BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TÌM HIỂU ĐỘNG LỰC THAY ĐỔI HTSD ĐẤT CỦA XÃ PHÚC THỌ VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA KỸ THUẬT GIS, TẠI BQLR L
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÌM HIỂU ĐỘNG LỰC THAY ĐỔI HTSD ĐẤT CỦA
XÃ PHÚC THỌ VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA KỸ THUẬT GIS, TẠI BQLR LÁN TRANH, HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG TRONG GIAI ĐOẠN 2000-2005
Họ và tên sinh viên: VÕ TIẾN PHONG Ngành: LÂM NGHIỆP
Niên khóa: 2005-2009
Trang 2TÌM HIỂU ĐỘNG LỰC THAY ĐỔI HTSD ĐẤT CỦA XÃ PHÚC THỌ VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA KỸ THUẬT GIS, TẠI BQLR LÁN TRANH, HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG TRONG GIAI ĐOẠN 2000-2005
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Suốt quá trình 4 năm Đại học, tôi đã được trao dồi thêm kiến thức, được quen biết nhiều bạn bè, được thầy cô truyền đạt nhiều vốn kiến thức quý giá và nhận được rất nhiều sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan (thực tập) Đến nay tôi có thể hoàn thành đề tài “Tìm hiểu động lực thay đổi HTSD đất của xã Phúc Thọ với sự hỗ trợ của
kĩ thuật GIS, tại BQLR Lán Tranh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn
2000 - 2005” Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành sâu sắc đến:
- Quý Thầy, Cô trường Đại học Nông Lâm – TP HCM và quý Thầy Cô khoa Lâm nghiệp đã truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình học tập tại trường Đại học Nông Lâm – TP HCM để tôi được như ngày hôm nay
- Đặc biệt tôi xin chân thành cám ơn sâu sắc Thầy TS Phạm Trịnh Hùng đã trực tiếp hướng dẫn tận tình để tôi hoàn thành đề tài này
- Ban quản lý rừng Lán Tranh - huyện lâm Hà - tỉnh Lâm Đồng, UBND xã Phúc Thọ và phòng tài nguyên, môi trường Tỉnh Lâm Đồng đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
- Cho tôi gửi lời cám ơn tới gia đình anh Võ Kim Lan, cùng bà con trong xã Phúc Thọ đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập đề tài
- Cám ơn gia đình và bạn bè đã khuyến khích, động viên và hỗ trợ tôi để tôi hoàn thành khóa học
Do hạn chế về mặt thời gian và điều kiện nghiên cứu, tôi cũng đã cố gắng hoàn thành tốt đề tài, nhưng khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của quý thầy cô cùng các bạn
Xin chân thành cám ơn!
Sinh viên
Võ Tiến Phong
Trang 4Sự thay đổi các hệ thống sử dụng đất đã mang lại những hệ quả rất lớn Trong khi đó, phần lớn các diện tích đất rừng đang dần bị chuyển đổi sang canh tác nông nghiệp, một phần dân cư của các cộng đồng dân tộc tại chỗ đã và đang thay đổi các hệ thống canh tác truyền thống tại địa phương, một phần dân cư khác từ các tỉnh đông dân, thiếu đất canh tác, nên đã kéo nhau đến nhập cư lên các vùng kinh tế mới Khai phá đất rừng, biến những khu đất đó cho mục đích cư trú và chiếm đất phục vụ cho nông nghiệp Có rất nhiều câu hỏi đặt ra ? nhu cầu thị trường của các loại nông sản có giá trị kinh tế cao, dưới áp lực tăng dân số hay tập quán canh tác của người dân, cùng với đó là công tác bảo vệ, quản lý của cơ quan có thẩm quyền và ý thức của người dân
về tình trạng thay đổi hiện trạng đang diễn ra…
Vấn đề tổ chức, sử dụng quỹ đất hiện hữu nói chung và tình hình quản lý, bảo
vệ rừng hợp lý nói riêng càng trở nên quan trọng và cấp thiết tại xã Phúc Thọ, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng Do đó, chúng tôi tiến hành chọn lựa địa điểm nghiên cứu này cho đề tài và đây cũng là nơi phù hợp cho việc lý giải các giả thuyết đặt ra cho sự thay đổi hiện trạng sử dụng đất
Với đề tài nghiên cứu là “Tìm hiểu động lực thay đổi HTSD đất của xã Phúc
Thọ với sự hỗ trợ của kĩ thuật GIS, tại BQLR Lán Tranh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn 2000 - 2005” Chúng tôi tiến hành thu thập bản đồ hiện trạng sử
dụng đất trong hai giai đoạn ở UBND xã, BQLR Lán Tranh và phòng tài nguyên, môi trường huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, cùng với tài liệu thu thập được chúng tôi tích hợp dữ liệu vào bản đồ với sự hỗ trợ của kĩ thuật GIS
Mục tiêu của đề tài: Mô tả hiện trạng sử dụng đất tại xã Phúc Thọ theo các giai đoạn 2000, 2005 Sau đó phân tích động lực thay đổi của hiện trạng sử dụng đất trong giai đoạn 2000 -2005
Kết quả nghiên cứu đề tài: năm 2000 diện tích là 2447,29 ha đến năm 2005 đã tăng con số diện tích lên là 3723,11 ha Trong vòng 5 năm, đất nông nghiệp mở rộng thêm diện tích là 1275,82 ha, vậy tính bình quân diện tích mỗi năm tăng lên 255,164
ha Trái ngược với diện tích đất nông nghiệp thì diện tích rừng đã có một sự tụt giảm
từ con số là 6707,24 ha vào năm 2000 xuống 5882,94 ha vào năm 2005, giảm đi 824,3
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt iii
Mục lục v
Danh sách các chữ viết tắt vii
Danh sách các hình và các bảng viii
