khóa luận tốt nghiệp nội dung: Giáo dục kĩ năng sống trong môn học địa lí lớp 11 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 1. Lí do chọn đề tài 1 2. Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài 2 2.1. Mục tiêu 2 2.2. Nhiệm vụ 3 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3 3.1. Đối tượng 3 3.2. Phạm vi nghiên cứu 3 4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3 4.1. Trên thế giới 3 4.2. Ở Việt Nam 5 5. Phương pháp nghiên cứu 8 5.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết 8 5.1.1. Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu 8 5.1.2. Phương pháp thống kê toán học 8 5.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 8 5.2.1. Phương pháp điều tra, khảo sát 8 5.2.2. Phương pháp chuyên gia 9 5.2.3. Phương pháp thực nghiệm 9 5.2.4. Phương pháp bổ trợ (Phương pháp biểu đồ) 10 5. Đóng góp của đề tài 10 5.1. Về lí luận 10 5.2. Về thực tiễn 10 6. Bố cục của đề tài 11 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 12 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN GIÁO DỤC KI NĂNG SỐNG TRONG DẠY HỌC MỘT SỐ BÀI ĐỊA LÍ LỚP 11 – BAN CƠ BẢN 12 1.1. Cơ sở lý luận 12 1.1.1. Một số khái niệm về KNS 12 1.1.2. Giáo dục kĩ năng sống 17 1.1.3. Nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 11 18 1.1.3.1. Kĩ năng ra quyết định 18 1.1.3.2. Kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin 21 1.1.3.3. Kĩ năng giao tiếp 22 1.1.3.4. Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ 22 1.1.3.5. Kĩ năng hợp tác 23 1.1.3.6. Kĩ năng thể hiện sự tự tin 24 1.1.3.7.Kĩ năng tự nhận thức 25 1.1.3.8. Kĩ năng tư duy sáng tạo 25 1.1.3.9. Kĩ năng giải quyết vấn đề 26 1.1.3.10. Kĩ năng lắng nghe tích cực 26 1.2. Cơ sở thực tiễn 27 1.2.1. Mục tiêu, cấu trúc chương trình và nội dung sách giáo khoa (SGK) Địa lí lớp 11 – Ban cơ bản 27 1.2.1.1. Mục tiêu chương trình Địa lí 11 – Ban cơ bản 27 1.2.1.2. Cấu trúc chương trình SGK Địa lí lớp 11 – Ban cơ bản 28 1.2.1.3. Nội dung chương trình SGK Địa lí lớp 11 – Ban cơ bản 28 1.2.2. Đặc điểm tâm lý và trình độ nhận thức của HS lớp 11 29 1.2.3. Thực trạng giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam 30 1.2.3.1. Tại các trường THPT nói chung 30 1.2.3.2. Trong chương trình Địa lí lớp 11 33 CHƯƠNG 2: CÁCH THỨC GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG TRONG DẠY HỌC MỘT SỐ BÀI ĐỊA LÍ LỚP 11 – BAN CƠ BẢN 34 2.1. Mục tiêu giáo dục kĩ năng sống trong dạy học một số bài Địa lí lớp 11 34 2.2. Tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường THPT và trong dạy học một số bài Địa lí lớp 11 34 2.2.1. Tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường THPT 34 2.2.2. Tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống trong dạy học Địa lí lớp 11 36 2.3. Địa chỉ giáo dục kĩ năng sống trong một số bài Địa lí lớp 11 36 2.4. Cách tiếp cận, các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực gắn giáo dục kĩ năng sống trong dạy học một số bài Địa lí lớp 11 50 2.4.1. Cách tiếp cận giáo dục kĩ năng sống trong dạy học một số bài Địa lí lớp 11 50 2.4.2. Các phương pháp giáo dục kĩ năng sống trong dạy học một số bài Địa lí lớp 11 50 2.4.2.1. Phương pháp dạy học theo nhóm 50 2.4.2.2. Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình 51 2.4.2.3. Phương pháp giải quyết vấn đề 51 2.4.2.4. Phương pháp đóng vai 51 2.4.2.5. Phương pháp trò chơi 52 2.4.2.6. Dạy học theo dự án 52 2.4.3. Một số kĩ thuật dạy học tích cực gắn giáo dục kĩ năng sống trong dạy học một số bài Địa lí lớp 11 53 2.4.3.1. Kĩ thuật chia nhóm 53 2.4.3.2. Kĩ thuật đặt câu hỏi 53 2.4.3.3. Kĩ thuật giao nhiệm vụ 54 2.4.3.4. Kĩ thuật “trình bày 1 phút” 54 2.4.3.5. Kĩ thuật “hỏi và trả lời” 54 2.4.3.6. Kĩ thuật động não 55 2.4.3.7. Kĩ thuật “hoàn tất một nhiệm vụ” 55 2.5. Các bước thực hiện bài giáo dục kĩ năng sống trong một số bài Địa lí lớp 11 55 CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 58 3.1. Mục đích thực nghiệm 58 3.2. Nguyên tắc tiến hành thực nghiệm 59 3.3. Nhiệm vụ thực nghiệm 59 3.4. Tổ chức thực nghiệm 59 3.5. Kết quả thực nghiệm 60 3.6. Một số bài học rút ra từ thực tiễn 65 KẾT LUẬN 66
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Thế kỷ XXI là thế kỷ hội nhập và phát triển không chỉ trên lĩnh vực kinh tế,chính trị mà còn ảnh hưởng sâu sắc tới nền giáo dục các quốc gia trên thế giới Cả thếgiới đều hướng loài người tới một tương lai tươi sáng vì ngày mai, việc đẩy mạnh hoạtđộng giáo dục cho thế hệ trẻ là một yếu tố vô cùng quan trọng không thể thiếu được ởmỗi quốc gia, vì thế hệ trẻ là chủ nhân tương lai thực sự của đất nước Bởi thế, việcgiáo dục rèn các kĩ năng sống (KNS), kĩ năng nghề nghiệp là vô cùng quan trọng
Tuy nhiên, muốn thực hiện được điều này thì cần phải có thời gian, cần phải cómột chương trình dài hạn cho từng kế hoạch cụ thể Việc giáo dục trước hết phải đi từnhững nguyên tắc, nguyên lí hay định nghĩa trước (lí thuyết), từ đó hình thành các kĩnăng, kĩ sảo thực hành bộ môn để người học ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống
Hiện nay, trên thế giới có tới trên 155 nước đã đưa việc rèn kĩ năng sống chohọc sinh vào các chương trình giáo dục ở mọi lứa tuổi, ở các chương trình giáo dụckhác nhau đặc biệt là các chương trình môn học thuộc khoa học xã hội, trong đó cómôn Địa Lí
Trong chương trình giáo dục cũng đã thực hiện việc đổi mới về mục tiêu, nộidung và phương pháp dạy học gắn với bốn trụ cột giáo của thế kỷ XXI: Học để biết,học để làm, học để tự khẳng định, học để cùng chung sống – mà thực chất là cách tiếpcận kĩ năng sống
Việc rèn kĩ năng sống cho học sinh trung học phổ thông(THPT) có vai trò hếtsức quan trọng, nó không chỉ góp phần củng cố vốn kiến thức từ sách vở mà còn củng
cố vốn kiến thức ngoài thực tế, củng cố cho học sinh(HS) kĩ năng, kĩ xảo, hành vi, cáchứng xử và đối phó với những biến đổi ngoài môi trường sống, giúp cho các em tự tinhơn trong các tình huống hay các sự cố sảy ra ngoài ý muốn của bản thân, từ đó họcsinh có thể vận dụng tốt hơn kiến thức và áp dụng KNS một cách hiệu quả hơn
Trên thực tế cho thấy sau khi các em được rèn KNS, các em tự tin hơn rất nhiều,không biểu hiện những thái độ tiêu cực và dần trở nên vững vàng hơn trong cuộc sống
và các mối quan hệ trong xã hội, mối quan hệ con người với tự nhiên ngày càng hoàn
1
Trang 2thiện hơn Mặt khác giúp HS củng cố nhân cách, phẩm chất đạo đức vốn có của ngườiViệt.
Như vậy, việc rèn KNS cho học sinh THPT là một yêu cầu bức thiết, nhằm khắcphục những hạn chế ở lứa tuổi học sinh và phát huy những thế mạnh vốn có ở lứa tuổinày.Việc rèn KNS không chỉ là mối quan tâm của nhiều nước trên thế giới, vì vai tròtích cực đó nên ở Việt Nam trong những năm qua đã đẩy mạnh những hoạt động này
và đã mang lại hiệu quả cao.Ở tỉnh Bình Định việc rèn kĩ năng sống có vai trò hết sứcquan trọng, có tính ứng dụng thực tế rất cao, các kĩ năng được lồng ghép như kĩ năngbảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, khai thác tài nguyên thiên nhiên.Sở
dĩ những kĩ năng này rất quan trọng đối với học sinh ở tỉnh Bình Định vì đây là mộttrong những tỉnh giàu có tài nguyên thiên nhiên, nhưng trong những năm qua cácnguồn tài nguyên đó đang bị suy giảm nghiêm trọng.Việc khai thác, sử dụng tài nguyênthiên nhiên chưa hợp lí.Hiện tượng chặt phá rừng, đốt nương làm rẫy bừa bãi dẫn đến
hệ quả mực nước ngầm bị hạ thấp, hiện tượng rửa trôi, sói mòn, sạt lở đất, lũ quét gây thiệt hại nặng nề cho người và tài sản
Mặt khác, hiện nay ở tỉnh Bình Định, trình độ tri thức của một bộ phận học sinhvẫn còn hạn chế, việc rèn kĩ năng sống sẽ góp phần nâng cao vốn hiểu biết, những trithức, giá trị cuộc sống cho các em HS, các kĩ năng sống mà học sinh tiếp thu được saunày ra trường có thể ứng dụng vào cuộc sống
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“Giáo dục kĩ năng sống trong dạy học một số bài học Địa lí lớp 11 – Ban cơ bản”
làm khoá luận tốt nghiệp
2 Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài
2.1 Mục tiêu
Đề tài hoàn thành với mục tiêu cơ bản là: Giúp cho học sinh hiểu được KNS,các kĩ năng ứng xử, từ đó trang bị cho HS những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năngphù hợp Trên cơ sở đó hình thành cho HS những thói quen, hành vi lành mạnh, tíchcực; Loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống
và hoạt động hằng ngày
2
Trang 32.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục tiêu trên đề tài có nhiệm vụ cơ bản là:
- Tổng hợp những vấn đề lý luận có liên quan đến KNS, giáo dục KNS, nộidung giáo dục KNS
- Thống kê, phân tích những bài, nội dung có liên quan đến KNS trong chươngtrình Địa lí lớp 11 để lồng ghép giáo dục KNS trong chương trình địa lí lớp 11
- Thiết kế một số giáo án và tiến hành thực nghiệm ở trường THPT Phù Cát 2,huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng
- Nội dung, chương trình SGK Địa lí – Ban cơ bản lớp 11
- Nội dung giáo dục KNS qua việc dạy học chương trình Địa lí – Ban cơ bản lớp11
- Khách thể nghiên cứu là giáo viên (GV) và học sinh (HS) trường THPT PhùCát 2, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
4.1 Trên thế giới
Trong những năm gần đây, thuật ngữ “Kĩ năng sống’’ đã xuất hiện khá phổbiến Theo một số tài liệu, kĩ năng sống là những trải nghiệm có hiệu quả nhất, giúpgiải quyết hoặc đáp ứng các nhu cầu cụ thể, trong suốt quá trình tồn tại và phát triển
3
Trang 4của con người Kĩ năng sống bao gồm cả hành vi vận động của cơ thể và tư duy trongnão bộ của con người Kĩ năng có thể hình thành một cách tự nhiên, thông qua học tậphoặc rèn luyện của con người.
