 44,3% người Lào nghĩ HBV có thể

điều trị/ phòng ngừa được[156], người Hmong nghĩ không thể điều trị khỏi HBVchiếm 45,8% [82] Các nghiên cứu cho thấy 76,6% người Iran [113] và 89,1%

Ngày đăng: 13/09/2018, 10:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Triệu An (2014) Khái niệm về đáp ứng miễn dịch. Nguyễn Ngọc Lanh, Văn ĐìnhHoa (Eds.) Miễn dịch học. NXB Y học, Trường Đại học Y Hà Nội, tr.21- 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miễn dịch học
Nhà XB: NXB Y học
2. Bộ Y Tế (2010) Quyết định số 845/2010/QĐ-BYT ngày 17/03/2010 về lịch tiêm các vắc xin phòng Lao, Viêm gan B, Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván, Bại liệt, Sở, Hib, trong dự án tiêm chủng mở rộng Quốc gia, tr.1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 845/2010/QĐ-BYT ngày 17/03/2010 về lịch tiêmcác vắc xin phòng Lao, Viêm gan B, Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván, Bại liệt, Sở,Hib, trong dự án tiêm chủng mở rộng Quốc gia
3. Nguyễn Hữu Chí (2014) Một số đặc điểm dịch tễ hiện nay của bệnh viêm gan siêu vi B. Nguyễn Hữu Chí (Ed.) Các loại bệnh viêm gan siêu vi. NXB Thanh niên, Đại học Y dược TPHCM, tr.143-154 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các loại bệnh viêm gan siêu vi
Nhà XB: NXBThanh niên
4. Trần Thị Chính (2014) Tế bào B và đáp ứng miễn dịch dịch thể. Nguyễn Ngọc Lanh, Văn Đình Khoa (Eds.) Miễn dịch học. NXB Y học, Trường Đại học Y Hà Nội, tr.45-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miễn dịch học
Nhà XB: NXB Y học
5. Cục Y tế dự phòng - Bộ Y tế (2015) Tình hình phản ứng sau tiêm chủng từ 01/01//2015 đến 31/12/2015, h ttp://v n cdc.g o v.vn/vi/h o a t -dong - nra / 882/tinh- hinh-pha n - ung-sau - ti e m - c hun g -t u -01-01 - 20 1 5-den-3 1 - 1 2-2015 , 2/3/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình phản ứng sau tiêm chủng từ01/01//2015 đến 31/12/2015
6. Cục thống kê Thành phố Hồ Chí Minh (2016) Danh mục quận huyện, http://w w w.pso. h och i minhci t y .g o v.vn/w e b/gu e st/dan h m u c thong k e -danh m ucq u anh u y e n , 1/2/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh mục quận huyện
7. Trần Ngọc Dung, Huỳnh Thị Kim Yến (2012) "Nghiên cứu tình hình nhiễm và kiến thức, thái độ, hành vi của người dân về phòng chống lây nhiễm virus viêm gan B ở Quận Ninh Kiều Thành phố Cần Thơ năm 2010". Tạp chí Y học thực hành, 88 (2), tr.161-164 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình nhiễm vàkiến thức, thái độ, hành vi của người dân về phòng chống lây nhiễm virusviêm gan B ở Quận Ninh Kiều Thành phố Cần Thơ năm 2010
8. Bùi Thị Dung, Doãn Ngọc Hải, Nguyễn Bích Diệp (2015) "Kiến thức của các bà mẹ về tiêm phòng vắc xin viêm gan B liều sơ sinh tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình, năm 2014". Tạp chí Y học dự phòng, 25 (12), tr.90-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức của các bàmẹ về tiêm phòng vắc xin viêm gan B liều sơ sinh tại huyện Lương Sơn, tỉnhHoà Bình, năm 2014
9. Ngô Anh Dũng (2012) Viêm gan virus. Phạm Lê An (Ed.) Chăm sóc sức khỏe ban đầu. NXB Y học, Đại học Y dược TPHCM, tr.167-170 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc sức khỏeban đầu
Nhà XB: NXB Y học
10. Nguyễn Thị Điểm, Lê Thị Phượng, Tạ Văn Trầm (2012) "Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống lây nhiễm vi rút viêm gan B của nhân viên y tế bệnh viên đa khoa Tiền Giang". Tạp chí Y học thực hành, 841 (9), tr.25-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ,thực hành về phòng chống lây nhiễm vi rút viêm gan B của nhân viên y tếbệnh viên đa khoa Tiền Giang