Chương 1 1
MỞ ĐẦU 1U 1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Giới hạn nghiên cứu 2
Chương 2 4
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4U 2.1 Một số khái niệm cơ bản 4
2.1.1 Khái niệm về đất đai 4
2.1.2 Khái niệm về hệ thống sử dụng đất và thực trạng về diện tích của nước ta 5
2.1.2.1 Khái niệm về hệ thống sử dụng đất 5
2.1.2.2 Tình hình nghiên cứu đất rừng ở việt Nam 5
Chương 3 11
ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 11U 3.1 Điều kiện tự nhiên 11
3.1.1 Vị trí địa lý 11
3.1.2 Địa hình 12
3.1.3 Khí hậu 12
3.2 Tình hình dân sinh - xã hội 13
3.3 Các nguồn tài nguyên 14
3.3.1 Tài nguyên đất 14
3.3.2 Tài Nguyên nước 15
3.3.3 Tài nguyên rừng 16
Trang 73.3.4 Cảnh quan môi trường 16
3.4 Tình hình phát triển kinh tế của xã 16
3.4.1 Ngành nông nghiệp 16
3.4.2 Chăn nuôi 17
3.4.3 Ngành lâm nghiệp 18
3.4.4 Tiểu thủ công nghiệp – dịch vụ 18
3.4.5 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 19
3.4.6 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật, hạ tầng xã hội 20
3.4.7 Thủy lợi 20
3.4.8 Mạng lưới điện 20
3.4.9 Bưu chính - viễn thông 21
3.4.10 Giáo dục - đào tạo 21
3.4.11 Y tế 22
3.4.12 Văn hóa, thông tin, thể dục thể thao 22
Chương 4 24
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 24
4.1 Cơ sở lựa chọn địa điểm nghiên cứu 24
4.2 Nội dung nghiên cứu 24
4.3 Phương pháp nghiên cứu 25
4.3.1 Thu thập thông tin thứ cấp (ngoại nghiệp) 25
4.3.2 Xử lý thông tin (nội nghiệp) 25
4.3.3 Quan sát thực địa 27
Chương 5 28
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
5.1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2000 28
5.1.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 30
5.1.2 Hiện trạng tài nguyên rừng 31
5.1.3 Đất phi nông nghiệp 32
5.1.4 Đất chưa sử dụng 33
5.1.5 Đánh giá chung về tình hình hệ thống sử dụng đất 33
5.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2005 33
Trang 85.2.1 Đất nông nghiệp 34
5.2.2 Đất lâm nghiệp 36
5.2.3 Đất phi nông nghiệp 36
5.2.4 Đất chưa sử dụng 37
5.2.5 Đánh giá về hiện trạng sử dụng đất 37
5.3 Phân tích thay đổi của HTSD đất năm 2000 và 2005 38
5.3.1 Nhóm đất nông nghiệp 38
5.3.2 Nhóm đất lâm nghiệp 39
5.3.3 Nhóm đất phi nông nghiệp 39
5.3.4 Nhóm đất chưa sử dụng 40
5.4 Động lực của việc thay đổi sử dụng đất giai đoạn 2000 - 2005 41
5.4.1 Sự gia tăng dân số cơ học 42
5.4.2 Tác động của thị trường nông sản 42
5.4.3 Sinh kế của người dân và nhận thức về tài nguyên rừng 43
Chương 6 46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
6.1 Kết luận 46
6.2 Kiến nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 9DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CT: Chương trình
WB: World bank (Ngân hàng thế giới)
PRA: Participatory rural appraisal (Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia)
FAO: Food and agriculture organization of the united nations (Tổ chức lương thực nông nghiệp liên hợp quốc)
GIS: Geographic information system (Hệ thống thông tin địa lý)
Trang 10DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 1 11
Hình 2 29
Hình 3 29
Hình 4 34
Hình 5 34
DANH SÁCH CÁC BẢNG Trang Bảng 1 28
Bảng 2 30
Bảng 3 33
Bảng 4 35
Bảng 5 38
Trang 11Khi sự thay đổi hiện trạng sử dụng đất diễn ra thì tính chất bền vững có ý nghĩa quan trọng liên quan đến các mặt:
+ Sinh thái, liệu các hệ thống sử dụng đất mới được hình thành có đảm bảo các quá trình tái sản xuất của bản thân hệ thống hay tạo ra các tác động chi phối một cách bất lợi đến tính bền vững như xói mòn, xuống cấp của đất, hủy hoại tài nguyên, thất thoát đa dạng sinh học
+ Kinh tế, sự chuyển dịch này có nghĩa là các hệ thống sử dụng đất chịu một
sự chi phối ngày càng mạnh mẽ của một nền kinh tế thị trường
+ Xã hội, sự thay đổi này sẽ mang lại những tác động như thế nào đối với người dân Hệ quả của sự chuyển dịch đều có thể mang lại những tác động có ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của các cư dân bản địa và cũng như đối với sự tồn tại của các cư dân vừa đến Nếu thay đổi hiện trạng như vậy, liệu có ảnh hưởng lớn đến tính cân bằng của môi trường hay tính bền vững sinh thái cho con người hay không Khi xét đến sự thay đổi của yếu tố thì không thể xem thường hai yếu tố còn lại theo tính bền vững (Phạm Trịnh Hùng, 1998)
Trang 12Trong bối cảnh này, hiện trạng thay đổi sử dụng đất ở xã Phúc Thọ, huyện Lâm
Hà, tỉnh Lâm Đồng biến đổi nhanh, đời sống người dân vẫn còn nghèo, người dân còn phụ thuộc vào tài nguyên rừng Tình trạng lấn đất rừng làm nương rẫy cũng như chuyển hóa các diện tích này thành các vùng canh tác nông nghiệp đang phổ biến tại khu vực thuộc địa phần quản lý của BQLR Lán Tranh, huyện Lâm Hà Theo số liệu thống kê kể từ năm 1999 đến nay có đến 4200 ha rừng của ban quản lý rừng Lán Tranh đã bị lấn chiếm, cùng với tình trạng lâm tặc tấn công lực lượng quản lý và bảo