Trong một số chương trình giáo dục của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc trướctiên là chương trình “Giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dụccho thế hệ trẻ Những nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này mong muốn thống nhấtđược một quan niệm chung về KNS cũng như đưa ra được một bản danh mục các kĩnăng cơ bản mà thế hệ trẻ cần có Phần lớn các công trình nghiên cứu về KNS ở giaiđoạn này quan niệm về KNS theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với kĩ năng xã hội Dự ánđược Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) tiếnhành tại một số nước trong đó có các quốc gia Đông Nam Á là một trong những nghiêncứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hướng nghiên cứu về KNS nêu trên [4]
Mặc dù, giáo dục KNS cho học sinh đã được nhiều nước quan tâm và cùng xuấtphát từ quan niệm chung về KNS của tổ chức Y tế thế giới hoặc của UNESCO nhưngquan niệm và nội dung giáo dục KNS ở các nước không giống nhau Ở một số nước,nội hàm của khái niệm KNS được mở rộng, trong khi một số nước khác xác định nộihàm của khái niệm này chỉ gồm những khả năng tâm lí, xã hội
Quan niệm, nội dung giáo dục KNS được triển khai ở các nước vừa thể hiện cáichung vừa mang tính đặc thù của từng quốc gia Mặt khác, ngay trong một quốc gia,nội dung giáo dục KNS trong lĩnh vực giáo dục chính quy và không chính quy cũng có
sự khác nhau Trong giáo dục không chính quy ở một số nước, những kĩ năng cơ bảnnhư: Nghe, nói, đọc, viết, được coi là những KNS cơ sở trong khi giáo dục chính quy,các KNS cơ bản lại được xác định phong phú theo các lĩnh vực quan hệ cá nhân
Do phần lớn các quốc gia đều mới bước đầu triển khai giáo dục KNS nên nhữngnghiên cứu lí luận về vấn đề này mặc dù khá phong phú song chưa thật toàn diện, sâusắc Cho đến nay, chưa có quốc gia nào đưa ra được kinh nghiệm hoặc hệ thống tiêuchí đánh giá chất lượng KNS
Kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống hiện nay đã được xem như là mộtm mônhọc trong nhà trường ở hầu hết các quốc gia (tiêu biểu là Mỹ và Cộng đồng châu Âu),
4
Trang 5thậm chí tại Mỹ đã xuất hiện trường đại học, huấn luyện KNS; một tổ chức phi chínhphủ cũng đã thường xuyên vận động phổ biến về vấn đề này tại Việt Nam - đặc biệt làUNESCO và UNICEF Các môn học giáo dục KNS được đưa vào giảng dạy trong cáctrường THPT trong đó có môn Địa lí.
Như vậy, có thể nói rằng việc rèn KNS cho học sinh các trường phổ thôngkhông chỉ riêng quốc gia nào, mà đây là một vấn đề mang tính toàn cầu, đã được nhiềunước rất quan tâm nghiên cứu
4.2 Ở Việt Nam
Kĩ năng sống đã và đang được quan tâm, tuy nhiên trong nhà trường chủ yếuhọc sinh chỉ được dạy kĩ năng học tập và chính trị, còn việc giáo dục KNS chưa đượcquan tâm nhiều Theo chuyên viên tâm lí Huỳnh Văn Sơn, cố vấn trung tâm chăm sóctinh thần ý tưởng Việt: "hiện nay, thuật ngữ kĩ năng sống được sử dụng khá phổ biếnnhưng có phần bị "lạm dụng" khi chính những người huấn luyện hay tổ chức và cácbậc cha mẹ cũng chưa thật hiểu gì về nó" Theo vụ trưởng Vụ Công tác Học sinh Sinhviên ( Bộ Giáo Dục và Đào tạo) Phùng Khắc Bình, trong tương lai và về lâu dài cầnxây dựng chương trình môn học giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 đến lớp 12.Đặc biệt là trong trương trình Địa lí nói riêng là một yêu cầu hết sức quan trọng Việcgiáo dục KNS cho học sinh ngày càng trở nên cắp thiết khi mà xã hội hiện đại đang tácđộng tới các em từ quá nhiều phía
Xuất phát từ nhu cầu của xã hội nên được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về
vấn đề rèn kĩ năng sống cho học sinh mà tiêu biểu là: “Cẩm nang tổng hợp kĩ năng hoạt động thanh thiếu niên” của tác giả Phạm Văn Nhân[2002], [10]; “Kĩ năng thanh niên tình nguyện”, tác giả Trần Thời (1998) [14] Một trong những người đầu tiên có
những nghiên cứu mang tính hệ thống về kĩ năng sống và giáo dục KNS ở Việt Nam làtác giả Nguyễn Thanh Bình, tác giả có nhiều bài báo, đề tài khoa học cấp Bộ, giáo trình
bàn về kĩ năng sống Những công trình tiêu biểu của tác giả là “Giáo dục kĩ năng sống”, Chuyên đề cao học, ĐHSP Hà Nội “Giáo dục kĩ năng sống”, Giáo trình dành cho sinh viên Cao đẳng sư phạm, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội “Những nghiên cứu
và thực hiện chương trình giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam”, Viện Chiến lược và
5
Trang 6Chương trình giáo dục, Hà Nội Những công trình này đặt cơ sở và tạo ra những hướngnghiên cứu về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thanh Bình đã đề cập đến trong các nghiên cứu là xác địnhnhững vấn đề lý luận cốt lõi về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống Tác giả đã trìnhbày được khái niệm về kĩ năng sống, các loại kĩ năng sống Điều đặc biệt là tác giả đãtrình bày được các phương pháp, cách thức giáo dục KNS Những công trình này gópphần đáng kể, mở ra hướng nghiên cứu về KNS và giáo dục KNS ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Đức Thạc trong tạp chí giáo dục số 81/2004 cũng đã đề cập đến
việc “Rèn luyện kĩ năng sống một hướng tiếp cận mới về chất lượng 6 giáo dục đào
tạo” Tác giả đã khẳng định việc rèn kĩ năng sống là một hướng tiếp cận mới, đó cũng
là hướng để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo
Ngoài ra, có một số tác giả khác nghiên cứu về KNS cho tuổi vị thành niên Tác
giả Đào Thị Oanh có: “Một số cơ sở tâm lý học của việc giáo dục kĩ năng sống cho
học sinh” tác giả đã phân tích rõ những cơ sở tâm lý học để rèn KNS Dựa vào những
cơ sở tâm lý đó giáo viên có thể rèn luyện KNS cho học sinh đó là các kĩ năng giaotiếp, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng đương đầu với cảm xúc căng thẳng, kĩ năng giảiquyết mâu thuẫn một cách tích cực
Tác giả Nguyễn Thị Oanh trong “Kĩ năng sống cho tuổi vị thành niên” lại đề cập đến những khía cạch khác Tác giả đã quan niệm rằng: “ Kĩ năng sống với tư cách
là đối tượng của giáo dục KNS là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày”[12]
Gần đây tác giả Phan Thanh Vân đã nghiên cứu đề tài “Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” Tác giả đã
nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về giáo dục KNS cho học sinh THPT thông quahoạt động ngoài giờ lên lớp, biện pháp giáo dục KNS cho học sinh THPT thông quahoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Tác giả cũng đã khẳng định: Giáo dục kĩ năngsống là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của hệ thống giáo dục, là kết quả của giáodục đồng thời là nhiệm vụ quan trọng của mọi hoạt động nhà trường
6
Trang 7Gần với hướng nghiên cứu của đề tài các tác giả Lê Minh Châu, Trần Thị Tố
Oanh, Phạm Thị Thu Phương, Lưu Thu Thủy, Đào Vân Vi có nghiên cứu “Giáo dục kĩ năng sống trong môn Địa lí ở trường trung học cơ sở” Tác giả đề cập đến 2 phần.
Phần 1 tác giả đề cập đến 4 nội dung cơ bản là: Quan niệm về kĩ năng sống, phân loại
kĩ năng sống, tầm quan trọng của việc giáo dục KNS cho học sinh, định hướng giáodục KNS cho học sinh Các nội dung mà nhóm tác giả đề cập đến nhằm giúp cho giáoviên nhận thức đầy đủ về bản chất, mục tiêu, nguyên tắc giáo dục KNS, nội dung củacác KNS và việc lựa chọn các KNS cần giáo dục cho học sinh Phần 2 nhóm tác giả đềcập đến việc giáo dục KNS trong môn Địa lí ở trường trung học cơ sở (THCS) Trongphần này, nhóm tác giả đề cập đến 3 nội dung cơ bản là: Thứ nhất, phân tích khả năng,mục tiêu giáo dục KNS cho học sinh trong môn Địa lí ở trường THCS Nội dung nàygiúp giáo viên có nhận thức về việc vận dụng kiến thức của môn Địa lí vào giáo dụcKNS cho học sinh THCS Thứ hai, giới thiệu một số nội dung và địa chỉ các tiếthọc/bài học tiêu biểu của môn Địa lí vào giáo dục KNS cho học sinh ở từng lớp Thứ
ba, tiến hành soạn một số bài tham khảo về giáo dục KNS trong môn Địa lí 7 ở trườngTHCS Cuốn sách này là nguồn tài liệu giúp cho các thầy cô có thể vận dụng để rènKNS cho học sinh THCS
Trong trường Đại học Tây Bắc cũng có những công trình nghiên cứu rèn kĩ năng sống
như công trình nghiên cứu của Tiến Sĩ Đỗ Thuý Mùi: “Rèn kĩ năng sống cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc trong môn Địa lí kinh tế” Hay công trình nghiên cứu của
chính nhóm tác giả người thực hiện là Nguyễn Văn Đại (1991), Nguyễn văn Đại(1990), Hà Văn Thắng
Như vậy, vấn đề giáo dục KNS trong nhà trường nói chung đã có nhiều tác giả
đề cập đến Các công trình này là những cơ sở giúp cho tác giả kế thừa phát huy để
nghiên cứu đề tài “Giáo dục kĩ năng sống trong dạy học một số bài học Địa lí lớp 11 – Ban cơ bản”.