11. Huỳnh Giao, Phạm Lê An (2010) "Kiến thức thái độ của các bà mẹ có con dưới 1 tuổi về tiêm chủng trong tiêm chủng mở rộng, thuốc chủng phối hợp, thuốc chủng Rotavirus, HumanPapiloma virus tại Bệnh viện Nhi đồng 2 và Quận Tân phú TP.HCM năm 2009". Tạp chí y học dự phòng, tr.89-95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức thái độ của các bà mẹ có con dưới1 tuổi về tiêm chủng trong tiêm chủng mở rộng, thuốc chủng phối hợp, thuốcchủng Rotavirus, HumanPapiloma virus tại Bệnh viện Nhi đồng 2 và QuậnTân phú TP.HCM năm 2009
12. Huỳnh Giao, Bùi Quang Vinh, Phạm Lê An (2015) "Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêm chủng vắc-xin viêm gan B cho trẻ dưới 1 tuổi ". Tạp chí y học TPHCM, 19 (1), tr.143-148 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố ảnh hưởng đếnquyết định tiêm chủng vắc-xin viêm gan B cho trẻ dưới 1 tuổi
13. Huỳnh Giao, Bùi Quang Vinh, Phạm Lê An (2016) "Nhận thức sai lầm của bà mẹ về bệnh viêm gan B và vắc-xin viêm gan B ". Tạp chí Y học TPHCM, 33, tr.183-188 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức sai lầm của bàmẹ về bệnh viêm gan B và vắc-xin viêm gan B
14. Huỳnh Giao, Bùi Quang Vinh, Phạm Lê An (2016) "Tỷ lệ tiêm ngừa vắc-xin viêm gan B và nhận thức về bệnh viêm gan B của sinh viên ". Tạp chí Y học TPHCM, 33, tr.189-193 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ tiêm ngừa vắc-xinviêm gan B và nhận thức về bệnh viêm gan B của sinh viên
15. Nguyễn Văn Hiến (2006) Hành vi sức khỏe, quá trình thay đổi hành vi sức khỏe và giáo dục sức khỏe. Khoa học hành vi và giáo dục sức khỏe. NXB Yhọc, Hà Nội, tr.33-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học hành vi và giáo dục sức khỏe
Nhà XB: NXB Yhọc
16. Ngô Văn Hiến, Nguyễn Cảnh Phú (2012) "Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh viêm gan B của bà mẹ có con duới 5 tuổi tại huyện Nghi Xuân, Tỉnh Hà Tỉnh năm 2010". Tạp chí Y học thực hành, 814, tr.68-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ, thực hành vềphòng bệnh viêm gan B của bà mẹ có con duới 5 tuổi tại huyện Nghi Xuân,Tỉnh Hà Tỉnh năm 2010
17. Ngô Văn Hiến, Nguyễn Cảnh Phú (2012) "Nghiên cứu tỉ lệ tiêm vacxin viêm gan B của trẻ dưới 1 tuổi và một số yếu tố liên quan tại huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh". Tạp chí Y học thực hành, 817 (4), tr.50-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tỉ lệ tiêm vacxin viêmgan B của trẻ dưới 1 tuổi và một số yếu tố liên quan tại huyện Nghi Xuân,tỉnh Hà Tĩnh
18. Huỳnh Minh Hoàn, Hà Văn Thiệu (2010) "Tỉ lệ viêm gan siêu vi B và hiệu giá kháng thể anti-HBs ở trẻ 1-6 tuổi đã được tiêm chủng vacine viêm gan B". Tạp chí y học thành phố Hồ Chí Minh, 15 (3), tr.20-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỉ lệ viêm gan siêu vi B và hiệu giá kháng thể anti-HBs ở trẻ 1-6 tuổi đã được tiêm chủng vacine viêm gan B
20. Dương Thị Hồng, Trần Thị Kiều Anh, Đoàn Thùy Dương (2015) "Thực trạng tiêm vắc xin viêm gan B sơ sinh tại huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang năm 2015 và một số yếu tố liên quan". Tạp chí Y học dự phòng, 26 (1), tr.35-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạngtiêm vắc xin viêm gan B sơ sinh tại huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang năm2015 và một số yếu tố liên quan
21. Nguyễn Thanh Hương, Trương Quang Tiến (2006) Hành vi sức khỏe và quá trình thay đổi hành vi. Khoa học hành vi và giáo dục sức khỏe. NXB Y học, Hà Nội, tr.27-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học hành vi và giáo dục sức khỏe
Nhà XB: NXB Y học

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w