vệ rừng đã diễn ra phổ biến (Quang Sáng, 2007) Tính riêng trong năm 2008 đã có đến
140 ha rừng bị thiệt hại, trong đó có khoảng trên 100 ha đã bị xâm lấn cho mục đích nương rẫy (Nguyễn Thế, 2008) Đứng trước tình hình này câu hỏi đặt ra liên quan đến thay đổi hệ thống sử dụng đất tại đây như thế nào, nguyên nhân nào đã dẫn đến tình trạng này ? có phải vì di dân tự do, giá cả thị trường của các loại nông sản hay do tập quán canh tác của người dân…Việc xác định được các nguyên nhân này sẽ đóng góp một vai trò quan trọng giúp BQLR Lán Tranh có những định hướng quy hoạch lại hệ thống sử dụng đất ở đây, đồng thời có các phương án ổn định đời sống người dân, nhằm giảm bớt đi các áp lực đối với các vùng rừng hiện hữu Trong bối cảnh này
chúng tôi đề xuất cho đề tài nghiên cứu “Tìm hiểu động lực thay đổi HTSD đất của
xã Phúc Thọ với sự hỗ trợ của kĩ thuật GIS, tại BQLR Lán Tranh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn 2000 - 2005”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
+ Mô tả hiện trạng sử dụng đất tại xã Phúc Thọ theo các giai đoạn 2000, 2005 + Phân tích động lực thay đổi của hiện trạng sử dụng đất trong giai đoạn 2000 -
2005
1.3 Giới hạn nghiên cứu
Do bản đồ hiện trạng sử dụng đất phải 5 năm mới xây dựng, nên quá trình làm
đề tài gặp khó khăn trong giai đoạn hiện trạng sử dụng đất của những năm đã qua, cùng với quá trình cán bộ công chức có sự thay thế, nên các tài liệu liên quan thu thập được còn hạn chế Vì vậy chúng tôi quyết định chọn 2 thời điểm năm 2000 và năm
2005 để nghiên cứu Với điều kiện thời gian cho phép, chúng tôi chỉ cố gắng vận dụng
Trang 13kiến thức đã học vào việc mô tả thay đổi hiện trạng của hệ thống sử dụng đất, để từ đó phân tích quá trình thay đổi, nhằm đề ra những tác động hữu hiệu cho việc phát triển của xu hướng của xã hội hiện nay
Trang 14
Chương 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1 Khái niệm về đất đai
Đất là một dạng tài nguyên vật liệu của con người Đất có hai nghĩa: đất đai là
nơi ở, là nơi xây dựng cơ sở hạ tầng của con người, thổ nhưỡng là mặt bằng để sản
xuất nông lâm nghiệp (VLOS, 2008)
Theo FAO, đất đai là một nhân tố sinh thái bao gồm các thuộc tính sinh học và
tự nhiên tác động đến sử dụng đất Các đặc trưng đó bao gồm: đặc trưng về thổ
nhưỡng, đặc trưng về khí hậu, sinh vật, con người, và một số đặc trưng khác như địa
hình địa mao, địa chất thủy văn
Trước tiên phải kể đến là Docuchaev (1846 - 1903) là người sáng lập môn khoa
học đất – khoa thổ nhưỡng tự nhiên lịch sử hay phát sinh Docuchaev đã xác định mối
quan hệ có tính quy luật giữa đất và điều kiện tự nhiên (khí hậu, địa hình, sinh vật, đá
mẹ và thời gian) Sự tạo thành đất theo Docuchaev là kết quả tác động của thể tự
nhiên Tiếp theo là các nghiên cứu của nhiều nhà khoa học khác Một vạt đất xác định
về mặt địa lý là một diện tích của bề mặt trái đất với thuộc tính tương đối ổn định,
hoặc thay đổi có tính chu kỳ có thể dự đoán của sinh quyển bên trên, bên trong, bên
dưới của nó như là: khí hậu, đất, điều kiện địa chất, điều kiện thủy văn, thực vật và
động vật cư trú, những hành động trước đây và hiện nay của con người ở chừng mực
mà các thuộc tính này có ảnh hưởng đến vấn đề sử dụng đất của con người trong tương
lai (Christian và Stewart, 1968; Brinkman và Smith, 1973) Trong số những nguồn lực
vật chất, đất chắc chắn là nguồn lực to lớn nhất Cứ nghiên cứu, khảo sát cách thức sử
dụng đất đai của một xã, ta có thể đi tới những kết luận, nhận định khá tin cậy về
tương lai xã hội ấy (Schumarker, 1989)
Đất là một thành phần quan trọng của hệ sinh thái rừng, là một trong những yếu
tố hình thành quần thể rừng Đất có quá trình phát sinh và phát triển phụ thuộc vào
Trang 15nhiều yếu tố trong đó có khí hậu, đá mẹ, thực vật, tuổi địa chất và hoạt động của con người Đất và quần thể rừng có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ vì đất vừa là yếu tố hình thành rừng, có vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng của rừng, đồng thời chịu ảnh hưởng trực tiếp của thảm thực vật rừng tạo nên độ phì đất rừng
2.1.2 Khái niệm về hệ thống sử dụng đất và thực trạng về diện tích của nước ta 2.1.2.1 Khái niệm về hệ thống sử dụng đất
Hệ thống sử dụng đất là một cách thức khai thác môi trường được hình thành về phương diện lịch sử, được hòa nhập một cách bền vững với các điều kiện sinh khí hậu của một khu vực nào đó và liên quan đến các điều kiện, nhu cầu xã hội tại địa phương vào một địa điểm nào đó (Mazoyer, 1995)
2.1.2.2 Tình hình nghiên cứu đất rừng ở việt Nam
Trong những năm qua, ở nước ta chủ yếu tập trung vào hướng nghiên cứu tìm
ra mối quan hệ giữa tính chất, độ phì của đất với sự phân bố, sinh trưởng và năng suất