7
Trang 85 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết
5.1.1 Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu
Đây là một phương pháp nghiên cứu rất quan trọng trong việc tiếp cận vấn đề.Tài liệu thu thập được về mặt lí luận sẽ giúp chúng ta hiểu biết được các thành tựutrong quá khứ và những vấn đề cập nhật hiện tại
Sau khi phân tích và nhóm tài liệu, xử lý theo yêu cầu của đề tài sẽ giúp chúng
ta phát hiện những vấn đề trọng tâm cũng như những vấn đề đang bỏ ngỏ Từ đó tổnghợp được tài liệu toàn diện và khái quát những vấn đề nghiên cứu Các tài liệu mà tácgiả thu thập được rất phong phú từ các sách báo, các đề tài nghiên cứu khoa học và cácluận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ, các tài liệu bàn về KNS trên mạng internet… tất cảcác tài liệu đó tác giả nghiên cứu, phân tích, đánh giá để có cái nhìn toàn diện, sâu sắc
về vấn đề nghiên cứu
5.1.2 Phương pháp thống kê toán học
Đề tài được thực nghiệm tại trường THPT số 2 Phù Cát , do đó kết quả thựcnghiệm sẽ được thống kê, xử lí và tính toán Trên cơ sở những số liệu đã được xử lí đểrút ra một số kết luận cần thiết
Các giáo án thiết kế được thực nghiệm ở trường THPT số 2 Phù Cát Tác giả đãtiến hành điều tra ở lớp thực nghiệm với 85 em học sinh, lớp đối chứng 87 em họcsinh,với những nội dung khác nhau Sau khi phát phiếu điều tra xin ý kiến, tác giả đãphân tích, xử lý số liệu thống kê Những số liệu được phân tích, tính toán một cách tỉ
mỉ trong mối tương quan tổng thể, từ đó có những đánh giá và rút ra những kết luậncần thiết
5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
5.2.1 Phương pháp điều tra, khảo sát
Điều tra xã hội học có nhiều phương pháp giúp người thu thập có được thông tinmột cách toàn diện,tuy nhiên phương pháp phổ biến nhất và đem lại kết quả khá chínhxác là phương pháp phỏng vấn
8
Trang 9Phương pháp được thực hiện nhằm tìm hiểu các nguyên nhân về thực trạng giáodục kĩ năng sống cho học sinh THPT và tìm hiểu quan điểm của các đối tượng đượcphỏng vấn về việc giáo dục KNS trong môn Địa lí lớp 11 trên địa bàn tỉnh Bình Định.
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã gặp gỡ, trao đổi với nhiều giáo viên
và các em học sinh ở các trường phổ thông số 2 Phù Cát Qua các cuộc tiếp xúc, nóichuyện tác giả đã nhận thấy rằng việc lồng ghép kiến thức KNS cho học sinh rất cầnthiết Trong quá trình phỏng vấn tác giả không chỉ phỏng vấn ở những lớp được lồngghép kiến thức KNS mà còn phỏng vấn cả những lớp không dạy
Trên cơ sở những ý kiến đó tác giả xác định sự cần thiết phải rèn KNS cho họcsinh lớp 11 tại trường trung học phổ thông Những thông tin mà tác giả thu được thôngqua phiếu điều tra đó là cơ sở cần thiết để khẳng định được kết quả nghiên cứu của đềtài
5.2.2 Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình tiến hành thực nghiệm tại trường THPT Phù Cát 2, tác giả đãgặp gỡ, xin ý kiến và thảo luận với các giáo viên trong trường về các bài giảng, các nộidung giáo dục KNS được lồng ghép cũng như dự đoán sự phản hồi của các em Ngoài
ra, tác giả cũng đã trao đổi và nhờ giáo viên tiến hành giảng dạy một số bài trongchương trình Sau mỗi tiết dạy và sau quá trình thực nghiệm, tác giả và các giáo viên
đã tiến hành đánh giá và rút kinh nghiệm
5.2.3 Phương pháp thực nghiệm
Đề tài đã thiết kế được 2 giáo án liên quan đến giáo dục KNS qua một số bàihọc Địa lí ở lớp 11 Tác giả đã vận dụng thử nghiệm trong các bài giảng để tăng khảnăng ứng dụng của đề tài Đề tài được thực nghiệm ở các trường THPT số 2 Phù Cát
Khi đã thực nghiệm ở trường phổ thông có bài tác giả đã xin ý kiến của giáoviên đóng góp cho giáo án và trực tiếp giảng dạy, có bài tác giả nhờ giáo viên phổthông trực tiếp giảng dạy hộ Khi dạy học xong các bài đó tác giả đã phát phiếu xin ýkiến của học sinh Tại các trường đến thực nghiệm tác giả cũng xin ý kiến ở cả các lớpkhông lồng ghép kiến thức KNS Tuy nhiên, với thời gian nghiên cứu cũng như nhữngđiều kiện khác, tác giả chỉ tiến hành thực nghiệm được ở một trường và một số bài cụ
9
Trang 10thể mà chưa tiến hành trên diện rộng Trong khi thực hiện đề tài, tác giả vẫn tiếp tụcthử nghiệm để sau này khi ra trường sẽ vận dụng tốt hơn kết quả nghiên cứu của đề tài.
5.2.4 Phương pháp bổ trợ (Phương pháp biểu đồ)
Đây là một phương pháp phổ biến và thông dụng trong môn Địa lí Các biểu đồđều mang một thông tin nhất định Vì vậy, trong đề tài để thể hiện kết quả nghiên cứutác giả đã xây dựng biểu đồ cột, biểu đồ tròn Đề tài đã xây dựng được 3 biểu đồ thểhiện kết quả nghiên cứu về sự cần thiết phải lồng ghép nội dung giáo dục KNS cho họcsinh trung học phổ thông qua môn Địa lí lớp 11
5 Đóng góp của đề tài
5.1 Về lí luận
Đề tài hoàn thành sẽ góp phần phát triển lí luận về giáo dục KNS cho học sinhlớp 11 và bước đầu thiết lập cơ sở lí luận về giáo dục KNS trong môn Địa lí thông quaviệc lồng ghép những nội dung cụ thể trong từng môn học Những vấn đề trên thể hiệnqua một số quan điểm sau :
Giáo dục KNS nói chung và thông qua môn Địa lí lớp 11 trên địa bàn tỉnh BìnhĐịnh nói riêng nhằm giúp phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh để các em rènKNS Trên cơ sở đó giúp các em biết ứng xử với cuộc sống, con người và vận dụng cáckiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất sau này để có thể trở thành công dân tốt, đápứng được nhu cầu lao động trong tương lai của tỉnh nói riêng và của cả nước nóichung
Việc tích hợp và lồng ghép thông qua một số bài học cụ thể không chỉ đem lại
sự sinh động, phong phú trong nội dung bài giảng mà còn góp phần hình thành nhữngsuy nghĩ, tư duy nhận thức mới cho học sinh lớp 11 tại trường THPT số 2 Phù Cát
5.2 Về thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài khẳng định:
Học sinh lớp 11 tại trường THPT số 2 Phù Cát còn rất hạn chế về KNS Mộttrong những nguyên nhân của thực trạng này là do giáo dục THPT, đặc biệt là nội dungmôn học chưa được quan tâm thỏa đáng đến vấn đề giáo dục KNS cho học sinh, chưa
10
Trang 11xác định phương pháp hiệu quả để lồng ghép các nội dung liên quan tới KNS vào từngmôn học, trong đó có môn Địa lí.
Tính tích hợp và lồng ghép nội dung, vấn đề cụ thể vào một số bài học trongmôn Địa lí lớp 11, là nội dung cần được triển khai nhằm giúp cho học sinh lớp 11 ởtỉnh Bình Định được trang bị những kĩ năng cơ bản và hiệu quả nhất, phù hợp với sựphát triển của nền giáo dục gắn với thực tiễn Đề tài hoàn thành là nguồn tư liệu giúpcho các sinh viên và giáo viên ở trường THPT tham khảo để có thể lồng ghép các KNStrong các bài học Địa lí ở trường phổ thông
Trang 12NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN GIÁO DỤC KI NĂNG SỐNG
TRONG DẠY HỌC MỘT SỐ BÀI ĐỊA LÍ LỚP 11 – BAN CƠ BẢN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm về KNS
Kĩ năng sống là khái niệm được sử dụng rộng rãi nhằm vào mọi lứa tuổi tronglĩnh vực hoạt động khác nhau của đời sống xã hội Có nhiều quan niệm khác nhau vềKNS Tuy nhiên cho đến nay, KNS vẫn chưa có một định nghĩa nào rõ ràng và đầy đủ
Có nhiều quan niệm cho rằng kĩ năng sống được coi trọng vì có tác dụng lớntrong việc hình thành tư duy, nhân cách mỗi người Đó là thái độ sống, giá trị căn bản,như sống trung thực, cam đảm đối mặt sự thật, biết yêu thương và biết cách vượt lênnghịch cảnh Ai học được kĩ năng sống thì có cơ hội rèn kĩ năng sống, ứng biến tíchcực với mọi tình huống xảy ra, biết cách đối diện và đương đầu, vượt qua những khókhăn, hạn chế những mâu thuẫn, xung đột, bạo lực , người đó được rèn luyện, pháttriển tính cách tự chủ, tự tin vào bản thân, tinh thần trách nhiệm cùng khả năng diễnđạt, thuyết phục, thói quen chia sẻ, giúp đỡ người khác Đó chính là những yếu tố quantrọng giúp mỗi người đạt được thành công trong đời
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa KNS là "Khả năng thích nghi và hành
vi tích cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày" Đó là một tập hợp những khả năng được rèn luyện và đáp
ứng các nhu cầu cụ thể của cuộc sống hiện đại hoá Có thể hiểu kĩ năng sống là nănglực tâm lí xã hội, là khả năng ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu vàthách thức của cuộc sống Đó cũng là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạngthái khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khitương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh Năng lực tâm lí
có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng nhất về thể chất,tinh thần và xã hội KNS là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lí xã hội này [12]
Theo tổ chức Giáo dục Khoa học và văn hoá của Liên Hợp Quốc (UNESCO,2003) quan niệm: Kĩ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng
Trang 13và tham gia vào cuộc sống hàng ngày Đó là khả năng làm cho hành vi và sự thay đổicủa mình phù hợp với cách ứng xử tích cực giúp con người có thể kiểm soát, quản lí cóhiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày.
Theo Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc, (UNICEF Thái Lan, 1995): Kĩ năng sống
là khả năng phân tích tình huống và ứng xử, khả năng phân tích cách ứng xử và khảnăng tránh được các tình huống Các KNS nhằm giúp chúng ta chuyển dịch kiến thức
“cái chúng ta biết” và thái độ, giá trị “cái chúng ta nghĩ, cảm thấy, tin tưởng thành hành động thực tế làm gì và làm cách nào” là tích cực nhất và mang tính chất xây
dựng
Tại Việt Nam, hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về KNS ThS NguyễnThị Oanh trình bày quan điểm KNS với tư cách là đối tượng của giáo dục KNS là nănglực tâm lí xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sốnghàng ngày [12]
Theo tiến sĩ tâm lí Huỳnh Minh Sơn: “KNS là những kĩ năng tinh thần haynhững kĩ năng tâm lí, kĩ năng tâm lí - xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thíchứng trong cuộc sống Những kĩ năng này giúp cho cá nhân thể hiện được chính mìnhcũng như tạo ra những nội lực cần thiết để thích nghi và phát triển.Kĩ năng sống cònđược xem như một biểu hiện quan trọng của năng lực tâm lí xã hội giúp cho cá nhânvững vàng trước cuộc sống có nhiều thách thức nhưng cũng nhiều cơ hội trong thựctại…”
Cách đây ít lâu, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hội thảo Giáo dục kĩ năng sốngcho học sinh phổ thông Tại hội thảo, chuyên gia Phan Thị Lạc nói "hãy nhìn vào tộiphạm trẻ vị thành niên đang gia tăng; hành vi ứng xử tiêu cực khi các em gặp phải sự
cố bất thường nho nhỏ trong cuộc sống; học sinh 18 tuổi tốt nghiệp THPT không biếtlựa chọn cho mình hướng đi nào để tồn tại và phát triển, con người cần đứng vững vàbước vững chắc trên đôi chân của mình và cần có kĩ năng sống"
Ngoài ra, trong bài viết “Khái niệm KNS nhìn từ góc độ tâm lí học”, PGS
Nguyễn Quang Uẩn đã xem xét khái niệm KNS dưới góc độ tâm lí học, tác giả đã phântích: Cuộc sống của con người diễn ra bằng hoạt động sống, với sự đan xen của dòng
Trang 14“hoạt động có đối tượng” và “mối quan hệ giao tiếp ứng xử” giữa con người với con
người, đó là hai mặt có quan hệ tác động lẫn nhau, tạo nên cuộc sống đích thực của mỗicon người Trong hệ thống các kĩ năng cơ bản có tính tổng hợp và phức tạp trong hoạtđộng sống của con người có các KNS Tác giả đã đưa ra khái niệm về kĩ năng sốngnhư sau: “KNS là một tổng hợp phức tạp của một hệ thống các kĩ năng, nói lên nănglực sống của con người, giúp con người thực hiện công việc và tham gia vào cuộc sốnghàng ngày có kết quả, trong những điều kiện xác định của cuộc sống”
Từ các quan niệm về kĩ năng sống nêu trên, có thể rút ra nhận xét:
- Có nhiều cách biểu đạt khái niệm KNS với quan niệm rộng hẹp khác nhau tùytheo cách tiếp cận vấn đề Khái niệm KNS hiểu theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm nhữngnăng lực tâm lí xã hội Theo nghĩa rộng, KNS không chỉ bao gồm năng lực tâm lí xãhội mà bao gồm cả những kĩ năng vận động
- Mặc dù cách biểu đạt khái niệm KNS có khác nhau (việc xác định nội hàm củakhái niệm rộng, sâu khác nhau dẫn đến phạm vi phản ánh của khái niệm rộng, hẹp khácnhau) nhưng điểm thống nhất trong các quan niệm về KNS là: Khẳng định KNS thuộc
về phạm trù năng lực (hiểu kĩ năng theo nghĩa rộng) chứ không thuộc phạm trù kĩ thuậtcủa hành động, hành vi (hiểu kĩ năng sống theo nghĩa hẹp)
- Do tính chất phức tạp của KNS nên trong thực tế, các tài liệu về KNS đề cậpđến mọi lĩnh vực hoạt động từ học tập để chuẩn bị vào nghề, cách học ngoại ngữ, kĩnăng làm cha mẹ đến tổ chức trại hè Tuy nhiên, cần phân biệt giữa kĩ năng để sốngcòn như học chữ, học nghề, làm toán tới kĩ năng bơi lội… với khái niệm KNS đã được
đề cập ở các định nghĩa nêu trên
Tóm lại, khái niệm KNS được hiểu theo nhiều cách khác nhau ở từng khu vực
và từng quốc gia Ở một số nước, KNS được hướng vào giáo dục vệ sinh, dinh dưỡng
và phòng bệnh Một số nước khác, KNS lại hướng vào giáo dục hành vi và cách ứng
xử, giáo dục an toàn giao thông, bảo vệ môi trường hay giáo dục lòng yêu hòa bình.Theo đó, vấn đề phát triển KNS cho thanh thiếu niên ở các nước cũng khác nhau Cónước chỉ hạn chế những KNS cần cho lĩnh vực bảo vệ sức khỏe, phòng tránh tệ nạn xãhội, nghĩa là kĩ năng sống chỉ dành cho một số nhóm đối tượng có nguy cơ cao để
Trang 15đương đầu với những thách thức của xã hội, KNS không phải là cần cho mọi người.Nhưng ở một số nước khác sự nhận thức về KNS sâu sắc hơn, do đó KNS được pháttriển cho mọi đối tượng, với những KNS đó con người có thể vận dụng vào giải quyếtcác vấn đề xã hội khác nhau, trong các hoàn cảnh và tình huống khác nhau của từngloại đối tượng Tuy nhiên, xu hướng chung là sử dụng khái niệm KNS của UNESCO(sử dụng khái niệm KNS theo nghĩa rộng) để triển khai các hoạt động phát triển kĩnăng sống cho các đối tượng trong xã hội, đặc biệt là thanh thiếu niên Điều này được lígiải bởi hai lí do: Thứ nhất, nếu hiểu KNS theo nghĩa hẹp là đồng nhất KNS với nănglực tâm lí xã hội do đó làm giảm đi phạm vi ảnh hưởng cũng như tác dụng của KNS.Năng lực tâm lí xã hội đề cập tới khả năng của con người biểu hiện những cách ứng xửđúng hoặc chính xác khi tương tác với người khác trong các tình huống khác nhau củamôi trường xung quanh dựa trên nền văn hóa nào đó Nhưng, điều cần lưu ý là conngười không chỉ cần có năng lực thích ứng với những thách thức của cuộc sống mà conngười còn cần và phải biết thay đổi một cách phù hợp mang tính tích cực; Thứ hai,khái niệm KNS theo nghĩa rộng bao hàm trong nó năng lực tâm lí xã hội với ý nghĩa làthành phần có vai trò chung cho việc hỗ trợ cho sức khỏe tinh thần và sức khỏe thểchất, giúp cá nhân sống hạnh phúc với người khác trong xã hội Bên cạnh đó, theonghĩarộng, khái niệm KNS còn đề cập đến khả năng con người quản lí được các tìnhhuống rủi ro, không chỉ đối với bản thân mà có thể gây ảnh hưởng đến mọi người trongviệc chấp nhận các biện pháp ngăn ngừa rủi ro Đây chính là khả năng con người quản
lí một cách thích hợp bản thân, người khác và xã hội trong cuộc sống hàng ngày
Do tiếp cận kĩ năng sống tương đối đa dạng nên cũng có nhiều cách phân loạiKNS Theo tổng hợp của tác giả Nguyễn Thanh Bình [3], tồn tại các cách phân loại kĩnăng như sau:
- Phân loại xuất phát từ lĩnh vực sức khỏe Theo cách phân loại này có 3 nhóm
kĩ năng: Nhóm thứ nhất, là nhóm kĩ năng nhận thức bao gồm các kĩ năng cụ thể: Tưduy phê phán, giải quyết vấn đề, nhận thức hậu quả, tư duy phân tích, khả năng sángtạo, tự nhận thức, đặt mục tiêu, xác định giá trị…; Nhóm thứ hai, là các kĩ năng đươngđầu với cảm xúc, gồm các kĩ năng cụ thể : Ý thức trách nhiệm, cam kết, kiềm chế sự
Trang 16căng thẳng, kiềm chế được cảm xúc, tự quản lí, tự giám sát và tự điều chỉnh; Nhómcuối cùng, là nhóm kĩ năng xã hội (hay kĩ năng tương tác) với các kĩ năng thành phần:Giao tiếp, quyết đoán, thương thuyết, từ chối, hợp tác, sự cảm thông chia sẻ, khả năngnhận thấy thiện cảm của người khác.
- UNESCO cho rằng cách phân loại KNS theo 3 nhóm nêu trên mới chỉ dừng ởcác KNS chung, trong khi đó còn có những kĩ năng thể hiện trong những vấn đề cụ thểkhác nhau trong đời sống xã hội Vì thế, UNESCO đề xuất thêm các kĩ năng như: Vệsinh, vệ sinh thực phẩm, sức khỏe, dinh dưỡng, các vấn đề về giới, giới tính, sức khỏesinh sản; ngăn ngừa và chăm sóc người bị bệnh HIV/AIDS; phòng tránh rượu, thuốc lá
và ma túy, phòng ngừa thiên tai, bạo lực, rủi ro, hòa bình và giải quyết xung đột; giađình và cộng đồng; giáo dục công dân; bảo vệ thiên tai và môi trường
- Với mục đích giúp người học ứng phó với các vấn đề của cuộc sống và tự hoànthiện mình, UNICEF phân loại KNS theo các mối quan hệ của cá nhân với nhóm KNS:
+ Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với chính mình, bao gồm các kĩ năng: Kĩnăng tự nhận thức, lòng tự trọng, sự kiên định, đương đầu với cảm xúc, đương đầu vớicăng thẳng
+ Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với người khác, với các kĩ năng thành phần:
Kĩ năng quan hệ tương tác nhân cách, sự cảm thông, đứng vững trước áp lực tiêu cựccủa bạn bè hoặc của người khác, thương lượng, giao tiếp có hiệu quả
+ Nhóm kĩ năng ra quyết định một cách hiệu quả, gồm các kĩ năng: Tư duy phêphán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề
Những cách phân loại nêu trên đã đưa ra bảng danh mục các KNS có giá trị,trong nghiên cứu phát triển lí luận về KNS và chỉ có tính chất tương đối Trên thực tế,các KNS có mối quan hệ mật thiết với nhau bởi khi tham gia vào một tình huống cụthể, con người cần phải sử dụng rất nhiều kĩ năng khác nhau Ví dụ, khi cần quyết địnhmột vấn đề nào đó, cá nhân phải sử dụng những kĩ năng như: Kĩ năng tự nhận thức, kĩnăng tư duy phê phán, kĩ năng tư duy sáng tạo…
Kết quả nghiên cứu về KNS của nhiều tác giả [3,4] đã khẳng định: Dù phân loạitheo hình thức nào thì một số kĩ năng vẫn được coi là kĩ năng cốt lõi như: Kĩ năng xác
Trang 17định giá trị, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng đương đầu với cảm xúc, căng thẳng; kĩ năng giảiquyết mâu thuẫn một cách tích cực; kĩ năng nhận thức, kĩ năng ra quyết định, kĩ năngđặt mục tiêu [3] Thống nhất với quan niệm này, đề tài đã giới hạn các KNS đượcnghiên cứu để giáo dục cho học sinh lớp 11 trên địa bàn tỉnh Bình Định thông qua mônĐịa lí gồm các kĩ năng: Kĩ năng ứng xử với môi trường thiên nhiên, kĩ năng bảo vệ môitrường, kĩ năng sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, phòng tránh thiên tai vànhững hành vi gây hại đến môi trường sống Trên cơ sở đó giúp các em biết ứng dụngcác kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất sau này để sử dụng và khai thác hợp lí tàinguyên thiên nhiên, đảm bảo sự phát triển biền vững.