gỗ của các loại rừng, với ý nghĩa xem đất là yếu tố sinh thái đối với rừng Trong đó, các công trình nghiên cứu điển hình như: Tổng quát hóa những đặc điểm cơ bản của đất dưới các đai rừng, kiểu rừng, loại hình rừng miền Bắc ở Việt Nam (Nguyễn Ngọc Bình 1970, 1979, 1986) Nghiên cứu quá trình tích lũy chất hữu cơ trong đất, cũng như đặc điểm về thành phần mùn trong các loại đất rừng; Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại rừng khác nhau đến quá trình tích lũy chất hữu cơ và đặc điểm thành phần mùn của đất (Nguyễn Ngọc Bình,1986, 1978; Hoàng Xuân Tý và cộng tác viên, 1978; Đỗ Đình Sâm và cộng tác viên, 1990)
a/ Tình hình nghiên cứu đánh giá đất
Phương pháp đánh giá đất đai dựa trên cơ sở lập địa Có rất nhiều định nghĩa
về lập địa nhưng có thể hiểu bản chất của khái niệm là “Lập địa là một phạm vi lãnh thổ nhất định với tất cả những yếu tố của ngoại cảnh ảnh hưởng tới sinh trưởng của cây cối”, bao gồm: khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, thế giới động thực vật Những yếu tố xác định lập địa có nhiều nét tương đồng với các yếu tố xác định đơn vị đất đai Đơn vị
cơ bản của hệ thống phân loại lập địa là dạng lập địa và nhóm dạng lập địa Đó cũng là
Trang 16+ Cần xét tới yếu tố chủ đạo trong phân chia
+ Các yếu tố chọn lựa cần được xem xét phù hợp và thỏa mãn với mục đích kinh doanh, mức độ thâm canh
+ Tác giả đã đề xuất 3 yếu tố tham gia phân chia lập địa như sau:
Nhóm yếu tố thổ nhưỡng: nhóm và loại đất, thành phần cơ giới và độ dày tầng đất
•
Nhóm yếu tố địa hình: vị trí và độ dốc
• Nhóm yếu tố và chế độ thoát nước và ngập nước
• Năm 1996, Trung tâm nghiên cứu Sinh Thái và Môi Trường Rừng thuộc Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã tiến hành điều tra khảo sát vùng dự án Việt - Đức tại Bắc Giang và Lạng Sơn đã đề xuất đưa các yếu tố chủ đạo: loại đất và đá mẹ, độ dốc, độ dày tầng đất, thực bì chỉ thị để phân chia lập địa làm cơ sở cho phương pháp điều tra lập địa phục vụ cho công tác trồng rừng và đã được ứng dụng có hiệu quả tại các dự án trồng rừng tại Việt Nam và quốc tế Tuy nhiên, việc ứng dụng phương pháp điều tra lập địa phù thuộc vào điều kiện đặc thù của từng khu vùng, từng loại cây và yêu cầu của từng dự án mà chúng ta có thể áp dụng khác nhau
b/ Phân hạng đất đai
Phân hạng đất đai cũng là một dạng của việc đánh giá đất đai Bản chất của phương pháp này là tìm mối quan hệ giữa đặc điểm, tính chất đất đai với năng suất cây trồng để phân hạng đất thành các cấp khác nhau ứng với các loại cây trồng khác nhau Trong lâm nghiệp các yếu tố dùng để phân hạng: loại đất, độ pH, thành phần cơ giới,
độ dày tầng đất, thực bì chỉ thị cho độ phì nhiêu đất hoặc mức độ thoái hóa đất (Đỗ Đình Sâm và cộng tác viên, 2005) Tuy nhiên, khi phân hạng đất đai chúng ta cần phải
Trang 17c/ Đánh giá đất theo FAO
Công tác đánh giá đất theo phương pháp của tổ chức FAO tuy còn rất mới, nhưng cũng đã có nhiều công trình khoa học có giá trị tầm cỡ khu vực, quốc gia và quốc tế của các nhà khoa học đất
Năm 1991 - 1995, các nhà khoa học đất trên toàn quốc đã hoàn thành các nghiên cứu đánh giá đất phục vụ cho quy hoạch tổng thể và quy hoạch sử dụng đất ở đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long
Năm 1995, Viện Quy Hoạch và Thiết Kế Nông Nghiệp đã tổng kết và vận dụng các kết quả bước đầu của chương trình đánh giá đất ở Việt Nam để xây dựng tài liệu
“Đánh giá đất và đề xuất sử dụng tài nguyên đất phát triển nông nghiệp bền vững” (thời kỳ 1996 - 2000 và 2010)
Từ năm 1996 đến nay, các chương trình đánh giá đất cho các vùng sinh thái khác nhau, từ các tỉnh cho đến các huyện trọng điểm của một số tỉnh, đã được thực hiện và làm những tư liệu có giá trị cho các dự án quy hoạch, sử dụng và chuyển đổi
cơ cấu cây trồng ở cấp cơ sở (Đào Châu Thu và Nguyễn Khang, 1998)
Năm 2005, Đỗ Đình Sâm và cộng tác viên đã xây dựng hệ thống đánh giá đất lâm nghiệp Việt Nam
d/ Tổng quan về các động lực thay đổi và kết quả đánh giá đất trong lâm nghiệp
Năm 1971, Viện Điều tra quy hoạch rừng đã phân chịa dạng lập địa gồm 6 yếu
tố là: dạng đai khí hậu, dạng địa thế, dạng đất, dạng cấp hàm lượng nước và trung khí hậu theo địa thế, dạng nước ngầm và nước đọng, dạng trạng thái
Động lực trong từ điển Oxford (1989) như là “một thứ mà thúc đẩy và khuyến khích ai đó làm cái gì” hoặc “một sự chi trả hoặc điều kiện để khuyến khích đầu ra hoặc sự đầu tư lớn hơn” (Wieskopf và các cộng sự, 2002)
Năm 2004, theo FAO; tiền có thể là một động lực: ví dụ, một dự án có thể trả tiền cho người dân khi họ trồng cây Sự sợ hãi có thể là một động lực: sự sợ hãi ông bà
Trang 18Cũng trong năm 2004, theo IUCN thì trong lĩnh vực lâm nghiệp, động lực hay trợ cấp có thể có nhiều dạng, bao gồm:
+ Trợ cấp hoàn toàn (khi giá trị thị trường không tương ứng với chi phí sản xuất
gỗ, bao gồm chi phí môi trường và xã hội)
+ Động lực trực tiếp hay gián tiếp (như là cơ sở hạ tầng, trợ cấp chất đốt)
+ Động lực tài chính (như giảm thuế hoặc miễn thuế cho việc đầu tư trồng rừng)
+ Động lực khuyến khích xuất khẩu (bao gồm trợ cấp xuất nhập khẩu hay trợ cấp giá)
Với IUCN, những động lực và trợ cấp cho những hoạt động sử dụng đất liên quan tới rừng cần phải được định hướng và cải thiện để nâng cao, hơn là hủy hoại chức năng sinh thái của cảnh quan rừng và hơn thế nữa, để cải thiện sinh kế của người nghèo Những ví dụ bao gồm: việc chi trả cho những người dân ở Vương Quốc Anh để họ duy trì những cây trồng làm hàng rào, và động lực cho việc bảo tồn các trang trại hữu cơ ở Thụy Sĩ Những động lực này đặc biệt quan trọng ở những khu vực tỉ lệ đói nghèo cao, việc gia tăng những chuyển nhượng đất đai và cơ sở tài nguyên thiên nhiên là những nguyên nhân cơ bản gây ra suy thoái tài nguyên rừng Một lý do về tỉ lệ thất bại cao của những dự án quản lý rừng có sự tham gia là thiếu đi những động lực kinh tế đối với những người sử dụng rừng địa phương và những nhóm liên quan khác tham gia trong quản lý rừng bền vững Hiện nay, những
nổ lực để quản lý rừng bền vững phải đối mặt với nhiều rào cản Một nhân tố chính
đó là sự thiếu đi những động lực, hoặc sự thống trị của những động lực vô lý hay sai lầm của những nhóm liên quan (Richarsd, Davies và Yaron, 1999)
Có rất nhiều trở ngại mà có thể cản trở quản lý rừng bền vững, chẳng hạn như
là sự không ổn định về kinh tế, chính trị, luật pháp và thể chế; quyền hưởng sử dụng
Trang 19+ Những động lực tài chính cho quản lý rừng bền rừng, bao gồm: sự phù hợp
về thuế, trợ cấp, giảm giá cho các thiết bị và máy móc để khuyến khích các kỹ thuật quản lý tốt và chịu trách nhiệm về hành vi phá hoại
+ Những động lực tài chính cho rừng tư nhân và rừng trồng, gồm có: sự miễn thuế từ việc cải cách ruộng đất, quyền sở hữu đất đai chắc chắn, bồi hoàn cho những việc đầu tư đúng đắn và tiếp nhận đến các nguồn vay ưu đãi
+ Đối với việc quản lý rừng, việc nhượng quyền rừng có thể được khuyến khích trong khoảng thời gian 40 năm hoặc hơn, khả năng cho thuê lại, sự bồi hoàn cho những hoạt động đầu tư đúng đắn, và những khuyến khích về thuế (WB, 2004)
e/ Tài nguyên diện tích đất của nước ta
Đối với diện tích của cả nước là 33121,2 nghìn ha thì diện tích nông lâm nghiệp chiếm phần lớn là 24696 nghìn ha Trong đó, tỉnh Lâm Đồng chiếm là 977,6 nghìn ha; riêng phần đất cho sản xuất nông nghiệp là 277,1 nghìn ha; diện tích đất cho lâm nghiệp chiếm tỉ lệ cao 622,4 nghìn ha; với đất dùng cho nhà ở là 6,9 nghìn ha; riêng diện tích đất chuyên dùng cho tỉnh Lâm Đồng là 15,8 nghìn ha
Như vậy, nghiên cứu về hệ thống sử dụng đất đòi hỏi một cách tiếp cận mang tính hệ thống, liên ngành và đa lĩnh vực Tính đa lĩnh vực đòi hỏi sự lồng ghép của các vấn đề khác nhau, từ y tế cộng đồng đến khuyến nông và giáo dục phổ cập Rất nhiều các nghiên cứu được thực hiện trong việc đánh giá tiềm năng đất lâm nghiệp bằng nhiều phương pháp khác nhau Trong khi đó việc tìm hiểu các ảnh hưởng của các điều kiện kinh tế xã hội trên việc thay đổi hệ thống sử dụng đất lâm nghiệp thì vẫn chưa nhiều và các nghiên cứu thường có các kết quả khác nhau tùy thuộc vào đời sống văn hóa, tập quán canh tác của từng vùng địa lý Việc áp dụng các kỹ thuật mới như GIS kết hợp với công cụ (PRA) phục vụ cho việc nghiên cứu, giải thích các biến đổi của hệ
Trang 20thống sử dụng đất theo phát triển kinh tế - xã hội trong một giai đoạn hiện nay cũng chưa nhiều lắm trong điều kiện Việt Nam
Trang 21Chương 3 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên
Xã Phúc Thọ nằm ở phía Tây của huyện Lâm Hà, cách trung tâm huyện 18 km, ranh giới hành chính được xác định như sau: phía Bắc giáp huyện Đam Rông và tỉnh Đắk Nông, phía Nam giáp xã Tân Thanh và xã Hoài Đức, phía Đông giáp xã Đạ Đờn
và xã Tân Văn, phía Tây giáp tỉnh Đắk Nông
Hình 1: Bản đồ hành chính của xã Phúc Thọ, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng
Trang 223.1.2 Địa hình
Do mang đặc trưng của khu vực Tây Nguyên, nên xã Phúc Thọ có địa hình khá đa dạng và phức tạp, với độ cao trung bình từ 800 m đến 1150 m so với mặt nước biển và có xu hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam, bao gồm 3 dạng địa hình chính là: núi cao, đồi thoai thoải cao nguyên và thung lũng hẹp
+ Địa hình núi cao: Phân bố tập trung ở phía Tây của xã Độ dốc phổ biến từ
150 - 250, hướng dốc từ Bắc xuống Nam, dạng địa hình này hiện tại là nơi tập trung rừng đặc dụng của xã, nên có độ che phủ lớn Tuy nhiên, một phần diện tích nhỏ đã bị khai phá làm rẫy và trồng cây lâu năm
+ Địa hình núi thấp cao nguyên: đây là dạng địa hình chính của xã và đây cũng là dạng địa hình tập trung chủ yếu trồng cây nông nghiệp của nhân dân trong xã
Độ dốc phổ biến từ 80 - 150 Dạng địa hình này thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp, định canh, định cư và xây dựng cơ sở hạ tầng