Đề tài nghiên cứu các kĩ năng này nhằm giáo dục cho học sinh một số kĩ năngcần thiết để giúp cho các em học sinh lớp 11 có thể vận dụng vào thực tiễn ở địaphương, khai thác có hiệu quả hơn tài nguyên thiên nhiên của quê hương
1.1.2 Giáo dục kĩ năng sống
Khái niệm giáo dục cũng được hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau ở cấp độ xãhội và cấp độ nhà trường [9] Ở cấp độ nhà trường, khái niệm giáo dục chỉ quá trìnhgiáo dục tổng thể (dạy học và giáo dục theo nghĩa hẹp) được thực hiện thông qua cáchoạt động giáo dục Hoạt động giáo dục là các hoạt động do các cơ sở giáo dục (trườnghọc và các cơ sở khác) tổ chức thực hiện theo kế hoạch, chương trình giáo dục, trựctiếp điều hành và chịu trách nhiệm về chúng Trong các hoạt động giáo dục, hoạt độngdạy học là nền tảng và chủ đạo không chỉ trong các môn học, mà ở tất cả các hoạt độnggiáo dục khác trong nhà trường Nó là hoạt động giáo dục cơ bản nhất, có vị trí nềntảng và chức năng chủ đạo trong hệ thống các hoạt động giáo dục Hoạt động giáo dụcđược tổ chức có định hướng về mặt giá trị nhằm tạo ra những môi trường hoạt động vàgiao tiếp có định hướng của người học Khi tham gia các hoạt động giáo dục, ngườihọc tiến hành các hoạt động của mình theo những nguyên tắc chung, mục tiêu chung,những chuẩn mực giá trị chung và các biện pháp chung, nhờ vậy học sinh được giáodục theo những tiêu chí chung
Kĩ năng sống được hình thành thông qua quá trình xây dựng những hành vi lànhmạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả
Trang 18kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng thích hợp Do vậy, KNS phải được hình thành chohọc sinh thông qua con đường đặc trưng - hoạt động giáo dục Theo UNICEF, giáo dụcdựa trên kĩ năng sống cơ bản là sự thay đổi trong hành vi hay một sự phát triển hành vinhằm tạo sự cân bằng giữa kiến thức, thái độ, hành vi.
Giáo dục KNS là một quá trình với những hoạt động giáo dục cụ thể nhằm tổchức, điều khiển để học sinh biết cách chuyển dịch kiến thức (cái học sinh biết) và thái
độ, giá trị (cái học sinh nghĩ, cảm thấy, tin tưởng) thành hành động thực tế (làm gì vàlàm cách nào) một cách thích hợp và mang tính chất xây dựng Giáo dục KNS cho họcsinh là giáo dục cho các em có cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựnghoặc thay đổi ở các em một số hành vi theo hướng tích cực phù hợp với mục tiêu pháttriển toàn diện nhân cách người học dựa trên cơ sở giúp học sinh có tri thức, giá trị,thái độ và kĩ năng phù hợp
1.1.3 Nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 11
Có rất nhiều những kiến thức liên quan đến kĩ năng sống Bởi thế khi giáo dục
kĩ năng sống có nhiều nội dung khác nhau Một số nội dung cơ bản như: Kĩ năng giảiquyết vấn đề, kĩ năng tìm hiểu sự hỗ trợ, kĩ năng tư duy sáng tạo, kĩ năng ra quyết định,
kĩ năng thể hiện sự cảm thông, kĩ năng sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, kĩnăng phòng tránh thiên tai, kĩ năng bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường…
1.1.3.1 Kĩ năng ra quyết định
Trong cuộc sống hàng ngày con người luôn phải đối mặt với những tình huống,những vấn đề cần giải quyết buộc chúng ta phải lựa chọn, đưa ra quyết định hành động
Kĩ năng ra quyết định là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương
án tối ưu để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống một cách kịpthời
Mỗi cá nhân phải tự mình ra quyết định cho bản thân; không nên trông chờ, phụthuộc vào người khác mặc dù có thể tham khảo ý kiến của những người tin cậy trướckhi ra quyết định
Để đưa ra quyết định phù hợp, chúng ta cần:
Trang 19- Xác định vấn đề hoặc tình huống mà chúng ta đang gặp phải.
- Thu thập thông tin về vấn đề hoặc tình huống đó
- Liệt kê các cách giải quyết các vấn đề, tình huống đã có
- Hình dung đầy đủ về kết quả sẽ xảy ra nếu chúng ta lựa chọn mỗi phương ángiải quyết
- Xem xét về suy nghĩ và cảm xúc của bản thân nếu giải quyết theo từng phương
án đó
- So sánh giữa các phương án để giải quyết lựa chọn phương án tối ưu
Kĩ năng ra quyết định rất cần thiết trong cuộc sống, giúp con người có được sựlựa chọn phù hợp và kịp thời, đem lại thành công trong cuộc sống Ngược lại, nếukhông có kĩ năng ra quyết định, con người ta có thể có những quyết định sai lầm hoặcchậm trễ, gây ảnh hưởng tiêu cực đến các mối quan hệ, đến công việc và tương laitrong cuộc sống của bản thân
Để đưa ra quyết định một cách phù hợp, cần phối hợp với các KNS khác như:
Kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng thể hiện sự tự tin, kĩ năng giải quyết vấn đề,…
Trước yêu cầu cấp bách về việc đưa khái niệm KNS và chương trình giáo dụchọc đường, trong đó có giáo dục phổ thông nói chung, THPT nói riêng, thời gian qua
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức nhiều hội thảo khoa học về việc xây dựng chươngtrình giáo dục KNS cho học sinh các cấp học Một trong những vấn đề được quan tâm
ở các hội thảo này là phương thức thực hiện giáo dục KNS cho học sinh như thế nàocho hiệu quả
Tổng kết thực tiễn và kinh nghiệm của một số nước cho thấy có 3 phương ánthực hiện giáo dục KNS cho học sinh là:
- Xây dựng môn học về giáo dục KNS đưa vào chương trình học tập của họcsinh
- Lồng ghép các nội dung giáo dục KNS vào các môn học có ưu thế và các hoạtđộng giáo dục khác
- Tích hợp giáo dục KNS vào các môn học và các hoạt động giáo dục
Trang 20Việc hình thành một môn học riêng là rất khó vì thời lượng của mỗi tiết học rấthạn chế, phải tốn nhiều thời gian cho công trình nghiên cứu cũng như với giáo dục đạođức cho học sinh, học sinh có thể học thuộc lòng được khái niệm và giải thích được ýnghĩa xã hội của đạo đức nhưng chưa chắc học sinh đã có những hành vi phù hợp vớicác chuẩn mực đạo đức mà các em rất thuộc.
Phương thức lồng ghép cũng đã được thực hiện với một số nội dung giáo dụccần cập nhật vào chương trình giáo dục phổ thông như giáo dục dân số, giáo dục môitrường… Tuy nhiên trong giáo dục KNS, phương thức này cũng không nhiều hiệu quả.Những khó khăn khi thực hiện theo phương thức này là:
- Khó khăn trong việc xác định các môn học để lồng ghép Những môn học nàyphải đảm bảo có những yếu tố tương đồng với đặc trưng của giáo dục KNS (chú trọngthực hành và kinh nghiệm sống của học sinh; thiết lập hành vi cụ thể trong từng tìnhhuống cụ thể…)
- Khó khăn trong việc đảm bảo nội dung giáo dục KNS đã được lồng ghép Bởi
vì, do tính chất của lồng ghép, nội dung giáo dục KNS có tính chất độc lập nhất định sovới nội dung của môn học được sử dụng để lồng ghép, việc khai thác nội dung giáo dụcKNS đến đâu phụ thuộc vào từng giáo viên, thậm chí từng tiết học của môn học đượclồng ghép
Với những phân tích trên, nhóm tác giả cho rằng, cần xác định giáo dục KNS làmục đích của giáo dục, theo đó, tất cả các môn học các hoạt động giáo dục trong nhàtrường phải hướng đến giáo dục KNS cho học sinh Có như vậy, giáo dục KNS chohọc sinh mới được thực hiên một cách thường xuyên, liên tục cả về thời gian và khônggian nhờ đó mà các mục tiêu về giáo dục KNS cho học sinh mới đạt được ở mức độcao Đây cũng là lý do mà tác giả lựa chọn phương thức tích hợp là phương thức giáodục KNS cho học sinh trong trường THPT
Các phương pháp tiếp cận trong giáo dục KNS cho học sinh lớp 11 tại
trường THPT được khái quát gồm:
Trang 21- Phương pháp tiếp cận cùng tham gia: Tạo sự tương tác giữa giáo viên với họcsinh, học sinh với học sinh và tăng cường sự tham gia của học sinh trong học tập, thựchành kĩ năng.