+ Địa hình thung lũng hẹp: có độ dốc nhỏ hơn 80, gồm các thung lũng hợp thủy có nước quanh năm Một số diện tích được ngăn, đắp, đào lấy nước tưới cho cây lâu năm Đất thung lũng là loại đất có độ phì tự nhiên cao thích hợp cho trồng lúa nước
và rau quả
3.1.3 Khí hậu
Số liệu quan trắc của trạm khí tượng thủy văn Liên Khương - Đà Lạt cho thấy: huyện Lâm Hà nói chung, xã Phúc Thọ nói riêng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng do ở độ cao trên 800 m so với mực nước biển nên khí hậu có nét độc đáo với 2 mùa rõ rệt :
- Mùa mưa từ tháng 5 - 10 (dương lịch)
- Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Với những đặc trưng cơ bản như sau:
+ Nhiệt độ trung bình thấp, tương đối ôn hòa là 20,90C, biên độ dao động nhiệt độ ban ngày là 34,20C và ban đêm là 6,40C Thích hợp với tập đoàn cây á nhiệt đới và nhiều loại cây trồng vùng ôn đới, là lợi thế của địa phương so với các vùng khác của Nam Bộ và Nam Trung Bộ
Trang 23+ Nắng nhiều, ẩm độ không khí vừa phải, lượng mưa trung bình hàng năm là
1625 mm và phân bố khá đều trong mùa mưa Mùa khô lượng mưa không đáng kể tạo
ra sự chênh lệch về ẩm độ
+ Tổng lượng bốc hơi hàng năm là 1012,7 mm/năm, độ ẩm bình quân trong năm là 85,1%, số ngày mưa bình quân trong năm từ 160 ngày Do cường độ bốc hơi không cao nên lượng nước tưới cho cà phê và các loại cây trồng khác trong mùa khô thấp hơn đáng kể so với các huyện Đơn Dương, huyện Đức Trọng và thấp hơn nhiều
so với các tỉnh ở miền Đông và miền Tây Nguyên
3.2 Tình hình dân sinh - xã hội
Xã Phúc Thọ có tổng diện tích tự nhiên là 10898 ha, diện tích đất nông nghiệp
là 3500 ha, còn lại chủ yếu là đất rừng Trong đó:
+ Diện tích rừng phòng hộ là 107 ha
+ Diện tích rừng sản xuất là 43 ha
Do ban quản lý rừng Lán Tranh quản lý Được chia thành 7 tiểu khu, đó là các tiểu khu: 250, 251, 236, 253, 255, 286A, 249 Các thôn trong xã có rừng: Phúc Tân, Phúc Tiến, Phúc Hợp, Lâm Bô, Phúc Hòa, Phúc Cát
Toàn xã có 1447 hộ với 6759 nhân khẩu, chiếm 11,06% diện tích và 4,66% dân
số toàn huyện Được chia làm 12 thôn bao gồm: Phúc Hưng, Phúc Thịnh, Phúc Thanh, Phúc Tân, Phúc Tiến, Phúc Hợp, Phúc Cát, Phúc Lộc, Lâm Bô, Phúc Hòa, Tân Sơn,
Đạ Bẹ
Thành phần dân tộc sống cộng cư trên xã bao gồm: Tày, Nùng, Thái, K`Ho, Cill, Mơ Nông, Dao, Hoa và còn lại 80% là dân tộc kinh, trong đó có 5 thôn là người đồng bào dân tộc đang sinh sống
Định hướng cơ cấu kinh tế của toàn xã là nông lâm nghiệp - dịch vụ - công nghiệp với các loại cây trồng chính trên địa bàn xã bao gồm: cà phê, dâu tằm, chè, cây
ăn quả
Trang 243.3 Các nguồn tài nguyên
3.3.1 Tài nguyên đất
Kết quả điều tra chỉnh lý bản đồ đất các xã thuộc huyện Lâm Hà theo tỷ lệ
1/25.000; toàn xã có 6 đơn vị phân loại đất
Số thứ
Diện tích (ha)
Tỷ lệ (%)
02 Đất nâu đỏ trên đá mẹ bazan Fk 1841,03 16,89
Diện tích đất và thành phần các chất có trong đất được phân tích cụ thể như sau:
+ Đất phát triển trên đá mẹ bazan (Ft, Fk): diện tích là 2664,67 ha, chiếm
24,45% diện tích tự nhiên; độ chua của đất từ ít chua đến chua là pHkcl = 4,2 - 4,8, tỷ
lệ hữu cơ trong đất từ khá đến giàu (từ 2,5 - 4,0%), lân dễ tiêu và kali trao đổi thấp,
dung tích hấp thu cao, thành phần cơ giới từ thịt nặng đến sét Nhìn chung các loại đất
trên có độ phì nhiêu tiềm tàng cao thích hợp với nhiều loại cây công nghiệp dài ngày
có giá trị
+ Đất đỏ vàng trên đá Granite (Fa): diện tích là 6987,03 ha, chiếm 64,11%
diện tích tự nhiên; đất có pHkcl = 4,0 – 4,5, tỷ lệ hữu cơ trong đất từ trung bình đến
khá (từ 2,0 – 2,5%), đất dưới tán rừng tỷ lệ hữu cơ cao hơn (trên 3,0%), lân dễ tiêu và
kali trao đổi trung bình, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt trung bình Đất có nhiều
đá lẫn và đá lộ đầu Nhìn chung loại đất trên có độ phì tiềm tàng không cao, ít thích
hợp với các cây nông nghiệp
+ Đất xám trên Granite (Xa): diện tích là 616,41 ha, chiếm 5,66% diện tích tự
nhiên; là đất phát triển trên đá Granite do vậy các đặc tính lý hóa tương tự đất đỏ vàng
trên đá Granite Tuy nhiên do đất có độ dốc nhỏ sớm được khai thác sử dụng, thiếu
Trang 25nguồn nước nên hiện tại đa số diện tích đã tái hoang hóa Một số diện tích khác đã được trồng cà phê, dâu tằm, các loại hoa màu… Hiệu quả kinh tế thấp
+ Đất đen trên sản phẩm bồi tụ bazan (Rk): diện tích là 92,46 ha, chiếm 0,85% diện tích tự nhiên; là đất có độ phì tiềm tàng cao Đất có pHkcl =< 4,2, tỷ lệ hữu cơ trong đất khá giàu (từ 3,5 - 4,0%), lân dễ tiêu và kali trao đổi thấp, dung tích hấp thu cao, thành phần cơ giới từ thịt nặng đến sét Đất thích hợp với lúa nước, rau màu và một số hoa cao cấp
+ Đất thung lũng dốc tụ (D): diện tích là 274,3 ha, chiếm 2,52% diện tích tự nhiên; là đất có độ phì tiềm tàng khá Đất có pHkcl =< 4,5, tỷ lệ hữu cơ trong đất từ trung bình đến khá (2,0 – 3,0%), lân dễ tiêu và kali trao đổi thấp, dung tích hấp thu không cao, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình Đất có thể trồng lúa nước, và một số loại rau màu