- Phương pháp tiếp cận hướng vào người học: Dựa vào kinh nghiệm sống vàđáp ứng nhu cầu của học sinh
- Phương pháp tiếp cận hoạt động: Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động
để xây dựng hành vi/thay đổi hành vi
Với các phương pháp tiếp cận trên, các phương pháp dạy học cụ thể được sửdụng trong giáo dục KNS cho học sinh lớp 11 là: Phương pháp đàm thoại gợi mở,phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp giải quyết vấn đề …
1.1.3.2 Kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin
Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin làmột KNS quan trọng giúp con người có thể có được những thông tin cần thiết một cáchđầy đủ, khách quan, chính xác, kịp thời
Để tìm kiếm và xử lí thông tin chúng ta cần:
- Xác định rõ chủ đề mà mình cần tìm kiếm thông tin
- Xác định các loại thông tin về chủ đề mà mình cần tìm kiếm là gì
- Xác định các nguồn, các địa chỉ tin cậy có thể cung cấp những loại thông tin
đó (Ví dụ: Sách, báo, mạng internet, bạn bè, người quen…)
- Lập kế hoạch thời gian và liên hệ trước với những người có liên quan đến việccung cấp thông tin nếu có
- Chuẩn bị phương tiện, giấy tờ, bộ công cụ để thu thập thông tin
- Tiến hành thu thập thông tin theo kế hoạch đã xây dựng
- Sắp xếp các thông tin thu thập được theo từng nội dung một cách hệ thống
- Phân tích, so sánh, đối chiếu, lí giải các thông tin thu thập được, đặc biệt là cácthông tin trái chiều; xem xét một cách toàn diện, thấu đáo, sâu sắc và có hệ thống cácthông tin đó
- Viết báo cáo, nếu được yêu cầu
Trang 22Kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin cần kết hợp với kĩ năng tư duy phê phán và
kĩ năng tìm kiếm hỗ trợ giúp đỡ
1.1.3.3 Kĩ năng giao tiếp
Kĩ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thứcnói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ có thể một cách phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa,biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm
Kĩ năng giao tiếp giúp con người biết đánh giá tình huống giao tiếp và điềuchỉnh cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả; bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc nhưngkhông làm hại hay tổn thương cho người khác, kĩ năng này giúp chúng ta có mối quan
hệ tích cực với các thành viên trong gia đình, bạn bè
Kĩ năng giao tiếp là yếu tố cần thiết cho nhiều kĩ năng khác như bày tỏ sự cảmthông, thương lượng, hợp tác, tìm kiếm sự giúp đỡ, giải quyết mâu thuẫn, kiểm soátcảm xúc Người có kĩ năng giao tiếp tốt biết dung hòa đối với mong đợi của nhữngngười khác; có cách ứng xử phù hợp khi làm việc cùng và ở cùng với người khác trongmột môi trường tập thể quan tâm đến những điều người khác quan tâm và giúp họ cóthể đạt được những điều họ mong muốn một cách chính xác
1.1.3.4 Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ
Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta gặp những vấn đề, tình huống phải cần đến
sự hỗ trợ, giúp đỡ của những người khác Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ bao gồm các yếu
tố sau:
- Ý thức được nhu cầu cần giúp đỡ
- Biết xác định được những địa chỉ đáng tin cậy
- Tự tin và biết tìm đến các địa chỉ đó
- Biết bày tỏ nhu cầu cần giúp đỡ một cách phù hợp
Khi tìm đến các địa chỉ cần hỗ trợ, chúng ta cần:
- Cư xử đúng mực và tự tin
- Cung cấp thông tin đầy đủ, rõ ràng, ngắn gọn
- Giữ bình tĩnh khi gặp sự cố đối xử thiếu thiện chí Nếu vẫn cần sự hỗ trợ củangười thiếu thiện chí, cố gắng tỏ ra bình thường, kiên nhẫn nhưng không sợ hãi
Trang 23- Nếu bị cự tuyệt, đừng nản chí, hãy kiên trì tìm kiếm sự hỗ trợ từ các địa chỉkhác, người khác.
Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ giúp chúng ta có thể nhận được những lờikhuyên, sự can thiệp cần thiết để tháo gỡ, giải quyết những vấn đề khó khăn, giảm bớtđược căng thẳng tâm lý do bị dồn nén cảm xúc Biết tìm kiếm sự giúp đỡ kịp thời sẽgiúp cá nhân không cảm thấy đơn độc, bi quan, và trong nhiều trường hợp, giúp chúng
ta có cái nhìn mới và hướng đi mới
Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ rất cần thiết để giải quyết vấn đề, giảiquyết mâu thuẫn và ứng phó với căng thẳng Đồng thời để phát huy hiệu quả của kĩnăng này, cần kĩ năng lắng nghe, khả năng phân tích thấu đáo ý kiến tư vấn, kĩ năng raquyết định lựa chọn cách giải quyết tối ưu sau khi được tư vấn
Biểu hiện của người có kĩ năng hợp tác:
- Tôn trọng mục đích, mục tiêu chung của nhóm; tôn trọng những quyết địnhchung, những điều đã cam kết
- Biết giao tếp hiệu quả, tôn trọng đoàn kết cảm thông, chia sẻ với các thànhviên khác trong nhóm
- Biết bày tỏ ý kiến, tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm Đồngthời biết lắng nghe, tôn trọng và xem xét các ý kiến, quan ddiemr của mọi người trongnhóm
- Nỗ lực phát huy năng lực, sở trường của bản thân để hoàn thành tơt nhiệm vụ
đã được phân công Đồng thời biết hỗ trợ, giúp đỡ các thành viên trong nhóm cùnghoạt động
- Biết cùng cả nhóm đồng cam cộng khổ vượt qua những khó khăn, vướn mắc
để hoàn thành mục đích, mục tiêu chung
Trang 24- Có trách nhiệm về những thành công hay những thất bại của nhóm, về nhữngsản phẩm do nhóm tạo ra.
Có kĩ năng hợp tác là một yêu cầu quan trọng đối với người công dân trong một
xã hội hiện đại, bởi vì:
- Mỗi người có điểm mạnh và hạn chế riêng Sự hợp tác trong công việc giúpmội người hỗ trợ, bổ sung cho nhau, tạo nên sức mạnh trí tuệ, tinh thần và thể chất,vượt qua khó khăn, đem lại chất lượng và hiệu quả cao hơn trong công việc chung
- Trong xã hội hiện đại, lợi ích của cá nhân, mỗi cộng đồng đều phụ thuộc vàonhau; mỗi người như một chi tiết của một bộ máy lớn, phải vận hành đồng bộ, nhịpnhàng không thể hành động đơn lẻ
- Kĩ năng hợp tác giúp cá nhân sống hài hòa tránh xung đột trong quan hệ vớingười khác
Để có được sự hợp tác có hiệu quả, chúng ta cần vận dụng tốt các KNS khácnhư: tự nhận thức, giao tiếp, ra quyết định, tiềm kiếm và sử lí thông tin, …
1.1.3.6 Kĩ năng thể hiện sự tự tin
Tự tin là có niềm tin vào bản thân; tự hài lòng với bản thân; tin rằng mình có thểtrở thành một người có ích và tích cực, có niềm tin về tương lai, cảm thấy có nghị lực
để hoàn thành các nhiệm vụ
Kĩ năng thể hiện sự tự tin giúp cá nhân giao tiếp hiệu quả hơn, mạnh dạn bày tỏsuy nghĩ và ý kiến của mình, quyết đoán trong việc ra quyết định và giải quyết vấn đề,thể hiện sự kiên định, đồng thời cũng giúp người đó có suy nghĩ tích cực và lạc quantrong cuộc sống
Kĩ năng thể hiện sự tự tin là yếu tố cần thiết trong giao tiếp, thương lượng, raquyết định, đảm nhận trách nhiệm
1.1.3.7 Kĩ năng tự nhận thức
Tự nhận thức là tự nhìn nhận, đánh giá về bản thân
Kĩ năng tự nhận thức là khả năng của con người hiểu về chính bản thân củamình như cơ thể, tư tưởng, các mối quan hệ xã hội biết nhìn nhận và đánh giá đúng vềtìm năng, tình cảm, sở thích, thói quen, điểm mạnh, điểm yếu, của bản thân mình
Trang 25Quan tâm và luôn ý thức được mình đang làm gì, kể cả nhận ra lúc bản thân đang căngthẳng.
Tự nhận thức là một KNS rất cơ bản của con người, là nền tảng để con ngườigiao tiếp, ứng sử phù hợp và hiệu quả cũng như cảm thông được với người khác Ngoài
ra có hiểu đúng về mình con người mới có những quyết định, sự lựa chọn đúng đắn,phù hợp với khả năng của bản thân, với điều kiện thực tế và yêu cầu của xã hội Ngượclại, đánh giá không đúng về bản thân có thể dẫn đến những hạn chế, sai lầm thất bạitrong cuộc sống và giao tiếp với người khác
Để nhận thức đúng về bản thân phải trải qua thực tế, đặc biệt là giao tiếp vớingười khác
1.1.3.8 Kĩ năng tư duy sáng tạo
Tư duy sáng tạo là khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề theo một cách mới,với ý tưởng mới, theo phương thức mới, cách sắp xếp và tổ chức mới; là khả năngkhám phá và kết nối mối quan hệ giữa các khái niệm, ý tưởng, quan niệm, sự việc; độclập trong suy nghĩ
Kĩ năng tư duy sáng tạo giúp con người tư duy năng động với nhiều sáng kiến
và óc tưởng tượng; biết cách phán đoán và thích nghi; có tầm nhìn và khả năng suynghĩ rộng hơn các người khác, không bị bó hẹp vào kinh nghiệm trực tiếp đang trảiqua; tư duy minh mẫn và khác biệt
Tư duy sáng tạo là một KNS quan trọng bởi vì trong cuộc sống con ngườithường xuyên bị đặt vào những hoàn cảnh bất ngờ hoặc ngẫu nhiên xảy ra Khi gặpnhững hoàn cảnh như vậy đòi hỏi chúng ta phải có tư duy sáng tạo để có thể ứng phómột cách linh hoạt và phù hợp
Khi một người biết kết hợp tốt giữa kĩ năng tư duy phê phán và tư duy sáng tạothì năng lực tư duy của người ấy càng được tăng cường và sẽ giúp ích rất nhiều chobản thân trong việc giải quyết vấn đề một cách thuận lợi và phù hợp nhất
1.1.3.9 Kĩ năng giải quyết vấn đề
Kĩ năng giải quyết vấn đề là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọnphương án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn đề hoặc tình
Trang 26huống gặp phải trong cuộc sống Giải quyết vấn đề có liên quan tới kĩ năng ra quyếtđịnh và cần nhiều KNS khác như: Giao tiếp, xác định giá trị, tư duy phê phán, tư duysáng tạo, tìm kiếm sự hỗ trợ, kiên định…
Để giải quyết vấn đề có hiệu quả, chúng ta cần:
- Xác định rõ vấn đề hoặc tình huống đang gặp phải, kể cả tìm kiếm thông tincần thiết
- Liệt kê các cách giải quyết vấn đề/ tình huống đã có
- Hình dung đầy đủ về kết quả xảy ra nếu ta lựa chọn phương án giả quyết nàođó
- Xem xét về suy nghĩ và cảm xúc của bản thân nếu thực hiện phương án giảiquyết đó
- So sánh các phương án để đưa ra quyết định cuối cùng
- Hành động theo quyết định đã lựa chọn
- Kiểm định lại kết quả để rút kinh nghiệm cho những lần quyết định và giảiquyết vấn đề sau
Cũng như kĩ năng ra quyết định, kĩ năng giải quyết vấn đề rất quan trọng, giúpcon người có thể ứng phó tích cực và hiệu quả trước những vấn đề, tình huống củacuộc sống
1.1.3.10 Kĩ năng lắng nghe tích cực
Lắng nghe tích cực là một phần quan trọng của kĩ năng giao tiếp Người có kĩnăng lắng nghe tích cực biết thể hiện sự tập trung chú ý và thể hiện sự quan tâm lắngnghe ý kiến hoặc phần trình bày của người khác (bằng các cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nétmặt, nụ cười), biết cho ý kiến phản hồi mà không vội đánh giá, đồng thời có đối đáphợp lí trong quá trình giao tiếp
Người có kĩ năng lắng nghe tích cực thường được nhìn nhận là biết tôn trọng vàquan tâm đến ý kiến của người khác, nhờ đó làm cho việc giao tiếp, thương lượng vàhợp tác của họ hiệu quả hơn Lắng nghe tích cực cũng góp phần giải quyết mâu thuẫnmột cách hài hòa và xây dựng
Trang 27Kĩ năng lắng nghe tích cực có quan hệ mật thiết với các kĩ năng giao tiếp,thương lượng, hợp tác, kiềm chế cảm xúc và giải quyết mâu thuẫn.