3.3.2 Tài Nguyên nước
- Nước mặt: Xã Phúc Thọ không có hệ thống sông Nguồn nước của xã chủ yếu là hệ thống những con suối nhỏ và một số hồ đập được phân bố đều trên địa bàn toàn xã và đây cũng chính là nguồn nước tưới tiêu cung cấp cho sản xuất nông nghiệp Lưu lượng các suối nhỏ có sự phân hóa theo mùa: mùa mưa chiếm khoảng 80% lượng nước, mùa khô nhờ các hệ thống khe suối này cũng đã phát huy tác dụng tích cực vào điều hòa lượng nước tưới cho sản xuất nông nghiệp của xã Đầu nguồn các suối là diện tích đất lâm nghiệp (chiếm trên 50%) với độ che phủ lớn nên nguồn thủy sinh khá dồi dào Hạn chế lớn trong sử dụng nước ở đây là độ chênh lệch khá cao giữa nguồn nước
và địa bàn sản xuất, vì vậy hiệu quả sử dụng nước bị hạn chế
- Nước ngầm: Một số kết quả điều tra trong vùng cho thấy nước ngầm ở đây khá đa dạng, được chứa trong tất cả các loại đá với trữ lượng và độ tinh khiết khác nhau Ba địa tầng chứa nước chính như sau:
+ Tầng chứa nước lỗ hổng: nằm ở ven suối, bề dày không quá 10 m, lưu lượng từ 0,1 - 0,14 lít/s, thành phần hóa học thuộc kiểu Biocarbonate clorua, độ khoáng hóa từ 0,07 - 3 g/lít
+ Tầng chứa nước lỗ hổng - khe nứt: Nước ngầm ở nước này trên đất bazan với bề dày chứa nước từ 10 - 100 m, lưu lượng trung bình từ 0,1 - 1,0 g/lít, có thể sử
Trang 26dụng cho sinh hoạt Riêng về khả năng khai thác cho sản xuất được đánh giá ở mức trung bình, hiện nay đã được khai thác để tưới cây cà phê
+ Tầng chứa nước khe nứt: bao gồm nhiều loại, nhưng nhìn chung lưu lượng thuộc loại nghèo, khả năng khai thác cho sản xuất còn hạn chế
3.3.3 Tài nguyên rừng
Theo kiểm kê năm 2007, diện tích đất lâm nghiệp là 5400,08 ha chiếm 49,55% diện tích tự nhiên; chủ yếu là rừng sản xuất có diện tích là 4323,02 ha Trong đó, diện tích đất có rừng tự nhiên là 4202,25 ha và đất có rừng trồng sản xuất là 120,77 ha, phần diện tích giành cho rừng phòng hộ chiếm 1077,06 ha và đây cũng là rừng tự nhiên do BQLR Lán Tranh quản lý Rừng là thế mạnh của xã Phúc Thọ, nếu phát huy được nguồn tài nguyên này thì đây sẽ là nội lực giúp địa phương phát triển mạnh về kinh tế, đặc biệt là kinh tế rừng
3.3.4 Cảnh quan môi trường
Trong nhiều năm trở lại đây tài nguyên rừng của xã đã suy giảm, những diện tích rừng dần dần thay thế bởi cây công nghiệp, mức độ che phủ không còn cao nữa, làm cho cảnh quan môi trường ở đây biến đổi rất nhanh nhưng chưa nghiêm trọng Do kinh tế xã chủ yếu là nông nghiệp, các cơ sở sản xuất công nghiệp gây ô nhiễm chưa
có, nên nhìn chung môi trường ở địa phương được bảo vệ khá tốt Tuy nhiên, cũng đã
có những biểu hiện cần phải quan tâm nhiều hơn như: tình trạng ô nhiễm nguồn nước
ở các sông, suối, xói mòn và rửa trôi do canh tác trên đất dốc dẫn tới bồi lắng ở hạ lưu, tình trạng sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu nhiều trong nông nghiệp
3.4 Tình hình phát triển kinh tế của xã
3.4.1 Ngành nông nghiệp
Do đất đai màu mỡ và thời tiết khí hậu rất thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như: chè, cà phê, dâu tằm, ngoài ra còn có các loại cây lương thực, cây thực phẩm khác: khoai, bắp, hoa màu…Trong đó cây cà phê là chủ lực với diện tích là 2438 ha, năng suất bình quân 22 tạ/ha, chủ yếu trên diện tích trồng giống cà phê Robutta là 1930 ha, còn lại là diện tích trồng loại cà phê Catimor Mặc dù
Trang 27giá cả cà phê trong nước và thế giới luôn biến động, làm cho bà con lo lắng và cuộc sống luôn bấp bênh, nên một số diện tích không phù hợp đã chuyển đổi sang cây trồng khác như: dâu, ngô, đậu đỗ Xong nhìn chung cây cà phê vẫn được người dân chọn là cây trồng chính Trong những năm tới đây hướng phát triển là chuyển đổi các vườn cây già cỗi năng suất thấp và những vùng đất xấu, thiếu nước tưới sang sản xuất cây cà phê Catimor
- Riêng diện tích trồng cây sản xuất như chè thì luôn ổn định qua các năm, có các loài chè như: chè cành, chè hạt, chè chất lượng cao, giá trị của loại cây này ít biến đổi, nhưng đòi hỏi khâu thu hoạch và tiêu thụ sản phẩm Đến nay diện tích chè trên địa bàn xã là khoảng 145 ha, với năng suất bình quân 78 tạ/ha, tập trung chủ yếu cho 2 công ty nước ngoài
- Cây dâu: trồng dâu và nuôi tằm là nghề truyền thống của người dân đi xây dựng vùng kinh tế mới từ Hà Nội và Hà Tây, đã tận dụng tốt giá trị đặc điểm đất của
xã để phát triển nghề dâu tằm Với diện tích 80 ha và năng suất bình quân là 8,8 tấn/ha
- Còn diện tích gieo trồng các cây lương thực, thực phẩm thì: tổng diện tích gieo trồng lúa khoảng 42 ha, trong đó lúa vụ đông xuân là 20 ha, năng suất bình quân đạt 45 tạ/ha Diện tích gieo trồng ngô là 30 ha, chủ yếu trồng xen trên diện tích chuyển đổi cây cà phê và diện tích cây thực phẩm (rau, đậu các loại) là 60 ha Mới đây cây hàng năm như Mac Mác được bà con đầu tư và mở rộng với diện tích khoảng 10 ha