Học sinh phải nắm vững kiến thức phổ thông cơ bản về:
- Đặc điểm của nền kinh tế thế giới đương đại với sự chêch lệnh rõ rệt về trình
độ phát triển giữa các nhóm nước; xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa với hàng loạtcác vấn đề nổi lên mang tính toàn cầu
- Đặc điểm tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội (KT – XH) của một số khu vực,quốc gia tiêu biểu về trình độ phát triển KT – XH khác nhau trên toàn thế giới
Củng cố và tiếp tục phát triển cho HS các kĩ năng:
- Nhận xét, phân tích, tổng hợp, so sánh các sự vật, hiện tượng Địa lí cũng như
kĩ năng xây dựng biểu đồ, sử dụng và khai thác bản đồ, số liệu thống kê liên quan đếnĐịa lí KT – XH thế giới, khu vực và một số quốc gia tiêu biểu
- Thu thập, phân tích, trình bày các thông tin Địa lí của một số hu vực hay một
số quốc gia trên thế giới
- Vận dụng kiến thức ở mức độ nhất định để giải thích các sự vật, hiện tượngĐịa lí đang diễn ra trên thế giới và trong từng khu vực
Về thái độ, tình cảm: HS có được
- Tình yêu đất nước, con người trên tinh thần quốc tế
- Phân biệt và ủng hộ những xu thế tiến bộ, tất yếu của thời đại
- Quan tâm đến những vấn đề cấp thiết mang tính toàn cầu
1.2.1.2 Cấu trúc chương trình SGK Địa lí lớp 11 – Ban cơ bản
Gồm hai phần:
Trang 28 Phần khái quát chung về nền KT – XH thế giới, chiếm một thời lượng nhỏ trongchương trình với những kiến thức cơ bản được thiết kế theo cấu trúc như sau:
- Sự tương phản về trình độ KT – XH của các nước trên thế giới
- Xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa
- Một số vấn đề mang tính toàn cầu
- Một số vấn đề KT – XH của châu lục và khu vực
chương trình, với những kiến thức cơ bản:
- Nước tiêu biểu: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Nhật Bản, Cộng hòanhân dân Trung Hoa (Trung Quốc), Ô – xtrây – li – a
- Khu vực tiêu biểu: Liên minh châu Âu (EU), khu vực Đông Nam Á
1.2.1.3 Nội dung chương trình SGK Địa lí lớp 11 – Ban cơ bản
Phần khái quát chung về nền KT – XH thế giới
- Về lý thuyết:
+ Sự tương phản về trình độ phát triển KT – XH của các nhóm nước trên thếgiới và nguyên nhân gây nên tình trạng đó
+ Xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa
+ Các vấn đề mang tính toàn cầu cần quan tâm như: bùng nổ dân số,
sự già hóa dân số, ô nhiễm môi trường và hậu quả nó gây ra
+ Một số vấn đề KT – XH tiêu biểu của châu lục (châu Phi, châu Mỹ La tinh) vàkhu vực (Tây Nam Á, Trung Á)
- Về thực hành: chủ yếu là thảo luận nhóm theo chủ đề cho trước và yêu cầu về
kĩ năng: phân tích tư liệu và viết báo cáo ngắn
Phần Địa lí khu vực và quốc gia tiêu biểu:
- Về lý thuyết: chưng trình lựa chọn một số khu vực và quốc gia tiêu biểu trênthế giới:
+ Đối với khu vực (Liên minh châu Âu, Đông Nam Á) các nội dung chính đượctrình bày bao gồm quá trình hình thành, mục tiêu hoạt động và một số thành tựu cụ thể
Trang 29+ Đối với các quốc gia tiêu biểu (Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Cộnghòa nhân dân Trung Hoa, Ôxtrâylia) các nội dung chính là vị trí địa lí và phạm vi lãnhthổ, Đặc điểm tự nhiên và đặc điểm dân cư, xã hội, kinh tế.
- Về thực hành: Tập trung vào các việc rèn luyện kĩ năng phân tích số liệuthống kê, xây dựng biểu đồ, đọc, nhận xét, giải thích một số hiện tượng địa lí KT – XHtrên bản đồ (lược đồ); tập viết báo cáo trình bày một vấn đề liên quan đến một quốc gia
cụ thể trên cơ sở tư liệu cho trước
1.2.2 Đặc điểm tâm lý và trình độ nhận thức của HS lớp 11
- HS ở bậc trung học phổ thông nói chung và lớp 11 nói riêng được xem lànhững người đang trong độ tuổi trưởng thành Thái độ của các em đối với các môn học
có tính lựa chọn, tính phân hóa cao Ở các em đã hình thành những hứng thú học tậpgắn liến với khuynh hướng nghề nghiệp trong tương lai và khả năng ứng dụng trongcuộc sống Do đó, giáo viên cần phải giúp các em hiểu được ý nghĩa và chức năng củagiáo dục cơ bản, toàn diện, tạo nền tảng vững chắc hình thành nhân sinh quan, thế giớiquan khoa học
- Ở độ tuổi này, việc ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí
tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày càng rõ rệt(các em đã biết sử dụng tốt hơn các phương pháp ghi nhớ, tóm tắt ý chính, so sánh, đốichiếu, …) Bên cạnh đó các em còn có thể phân biệt được những tài liệu nào cần nhớchính xác từng chữ, tài liệu nào chỉ cần hiểu mà không cần nhớ Điều này tạo điều kiệnthích hợp cho việc lồng ghép các kĩ năng sống vào bài giảng của các môn học
- HS lớp 11 đã có khả năng nhận thức và tự ý thức khác cao, do đó trình độ họcvấn, khối lượng tri thức, kinh nghiệm sống ở mức tương đối, có thể tạo điều kiện cho
tự ý thức phát triển mạnh Đây là lứa tuổi luôn muốn tự phát hiện mình nên luôn tự đặt
ra những câu hỏi, tự thử thách năng lực của mình nhằm phát hiện năng lực bản thân
- Tính tích cực xã hội được hình thành và phát triển khá sớm trong quá trìnhhình thành nhân cách HS ở giai đoạn này quan tâm nhiều hơn đến tình hình kinh tế,chính trị, xã hội trong nước và thế giới, trao đổi với nhau nhiều hơn và bày tỏ thái độquan điểm, thái độ đối với các vấn đề đó
Trang 30Như vậy, có thể kết luận rằng đây là giai đoạn phát triển khá ổn định về thể chất
và tâm lý cũng như trình độ nhận thức của các em Tuy nhiên, cũng cần lưu ý đếnnhững đặc điểm tâm lý mới được hình thành và phát triển mạnh mẽ,có thể ảnh hưởngđến sự phát triển nhân cách và thế giới quan khoa học của các em như: các mối quan hệ
xã hội, tính tích cực, năng động, ý muốn tự khẳng định mình…Việc tích hợp giáo dục
kĩ năng sống vào hoạt động giảng dạy nếu được áp dụng đúng cách sẽ là thành tựu mớitrong phương pháp giảng dạy, góp phần mang đến sự giáo dục toàn diện và sâu sắc chohọc sinh
1.2.3 Thực trạng giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam
1.2.3.1 Tại các trường THPT nói chung
Tuổi vị thành niên là lứa tuổi từ 10 - 19 tuổi, ở tuổi này đang xảy ra rất nhiều sựthay đổi về mặt tâm sinh lý nhận thức, định hướng cuộc sống chưa rõ ràng, hay bộcphát về hành vi Bên cạnh đó, các em đang sống trong một xã hội hiện đại đầy biếnđộng mà gia đình và nhà trường lại không phải là chỗ dựa vững chắc cho tâm lý củacác em
Thực trạng giới trẻ thiếu kĩ năng sống (KNS) đã tồn tại từ nhiều năm nay Thay
vì tích cực tìm những giải pháp ngăn chặn từ đầu thì ngành chức năng lại thờ ơ, bịđộng Câu nói “nước tới trôn mới nhảy” trong trường hợp này quả không sai Đến khihàng loạt những vụ việc tiêu cực liên quan đến thanh thiếu niên xảy ra, mọi người mới
đi tìm nguyên nhân tháo gỡ
Ngược lại với việc giáo dục con cái chạy theo điểm số thì phụ huynh đã “khoántrắng” việc giáo dục KNS cho nhà trường Chính thái độ lơ là, buông lỏng này là conđường dẫn các em đến những hành động tiêu cực Trong khi đó, công tác giáo dục ởcác trường thường thiên về dạy kiến thức mà quên rằng việc rèn luyện kĩ năng cũngquan trọng không kém
Vấn đề giáo dục KNS cho thanh thiếu niên đã được thực hiện ở một số nướcphương Tây cách đây khá lâu Riêng ở nước ta, thuật ngữ KNS được nhắc đến từ vàinăm gần đây trong những câu chuyện giáo dục Chuyên viên tâm lý Huỳnh Văn Sơn,
cố vấn Trung tâm Chăm sóc tinh thần Ý tưởng Việt, cho rằng: “Hiện nay thuật ngữ
Trang 31KNS được sử dụng khá phổ biến nhưng có phần bị lạm dụng khi chính những ngườihuấn luyện hay tổ chức và các bậc cha mẹ cũng chưa thật hiểu về nó” Từ nhận địnhnày, tôi chợt nhớ về một người bạn học thời cấp 3 Bạn ấy bị liệt vào danh sách nhữnghọc sinh cá biệt của trường khi thường xuyên bỏ học, có những trò nghịch ngợm, quậyphá Biện pháp xử lý của nhà trường lúc này là mời phụ huynh đến… mắng vốn Saunhiều lần không cải thiện được tình hình thì quyết định đuổi học Đáng buồn là thái độcủa giáo viên chủ nhiệm khi tuyên bố từ nay phong trào thi đua của lớp không còn bịkéo xuống?! Theo tôi được biết, đến bây giờ một số trường vẫn còn áp dụng hình thứccứng nhắc như thế Chức năng của giáo dục là “trồng người”, nhưng xem ra một sốthầy cô đã lãng quên nhiệm vụ thiêng liêng này Quyết định đuổi một học sinh cá biệtchẳng khác nào chúng ta đang thừa nhận sự thất bại trong cách giáo dục của mình!
PGS.TS Nguyễn Võ Kỳ Anh, Trung tâm Giáo dục môi trường và sức khỏe cộngđồng (Hội Khuyến học Việt Nam) lo lắng rằng, giới trẻ nói chung và học sinh nói riênghiện còn rất thiếu các kĩ năng sống cần thiết Nhiều học sinh rất lúng túng trong việctìm cách thoát khỏi tình trạng khủng hoảng và vượt qua stress hay khúc mắc về tìnhcảm Nguyên nhân của việc này chính là vì giới trẻ chưa được trang bị kĩ năng sống, vàđặc biệt là chưa được phụ huynh, nhà trường quan tâm dạy bảo đúng mực về vấn đềnày
Một thực tế cho thấy, mặc dù dư luận đã nói nhiều, ngành giáo dục cũng đã cónhững động thái trong việc cố gắng đưa kĩ năng sống vào trường học, tuy nhiên, dạycái gì, dạy như thế nào lại là điều cần phải bàn Cho đến nay, vẫn chưa có một bộchuẩn về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh nên các trường vẫn đang “tự bơi”, mỗinơi dạy một kiểu Chính vì thế, việc giáo dục kĩ năng này hoặc chỉ dừng lại ở các tiếthọc giáo dục công dân hoặc bị bỏ lửng hoàn toàn Những bài giảng trên lớp chỉ có thểgiúp các em hình dung về kĩ năng sống chứ chưa thật sự hiểu hoặc cảm thấy có ích vớibản thân mình
Theo các chuyên gia tâm lý, học kĩ năng sống cũng giống như học bơi, phảinhảy xuống nước chứ không thể đứng trên bờ nhìn mà biết bơi được Bồi đắp kĩ năngsống cho học sinh phải được thực hiện từ cấp tiểu học, thậm chí mầm non, phải gắn
Trang 32liền với hoạt động hàng ngày của các em như giao tiếp, rèn luyện bản lĩnh cá nhân, bảo
vệ bản thân, có tinh thần đồng đội và biết chia sẻ…
Tuy nhiên, ở các thành phố lớn, học sinh còn có nhiều điều kiện được tiếp xúc,học hỏi về kĩ năng sống tại các trung tâm, nhưng ở các địa phương, nông thôn, vùngsâu vùng xa, kĩ năng sống vẫn là một cái gì đó rất xa vời Trong công tác giáo dục KNStrong nhà trường, giáo viên là người đóng vai trò hết sức quan trọng Vậy mà hiện naymột số giáo viên còn thiếu và yếu về KNS Do đó, có nhiều trường hợp chẳng nhữngkhông đưa được KNS đến với học sinh, mà còn có nhiều hành động, cử chỉ, lời nói đingược với yêu cầu, quy định
Mặt khác, gia đình cũng là nền tảng đầu tiên giúp mỗi người hình thành nhâncách Thế nhưng, nhiều bậc cha mẹ lại không ý thức làm gương cho con mình noi theo.Theo các chuyên gia tâm lý, trong nhiều vụ bạo lực học đường, ngoài tác động củagame online, còn có nguyên nhân từ môi trường sống trong gia đình Những đứa trẻsống trong gia đình thường xuyên bị cha mẹ đánh đập có xu hướng thích sử dụng bạolực để giải quyết vấn đề Nhiều xung đột giữa cha mẹ và con cái tạo ra những bi kịchđau lòng trong đó có lỗi từ sự thiếu tâm lý của người lớn…
Năm học 2009 – 2010, Bộ GD – ĐT đã đưa ra chỉ đạo về phong trào “trườnghọc thân thiện, học sinh tích cực” Theo đó, việc lồng ghép giáo dục KNS vào các mônhọc cho học sinh THPT đã được áp dụng thí điểm cho một số trường ở các thành phốlớn Cho đến nay, mặc dù chương trình này đã được triển khai ở tất cả các trườngTHPT nhưng cách thức thực hiện và hiệu quả mà nó mang lại vẫn là một bài toán khótrong ngành giáo dục
1.2.3.2 Trong chương trình Địa lí lớp 11
Trong chương trình Địa lí lớp 11 – Ban cơ bản có rất nhiều bài học có thể lồngghép được KNS,tuy nhiên từ trước đến nay các giáo viên chỉ chú trọng các kiến thứcchính của bài học mà không quan tâm đến những kiến thức KNS có thể tích hợp chohọc sinh Điều này là một trong những thiệt thòi rất lớn đối với các em Hi vọng trongtương lai, đề tài sẽ là một trong những đóng góp đáng kể cho việc lồng ghép giáo dụcKNS vào giảng dạy chương trình Địa lí lớp 11 – Ban cơ bản
Trang 33CHƯƠNG 2: CÁCH THỨC GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG TRONG DẠY HỌC
MỘT SỐ BÀI ĐỊA LÍ LỚP 11 – BAN CƠ BẢN 2.1 Mục tiêu giáo dục kĩ năng sống trong dạy học một số bài Địa lí lớp 11
Giáo dục KNS trong dạy học một số bài Địa lí lớp 11 giúp HS:
- Nắm vững kiến thức cơ bản về đặc điểm của nền kinh tế thế giới đương đại.Đặc điểm về tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội một số khu vực và quốc gia tiêu biểutrên thế giới
- Tự nhận thức và xác định được giá trị của bản thân mình, biết lắng nghe vàứng xử phù hợp với các tình huống xảy ra trong quá trình học tập, trong cuộc sống vàtrong các mối quan hệ gia đình, nhà trường, xã hội, …
- Hình thành, rèn luyện các KNS cần có của một công dân trong xã hội
2.2 Tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường THPT và trong dạy học một số bài Địa lí lớp 11
2.2.1 Tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường THPT
Có thể nói KNS chính là những nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thànhthái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh Người có KNS lành mạnh sẽ luônvững vàng trước những khó khăn, thách thức; Biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cáchtích cực và phù hợp; Họ thường thành công hơn trongcuộc sống, luôn yêu đời và làmchủ cuộc sống của chính mình Ngược lại, người thiếu kĩ năng thường bị vấp váp, dễ bịthất bại trong cuộc sống
Người không có kĩ năng ra quyết định sẽ dễ mắc sai lầm hoặc chậm trễ trongviệc đưa ra quyết định và phải trả giá cho quyết định sai lầm của mình; Người không
có kĩ năng ứng phó với căng thẳng sẽ hay bị căng thẳng hơn những người khác vàthường có cách ứng phó tiêu cực khi bị căng thẳng, làm ảnh hưởng không tốt đếnsức khỏe, học tập, công việc… của bản thân Hoặc người không có kĩ năng giao tiếp sẽkhó khăn hơn trong việc xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với mọi người xung quanh, sẽkhó khăn hơn trong hợp tác cùng làm việc, giải quyết những nhiệm vụ chung…Khôngnhững thúc đẩy sự phát triển của cá nhân, KNS còn góp phần thúc đẩy sự phát triểncủa xã hội, giúp ngăn ngừa các vấn đề về xã hội và bảo vệ quyền con người Việc thiếu
Trang 34KNS sống của cá nhân là một nguyên nhân làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội như:Nghiện rượu, nghiện ma túy, mại dâm, cờ bạc…
Việc giáo dục KNS sẽ thúc đẩy các hành vi mang tính xã hội tích cực, giúp nângcao chất lượng cuộc sống xã hội và giảm các vấn đề tiêu cực Giáo dục KNS còn giảiquyết một cách tích cực nhu cầu và quyền con người, quyền công dân được ghi trongluật pháp Việt Nam và quốc tế
Rèn luyện KNS càng trở nên cấp thiết đối với thế hệ trẻ hiện nay bởi vì: Các emchính là những chủ nhân tương lai của đất nước, là những người sẽ quyết định sự pháttriển của đất nước trong những năm tới Nếu không có KNS, các em sẽ không thựchiện tốt trách nhiệm của bản thân đối với gia đình, cộng đồng và đất nước
Lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cáchgiàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về
xã hội, thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động Đặc biệt trong bối cảnh hộinhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay giới trẻ thường xuyên chịu tác động đan xencủa những yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn được đặt vào hoàn cảnh phải lựa chọnnhững giá trị, phải đương đầu với những khó khăn, thách thức, những áp lực tiêu cực.Nếu không được giáo dục KNS, nếu thiếu KNS các em dễ bị lôi kéo vào các hành vitiêu cực bạo lực, vào lối sống ích kỉ, lai căng,thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc vềnhân cách Một trong các nguyên nhân dẫn tới các hiện tượng tiêu cực của một bộ phậnhọc sinh phổ thông trong thời gian qua như: Bạo lực học đường, nghiện hút, ăn chơi sađọa… chính là do các em thiếu những KNS cần thiết như: Kĩ năng xác định giá trị, kĩnăng từ chối, kĩ năng kiên định, kĩ năng giải quyết mâu thuẫn, kĩ năng giao tiếp…
Vì vậy, việc giáo dục KNS cho thế hệ trẻ hiện nay nói chung, cho học sinhTHPT đặc biệt học sinh lớp 11 nói riêng là rất cần thiết, giúp các em rèn luyện hành vi
có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và đất nước; giúp các em có bảnnăng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốtđẹp với gia đình, bạn bè và mọi người, sống tích cực, chủ động, an toàn, hài hòa vàlành mạnh Từ đó, qua quá trình được truyền thụ hệ thống các kĩ năng tự bảo vệ môitrường, những yếu tố tiêu cực tác động đến đời sống xã hội