Do chưa chú trọng đến loại cây trồng này nhiều, nên giống cây trồng của xã về hoa màu còn chưa phát triển, các khoa học kỹ thuật tiến bộ như trồng rau sạch nhà kính ít thấy người dân áp dụng và nhiều giống cây trồng mới chưa đưa vào gây trồng trong sản xuất
Trang 28con, đàn heo 700 con, còn đàn gia cầm vẫn được giữ vững ổn định và chăm sóc tốt, nên hiện nay toàn xã có khoảng 30000 con, cùng với chủ trương phòng bệnh và tiêm phòng ngừa dịch bệnh được người dân trong xã áp dụng và phát huy tốt Nhưng tiềm năng phát triển chăn nuôi của xã rất lớn so với tình hình hiện nay thì chưa tương xứng nhiều Cần có nhiều chủ trương phát triển chăn nuôi kết hợp với các khoa học kỹ thuật của khuyến nông, khuyến lâm giúp người dân đẩy mạnh chăn nuôi
3.4.3 Ngành lâm nghiệp
Tác động của thị trường giá cà phê, mà trên địa bàn xã diễn ra phức tạp tình trạnh phá rừng, lấn chiếm đất rừng Kể từ năm 2002 đến năm 2008 trên địa bàn xã đã xãy ra hàng trăm vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng, với tổng diện tích lấn chiếm là khoảng 25 ha, chỉ riêng 6 tháng đầu năm 2008 đã xãy ra 21 vụ phá rừng với diện tích lấn chiếm là 69 ha Phát hiện và xử lý 2 vụ khai thác gỗ trái phép Và đã cưỡng chế giải tỏa khoảng 17 ha đất vi phạm Thực hiện chủ trương, chính sách của đảng thì UBND xã cùng các cơ quan chủ quản tập trung rà soát tổ chức giao khoán bảo
vệ rừng cho 64 hộ dân với tổng diện tích rừng giao khoán là 1414 ha Trong đó chủ yếu tập trung giao khoán cho các hộ đồng bào dân tộc, các hộ gần rừng và giao khoán đất trồng rừng cho các hộ gia đình, cá nhân bằng nguồn lực vốn tự có để sản xuất nông lâm theo nghị định 01/CP của chính phủ với tổng diện tích 100 ha Cùng với việc thực hiện các chương trình 661, trồng rừng nguyên liệu giấy có những chuyển biến tích cực, ngành lâm nghiệp của xã dần chuyển từ lâm nghiệp truyền thống sang lâm nghiệp xã hội, thu hút các thành phần kinh tế, các tổ chức và cá nhân tham gia bảo vệ và phát triển rừng Vì vậy mà chủ trương của xã những năm tới là khai thác có hiệu quả tiềm năng lâm nghiệp có sự tham gia của người dân
3.4.4 Tiểu thủ công nghiệp – dịch vụ
Trên địa bàn xã thu hút được một số cơ sở sản xuất và chế biến chất lượng cao: doanh nghiệp tư nhân Lâm Viên (2,48 ha), công ty trách nhiệm hữu hạn JunHong VN (1 ha), công ty trách nhiệm hữu hạn Kinh Wan Chen (1,29 ha) Ngoài ra lĩnh vục tiểu thủ công nghiệp chủ yếu hoạt động dưới hình thức hộ gia đình, cá nhân trong các lĩnh vực chế biến nông sản, cơ khí, may mặc, sửa chữa…
Trang 29Tiểu thủ công nghiệp – dịch vụ ở xã chưa phát triển tương xứng với tiềm năng
và nhu cầu lao động tại chỗ của địa phương, ngành nghề sản xuất chủ yếu tập trung vào một số lĩnh vực có quy mô nhỏ, nghèo nàn về chủng loại Đa số các hộ tiểu thủ công nghiệp – dịch vụ có nguồn gốc thuần nông nên kỹ năng nghề nghiệp yếu, thiếu kinh nghiệm và thiếu vốn
3.4.5 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
Năm 2008, dân số trung bình toàn xã có 1463 hộ, với 14 dân tộc anh em sinh sống Người Kinh chiếm chủ yếu 80%; đồng bào dân tộc chiếm 20% với 368 hộ dân tộc thiểu số và 1996 nhân khẩu tập trung chủ yếu các thôn: Tân Sơn, Đạ Bẹ, Lâm Bô, Phúc Hòa, Phúc Cát Số người trong độ tuổi lao động của xã là 3723 người (chiếm 57,67% tổng dân số), trong đó lao động nông nghiệp chiếm khoảng 90%, lao động ở các ngành công nghiệp, dịch vụ… chiếm 10% Theo thống kê và điều tra thì trên toàn
xã có 46 người có công cách mạng, trong đó đối tượng thương binh là 10 người, còn bệnh binh là 03 người và có 06 gia đình liệt sĩ, cùng với tật bệnh binh là 01 đối tượng Nhìn chung các gia đình có mức sống trung bình trở lên
Trong xã phần lớn các hộ có nguồn thu nhập chính từ nông nghiệp (> 90%) Các hộ có thu nhập khá, tập trung vào những hộ thương nghiệp, dịch vụ, trang trại và một số hộ có ngành nghề phát triển Đời sống nhân dân vùng đồng bào dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, toàn xã có 313 hộ nghèo chiếm 21,39%, trong đó có 163 hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỉ lệ 52%
Để giúp cải thiện đời sống cho người dân thì UBND xã đã tạo điều kiện cho vay vốn (255 hộ nghèo/313 hộ đã được vay 2 tỉ 347 triệu đồng, vùng khó khăn 36 hộ vay
600 triệu và đồng bào dân tộc là 13 hộ vay 65 triệu không lãi 5 năm), hỗ trợ 95 giếng nước cho 3 thôn, xã có những định hướng nghề nghiệp góp phần nâng cao chất lượng địa phương, thường xuyên tư vấn việc làm như: xuất khẩu lao động, dạy nghề lao động, đặc biệt quan tâm đến các thanh niên, hộ nghèo và bộ đội xuất nhâp ngũ
Nhìn chung đời sống nhân dân trên địa bàn ngày càng được nâng cao, bộ mặt nông thôn đổi mới, người dân thực sự tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và các cấp chính quyền ở địa phương